Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đường lối phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, công nghiệp phụ trợ được coi là ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển của mỗi quốc gia. Nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế và được coi là “xương sống” của các ngành công nghiệp. Đầu tư cho phát triển công nghiệp phụ trợ là hoàn toàn phù hợp với tất yếu khách quan mà xu thế chuyên môn hoá và hợp tác hoá mang lại. Phát triển công nghiệp phụ trợ sẽ hỗ trợ các ngành công nghiệp nội địa phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đất nước theo hướng tiên tiến, hiện đại.
Tham gia các ngành công nghiệp phụ trợ có rất nhiều loại hình doanh nghiệp trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Đây là một bộ phận có cơ chế hoạt động rất linh hoạt và đang đóng góp ngày càng nhiều cho nền kinh tế. doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần giải quyết việc làm, giữ gìn và phát triển các nghề truyền thống, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Chúng giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt trong chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ. Kinh nghiệm ở những nước có nền công nghiệp phụ trợ phát triển cho thấy vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là hết sức to lớn, để cung cấp cho một doanh nghiệp lắp ráp cần đến hàng trăm thậm chí hàng ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh. Nhờ có bộ phận này mà chuỗi cung ứng cho các nhà lắp ráp, chế tạo trở nên đa dạng hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại hạn chế về vốn và công nghệ, kỹ năng quản lý- kinh doanh nên để hoạt động tốt trong ngành công nghiệp phụ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần rất nhiều sự hỗ trợ từ các cơ quan hữu quan cũng như nỗ lực của bản thân.
Vậy làm thế nào để phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ? Câu trả lời có thể rút ra từ một thành công điển hình, đó là Trung Quốc, nước láng giềng có điều kiện kinh tế xã hội và lợi thế so sánh rất gần với nước ta. Trước khi cải cách kinh tế, Trung Quốc là một nền kinh tế khá lạc hậu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là các doanh nghiệp tư nhân bị kiềm chế, không có điều kiện phát triển, ngành công nghiệp phụ trợ phát triển tự phát không theo quy hoạch nào cả, số các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm công nghiệp phụ trợ rất hạn chế. Sau thời kỳ đổi mới, với các chính sách ưu đãi và hỗ trợ từ phía Chính phủ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp ngày càng nhiều vào GDP. Trung Quốc từ một nước lạc hậu về công nghệ trở thành một nước có nền công nghiệp phụ trợ phát triển trong khu vực.
Vậy chính sách của Trung Quốc có điều gì đặc biệt? Chúng ta có thể học hỏi được điều gì từ nước bạn? Trả lời những câu hỏi trên là điều mà đề tài này hướng đến. Do vậy đề tài này được mang tên là: “ Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”.
Mục đích của đề tài là: Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
- Tiếp tục làm rõ và khẳng định vị trí, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công nghiệp phụ trợ
- Tìm hiểu chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc
- Đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam
- Đề xuất một số kiến nghị
Kết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung đề tài được chia làm 3 chương
- Chương I: Tổng quan về công nghiệp phụ trợ và tác động của nó đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Chương II: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
- Chương III: Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu liên quan nhằm rút ra những kiến thức cơ bản nhất về việc phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian và tìm kiếm thông tin nên đề tài chưa thể cung cấp đầy đủ thông tin về công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như chính sách của Trung Quốc và không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và mọi người.
Để thực hiện được đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người trong đó có thầy cô, bạn bè và gia đình. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS. Vũ Sỹ Tuấn, người đã tận tình hướng dẫn em. Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, gia đình và bạn bè, những người đã luôn ủng hộ em.
Chương I Tổng quan về công nghiệp phụ trợ và tác động của nó đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
I. Tổng quan về công nghiệp phụ trợ
1. Khái niệm về công nghiệp phụ trợ
1.1. Quan niệm trên thế giới về công nghiệp phụ trợ
CNPT hay công nghiệp hỗ trợ là một thuật ngữ không có gì là mới mẻ đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Nó được sử dụng rộng rãi ở cả những nước phát triển và nước đang phát triển. công nghiệp phụ trợ ra đời từ khi xã hội có sự phân công lao động ở trình độ cao. Nó chính là hệ thống các ngành công nghiệp vệ tinh phục vụ cho các ngành công nghiệp chính. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất trên thế giới về công nghiệp phụ trợ. Tuỳ theo hoàn cảnh, mục đích và chính sách của mình mà mỗi quốc gia có cách định nghĩa riêng về công nghiệp phụ trợ.
Nước Mỹ, đất nước đứng đầu thế giới về phát triển công nghệ đã đưa ra khái niệm về công nghiệp phụ trợ như sau: công nghiệp phụ trợ là các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ viêc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng.
Nhật Bản, một nước đi sau song luôn đạt được những thành tựu lớn trong phát triển công nghiệp lại hiểu về công nghiệp phụ trợ như sau: công nghiệp phụ trợ là thuật ngữ để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện, nó bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp. Đến năm 2011, Bộ Kinh tế công nghiệp và Thương mại Nhật Bản METI đã chính thức đưa ra định nghĩa về công nghiệp phụ trợ như sau: công nghiệp phụ trợ là ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hoá tư bản…cho công nghiệp lắp ráp( gồm ô tô, điện, điện tử).
Đó là cách hiểu về công nghiệp phụ trợ của hai quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến bậc nhất trên thế giới. Còn ở Thái Lan, một quốc gia đang phát triển thì công nghiệp phụ trợ là các ngành cung cấp các linh kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản.
Nhìn chung, về câu chữ có khác nhau nhưng quan niệm của các nước về công nghiệp phụ trợ đều có những điểm tương đồng. Đó là: công nghiệp phụ trợ là một ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm trung gian và tư liệu sản xuất. Nó phân biệt với ngành công nghiệp khai thác các sản phẩm tự nhiên sẵn có hay công nghiệp lắp ráp, chế tạo cho ra những sản phẩm cuối cùng. Nó phân biệt với ngành dịch vụ mặc dù nó cũng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho quá trình sản xuất như kiểm tra, vận chuyển, kho bãi….
1.2. Quan niệm của Việt Nam về công nghiệp phụ trợ Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Trước đây người Việt Nam dường như không quan tâm thậm chí còn rất mơ hồ về công nghiệp phụ trợ. Kể từ khi sáng kiến chung Việt Nam- Nhật Bản về nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thu hút FDI được thông qua vào năm 2021 thì thuật ngữ công nghiệp phụ trợ mới được chú ý.
Theo các chuyên gia của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, Bộ công nghiệp thì công nghiệp phụ trợ là hệ thống các công nghệ và cơ sở sản xuất chuyên đảm nhận việc cung cấp đảm bảo( thiết kế, nguyên vật liệu, bán thành phẩm và linh kiện…) phục vụ cho việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng.
Theo ông Tạ Đình Xuyên, Giám đốc trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật doanh nghiệp nhỏ và vừa( Bộ KHĐT), công nghiệp phụ trợ là ngành công nghiệp sản xuất ra các linh kiện, chi tiết phục vụ cho sản phẩm cuối cùng. Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam bao gồm: các ngành sản xuất chế tạo khuôn mẫu, đồ gá, linh kiện, phụ tùng và lắp ráp bán thành phẩm. Sản phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu phục vụ cho ngành lắp ráp ô tô, xe máy và điện- điện tử( bao gồm thiết bị điện gia dụng, thiết bị nghe nhìn, thiết bị quang học, thiết bị văn phòng, thiết bị ngoại vi,…)
Bên cạnh khái niệm nêu trên, ở Việt Nam còn có một cách hiểu nữa về công nghiệp phụ trợ. Đó là theo các giáo sư trường đại học Waseda, những người có nhiều năm nghiên cứu về Việt Nam: công nghiệp phụ trợ là khái niệm để chỉ toàn bộ các sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính; cụ thể là những linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn nhuộm… và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
2. Đặc điểm của ngành công nghiệp phụ trợ Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
2.1. CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao
CNPT là một ngành đòi hỏi chi phí cố định cao và có lợi thế kinh tế tăng theo qui mô. Bởi lẽ để có thể tiến hành sản xuất ban đầu các doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm những dây chuyền công nghệ và máy móc hiện đại. Hệ thống máy móc này có giá rất cao hơn nữa lại không thể chia nhỏ được nên một khi đã lắp đặt hệ thống thì chi phí vốn cho máy móc luôn ở mức cố định dù hệ thống có vận hành hết công suất hay chỉ sản xuất cầm chừng trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó để tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm của mình trong thời đại mà công nghệ thay đổi từng giờ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp các doanh nghiệp luôn phải chi một khoản rất lớn cho những đổi mới công nghệ.
Lao động trong ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu là vận hành máy móc, kiểm tra chất lượng, giám sát quy trình sản xuất …Do vậy để có thể kiểm soát được những dây chuyền tiên tiến buộc người lao động trong lĩnh vực này phải có trình độ công nghệ và tay nghề cao.
Do đòi hỏi về vốn và công nghệ cao như vậy mà ngành công nghiệp phụ trợ ở các nước nghèo, nước đang phát triển có xu hướng kém tính cạnh tranh hơn các nước khác. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đối tượng rất hạn chế về vốn và công nghệ thì để sản xuất- kinh doanh tốt trong các ngành công nghiệp phụ trợ là rất khó khăn.
2.2. CNPT bao phủ một phạm vi rộng các ngành chế tạo Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Các sản phẩm công nghiệp hầu hết được làm từ nhựa, kim loại và đều trải qua quá trình sản xuất thông thường như cán, ép, đúc…những sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ được cung cấp bởi ngành công nghiệp phụ trợ. Cụ thể như các sản phẩm nhựa dành cho xe máy, ô tô, thiết bị điện tử…đều được sản xuất thông qua một quá trình tương tự nhau. Do vậy sẽ thật lãng phí và không hiệu quả nếu mỗi một doanh nghiệp ô tô, xe máy, điện tử lại phải có một nhà mày sản xuất các bộ phận nhựa riêng trong khi nó chắc chắn được cung cấp một cách hiệu quả nhờ công nghiệp phụ trợ. Có thể nói rằng công nghiệp phụ trợ tạo nên năng lực cạnh tranh cho nhiều ngành công nghiệp.
Việt Nam hiện nay có chừng 24 ngành kinh tế- kỹ thuật cần đến công nghiệp phụ trợ, trong đó có nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Các ngành thành công như bao bì, sản xuất phụ tùng xe máy.
3. Qui mô của ngành công nghiệp phụ trợ
Tuỳ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế nói chung và chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ nói riêng của từng quốc gia, từng thời kì mà công nghiệp phụ trợ có các qui mô khác nhau. Về cơ bản, công nghiệp phụ trợ có 3 qui mô:
- Qui mô chính: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này.
- Qui mô mở rộng 1: bao gồm qui mô chính và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, bảo hiểm
- Qui mô mở rộng 2: những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hoá đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, cộng cụ máy móc và cả các nguyên vật liệu như thép, hoá chất… cho ngành công nghiệp lắp ráp.
4. Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ trong phát triển kinh tế đất nước
4.1. Đẩy mạnh chuyên môn hoá Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Trong xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới luôn hình thành 2 xu hướng trái ngược mà bổ sung cho nhau, đó là hợp tác hoá và chuyên môn hoá. Chuyên môn hoá là một tất yếu của sự phát triển. công nghiệp phụ trợ cũng ra đời từ sự phân công lao động xã hội ở trình độ cao tức là sự chuyên môn hoá. Và khi đã phát triển công nghiệp phụ trợ lại tác động ngược trở lại, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá. Nói cách khác công nghiệp phụ trợ và chuyên môn hoá luôn gắn liền với nhau.
Chuyên môn hoá giúp các quốc gia, các doanh nghiệp tận dụng tối đa lợi thế so sánh của mình. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp phải thực hiện tất cả các khâu, nguồn lực bị chia nhỏ, hiệu quả sẽ không cao. công nghiệp phụ trợ tập trung đi sâu vào một khâu, mỗi doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ cung cấp một bộ phận sản phẩm cho nhà lắp ráp. Như vậy chất lượng của sản phẩm cuối cùng không những được đảm bảo mà doanh nghiệp sản xuất có nhiều nguồn lực hơn để đầu tư cho các hoạt động khác. Lấy ví dụ như Canon, để sản xuất một sản phẩm của mình thay vì xây dựng hàng trăm nhà máy sản xuất linh kiện, Canon mua các sản phẩm đó từ các doanh nghiệp khác với tiêu chuẩn chất lượng đề ra. Thời gian đầu khi đầu tư vào Việt Nam do không tìm được nhà cung cấp linh phụ kiện nên công ty đành phải chọn giải pháp tình thế là sản xuất ngay tại nhà máy của mình nhưng về lâu dài ông Sachio Kagayama, tổng giám đốc Canon Việt Nam đã nhận định: nhất thiết phải tìm được nhà cung cấp của Việt Nam để đảm bảo sản xuất ổn định. Từ nhu cầu đó đến năm 2022 công ty đã tìm được cho mình 20 nhà cung cấp Việt Nam. Như vậy nhu cầu về công nghiệp phụ trợ đã khiến một số doanh nghiệp chuyên sâu vào sản xuất các bộ phận cho công nghiệp lắp ráp. Nói cách khác công nghiệp phụ trợ đã thúc đẩy phân công lao động xã hội một cách hiệu quả.
4.2. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại
Như đã nói ở trên công nghiệp phụ trợ phát triển sẽ đẩy mạnh quá trình chuyên môn hoá. Do vậy các doanh nghiệp có điều kiện và nguồn lực để nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ. Đặc biệt đối với ngành công nghiệp phụ trợ là ngành mà tính cạnh tranh của sản phẩm chủ yếu dựa trên chất lượng và tiêu chuẩn công nghệ thì một đòi hỏi thiết yếu đối với các doanh nghiệp là phải luôn luôn đổi mới cải tiến công nghệ và tìm ra những công nghệ mới nhất, hiệu quả nhất để có được lợi thế người đi đầu.
CNPT phát triển không chỉ thúc đẩy ứng dụng công nghệ hiện đại trong một doanh nghiệp, một ngành cụ thể mà việc áp dụng các thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong các ngành công nghiệp phụ trợ còn có tính chất dẫn dắt sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất kế tiếp.
4.3. Cải thiện cơ cấu lao động theo hướng tích cực
Một nhà máy lắp ráp có thể cần đến hàng trăm thậm chí hàng nghìn nhà máy vệ tinh cung cấp các sản phẩm phụ trợ mà công nghiệp phụ trợ lại bao phủ rộng một số lượng lớn các ngành chế tạo, như vậy số lượng việc làm mà công nghiệp phụ trợ tạo ra và giải quyết cho xã hội là rất lớn. Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, khi công nghiệp phụ trợ phát triển, môi trường đầu tư sẽ trở nên hấp dẫn hơn do đó sẽ có ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI hơn. Do đó nhu cầu lao động sẽ tăng lên. Các nước có lợi thế so sánh về giá lao động rẻ sẽ có nhiều cơ hội hơn để khai thác lợi thế này nếu phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ CNPT không chỉ giải quyết được nhiều công ăn việc làm hơn mà nó còn cải thiện cơ cấu lao động theo hướng: tăng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, giảm tỷ trọng trong lĩnh vực nông nghiệp và nâng cao trình độ người lao động. Lí do là lao động trong ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu làm việc với máy móc, công nghệ hiện đại nên bắt buộc người lao động phải đạt trình độ và tay nghề cao.
4.4. Tạo tiền đề phát triển bền vững
Nhiều nước đang phát triển do hạn chế về công nghệ và vốn nên thường không quan tâm phát triển công nghiệp phụ trợ mà chỉ thực hiện các hợp đồng gia công quốc tế cho nước ngoài và nhận phần tiền công lao động. Trong khi đó công nghiệp trong nước lại phải phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu. Do đó thu nhập thực tế của người lao động không cao do không tạo ra được giá trị gia tăng. Nếu cứ tiếp tục tình trạng như vậy, công nghiệp trong nước nói riêng và cả nền kinh tế nói chung sẽ không thể phát triển bền vững. Chỉ có phát triển công nghiệp phụ trợ mới có thể tạo ra thế chân đế vững chắc cho sản xuất, tạo tiền đề cho phát triển ổn định và lâu dài các ngành công nghiệp khác.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp phụ trợ Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
5.1. Qui mô cầu
Ngành công nghiệp phụ trợ như đã biết là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao và có lợi thế kinh tế tăng theo qui mô. Để giảm thiểu chi phí trên một đơn vị sản phẩm, các doanh nghiệp phải tăng qui mô và công suất hoạt động. Đó là lí do tại sao các nhà đầu tư muốn đảm bảo một thị trường có dung lượng lớn hoặc có tiềm năng dung lượng lớn trong tương lai trước khi ra quyết định đầu tư. Nói cách khác, qui mô cầu lớn là điều kiện thiết yếu để phát triển công nghiệp phụ trợ. Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do khan hiếm vốn nên nếu không được đảm bảo về đầu ra các doanh nghiệp không thể mạnh dạn đầu tư. Chính vì vậy để phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đòi hỏi phải có chính sách thích hợp để thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển nhằm tăng quy mô cầu.
5.2. Thông tin
Trên bất cứ thị trường nào cũng xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng. Đặc biệt trong ngành công nghiệp phụ trợ sự chia sẻ và nắm bắt thông tin giữa các nhà cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp lắp ráp có ý nghĩa quyết định. Tình trạng thiếu thông tin sẽ cản trở giao dịch giữa nhà sản xuất và nhà lắp ráp, nhất là các doanh nghiệp FDI. Khi phải tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc trong việc tìm kiếm nhà cung cấp nội địa, các nhà lắp ráp FDI sẽ không muốn đầu tư vào nước đó. Và như vậy công nghiệp phụ trợ sẽ không có cơ hội phát triển. ở trường hợp ngược lại, các nhà cung cấp nội địa muốn cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp này nhưng do chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khả năng tiếp cận thông tin của các nhà sản xuất này còn hạn chế. Do đó cung không gặp được cầu, tất yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp phụ trợ.
5.3. Tiêu chuẩn chất lượng. Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Sự chênh lệch về tiêu chuẩn chất lượng giữa nhà cung cấp nội địa và các doanh nghiệp lắp ráp cũng là một yếu tố cản trở công nghiệp phụ trợ. Khi các doanh nghiệp cung cấp phàn nàn về yêu cầu của các nhà lắp ráp là quá khắt khe còn các công ty lắp ráp cho rằng sản phẩm mình được cung cấp không đạt tiêu chuẩn thì sự khập khiễng đó sẽ dẫn tới tình trạng: trong khi các công ty lắp ráp thiếu hụt các loại linh kiện và phải bù đắp bằng cách nhập khẩu thì các nhà sản xuất lại không dám bỏ vốn đầu tư mua công nghệ đạt tiêu chuẩn của công ty lắp ráp vì sợ không có được các đơn hàng ổn định, lâu dài. Lấy ví dụ Canon Việt Nam, yêu cầu của Canon là dù sản xuất 100 hay 1000 sản phẩm thì chất lượng cũng phải đồng đều nhau và điều này phải được duy trì như một nguyên tắc bất di bất dịch. Thế nhưng doanh nghiệp Việt nam cung cấp linh kiện cho Canon, lần thứ nhất chất lượng rất tốt nhưng từ lần thứ hai trở đi đã có sự thay đổi. Chính điều đó khiến Canon e ngại đối với các nhà cung cấp Việt Nam. Theo ý kiến của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam, việc sản xuất chủ yếu là học hỏi từ bạn bè hoặc đúc rút trong quá trình sản xuất nên việc đạt được sự đồng đều về chất lượng là rất khó. Nếu không được hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật thì sẽ thật khó để có được sự gặp gỡ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các nhà lắp ráp nước ngoài.
5.4. Nguồn nhân lực
CNPT là ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao. Có ý kiến cho rằng nguồn nhân lực còn quan trọng hơn máy móc hiện đại. Bởi lẽ máy móc, dây chuyền công nghệ thì nước nào cũng có thể sở hữu chúng. Do đó nếu chỉ đơn thuần dựa vào máy móc thì sẽ không tạo ra được khả năng cạnh tranh quốc tế. Sự thành công hay thất bại của nền công nghiệp phụ trợ của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ kỹ sư và các chuyên gia, những người trực tiếp vận hành, cải tiến máy móc và phát minh ra những phương pháp làm việc mới hiệu quả hơn.
5.5. Chính sách của Chính Phủ
Để phát triển công nghiệp phụ trợ cần đến tính hai chiều giữa các công ty lắp ráp và các doanh nghiệp cung ứng. Tuy nhiên mối quan hệ này chưa thực sự rõ ràng, nhất là phía các công ty lắp ráp. Nhiều công ty có hỗ trợ các doanh nghiệp nhưng chỉ dừng lại ở mức như gửi chuyên gia đào tạo tại chỗ, gửi bản vẽ,khuôn mẫu…Chính những yếu tố này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Chính Phủ. Giảm thuế quan và có nhiều ưu đãi về thuế là công cụ chính sách quan trọng mà Chính Phủ có thể sử dụng. Giảm thuế quan sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chi phí của các nhà lắp ráp và có thể biến quốc gia thành cơ sở xuất khẩu những thành phẩm. Các ưu đãi như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, khấu trừ thuế mua máy móc… sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp phụ trợ. Các chính sách khác như hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ đào tạo… cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ.
II. Tác động của công nghiệp phụ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
1. Phát huy các nguồn lực của doanh nghiệp
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ( doanh nghiệp vừa và nhỏ) trên thế giới đều có lợi thế về lao động, kinh nghiệm thực tế trong hoạt động sản xuất nhưng lại kém lợi thế về vốn, công nghệ và trang thiết bị. Do đó doanh nghiệp khó có thể tự mình cung cấp những sản phẩm hoàn thiện. Bởi lẽ nó đòi hỏi một tiềm lực quá lớn so với khả năng của các doanh nghiệp. Nếu cứ sản xuất doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng nhũng công nghệ cũ, chi phí vốn không quá cao và do vậy chất lượng sản phẩm sẽ không đảm bảo, không được thị trường chấp nhận hoặc có một dung lượng thị trường vô cùng nhỏ hẹp. Không bán được hàng, doanh số thấp, lợi nhuận thấp dẫn đến tích luỹ thấp. Doanh nghiệp lại tiếp tục thiếu vốn để đầu tư cho máy móc. Mặt khác, do thiếu những qui chuẩn chất lượng và bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý rằng sản phẩm của mình đã không thể cạnh tranh trên thị trường nên công nhân thường làm việc kém nhiệt tình, không cẩn thận. Tất yếu là chất lượng sản phẩm sẽ ngày càng kém. Doanh nghiệp rơi vào cái vòng luẩn quẩn và khó có thể đi lên được.
Ngược lại, chủ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ thường là các kỹ sư hoặc thợ kỹ thuật lành nghề nên họ rất có kinh nghiệm về máy móc và thực tế sản xuất một bộ phận nào đó. Họ có thể sản xuất các linh kiện, bộ phận một cách hiệu quả hơn hẳn bất cứ một doanh nghiệp lớn nào. Do vậy, tham gia vào một khâu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng tức là hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ quả là một giải pháp hữu hiệu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tham gia công nghiệp phụ trợ tức là chuyên môn hoá vào sản suất một loại sản phẩm phụ trợ cho công nghiệp lắp ráp, doanh nghiệp cần tập trung toàn bộ nguồn lực của mình. Doanh nghiệp sẽ phải nỗ lực, mạnh dạn và tích cực hơn trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư, sẽ phải nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân sao cho có thể vận hành tốt máy móc hiện đại, sẽ phải nghiên cứu tìm hiểu những công nghệ phù hợp để giá không quá cao mà vẫn đảm bảo chất lượng….
Bên cạnh đó, do sức cạnh tranh khốc liệt trên thị trường sản phẩm công nghiệp phụ trợ, các doanh nghiệp phải đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và xúc tiến các hoạt động bán hàng sao cho hiệu quả. Bởi lẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là ở những nước đang phát triển thường rất kém và thiếu kinh nghiệm trong hoạt động marketing. Họ thường thụ động trong kinh doanh, chỉ sản xuất ra và đợi đơn đặt hàng chứ hiếm khi thấy họ đi mời chào sản phẩm của mình. công nghiệp phụ trợ đã góp phần cải thiện đáng kể tư duy và phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Như vậy, công nghiệp phụ trợ không chỉ tạo ra cơ hội mà còn tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng đổi mới mình, nỗ lực phát huy nội lực.
2. Tận dụng ngoại lực Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
2.1. CNPT giúp chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI
Vốn đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế. Các công ty nước ngoài chủ yếu là các công ty đa quốc gia thường chọn những nơi có nền công nghiệp phụ trợ phát triển nhằm cắt giảm chi phí trong khâu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng. Nhà cung cấp của các doanh nghiệp FDI này hoặc là các công ty con của nó được đặt ở nước nhận đầu tư để tận dụng các ưu đãi đầu tư, hoặc là các công ty nước ngoài khác đặt ở thị trường nội địa hoặc là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước nhận đầu tư.
Khi đầu tư vào một nước, đi cùng với các doanh nghiệp FDI này là máy móc, công nghệ được chuyển giao sang nước tiếp nhận đầu tư. Sự chuyển giao này được thực hiện theo các hình thức:
- Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp( intra- firm transfer): đây là hình thức chuyển giao công nghệ giữa các công ty đa quốc gia và các công ty con của nó.
- Chuyển giao giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp bản xứ hoạt động trong cùng ngành.
- Chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp ( vertical inter- firm transfer): doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp bản xứ sản xuất các sản phẩm trung gian cung cấp cho các doanh nghiệp FDI hoặc trường hợp doanh nghiệp bản xứ dùng sản phẩm của doanh nghiệp FDI để sản xuất thành phẩm cuối cùng.
Trong một số trường hợp, sau khi làm việc trong doanh nghiệp FDI một thời gian, nhân viên trong công ty tách ra mở công ty riêng và trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI này.
Như vậy, dù trực tiếp hay gián tiếp, doanh nghiệp FDI đã chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh, kinh nghiệm quản lý sang cho các doanh nghiệp bản xứ. Và để thu hút đước các doanh nghiệp FDI thì công nghiệp phụ trợ phải phát triển. Đây là hiệu quả lan toả mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tranh thủ tận dụng.
2.2. Đa dạng hoá cơ cấu các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp FDI
CNPT phát triển góp phần thu hút đầu tư nước ngoài nhờ cải thiện môi trường đầu tư. Các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào một nước luôn mong muốn tìm được các nhà cung cấp nội địa để cắt giảm chi phí. Đó chính là cơ hội cho các doanh nghiệp bản xứ.
Trước khi các doanh nghiệp FDI đến đầu tư hầu hết các doanh nghiệp đều tự sản xuất theo mẫu mã, thiết kế và tiêu chuẩn chất lượng của mình rồi bán ra trên thị trường. Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp cũng như chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp kiểu này còn rất hạn chế. Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Đồng thời với sự gia tăng của các doanh nghiệp FDI mà chủ yếu là các công ty đa quốc gia là sự xuất hiện các công ty con do các công ty đa quốc gia này thành lập hoặc các doanh nghiệp nội địa cung cấp linh phụ kiện, phụ tùng cho các doanh nghiệp FDI. Như vậy ngành công nghiệp phụ trợ đã có thêm các loại hình doanh nghiệp mới có mối quan hệ dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác hoặc quan hệ trực thuộc công ty mẹ- con với doanh nghiệp FDI.
Sau một thời gian hoạt động của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản xứ đã có thể phần nào nắm được công nghệ và nâng cao trình độ kinh doanh, trình độ quản lý… thông qua chuyển giao công nghệ. Họ thành lập công ty mới với hoạt động kinh doanh chủ yếu là: cung cấp một loại linh kiện cho doanh nghiệp FDI; hoặc cạnh tranh với các công ty con của doanh nghiệp FDI trong việc cung ứng; hoặc mua linh kiện từ các doanh nghiệp FDI để sản xuất các thành phẩm cuối cùng và cạnh trạnh trên thị trường; hoặc xuất khẩu linh phụ kiện…
Như vậy khi số lượng các doanh nghiệp FDI tăng lên nhờ công nghiệp phụ trợ phát triển thì các doanh nghiệp cung ứng trong nước không chỉ tăng lên về số lượng mà cả cơ cấu cũng đa dạng hơn. Ví dụ, ở Việt Nam trước khi có nhiều doanh nghiệp FDI đầu tư, chúng ta chỉ có vài doanh nghiệp nhà nước làm công nghiệp phụ trợ nhưng cùng với sự gia tăng đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 31/12/2023 chúng ta đã có 25.564 doanh nghiệp công nghiệp bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
3. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
3.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
“Báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu”- Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2015 đã đưa ra khái niệm như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra.
3.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nói đến cạnh tranh là nói đến sự so sánh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự so sánh tương quan giữa các doanh nghiệp căn cứ trên một số tiêu chí như vốn, công nghệ, sản phẩm và các nguồn lực kinh doanh.
- Vốn Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Bất kì một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có vốn. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất nhất là các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ thì vốn là nhân tố vô cùng quan trọng. Nó quyết định qui mô sản xuất, trình độ công nghệ của doanh nghiệp đó. Vốn lớn, doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động sản xuất, mở rộng thị trường, mở rộng kênh phân phối, đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ…
Có thể nói vốn càng lớn thì khả năng cạnh tranh càng được đảm bảo hơn. Về điểm này thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn kém lợi thế hơn so với các công ty lớn. Với nguồn vốn ban đầu thường thấp, khả năng tiết kiệm không đáp ứng nhu cầu đầu tư, nếu hạn chế nhu cầu đầu tư ở mức tích luỹ cho phép thì lợi nhuận sẽ không cao. Để tăng lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh thì phải đảm bảo một tỷ lệ đầu tư cao tức phải có vốn lớn. Vậy vốn ở đâu ra? Các doanh nghiệp có nhiều cách để huy động vốn như vốn chủ doanh nghiệp tự có hoặc vay của người thân, vốn vay từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, vốn do phát hành chứng khoán…và một kênh huy động vốn đặc biệt hiệu quả, không phát sinh nợ trong tương lai đó chính là vốn FDI mà kênh dẫn dắt FDI mạnh nhất, hữu hiệu nhất hiện nay chính là phát triển công nghiệp phụ trợ. Ví dụ, nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ mà Trung Quốc là điểm đến hấp dẫn hàng đầu của đầu tư nước ngoài. Trong 3 tháng đầu năm 2026 Trung Quốc đã thu hút được 2,74 tỷ USD vốn FDI
- Trình độ công nghệ
Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra từng ngày đặc biệt đối với ngành công nghiệp thì “ đi tắt đón đầu” về công nghệ là chiến lược kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sản xuất ra các thành phẩm đòi hỏi tỷ trọng về sức lao động ngày càng giảm và tỷ trọng về công nghệ ngày càng tăng. Do đó hàm lượng công nghệ trở thành tiêu chí quan trọng trong việc xét đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường.
Công nghệ hiện đại giúp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ tiềm lực để nghiên cứu hay mua công nghệ hiện đại nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bằng nội lực của mình thì thật khó cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu muốn có được các hợp đồng mua công nghệ( licensing agreement). Giải pháp đưa ra là doanh nghiệp có thể du nhập công nghệ từ nước ngoài qua các kênh như FDI, hợp đồng BOT, OEM( original equipment manufacturing) , uỷ thác sản xuất trong đó hiệu quả nhất là chuyển giao công nghệ thông qua FDI.
Như vậy nhờ công nghiệp phụ trợ phát triển một quốc gia sẽ thu hút được nhiều FDI hơn. Thông qua đó đất nước nói chung, các doanh nghiệp nói riêng sẽ tiệp nhận được công nghệ hiện đại thông qua chuyển giao công nghệ. Kết quả là năng lực cạnh tranh của cả doanh nghiệp và quốc gia đều tăng lên. Ví dụ về tổ hợp công nghiệp Wanxiang Group của Trung Quốc. Khi mới thành lập nó chỉ là một xưởng sản xuất phụ tùng máy kéo dùng trong nông nghiệp. Hoà nhịp cùng sự mở cửa của nền kinh tế, xí nghiệp nhỏ này đã chuyển hướng sang khai thác thị trường phụ tùng ô tô và tận dụng tiếp nhận công nghệ chuyển giao của các nước tiên tiến, dần năng cao khả năng cạnh tranh. Đến nay Wanxiang Group đã trở thành một tổ hợp công nghiệp chế tạo phụ tùng ô tô khổng lồ.
- Sản phẩm Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp đó trên thị trường bởi lẽ sản phẩm có bán được người ta mới biết đến doanh nghiệp. Với các doanh nghiệp lớn, tiềm lực dồi dào họ có nhiều điều kiện để nghiên cứu và phát triển sản phẩm do vậy có thể thắng trong cạnh tranh nhờ chiến lược khác biệt hoá sản phẩm và ưu tế người đi đầu. Nhưng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm chi phí là chiến lược cạnh tranh phù hợp nhất với điều kiện vốn và công nghệ hạn chế.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào 3 yếu tố cơ bản: chi phí, chất lượng và thời gian (khả năng cung cấp hàng). Đối với sản phẩm công nghiệp thì chi phí có thể coi là nhân tố quan trọng hàng đầu. Chi phí của một sản phẩm gồm chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công, chi phí sản xuất, chi phí cho hoạt động logistic… Sản phẩm của mỗi ngành nghề khác nhau thì tỷ lệ giữa các loại chi phí khác nhau. Đối với sản phẩm công nghiệp thì giá thành linh phụ kiện thường chiếm từ 70% đến 90% trong khi chi phí nhân công chỉ chiếm không quá 10%. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dù bán sản phẩm tại thị trường nội địa hay xuất khẩu, dự án đầu tư đều có nhu cầu rất lớn về mua sắm các sản phẩm phụ trợ như phụ tùng nhựa, khuôn kim loại, linh kiện, phụ tùng…Có nguồn cung cấp linh, phụ kiện dồi dào, có chất lượng cao ngay trong nước thì tổng giá thành sản phẩm sẽ hạ, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Như vậy để tăng khả năng cạnh tranh thì giảm chi phí về linh kiện sẽ hiệu quả hơn giảm chi phí về nhân công. Để làm được điều này bắt buộc nền công nghiệp phụ trợ phải phát triển. Ví dụ về sản phẩm ô tô: Một chiếc ô tô bất kỳ đều cần khoảng 20.000- 30.000 chi tiết với hàng ngàn linh kiện. Thái Lan xuất khẩu ô tô với linh kiện, phụ tùng sản xuất tại chỗ với 15 nhà máy lắp ráp nhưng có đến 2.500 nhà cung ứng trong khi Việt Nam chỉ có 49 nhà cung cấp, tỷ lệ nội địa hoá đạt được chỉ ở mức 5- 10% và chỉ cung cấp được vài sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như bộ dây điện trong xe, ghế ngồi, một số chi tiết bằng nhựa hoặc kim loại. Đó chính là lí do mà tính cạnh tranh của ô tô Việt Nam còn rất thấp.
- Nguồn lực kinh doanh
Tri thức quản lý, kinh nghiệm quản lý, khả năng kinh doanh, trình độ ngưòi lao động… được gọi chung là nguồn lực kinh doanh. Nguồn lực kinh doanh góp phần ngày càng lớn trong xây dựng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một người lãnh đạo có tài, có tầm nhìn xa trông rộng, năng lực kinh doanh giỏi sẽ đưa ra được những chiến lược phát triển tối ưu cho doanh nghiệp. công nghiệp phụ trợ là ngành phụ thuộc nhiều vào các chính sách của Chính Phủ nên sẽ có những thay đổi trong định hướng phát triển. Do vậy sự nhạy bén, linh hoạt trước những thay đổi đó của người đứng đầu doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với công ty. Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khả năng tiếp cận thông tin còn hạn chế nên đứng trước những bước thay đổi trong chính sách của Chính Phủ, tài năng của người quản lý càng trở nên quan trọng.
Một yếu tố nữa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung có lợi thế về lao động rẻ nhưng lực lượng lao động có trình độ công nghệ và tay nghề cao lại ít. Do vậy khi tham gia vào công nghiệp phụ trợ các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ cho đội ngũ công nhân. Xét trên khía cạnh đó công nghiệp phụ trợ đã làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN


Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp