Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích tài chính và biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố như : môi trường kinh doanh, trình độ quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trình độ quản lý tài chính. Để đảm bảo đúng tiến độ, không bị gián đoạn, có hiệu quả thì doanh nghiệp nhất thiết phải đánh giá tình hình tài chính một cách chính xác. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ xem xét những điểm mạnh, điểm yếu, những mặt tích cực, những tồn tại để đề ra những biện pháp kịp thời cải thiện tình hình tài chính. Các doanh nghiệp thường sử dụng vốn của mình để đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận vì vậy phân tích tài chính một cách hiệu quả và khoa học không những đánh giá được tiềm lực vốn, khả năng sinh lời, đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà còn thông qua đó để tìm ra được chiến lược phát triển trong tương lai của công ty. Chính vì thế phân tích tài chính luôn được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu.
Thấy được tầm quan trọng đó trên thực tế và lý thuyết, bằng những kiến thức đã học và thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP, em muốn tìm hiểu sâu hơn về tình hình tài chính của công ty nên đã chọn đề tài “ Phân tích tài chính và biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP”. Được sự giúp đỡ của các cô chú phòng tài chính kế toán, phòng tổ chức cán bộ lao động, phòng kinh doanh… và đặc biệt là sự giúp đỡ của cô giáo ThS. Cao Thị Thu đã giúp em hoàn thành khoá luận này.
Khóa luận gồm 3 phần.
- Chương I : Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp.
- Chương II : Phân tích tài chính tại công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP.
- Chương III : Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong qúa trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1.2. Bản chất tài chính doanh nghiệp Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Về bản chất tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Xét về hình thức tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong qúa trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
Vì vậy các hoạt động gắn liền với việc phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
1.1.1.3. Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính : là sự hợp thành từ các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Bao gồm :
Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước : đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp được nhà nước cấp vốn hoạt động và doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí …
Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thế kinh tế khác : đó là quan hệ về việc thanh toán trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư vốn hoặc bán tài sản, hàng hoá và các dịch vụ khác.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp : được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên, quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, việc phân chia lợi tức, việc hình thành các quỹ của doanh nghiệp.
1.1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Quản trị tài chính có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp, nó thực hiện những nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các quan hệ tài chính nảy sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm thực hiện tốt nhất các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau.
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
- Giám sát kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.2.3.1. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Những đặc điểm riêng về mặt hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp trên có ảnh hưởng lớn đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc có tổ chức huy động vốn, sử dụng vốn kinh doanh và việc phân phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp hiện hành ở nước ta, hiện có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau.
- Doanh nghiệp nhà nước
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Doanh nghiệp tư nhân
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.2.3.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn ( vốn cố định và vốn lưu động ) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán và chi trả.
- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
1.1.2.3.3. Môi trường kinh doanh Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Bất cứ doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định.
- Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp.
- Môi trường kinh doanh gồm có
- Môi trường kinh tế
- Môi trường pháp lý
- Môi trường kỹ thuật công nghệ, môi trường thông tin
- Môi trường hợp tác hội nhập kinh tế quốc tế
- Các môi trường đặc thù
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
1.2.1. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm phân tích tài chính
Phân tích tài chính là tổng thế các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho những đối tượng có liên quan có dự đoán chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những quyết định phù hợp với lợi ích của họ.
1.2.1.2. Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp với vị trí là công cụ của nhận thức các vấn đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp, trong quá trình tiến hành, phân tích sẽ thực hiện chức năng : đánh giá, dự đoán và điều chỉnh tài chính doanh nghiệp.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp như các nhà quản lý, nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng, người lao động… để có nhận thức đúng đắn và đầy đủ, các đối tượng tuỳ mục tiêu quan tâm mà lựa chọn những nội dung phân tích phù hợp. Cụ thể là:
Đối với nhà quản lý: phân tích tài chính nhằm đáp ứng các mục tiêu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như : tìm kiếm lợi nhuận, đảm bảo khả năng thanh toán nợ, tăng sức cạnh tranh trên thị trường… Ngoài ra, nhờ hoạt động phân tích tài chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá chính xác, kịp thời các thông tin kinh tế, thấy được thực trạng tài chính cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với các nhà đầu tư, người cho vay : phân tích hoạt động tài chính đối với họ để đánh giá khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng hoàn trả… của công ty từ đó quyết định có nên đầu tư hay cho doanh nghiệp vay vốn không ?
Đối với cơ quan nhà nước : phân tích tài chính giúp nhà nước nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp để từ đó đề ra các chính sách vĩ mô đúng đắn ( chính sách thuế, lãi suất đầu tư…) nhằm tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động.
Đối với người lao động : phân tích tài chính giúp họ định hướng việc làm của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tuỳ thuộc vào công việc được phân công, đảm nhiệm.
Đối với công ty kiểm toán : phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp công ty kiểm toán kiểm tra được tính hợp lý trung thực của các số liệu, phát hiện được những sai sót và gian lận của doanh nghiệp về mặt tài chính.
1.2.2. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là cách thức, kỹ thuật để đánh giá tình hình tài chính của công ty ở quá khứ, hiện tại và dự đoán tài chính trong tương lai. Từ đó giúp các đối tượng đưa ra quyết định kinh tế phù hợp với mục tiêu mong muốn của từng đối tượng. Để đáp ứng mục tiêu của phân tích tài chính có nhiều phương pháp, thông thường người ta hay sử dụng các phương pháp sau: Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
1.2.2.1. Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp phân tích được sử dụng rộng rãi phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích.
1.2.2.1.1. Tiêu chuẩn so sánh
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm gốc so sánh.
Gốc so sánh được xác định tuỳ thuộc vào mục đích phân tích. Khi tiến hành so sánh cần có từ hai đại lượng trở lên và các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được.
1.2.2.1.2. Điều kiện so sánh
- So sánh theo thời gian đó là sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường.
- So sánh theo không gian tức là so sánh giữa các số liệu trong ngành nhất định, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
1.2.2.1.3. Kỹ thuật so sánh
Để đáp ứng các mục tiêu sử dụng của những chỉ tiêu so sánh, quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu được thể hiện dưới 3 kỹ thuật so sánh sau đây. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
- So sánh số tuyệt đối : là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh phản ánh sự biến động về quy mô hoặc khối lượng của các chỉ tiêu phân tích.
- So sánh số tương đối : là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu nghiên cứu.
- So sánh số bình quân : biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tính chất.
Từ đó cho thấy sự biến động về mặt quy mô hoặc khối lượng của chỉ tiêu phân tích, mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng chỉ tiêu trong tổng thể hoặc biến động về mặt tốc độ của chỉ tiêu đang xem xét giữa các thời gian khác nhau, biểu hiện tính phổ biến của chỉ tiêu phân tích.
1.2.2.1.4. Hình thức so sánh
Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể được thực hiện theo 2 hình thức sau :
- So sánh theo chiều dọc : là quá trình so sánh, xác định tỷ lệ, quan hệ tương quan giữa các dữ kiện trên báo cáo tài chính của kỳ hiện hành.
- So sánh theo chiều ngang : là quá trình so sánh, xác định tỷ lệ và chiều hướng tăng giảm của các dữ kiện trên báo cáo tài chính của nhiều kỳ khác nhau.
( cần chú ý trong điều kiện có lạm phát, kết quả tính được chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã loại trừ ảnh hưởng của biến động giá )
1.2.2.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Nguồn thông tin kinh tế tài chính đã và đang được cải tiến cung cấp đầy đủ hơn, đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá tình hình tài chính trong doanh nghiệp. Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và đẩy nhanh quá trình tính toán. Phương pháp phân tích này giúp cho việc khai thác, sử dụng các số liệu được hiệu quả hơn thông qua việc phân tích một cách có hệ thống hàng loạt các tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc gián đoạn.
Phương pháp phân tích tỷ lệ dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ và đại cương tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp. Nhìn chung có 4 nhóm sau:
- Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán
- Nhóm chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
- Nhóm chỉ số về hoạt động
- Nhóm chỉ số khả năng sinh lời
1.2.2.3. Phương pháp Dupont
Dùng để phân tích tổng hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ số ROA ( tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn ) và ROE ( tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ ) Khi phân tích các chỉ số này, người ta còn vẽ sơ đồ phương trình Dupont của doanh nghiệp.
Chương II : PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN VINASHIP Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
2.1. Khái quát về công ty
2.1.1. Giới thiệu chung về công ty
2.1.1.1. Quá trình hình thành phát triển
Công ty cổ phần vận tải biển Vinaship – tức Công ty vận tải biển III (VINASHIP) trước đây vốn là một DN nhà nước hạng I được thành lập theo Quyết định số 694/QĐ-TCCB ngày 10/3/1984 của Bộ giao thông vận tải, và sau đó được thành lập lại theo Quyết định số 463/QĐ-TCCB ngày 23/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Trong lịch sử hơn 20 năm hình thành và phát triển, Công ty đã luôn nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tích cao trong sản xuất kinh doanh và góp phần đáng kể vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN
- Giai đoạn 1984-1990
Trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển, đội tàu của Công ty phần lớn là tàu chạy dầu DO, các sà lan tàu kéo, các tàu cũ do Liên Xô viện trợ với nhiệm vụ chủ yếu là vận chuyển hàng hoá và hành khách trong nước. Luôn biết phát huy truyền thống tốt đẹp của ngành vận tải đường biển, đội tàu của Công ty trong thời gian này không những hoàn thành tốt các nhiệm vụ nêu trên mà còn đảm nhận xuất sắc các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước giao cho .
- Giai đoạn 1991-1995
Đây là thời kỳ nền kinh tế nước ta chuyển dịch từ mô hình kinh tế tập trung – bao cấp sang cơ chế thị trường. Trong giai đoạn này Nhà nước xác định lại vốn và giao vốn cho các doanh nghiệp. Do chưa có sự chuẩn bị kỹ về con người và tri thức quản lý, Công ty đã gặp không ít khó khăn về thị trường, về đầu tư đổi mới phương tiện, về phương pháp quản lý nên hiệu quả chưa đạt được yêu cầu và có năm chưa thực hiện được kế hoạch
- Giai đoạn 1996-2000 Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Trong giai đoạn này, được sự chỉ đạo giúp đỡ của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam cùng với sự quyết tâm cao trong việc đổi mới doanh nghiệp, VINASHIP đã dần từng bước thoát khỏi những yếu kém, trì trệ, bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng Công ty đã chủ động sắp xếp tổ chức lại một cách hệ thống bộ máy điều hành, bố trí cán bộ chủ chốt có năng lực vào các phòng ban nghiệp vụ quan trọng. Kiện toàn được cơ cấu tổ chức bố trí cán bộ phù hợp là tiền đề tạo thế ổn định, gây được niềm tin, sự hứng khởi và đoàn kết trong nội bộ. Trong thời gian này bằng cách mua hoặc chuyển nhượng tài sản trong nội bộ Tổng công ty, VINASHIP đã có thêm hàng loạt các tàu như Hùng Vương 03, Thắng Lợi 01, 02, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Giang, nâng tổng trọng tải đội tàu lên nhanh chóng so với những năm trước đây. Năm 1999, trọng tải đội tàu đạt 72.987 dwt.
- Giai đoạn 2001-2008
Công ty vận tải biển III trong giai đoạn này đã đặc biệt chú trọng đến việc phát triển đội tàu, Công ty đã bổ sung thêm vào danh sách đội tàu của Công ty những cái tên mới như Hà Nam, Hà Đông, Hà Tiên, Bình Phước, Mỹ An, Mỹ Thịnh, Mỹ Vượng mua tại thị trường nước ngoài, Chương Dương mua trong nước và Mỹ Hưng đóng mới tại Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng
Việc đầu tư đúng hướng không những phát triển được đội tàu về số lượng mà còn trẻ hoá được đội tàu. Tuổi tàu bình quân liên tục được giảm, từ trên 22 tuổi trong những năm đầu thành lập Công ty cho đến 22 tuổi (năm 1999), 20 tuổi (năm 2001) và 19,4 tuổi (năm 2003).
2.1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty
Trong giai đoạn đầu khi mới thành lập nhiệm vụ chủ yếu của công ty là vận tải hàng hoá nôi địa, vận tải biển pha sông, kết hợp với vận tải vùng Đông Nam Á và vận chuyển hành khách tuyến Bắc Nam và ngược lại.
Hiện nay nhiệm vụ chủ yếu của công ty là vận tải hàng hoá nội địa, vận tải biển pha sông, kết hợp với vận tải vùng Đông Nam Á và mở rộng ra toàn thế giới. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Lĩnh vực kinh doanh chính : vận tải đường biển
Ngành kinh doanh : dịch vụ chuyên chở bằng đường hàng hải Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm.
- Kinh doanh vận tải
- Khai thác cầu cảng,kho bãi và dịch vụ giao nhận kho vận
- Dịch vụ đại lý tàu
- Dịch vụ đại lý vận tải nội địa, đại lý
- Dịch vụ cung ứng tàu biển
- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá
- Dịch vụ khai thuế hải quan
- Dịch vụ hợp tác lao động
- Cho thuê văn phòng, kinh doanh khách sạn
- Dịch vụ xuất nhập khẩu
- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá
2.1.1.3. Những thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi
Thành lập từ năm 1984, Vinaship có bề dày lịch sử lâu dài, có uy tín lớn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải trong nước và quốc tế với nhiều khách hàng truyền thống.
Nhà nước, Chính phủ đã tặng cho cá nhân và tập thể Công ty các Huân chương Lao động và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Vinaship có mạng lưới các đơn vị trực thuộc tại các Cảng biển và thành phố lớn của Việt Nam, do vậy Công ty có thể tận dụng được ưu thế về vị trí địa lý.
Sự thay đổi về khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Vinaship do các dịch vụ hàng hải gắn liền với hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP của Việt Nam tăng nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 46,5% năm 2000, tăng tốc đạt 61,3% năm 2005, 65% năm 2006 và 67% năm 2007 – thuộc loại cao so với các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở Châu Á và thứ 8 trên thế giới). Điều này tạo ra một thuận lợi rất lớn đối với dịch vụ vận chuyển hàng hải của Vinaship. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
- Khó khăn
Tình trạng yếu kém chung của đội tàu Việt Nam. Tình trạng yếu kém này là do Đội tàu Việt Nam của chúng ta có trọng tải nhỏ. Độ tuổi bình quân của đội tàu tương đối cao, các tàu chuyên dụng chở các mặt hàng đặc biệt như hàng đông lạnh, hàng lâm sản, hoá chất, gas hoá lỏng LPG, dầu thô chưa đáp ứng được yêu cầu vận chuyển với khối lượng lớn.
Là Doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, hoạt động của Vinaship chịu ảnh hưởng của các Văn bản Pháp luật về Luật Doanh nghiệp, các Văn bản Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Luật và các Văn bản dưới luật trong lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn thiện, sự thay đổi về mặt chính sách luôn có thể xảy ra và khi xảy ra thì sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động quản trị, kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào đó vẫn còn tồn tại nhiều quy định phức tạp chồng chéo trong lĩnh vực hành chính, nhất là những quy định về thủ tục hải quan và các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng hải của Công ty.
Từ khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết sẽ mở cửa tối đa ngành vận tải. Ngành vận tải trở thành một trong những lĩnh vực sẽ gặp nhiều cạnh tranh nhất từ các doanh nghiệp nước ngoài cùng ngành nghề. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến thị phần hiện tại của Vinaship.
- Rủi ro về giá:
Giá dịch vụ: Rủi ro về giá chủ yếu do sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong cùng ngành. Cạnh tranh tất yếu dẫn đến sự giảm giá dịch vụ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để giữ vững uy tín với khách hàng.
Giá nhiên liệu: Với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành vận tải, nhiên liệu đầu vào chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí. Trong thời gian tới giá cả nhiên liệu đầu vào tiếp tục diễn biến phức tạp tạo ra rủi ro về chi phí đầu vào cho doanh nghiệp, ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận của Vinaship.
Công ty đã, đang và sẽ luôn luôn phải sử dụng đến nguồn ngoại tệ trong thanh toán, cho nợ và vay nợ, do vậy rủi ro về tỷ giá thanh toán luôn ảnh hưởng tới lợi nhuận của Công ty.
Khi cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu sẽ được xác định dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường và chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.Do đó, giá cổ phiếu của Công ty trên thị trường chứng khoán có khả năng biến động lớn và ảnh hưởng đến hình ảnh, giá trị của Công ty cũng như tâm lý của cán bộ, công nhân viên; hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Hoạt động kinh doanh của Công ty có thể chịu ảnh hưởng của những rủi ro khác như rủi ro do hỏa hoạn, chiến tranh, rủi ro do biến động giá cả các yếu tố đầu vào, rủi ro trong quá trình chào hàng, đàm phán và ký kết hợp đồng … những rủi ro này cũng có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của Công ty.
2.2. Phân tích tình hình hoạt động tài chính tại công ty Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính của Cty CP Vận tải biển Vinaship
2.2.1.1. Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
2.2.1.1.1. Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản
Qua bảng trên, ta thấy tổng tài sản của công ty năm 2007 là 705,999,603,563 đồng, tăng 283,088,049,103 đồng ( tương ứng 66.94%) so với năm 2006. Năm 2008 tổng tài sản của công ty là 695,990,913,476 đồng, giảm 10,008,690,087 đồng (tương ứng -1.42%) so với năm 2007. Tuy năm 2008 tổng tài sản của công ty giảm so với năm 2007, nhưng nhìn chung qua 3 năm tổng tài sản của công ty đã tăng từ 422,911,554,460 đồng lên 695,990,913,476 đồng
Tổng tài sản của công ty tăng lên chủ yếu do tài sản dài hạn tăng Tài sản dài hạn của công ty năm 2007 là 533,979,628,321 đồng, tăng 234,892,038,418 đồng ( tương ứng 73.59% ) so với năm 2006. Năm 2008 tài sản dài hạn của công ty là 533,979,628,321 đồng, giảm 20,090,562,607 đồng ( tương ứng 3.63%) so với năm 2007.
Năm 2006 tỷ trọng tài sản dài hạn của công ty là 75,47%, năm 2007 tăng lên là 7,48 %,tuy năm 2008 tỷ trọng của tài sản dài hạn giảm xuống còn 76,72%,nhưng nhìn chung qua 3 năm, tỷ trọng tài sản dài hạn trong tổng tài sản đã tăng lên.
Tài sản dài hạn tăng giảm, chủ yếu do sự tăng giảm của tài sản cố định. Trong tổng tài sản của công ty, thì tài sản cố định ( thuộc về tài sản dài hạn ) chiếm 1 tỷ trọng lớn (từ 70% -> 73% ), và duy trì qua 3 năm. Cụ thể năm 2006 tài sản cố định chiếm 71.49% trong tổng tài sản của công ty , năm 2007 chiếm 72.45%, năm 2008 chiếm 70.93%. Đó là do công ty Vinaship là doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ vận tải đường biển, nên phải đầu tư nhiều vào tài sản cố định đặc biệt là các phương tiện vận tải. Tài sản cố định của công ty trong giai đoạn 2006-2008 đã tăng từ 302,329,849,327 đồng lên 493,657,813,418 đồng. Điều này là do công ty đã đầu tư mua tàu mới, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất.
Các khoản phải thu dài hạn của công ty từ năm 2006 đến năm 2008 đã giảm xuống rất nhiều, điều này là tương đối tốt, vì công ty không bị chiếm dụng nhiều vốn, biểu hiện là tỷ trọng của nó trong tổng tài sản đã giảm xuống rõ rệt, từ 0.13% năm 2006 đến năm 2007 là 0.02% và năm 2008 giảm xuống chỉ còn 0.01%. Năm 2007 giảm 427,534,786 đồng ( tương ứng 74.91 %) so với năm 2006. Năm 2008 giảm 40,000,000 đồng (tương ứng 27.93%) so với năm 2007. Các khoản phải thu này giảm chủ yếu là do các khoản phải thu của khách hàng giảm. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Trong tổng tài sản cả 3 năm, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng ít hơn so với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn chỉ chiếm từ 21% -> 25%. Năm 2006 tổng tài sản ngắn hạn của công ty là 103,733,401,950 đồng, năm 2007 là 151,929,412,635 đồng, tăng 48,196,010,685 đồng ( tương ứng 46.46%) so với năm 2006. Năm 2008, tổng tài sản ngắn hạn của công ty là 162,011,285,155 đồng , tăng 10,081,872,520 đồng ( tương ứng 6.64% ) so với năm 2007.
Trong tài sản ngắn hạn, tiền mặt chiếm từ 8% -> 10%, và giảm dần qua 3 năm, năm 2006 tiền mặt chiếm 9,19% trong tổng tài sản, đến năm 2008 tỷ trọng này chỉ còn 8,88%, do công ty đã huy động thêm tiền vào kinh doanh trong kỳ.
2.2.1.1.2. Phân tích cơ cấu và diễn biến nguồn vốn
Tổng nguồn vốn của công ty sau 3 năm đã tăng lên, năm 2006 công ty chỉ có 422,911,554,460 đồng vốn, đến năm 2007 đã tăng lên thành 705,999,603,563 đồng , tăng 283,088,049,103 đồng ( tương ứng 66.94%) so với năm 2006. Năm 2008, tổng nguồn vốn của công ty là 695,990,913,476 đồng tuy vốn của công ty bị giảm 1.42% 9 ( tương ứng 10,008,690,087đồng ) so với năm 2007, nhưng sau 3 năm, nhìn chung tổng nguồn vốn của công ty đã tăng hơn 1,5 lần.
Tổng nguồn vốn của công ty tăng giảm chủ yếu là do nợ phải trả tăng giảm, vì nợ phải trả vừa chiếm tỷ trọng nhiều hơn trong tổng nguồn vốn, lại vừa có diễn biến tăng giảm rõ rệt và mạnh mẽ hơn.
Trong tổng nguồn vốn của công ty thì vốn vay chiếm tỷ trọng nhiều hơn vốn chủ. Giai đoạn năm 2006 – 2008, vốn vay chiếm tỷ trọng từ 52% -> 57%. Cụ thể năm 2006, nợ phải trả chiếm 52.2% tổng nguồn vốn, năm 2007 chiếm 56.9%, và năm 2008 chiếm 56.8%. Qua 3 năm, nợ phải trả của công ty đã tăng thêm 4,6% trong tổng nguồn vốn, điều này thể hiện công ty đã đi vay nhiều hơn để phục vụ việc sản xuất kinh doanh. Công ty ngày càng chiếm dụng được nhiều vốn hơn, điều này tương đối thuận lợi cho Vinaship
Năm 2007, nợ phải trả của công ty là 402,045,807,334 đồng, tăng 181,276,344,995đồng ( tương ứng 82.1%)so với năm 2006. Năm 2008, nợ phải trả của công ty là 395,097,933,826, giảm 6,947,873,508 đồng ( tương ứng 1.7%) so với năm 2007.
Trong nợ phải trả có nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, tuy rằng trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng của nợ dài hạn và nợ ngắn hạn không chênh lệch nhau quá xa (cụ thể là nợ ngắn hạn chiếm từ 28% -> 30% tổng nguồn vốn , và nợ dài hạn chiếm từ 22% -> 29% tổng nguồn vốn),và tỷ trọng của nợ dài hạn thấp hơn tỷ trọng của nợ ngắn hạn nhưng sự thay đổi của nợ phải trả chủ yếu phụ thuộc vào sự thay đổi của nợ dài hạn. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Nợ dài hạn của công ty năm 2006 là 94,817,690,664 đồng, năm 2007 là 202,905,431,664 đồng, tăng 108,087,741,000 đồng ( tương ứng 114%) so với năm 2006, năm 2008, nợ dài hạn của công ty là 185,459,830,664 đồng , giảm 17,445,601,000 đồng ( tương ứng 8.6%) so với năm 2007.
Trong nợ dài hạn của công ty thì vay và nợ dài hạn chiếm đến 99,78 -> 99,98%.
Nợ ngắn hạn của công ty tăng đều qua 3 năm , năm 2006 là 125,951,771,675 đồng. Năm 2007 là 199,140,375,670 đồng, tăng 73,188,603,995 đồng (tương ứng 58.1%) so với năm 2006. Năm 2008 là 209,638,103,162 đồng, tăng 10,497,727,492 đồng ( tương ứng 5.27%) so với năm 2007
Trong nợ ngắn hạn thì chiếm chủ yếu là phải trả người bán và phải trả công nhân viên. Khoản phải trả người bán sau 3 năm giảm từ 11.9% xuống còn 9.09% trong tổng nguồn vốn. Khoản phải trả công nhân viên, năm 2006 là 5.12%, năm 2008 chỉ còn chiếm 3.38% trong tổng vốn. vậy là doanh nghiệp chiếm dụng được ít hơn từ 2 nguồn này.
Trong vốn chủ sở hữu thì vốn chủ sở hữu chiếm đến trên 99%, nguồn kinh phí và quỹ khác chỉ chiếm dưới 1%.
Tuy có biến động tăng giảm nhưng sau 3 năm vốn chủ cũng tăng lên gần 1,5 lần. Cụ thể năm 2007, tổng vốn chủ sở hữu là 303,953,796,229 đồng, tăng 101,811,704,108 đồng ( tương ứng 50.4%) so với năm 2006. Năm 2008, tổng vốn chủ sở hữu là 300,892,979,650 đồng, giảm 3,060,816,579 đồng ( tương ứng 1%) so với năm 2007. Nguồn kinh phí và quỹ khác của công ty thì 100% là của quỹ khen thưởng phúc lợi.
Chương III : MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI BIỂN VINASHIP
3.1. Phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Vận tải biển Vinaship năm 2009
3.1.1. Về đầu tư phát triển
Do tình hình tàu đã qua sử dụng rất rẻ so với nhiều năm gần đây( giảm 60% so với thời điểm quý 3 năm 2008 ), thì sẽ là cơ hội tốt để đầu tư, trẻ hoá và phát triển đội tàu. Do vậy công ty dự kiến sẽ mua thêm 2 tàu đã qua sử dụng.
3.1.2. Về nâng cao chất lượng lao động
Trong tình trạng sự phát triển của ngành hàng hải đang suy giảm, sức ép về lực lượng lao động trong ngành, đặc biệt là lực lượng thuyền viên ko còn căng thẳng như năm 2008, thậm chí có thể có dư thừa lao động. Đây chính là cơ hội tốt để công ty tuyển chọn lực lượng lao động có tay nghề cao phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài.
3.1.3. Về hoạt động kinh doanh Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Hoạt động vận tải biển được coi là ngành kinh doanh chính của Công ty nên trong thời gian tới Công ty tiếp tục khai thác các tuyến vận chuyển xuất nhập khẩu và chở thuê trong khu vực mà Công ty đã có vị thế đồng thời mở rộng các tuyến vận chuyển mới sang Khu vực Châu Phi và Châu Mỹ.
Với mục tiêu vừa khai thác kho bãi vừa làm dịch vụ kho vận giao nhận kết hợp với lực lượng nhân lực bốc xếp có kinh nghiệm, Vinaship sẽ đưa ra một dịch vụ forwardinh hoàn hảo nhằm phục vụ khách hàng chu đáo nhất.
Song hành với kinh doanh vận tải biển, Vinaship đã tích cực phát triển dịch vụ logistics (Chức năng chính của logistics bao gồm việc quản lý việc mua bán, vận chuyển, lưu kho cùng với các hoạt động về tổ chức cũng như lập kế hoạch cho các hoạt động đó) và đại lý vận tải đa phương thức (phương thức vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm ở một nước tới một điểm chỉ định ở một nước khác để giao hàng) để khai thác thế mạnh về kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên thị trường vận tải.
3.2. Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải biển Vinaship Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
3.2.1. Biện pháp 1 : Giảm chi phí tài chính
3.2.1.1. Cơ sở thực hiện biện pháp
Chi phí hoạt động tài chính của công ty tăng lên 2,3 lần sau 3 năm, năm 2006 chi phí này chiếm 1.18% doanh thu ( trong đó chi phí lãi vay chiếm 1.04% doanh thu ), năm 2008 chi phí này chiếm 3.53% doanh thu ( trong đó chi phí lãi vay chiếm 1.38% doanh thu ) . Nếu giảm được chi phí này, sẽ góp phần đáng kể trong việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
3.2.1.2. Thực hiện
- Chi phí tài chính của công ty bao gồm
- Chi phí lãi vay
- Lỗ do thanh lý các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn
- Lỗ bán ngoại tệ
- Lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
- Lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện
- Chi phí tài chính khác.
Để giảm lỗ do chênh lệch tỉ giá, khi chuyên viên tài chính của công ty dự báo được giá ngoại tệ sẽ tăng trong tương lai, công ty hãy đặt lệnh đặt mua trước.
Chi phí lãi vay năm 2006 chiếm đến 87% chi phí tài chính, năm 2007 chiếm 76,7% chi phí tài chính và năm 2008 chi phí lãi vay chiếm 51,6 % chi phí tài chính. Ta thấy chi phí lãi vay chiếm tỉ trọng khá cao trong chi phí tài chính.
Để giảm chi phí lãi vay, doanh nghiệp cần giảm bớt số tiền đi vay, hoặc vay những khoản vay ưu đãi, quan hệ tốt với các ngân hàng lớn, quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, tổng công ty Hàng hải Việt Nam để vay vốn với chi phí thấp hơn, rồi xin cấp vốn, tận dụng các chính sách ưu đãi của nhà nước giành cho ngành vận tải đường biển.
Để đầu tư quan hệ tốt với các ngân hàng, quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, tổng công ty Hàng hải Việt Nam, công ty sẽ có một số chi phí phát sinh như chi phí tiếp khách tiệc chiêu đãi, chi phí ăn ở đi lại, chi phí quà biếu tặng…
3.2.1.3. Dự kiến kết quả và chi phí phát sinh. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Theo thống kê những năm trước, trên cơ sở kinh nghiệm thực tế và tính toán của phòng kinh doanh thì chi phí tài chính sẽ giảm khoảng 20%, chi phí khác sẽ tăng khoảng 25%.
3.2.1.4. So sánh kết quả trước và sau giải pháp
Dựa vào bảng trên ta thấy tuy biện pháp này không giúp tăng doanh thu, nhưng giúp lợi nhuận sau thuế tăng 7,16 % , khả năng thanh toán lãi vay tăng 61,0 %, khả năng sinh lời tăng, cụ thể là tỷ suất doanh lợi tổng vốn tăng 12,1 %, tỷ suất doanh lợi vốn chủ tăng 14,5 % so với trước khi thực hiện biện pháp. Doanh nghiệp có thể cải thiện được các chỉ tiêu tài chính.
3.2.2. Biện pháp 2 : Tăng doanh thu
3.2.2.1. Cơ sở thực hiện biện pháp
Việc tăng doanh thu và lợi nhuận là mục tiêu của mọi doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Thông qua việc phân tích tình hình tài chính ở chương 2 đã cho thấy doanh thu của công ty năm sau luôn cao hơn năm trước.
Năm 2007 tổng doanh thu của công ty là 655,979,291,889 đồng, tăng 193,668,806,381 đồng ( tương ứng 41.9%) so với năm 2006. Lợi nhuận sau thuế tăng hơn 729% so với năm 2006, nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hoá gia tăng mạnh mẽ, giá cước tăng, chi phí giảm là nguyên nhân chủ yếu tạo nên bước nhẩy vọt như vậy.
Năm 2008 tổng doanh thu của công ty là 920,013,071,166 đồng, tăng 264,033,779,277 đồng ( tương ứng 40.2%) so với năm 2007. Lợi nhuận sau thuế giảm 19,8% so với năm 2007 chủ yếu là vì.
- Kinh tế toàn cầu suy thoái, nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hoá giảm
- Giá cước tăng ( chủ yếu do giá nhiên liệu tăng ) dẫn đến giá vốn tăng,
- Công ty lại chưa chú trọng nhiều đến việc mở rộng thị trường để tăng thị phần cung cấp dịch vụ vận tải mà chỉ tập trung khai thác khách hàng thường xuyên, truyền thống.
Thêm nữa là công ty vẫn còn một số tàu độ tuổi khá cao, cụ thể tàu Hà Giang và Hưng Yên là 22 tuổi, tàu Nam Định 20 tuổi, tàu Ninh Bình 21 tuổi. Theo quy định của cơ quan đăng kiểm Việt Nam tàu có độ tuổi từ 15 năm trở lên là tàu già cần được bảo dưỡng, nên những tàu này mất nhiều thời gian sửa chữa.
- Thị trường của công ty là thị trường mở rộng và đầy tiềm năng. -> Dịch vụ vận tải biển.
+> Hàng năm hơn 90% hàng hoá xuất nhập khẩu trên toàn thế giới, chiếm khoảng 8.900 tỷ USD, được vận chuyển bằng đường biển, là 1 thị trường rất lớn để cho các doanh nghiệp vận tải biển khai thác.
+> Việt Nam có kim ngạch xuất nhập khẩu với tốc độ tăng trưởng 20% năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn hơn GDP
+> Các công ty vận tải biển Việt Nam hiện nay chỉ phục vụ được ¼ nhu cầu thị trường trong nước.
+> Hàng năm, gần 170 triệu tấn hàng xuất nhập qua hệ thống cảng biển của Việt Nam mang lại nguồn thu cho ngành vận tải biển vài tỷ USD nhưng gần 80% thị phần thuộc về các công ty vận tải biển nước ngoài…
+> Riêng đối với Khu vực Hải Phòng, dự báo đến năm 2010, khối lượng hàng hóa thông qua Cảng có thể đạt 17,3 đến 21,8 triệu tấn/năm. Tiềm năng phát triển to lớn của nền kinh tế đất nước, của Ngành hàng hải và của Khu vực Cảng Hải Phòng sẽ tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các công ty trong ngành nói chung và Vinaship nói riêng.
- -> Dịch vụ hàng hải : Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
+> Thị trường trong nước là thị trường tiềm năng lớn, và mở rộng, vì Việt Nam có rất nhiều cảng biển với đường bờ biển kéo dài.
+> Công ty vận tải biển Vinaship với hệ thống các chi nhánh của Công ty đặt tại Hải Phòng, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hạ Long, có lợi thế về vị trí, giao thông thuận tiện, gần các cảng biển lớn tạo điều kiện tốt để Công ty tiến hành các hoạt động dịch vụ hàng hải gồm: đại lý tàu biển, khai thác kho bãi…
- -> Đại lý vận tải :
+> Thị trường trong nước rất tiềm năng, rất nhiều Doanh nghiệp cần dịch vụ logictics chất lượng cao, vì ở Việt Nam, dịch vụ logictics còn thiếu và yếu kém.
+> Cũng như thị trường vận tải đa phương thức, hầu hết các Doanh nghiệp đều muốn 1 lô hàng của mình được vận chuyển thống nhất bởi 1 công ty, sẽ tiết kiệm chi phí, thời gian, tránh được rắc rối về thủ tục.
3.2.2.2. Thực hiện
- Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải biển
Thường xuyên bảo trì bảo dưỡng tàu thuyền để ko xảy ra trục trặc sự cố khi tàu đang thực hiện hợp đồng chuyên chở.( Vì nếu xảy ra sự cố, sẽ làm chậm thời gian tàu chạy biển, thời gian làm hàng, dẫn đến chậm thời gian quay vòng cuả tàu, điều này sẽ làm giảm doanh thu)
Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng tại chỗ để nâng cao trình độ tay nghề và hiểu biết của sỹ quan, thuyền viên về nghành hàng hải, tiến hành đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao hiệu quả lao động của các lao động hiện có, sẽ có 2 nội dung được tiến hành đào tạo là đào tạo nâng cao về trình độ chuyên môn, và đào tạo nâng cao trình độ ngoại ngữ.
Đội tàu thực hiện chạy đúng hợp đồng, đảm bảo đúng tuyến, giao hàng đúng hẹn, bảo quản tốt hàng hoá, tránh mất mát, tổn thất cho chủ hàng.
3.2.2.3. Dự kiến kết quả và chi phí phát sinh
Theo tính toán nghiên cứu và kinh nghiệm của phòng kinh doanh, trên cơ sở thực tế tại công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP thì
- Doanh thu của công ty sẽ tăng khoảng 10% . Doanh thu dự kiến = Doanh thu 2008 x (1 +10%)
- 920,013 tr đ x (1+10%) = 1,012,014 tr đ
- Chi phí bảo dưỡng trung bình 1 tàu là 100,000,000 đồng, công ty hiện có 17 tàu (chi phí cụ thể phụ thuộc vào trọng tải tàu, tàu trọng tải lớn lớn mất nhiều chi phí bảo dưỡng hơn tàu trọng tải nhỏ).
KẾT LUẬN Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động quan trọng của công tác quản lý của mỗi doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng lớn tới quyết định trong quản lý và đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính trong doanh nghiệp, với những kiến thức đã được trang bị cùng với hoạt động thực tiễn của Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP, được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS. Cao Thị Thu và sự chỉ bảo của các cô chú trong công ty, em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài : “ Phân tích tài chính và biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP ”.
Do thời gian học tập tìm hiểu thực tế tại công ty ngắn và kiến thức hiểu biết của em có hạn nên khoá luận của em khó tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót. Em rất mong sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo, các cô chú trong công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP và của các bạn để khoá luận của em được hoàn chỉnh hơn .
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo công ty, phòng tài chính kế toán của công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP và sự hướng dẫn tận tình, sát sao của cô giáo Cao Thị Thu cùng các thầy cô giáo khác đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng


Pingback: Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng