Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh toán là cầu nối giữa sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Đồng thời nó cũng là khâu mở đầu và là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Hiện nay, nền kinh tế thế giới đã phát triển sang một giai đoạn mới, lúc này ngân hàng cần phải phát huy đầy đủ các chức năng của mình đó là trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Tổ chức tốt công tác thanh toán nói chung sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách trôi chảy nhịp nhàng.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, khi nền kinh tế xã hội càng phát triển, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt ngày càng giảm và tỷ lệ các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng. Đỉnh cao của sự phát triển các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt là sự ra đời của thẻ thanh toán điện tử. Đối với các ngân hàng thương mại, thẻ thanh toán điện tử là công cụ chính trong hoạt động bán lẻ, mang lại một định hướng mới cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, có tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh của mỗi ngân hàng theo hướng mở rộng mảng kinh doanh dịch vụ vừa tăng thu nhập, mở rộng quy mô vừa giảm rủi ro từ hoạt động tín dụng truyền thống. Tạo cơ sở thuận lợi để tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, góp phần xây dựng môi trường tiêu dùng văn minh, là điều kiện cho sự hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng quốc tế.
Sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng dịch vụ thẻ tại Việt Nam, cũng như sử dụng những kiến thức đã được tích lũy tại trường đại học Thăng Long, em nhận ra rằng hoạt động kinh doanh thẻ đã mang đến một vị thế mới, một diện mạo mới cho các ngân hàng. Ngoài việc khẳng định về sự tiên tiến của công nghệ, triển khai dịch vụ thẻ đã và đang góp phần xây dựng được hình ảnh thân thiện của ngân hàng trong mắt khách hàng, các sản phẩm dịch vụ thẻ có tính chuẩn hóa quốc tế cao là một trong những phương thức kinh doanh có khả năng cạnh tranh lớn trong quá trình hội nhập. Hiện nay, dịch vụ thẻ được các ngân hàng thương mại nhìn nhận là một lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng trong cuộc đua nhắm tới thị trường ngân hàng bán lẻ. Từ những nhận thức về vai trò và lợi ích to lớn mà hoạt động kinh doanh thẻ đem lại cho ngân hàng, em đã quyết định chọn đề tài: “Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Quảng Ninh” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
- Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ ba mục tiêu sau:
Làm rõ cơ sở lý luận về thẻ và dịch vụ thanh toán thẻ của ngân hàng thương mại.
Phân tích, đánh giá tình hình phát hành thẻ và dịch vụ thanh toán thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh; từ đó rút ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của hạn chế.
Từ những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó, khoá luận sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh trong giai đoạn năm 2023-2025.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, nhưng chủ yếu tập trung vào ba phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: thu thập, xử lý và phân tích các con số liên quan đến tình hình phát hành thẻ và dịch vụ thanh toán thẻ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể.
Phương pháp so sánh: so sánh nhằm xác định quan hệ tương quan giữa các số liệu liên quan đến tình hình phát triển thẻ và dịch vụ thanh toán thẻ của các giai đoạn và những biến động trong các thời kỳ. Từ đó xác định xu hướng và tính liên hệ của các con số này để cho ta thấy rõ xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xử lý thông tin, phân tích, và đưa ra kết quả xử lý thông tin về hoạt động phát hành thẻ, thanh toán thẻ, doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các thành tựu đạt được. Thông qua đó đánh giá mặt mạnh, mặt yếu và chỉ ra những sai lệch và tổng hợp để khái quát về kết quả. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
5. Kết cấu khoá luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng, sơ đồ, biểu đồ, kết cấu khoá luận bao gồm ba phần sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh
- Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh.
Chương 1. Cơ sở lý luận chung về hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng thương mại
1.1. Những vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của thẻ thanh toán
Trong hơn 60 năm qua, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và thẻ trả trước, cũng như các hình thức thanh toán tiên tiến khác đã được biết đến như một động lực đằng sau sự bùng nổ kinh tế toàn cầu. Trong năm 2022, các giao dịch thanh toán thẻ được thực hiện trên toàn thế giới lên tới hơn 13 nghìn tỷ đô la Mỹ. Người ta ước tính rằng thanh toán điện tử, một số lượng lớn trong số đó được thực hiện bằng cách sử dụng thẻ thanh toán tiết kiệm ít nhất 1% GDP của một nước so với chi phí của các khoản thanh toán trên giấy, chẳng hạn như tiền mặt và séc.
Dưới đây là tổng quan về thẻ thanh toán, kể từ khi được định nghĩa vào năm 1946, thẻ thanh toán đã trở thành một thế lực toàn cầu, là phương thức thanh toán nhanh nhất, an toàn nhất, thuận tiện nhất và hiệu quả nhất trên thế giới.
Năm 1946, Chủ ngân hàng John Biggins đã giới thiệu thẻ ngân hàng đầu tiên có tên “Charg-It” vào khu phố Brooklyn, quê hương của ông ta. Bất cứ khi nào một khách hàng mua hàng của một thương gia ở địa phương, phí sẽ được chuyển tiếp đến ngân hàng của Biggins, sau đó ngân hàng sẽ hoàn trả cho các thương gia và lấy thanh toán từ các khách hàng. Đó là một giao dịch tương đối đơn giản và tất cả các chủ thẻ Charg-It đều sở hữu một tài khoản tại ngân hàng Biggins.
Năm 1951, Ngân hàng Quốc gia Franklin ở New York giới thiệu thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên. Nó chỉ được sử dụng bởi người có tài khoản tại ngân hàng. Trong một thập kỷ sau đó, một số ngân hàng thương mại tại các thành phố lớn của Mỹ bắt đầu chấp nhận thanh toán bằng thẻ với một số thương nhân nhất định mà họ tin tưởng.
Năm 1955, Diners Club bắt đầu cho phép 200.000 chủ thẻ của họ sử dụng thẻ để mua hàng tại các cửa hàng ở hơn một chục quốc gia bên ngoài nước Mỹ. So với năm 1950 những người sử dụng thẻ Dinner Club chỉ được sử dụng thẻ của mình để trả cho các bữa ăn tại các nhà hàng cao cấp ở thành phố New York. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Năm 1958, Công ty America Express phát hành các thẻ nhựa dùng để thanh toán, trong đó tập trung vào các lĩnh vực giải trí và du lịch, một lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh chóng tại Mỹ và Châu Âu.
Năm 1958, Bank of America tung ra sản phẩm thẻ tín dụng BankAmericard tại Fresno, Califonia. Năm 1966, Bank of America trao quyền phát hành thẻ BankAmeri card cho các ngân hàng thông qua kí kết các hợp đồng đại lý. Tới năm 1977, thẻ BankAmericard được đổi tên thành VISA, và được sự chấp nhận trên toàn cầu, do thẻ tín dụng lúc này dần trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng.
Năm 1966, Ngày 16 tháng 8, Hiệp hội thẻ liên ngân hàng (ICA) được thành lập bởi một nhóm các ngân hàng phát hành tín dụng ở Mỹ, tạo ra một hệ thống thẻ tín dụng quốc gia. Năm 1979, ICA đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ 2 thế giới, sau tổ chức VISA. Tới nay MasterCard đã có 25.000 thành viên tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Thẻ ngày nay được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu hút nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được xem như một phương tiện thanh toán văn minh, thuận tiện trong các giao dịch mua bán. Bên cạnh thẻ MasterCard, VISA, thẻ Amex ra đời năm 1958, JCB xuất phát từ Nhật Bản cũng vươn lên mạnh mẽ và được sử dụng trên toàn cầu.
1.1.2. Khái niệm về thẻ ngân hàng
Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khác hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có kí hợp đồng thanh toán với ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ còn được dùng để thực hiện nhiều dịch vụ khác thông qua hệ thống giao dịch tự động ATM như chuyển khoản, tra vấn thông tin tài khoản, thông tin các khoản chi phí sinh hoạt…
1.1.3. Đặc điểm cấu tạo thẻ
Hầu hết các loại thẻ hiện nay đều được làm bằng plastic với 3 lớp ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa cứng nằm giữa 2 lớp tráng mỏng. Màu sắc của thẻ thay đổi tùy vào ngân hàng phát hành và tùy theo quy định thống nhất của mỗi tổ chức thẻ. Thẻ có kích thước chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 84mm x 54mm x 0.76mm, 4 góc bo tròn.
Mặt trước của thẻ gồm:
- Nhãn hiệu thương mại của thẻ
- Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ
- Số thẻ, tên chủ thẻ in nổi:
- MasterCard: gồm 16 số, luôn bắt đầu bằng số 5.
- VISA: gồm 2 loại số thẻ 16 số và 13 số, luôn bắt đầu bằng số 4.
- Thẻ American Express: số thẻ gồm 15 số, bắt đầu bằng số 37 hoặc 34.
- Thẻ Đông Á: gồm 16 số, luôn bắt đầu bằng dãy số 1792 hoặc 9704.
Ngày hiệu lực của thẻ: được in dưới số thẻ, dập nổi theo trình tự tháng/năm hết hạn của thẻ. Giao dịch phải được thực hiện trong thời hạn hiệu lực. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế đối với một số loại thẻ quốc tế.
- Mặt sau của thẻ gồm:
Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
- Ô chữ ký dành cho chủ thẻ.
Ngoài ra thẻ còn có thể có thêm một số yếu tố khác theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế, đơn vị liên kết hoặc hiệp hội phát hành thẻ…Các ngân hàng khi phát hành thẻ thường sử dụng những thiết bị mang tính công nghệ cao để đảm bảo tính an toàn cho thẻ thanh toán.
1.1.4. Phân loại thẻ thanh toán
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau chúng ta có thể thấy thẻ thanh toán rất đa dạng. Người ta có thể phân loại nó theo nhiều tiêu chí như công nghệ sản xuất, tính chất thanh toán hay người phát hành:
- Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ thanh toán
1.1.4.1. Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất
Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): trên bề mặt thẻ được khắc chữ nổi. Tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay người ta không còn dùng nữa vì dễ bị làm giả.
Thẻ băng từ (Magnetic stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với 2 băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại này đã dùng phổ biến trong vòng 20 năm nay, nhưng đã thể hiện một số nhược điểm như khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trên thẻ không được mã hóa, có thể đọc được dễ dàng, thẻ chỉ mang một lượng thông tin hạn chế không áp dụng được kỹ thuật mật mã. Do những nhược điểm này mà thẻ dễ bị lợi dụng lấy cắp tiền.
Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ thẻ mới nhất dựa trên kỹ thuật xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một “chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo, do đó ghi được nhiều thông tin hơn và an toàn hơn.
1.1.4.2. Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi dùng để mua hàng sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại các có sở kinh doanh. Thẻ ghi nợ còn dùng để rút tiền ở máy ATM. Nó không có mức hạn mức tín dụng vì phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.
Thẻ tín dụng (Credit card): được sử dụng phổ biến nhất. Chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm tại những cơ sở kinh doanh chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ trả trước (Prepaid Card): Thẻ trả trước được xem như một thẻ dự trữ giá trị, tương tự như thẻ ghi nợ, người sử dụng cần nạp một số tiền vào thẻ và thanh toán không quá số tiền đó. Điểm khác biệt giữa thẻ trả trước và thẻ ghi nợ là ở chỗ tài khoản thẻ có liên kết với tài khoản ngân hàng hay không. Thẻ trả trước sẽ không kết nối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng, nên nếu không may, thông tin thẻ bị lộ, thiệt hại chỉ là số tiền có trong thẻ; còn tiền trong tài khoản ngân hàng vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng.
1.1.4.3. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó.
Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. Nó được khách du lịch rất ưu chuộng vì sự an toàn, tiện lợi. Tuy nhiên do phạm vi sử dụng rộng nên quy trình hoạt động của thẻ này phức tạp hơn.
1.1.4.4. Phân loại theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành: thẻ này do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Nó hiện đang được sử dụng rộng rãi nhất và nó có thể lưu hành trên toàn cầu.
Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: đó là thẻ du lịch, giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners club, Amex… Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Thẻ liên kết: thẻ này ngày càng trở nên phổ biến. Thẻ liên kết là sản phẩm của một ngân hàng kết hợp với bên thứ ba và thông thường tên hoặc nhãn hiệu thương mại, logo của bên thứ ba này cũng xuất hiện trên tấm thẻ. Ngoài những đặc điểm của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ còn có các tiện ích đến từ bên thứ ba cung cấp.
1.1.4.5. Phân loại theo mục đích sử dụng
Thẻ du lịch và giải trí (Travel and entertainment card hay T&E): là loại thẻ thường do các công ty tư nhân phát hành để phục vụ cho ngành du lịch và giải trí.
Thẻ vàng (Gold card): là loại thẻ phục vụ cho thị trường cao cấp, hạng cao phù hợp với khách hàng có thu nhập cao, có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn.
Thẻ thường (Standard card): là một loại thẻ tín dụng do hệ thống Master phát hành. Nó là loại thẻ mang tính chất phổ thông được nhiều người ưu dùng.
Ở Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều loại thẻ từ các tổ chức thẻ quốc tế khác nhau từ đó đã có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của khách hàng.
1.1.5. Các chủ thể tham gia thị trường thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
1.1.5.1. Tổ chức thẻ quốc tế
Tổ chức thẻ quốc tế là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp, là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Tổ chức thẻ cấp giấy phép thành viên cho các ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành thẻ. Khác với các ngân hàng thành viên, Tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay đơn vị chấp nhận thẻ mà chủ yếu cung cấp mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, đưa ra các luật lệ và quy định về thẻ thanh toán, là trung gian giải quyết tranh chấp giữa các thành viên,… Các tổ chức thẻ quốc tế nổi tiếng như: Công ty thẻ American Express, tổ chức thẻ VISA, MasterCard…
1.1.5.2. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer)
Ngân hàng phát hành thẻ là ngân hàng được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức hoặc công ty này, đây cũng là ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng. Ngân hàng phát hành được quyền in tên ngân hàng mình trên thẻ thể hiện đó là sản phẩm của mình. Ngoài ra, ngân hàng phát hành phải chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ.
1.1.5.3. Ngân hàng thanh toán (Acquirer)
Ngân hàng thanh toán là ngân hàng xin gia nhập tổ chức thẻ quốc tế hoặc là những ngân hàng chỉ có chức năng trung gian thanh toán giữa chủ thẻ và ngân hàng phát hành thẻ. Đây cũng là một ngân hàng chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc kí hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ. Ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách thức vận hành, quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này. Ngân hàng có thể trực tiếp kí hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán các chứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò thanh toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành thẻ.
1.1.5.4. Chủ thẻ (Cardholder) Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu là thẻ do công ty ủy quyền sử dụng) có tên in nổi trên thẻ và sử dụng thẻ theo những điều khoản mà ngân hàng quy định, để chi trả thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ. Chỉ có chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của mình để thực hiện giao dịch. Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ về hàng hóa dịch vụ hoặc trả nợ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy định và lập biên lai thanh toán.
1.1.5.5. Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant)
Đơn vị chấp nhận thẻ là các thành phần kinh doanh hàng hóa và dịch vụ có ký kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thẻ như: nhà hàng, khách sạn, siêu thị… Các đơn vị này phải trang bị máy móc kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, trả thay cho tiền mặt. Để trở thành Đơn vị chấp nhận thẻ đối với thẻ của ngân hàng nào đó, đơn vị này phải có tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh.
1.1.5.6. Cơ quan khác
Ngoài ra, còn một số cơ quan khác tham gia và hoạt động kinh doanh thẻ, đó là Ngân hàng Nhà nước, Hiệp hội các ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ. Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính nói chung, cấp phép, giám sát các hoạt động của các ngân hàng thương mại tham gia và hoạt động kinh doanh thẻ. Hiệp hội các ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ là một liên minh, qua đó các ngân hàng thương mại sẽ cùng nhau thỏa thuận những vấn đề liên quan đến kinh doanh thẻ, nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và công bằng giữa các ngân hàng trên thị trường trong nước và các ngân hàng quốc tế.
1.1.6. Tiện ích của dịch vụ thẻ và rủi ro thường gặp trong thanh toán thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
1.1.6.1. Những tiện ích của dịch vụ thẻ
- Đối với nền kinh tế
Thanh toán bằng thẻ giúp loại bỏ một khối lượng tiền mặt rất lớn lẽ ra phải lưu chuyển trực tiếp trong lưu thông để thanh toán các khoản mua hàng, trả tiền dịch vụ trong cơ chế thị trường đang ngày càng sôi động, phát triển ở tất cả các nước, loại hình thanh toán này cũng không đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ. Do đó sẽ tiết kiệm được một khối lượng đáng kể về chi phí in ấn, chi phí bảo quản, vận chuyển…Với hình thức thanh toán hiện đại, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp nhà nước quản lí nền kinh tế cả về vi mô và vĩ mô. Việc áp dụng công nghệ hiện đại của việc phát hành và thanh toán thẻ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
- Đối với toàn xã hội
Thẻ là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Thêm vào đó, chấp nhận thanh toán thẻ đã góp phần tạo môi truờng thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư, cải thiện môi trường văn minh thương mại và văn minh thanh toán, nâng cao hiểu biết của dân cư về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sống. Hơn nữa thanh toán thẻ tạo điều kiện cho sự hoà nhập của quốc gia đó vào cộng đồng quốc tế và nâng cao hệ số an toàn xã hội trong lĩnh vực tiền tệ.
- Đối với ngân hàng Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Mang lại lợi nhuận và hiệu quả cao trong thanh toán. Thông qua hoạt động kinh doanh thẻ, các Ngân hàng sẽ thu được khoản lợi nhuận từ các loại phí như phí sử dụng thẻ, phí thường niên… Khoản lợi nhuận này hầu như rất chắc chắn bởi mỗi khách hàng khi muốn sử dụng thẻ đều phải kí quỹ hoặc nộp vào tài khoản thẻ một lượng tiền mà chủ thẻ không được sử dụng vượt quá số tiền đó. Trong khi đó, lượng giao dịch bằng thẻ hàng ngày có thể lên tới hàng trăm nghìn thẻ, vì vậy khoản lợi nhuận thu từ hoạt động kinh doanh thẻ hoàn toàn không nhỏ.
Hơn nữa, ngân hàng có thể sử dụng số tiền tạm thời nhàn rỗi trong tài khoản thẻ của khách hàng để đầu tư hoặc cho vay nhằm mục đích sinh lãi mà vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho khách hàng.
Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ hoạt động kinh doanh thẻ có thể bù đắp cho những hoạt động kém sinh lãi hơn của Ngân hàng trong thời kì khó khăn.
- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng
Thẻ thanh toán ra đời góp phần làm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ Ngân hàng, mang đến cho Ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích và tạo cơ hội cho Ngân hàng phát triển các dịch vụ song song như đầu tư, bảo hiểm,… nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Chính điều này đã giúp cho Ngân hàng vừa thu hút được những khách hàng tiềm năng vừa giữ được những khách hàng truyền thống.
- Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng, tăng cường các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Để có thể áp dụng nghiệp vụ thanh toán thẻ, đòi hỏi mỗi Ngân hàng phải không ngừng nâng cao trình độ, trang bị thêm các loại máy móc thiết bị kỹ thuật mang tính công nghệ cao,… nhằm cung cấp cho khách hàng những điều kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, an toàn và tăng khả năng cạnh tranh. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Với việc tham gia và các tổ chức quốc tế như Visa, Master Card hay trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế khác,… Ngân hàng có mối quan hệ làm ăn với nhiều Ngân hàng và nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Nhờ các mối quan hệ này, một Ngân hàng dù lớn hay nhỏ cũng có thể tạo cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất kì đối thủ cạnh tranh nào. Điều này tạo điều kiện cho Ngân hàng tăng cường hoạt động kinh doanh, tham gia và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng quốc tế.
- Tăng cường vốn cho ngân hàng
Nhờ thẻ thanh toán, số lượng tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng nhằm mục đích thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các Đơn vị chấp nhận thẻ ngày càng tăng lên. Các tài khoản này tạo cho Ngân hàng một số lượng vốn nhàn rỗi đáng kể, có thể coi là một nguồn sinh lợi lớn cho Ngân hàng.
Đối với chủ thẻ
- Thanh toán nhanh chóng, thuận tiện
Với việc sử dụng thẻ thanh toán, người sử dụng có thể cảm nhận được sự tiện lợi của nó hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác.
Trước hết, thẻ có kích thước nhỏ gọn, do đó người sử dụng có thể dễ dàng mang theo khi đi du lịch hay công tác xa. Với việc sử dụng thẻ, khách hàng tránh được tình trạng phải mang theo khối lượng tiền mặt lớn, cồng kềnh và bất tiện. Khi thực hiện mua bán hàng hóa hay dịch vụ, chủ thẻ chỉ cần xuất trình thẻ và kí vào hóa đơn là có thể thực hiện xong một giao dịch. Đặc biệt, một số quốc gia trên thế giới không chấp nhận cho mang quá nhiều tiền mặt qua biên giới thì việc sử dụng thẻ trong thanh toán càng trở nên hữu ích vì mạng lưới thanh toán thẻ trên thế giới rất rộng lớn. Điều này có nghĩa là khi ra nước ngoài, thay vì phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay séc du lịch, chủ thẻ chỉ cần mang theo thẻ thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Ngoài ra khách hàng còn có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt một cách nhanh chóng và thuận tiện tại các máy rút tiền tự động 24/24h mà không cần thiết phải đến Ngân hàng thực hiện giao dịch như một số phương tiện thanh toán khác.
- An toàn và hiệu quả trong sử dụng
Thẻ thanh toán được chế tạo bằng công nghệ hiện đại, hết sức tinh vi và khó làm giả. Thẻ được bảo vệ bằng số PIN và những thông tin được mã hóa đằng sau chiếc thẻ, tránh được nguy cơ bị người khác lạm dụng hay mất tiền trong tài khoản. Khi bị lộ số PIN hay mất thẻ, chủ thẻ có thể báo ngay cho Ngân hàng để phong tỏa tài khoản thẻ.
Đối với các gia đình có con em đi du học nước ngoài thì thẻ thực sự mang lại hiệu quả trong sử dụng. Với việc sử dụng thẻ thanh toán, các gia đình có thể chu cấp tiền sinh hoạt một cách nhanh chóng thuận tiện, không mất thời gian như các hình thức chuyển ngân hàng khác.
- Tiết kiệm và kiểm soát được chi tiêu
Khi sử dụng thẻ, chủ thẻ sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí vận chuyển, kiểm đếm tiền. Khi có nhu cầu sử dụng tiền, khách hàng có thể tới rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động vào mọi thời điểm trong ngày mà không cần đến Ngân hàng.
Hơn nữa, với bản sao kê hàng tháng do Ngân hàng gửi đến hoặc căn cứ vào hóa đơn rút tiền hay thanh toán hàng hóa dịch vụ, chủ thẻ có thể hoàn toàn kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi cho mỗi khoản giao dịch.
Đối với đơn vị chấp nhận thẻ
- Tăng doanh số bán hàng hóa dịch vụ và thu hút được khách hàng
Thanh toán thẻ tạo cho các Đơn vị chấp nhận thẻ khả năng cạnh tranh lớn hơn các đối thủ khác do cung cấp được cho khách hàng một môi trường mua bán giao dịch văn minh, hiện đại.
- An toàn và giảm chi phí bán hàng Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Trong giao dịch được thanh toán bằng thẻ, số tiền trong giao dịch được trả ngay vào tài khoản của Đơn vị chấp nhận thẻ. Hơn nữa thẻ có tính bảo mật rất cao nên cho dù chưa được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng có ít nguy cơ bị mất cắp hơn so với sử dụng séc hay tiền mặt. Chính vì vậy, sử dụng thẻ trong thanh toán là rất hữu ích vì tính an toàn của nó.
Cùng với việc chấp nhận thanh toán thẻ, các Đơn vị chấp nhận thẻ sẽ giảm được một lượng đáng kể các chi phí cho việc kiểm kê, vận chuyển và bảo quản tiền… do vậy giảm được chi phí bán hàng.
- Thu hồi và quay vòng vốn nhanh chóng
Việc chấp nhận thanh toán thẻ giúp các cơ sở đa dạng hóa các phương thức thanh toán, giảm tình trạng trả chậm của khách hàng. Khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền qua hệ thống máy móc tới Ngân hàng thanh toán thì tài khoản của Đơn vị chấp nhận thẻ lập tức được ghi Có. Đơn vị chấp nhận thẻ có thể sử dụng ngay số tiền này nhằm mục đích quay vòng vốn hoặc mục đích khác.
- Ưu đãi từ Ngân hàng phát hành và Ngân hàng thanh toán thẻ
Khi chấp nhận thanh toán thẻ, các Đơn vị chấp nhận thẻ sẽ nhận được rất nhiều ưu đãi từ chính sách khách hàng của Ngân hàng. Các cơ sở sẽ được Ngân hàng cung cấp máy móc, thiết bị cho việc thanh toán thẻ mà không cần bỏ vốn đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các cơ sở kinh doanh đều hoạt động với phần lớn lượng vốn vay từ Ngân hàng. Việc thiết lập mối quan hệ trực tiếp với Ngân hàng giúp các Đơn vị chấp nhận thẻ được hưởng các khoản ưu đãi tín dụng từ phía Ngân hàng.
1.1.6.2. Những rủi ro thường gặp trong thanh toán thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Kinh doanh là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro và hoạt động kinh doanh thẻ cũng không nằm ngoài quy luật đó. Rủi ro và nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong toàn bộ quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Khi rủi ro xảy ra nó không chỉ gây tổn thất cho các chủ thể tham gia hoạt động thẻ mà còn gây hậu quả lâu dài đối với xã hội, gây mất lòng tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Có các loại rủi ro cơ bản sau:
Thẻ giả: Với trình độ công nghệ ngày nay, các tổ chức tội phạm ăn cắp thông tin trên thẻ bằng cách sử dụng máy móc chuyên dụng để mã hóa thông tin khách hàng rồi in băng từ lên thẻ mới. Trường hợp này đặt ra cho Ngân hàng phát hành phải có những biện pháp bảo mật thông tin trên thẻ cũng như các ràng buộc kiểm tra.
Thẻ mất cắp hay thất lạc: Trong trường hợp chủ thẻ bị mất cắp hay làm thất lạc mà không kịp thông báo ngay cho Ngân hàng phát hành thẻT để có những biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ mà thẻ đó bị sử dụng, rủi ro xảy ra thì chủ thẻ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Lộ số PIN: Mã số bí mật cá nhân (PIN) được giao cho chủ thẻ, chủ thẻ có thể thay đổi phải và đảm bảo bí mật. PIN được sử dụng khi thực hiện giao dịch tự động với các thiết bị như máy ATM… Giao dịch rút tiền qua ATM thực hiện hoàn toàn dựa trên số PIN mà không quan tâm chủ thẻ là ai. Do đó, khi chủ thẻ vô tình làm lộ số PIN và làm mất thẻ, kẻ gian có thể thực hiện việc rút tiền qua ATM. Trong trường hợp này, chủ thẻ phải chịu toàn bộ rủi ro về số tiền bị mất.
Rủi ro về công nghệ thông tin và công nghệ Ngân hàng: Các rủi ro này thường xảy ro do hệ thông máy móc, trang thiết bị, trung tâm chuyển mạch… gặp vấn đề trục trặc, hoặc gây lỗi trong quá trình xử lý gây ảnh hưởng tới nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ. Trong điều kiện hiện nay, khối lượng các giao dịch ngày càng tăng với tốc độ chóng mặt, dẫn tới rủi ro trong khâu máy móc cũng ngày càng lớn.
Tóm lại hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro, do đó để nâng cao chất lượng trong kinh doanh thẻ, giảm mất mát và tối đa hoá thu nhập, ngân hàng cần đặc biệt chú trọng vào công tác phòng chống rủi ro
1.2. Hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại là hoạt động phát hành thẻ cho khách hàng sử dụng và thực hiện thanh toán thẻ. Qua đó ngân hàng thu phí phát hành thẻ, các khoản phí về sử dụng thẻ và thanh toán thẻ.
1.2.1. Nghiệp vụ phát hành thẻ
Hoạt động phát hành của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng. Cả ba quá trình này đều quan trọng và không được coi nhẹ. Mỗi một phần đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng. Các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ và thu nợ: số tiền thanh toán tối thiểu, ngày sao kê, ngày đến hạn, các loại phí và lãi, hạn mức tín dụng tối đa, tối thiểu, các chính sách ưu đãi…
Về cơ bản hoạt động phát hành thẻ được thực hiện:
- Tổ chức các hoạt động tiếp thị để đưa sản phẩm vào thị trường.
- Thẩm định khách hàng phát hành thẻ.
- Cấp hạn mức tín dụng thẻ đối với thẻ tín dụng.
- Thiết kế và tổ chức mua thẻ trắng.
- In nổi và mã hóa thẻ.
- Cung cấp mã số cá nhân (PIN) cho chủ thẻ.
- Quản lý thông tin khách hàng.
- Quản lý hoạt động sử dụng thẻ của khách hàng.
- Quản lý tình hình thu nợ của khách hàng.
- Cung cấp dịch vụ khách hàng.
- Tổ chức thanh toán bù trừ với các Tổ chức thẻ quốc tế.
Triển khai hoạt động phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí phát hành thẻ thu được từ chủ thẻ, các ngân hàng còn được hưởng khoản phí trao đổi do ngân hàng thanh toán thẻ chia sẻ từ phí thanh toán thẻ thông qua các Tổ chức thẻ quốc tế. Đây là phần lợi nhuận cơ bản của các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ. Trên cơ sở nguồn thu này, các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ đưa ra được những chế độ miễn lãi và ưu đãi khác cho khách hàng để mở rộng khách hàng sử dụng thẻ cũng như tăng doanh số sử dụng thẻ. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ
- Bước 1: Khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ tới chi nhánh phát hành làm thủ tục xin cấp thẻ theo quy định của ngân hàng.
- Bước 2: Tại chi nhánh:
Ngân hàng kiểm tra toàn bộ hồ sơ khách hàng, thẩm định thông tin khách hàng, hoàn thành các thủ tục liên quan đến tín chấp, cầm cố, kí quỹ… Ngân hàng nhập thông tin khách hàng vào hồ sơ để quản lý. Từ chi nhánh gửi dữ liệu tới trung tâm thẻ để yêu cầu phát hành thẻ.
- Bước 3: Tại trung tâm thẻ:
Nhận thông tin khách hàng từ chi nhánh phát hành, cập nhật thông tin vào hệ thống hồ sơ khách hàng, bộ phận in thẻ sẽ in thẻ mới. Kiểm tra lại các dữ liệu trên thẻ, sau đó gửi thẻ lại cho ngân hàng phát hành hoặc chi nhánh phát hành.
- Bước 4, 5: Tại chi nhánh phát hành:
Nhận thẻ từ trung tâm thẻ, kiểm tra lại tình trạng thẻ và thông tin trên thẻ. Giao thẻ cho khách hàng, hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ, bảo quản thẻ và yêu cầu khách hàng giữ bí mật số PIN. Cuối cùng, trung tâm thẻ sẽ mở khóa thẻ khi có xác nhận của chủ thẻ.
1.2.2. Nghiệp vụ thanh toán thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Việc triển khai hoạt động thanh toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thu lợi nhuận từ nguồn phí chiết khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các đơn vị chấp nhận thẻ mà còn là mong muốn cung cấp cho khách hảng một dịch vụ hoàn chỉnh, một cơ sở thuận lợi cho sử dụng thẻ. Đối với Tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên, việc khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng mạng lưới Đơn vị chấp nhận thẻ có ý nghĩa rất quan trọng.
Thứ nhất, Hoạt động thanh toán một loại thẻ nhất định nào đó được mở rộng trên một thị trường, điều đó có nghĩa là chủ thẻ có thể sử dụng thẻ dễ dàng và thuận tiện hơn. Khi mà nhu cầu du lịch, giải trí của người dân nói chung ngày càng tăng thì việc phát triển thị trường thanh toán thẻ ra nước ngoài càng trở nên cấp thiết. Số lượng đơn vị chấp nhận thẻ lớn, có mặt tại khắp các thị trường tiềm năng và các ngành hàng kinh doanh đồng nghĩa rằng thẻ ngân hàng có nhiều nơi chấp nhận hơn, mang lại lợi ích cho cả chủ thẻ, bản thân các đơn vị chấp nhận thẻ và sau đó là các ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ.
Thứ hai, Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng thị trường thanh toán bằng cách ký kết hợp đồng với đơn vị chấp nhận thẻ mới, ngân hàng thanh toán thẻ đặc biệt quan tâm tới việc duy trì mối quan hệ với các đơn vị chấp nhận thẻ sẵn có. Điều này thể hiện trong công tác chăm sóc khách hàng của các ngân hàng thanh toán. Nếu không có những chính sách thích hợp, những dịch vụ hỗ trợ tốt, tạo điều kiện cho các đơn vị chấp nhận thẻ có thể chấp nhận thẻ của khách hàng một cách dễ dàng đồng thời được ngân hàng báo Có đúng cam kết sau khi đã trừ tỷ lệ phí chiết khấu, các ngân hàng khác sẽ lợi dụng tình trạng này để chào mời những dịch vụ hoàn hảo hơn tới đơn vị chấp nhận thẻ. Như vậy, khách hàng trong hoạt động thanh toán sẽ giảm đi, mục tiêu thu lợi của các ngân hàng bị ảnh hưởng sâu sắc.
Tóm lại, hoạt động thanh toán thẻ không chỉ dừng lại ở việc báo Có cho các đơn vị chấp nhận thẻ đúng cam kết. Mà hơn thế, bởi lợi nhuận thu được từ hoạt động thanh toán thẻ không nhỏ so với tỷ suất lợi nhuận kinh doanh bình quân nên tình trạng cạnh tranh gay gắt khiến cho các ngân hàng thanh toán luôn phải có những biện pháp marketing và dịch vụ khách hàng hợp lý, đồng thời cung cấp cho đơn vị chấp nhận thẻ là khách hàng của mình những dịch vụ đi kèm miễn phí nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mình. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Hiện nay, hoạt động thanh toán trên thị trường thẻ thế giới đã phát triển ở mức độ rất cao với hàng trăm nghìn đơn vị chấp nhận thẻ tại hơn 200 quốc gia, chấp nhận thẻ mang các thương hiệu nổi tiếng thế giới như Visa, MasterCard, American Express, Diners Club, JCB và nhiều loại thẻ ngân hàng quốc tế và nội địa khác. Tại Việt Nam, tuy thẻ ngân hàng còn là mới mẻ nhưng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của một lượng lớn khách nước ngoài cũng như thị trường nội địa ngày càng phát triển, số lượng các ngân hàng thanh toán thẻ tính đến năm 2020 đạt hơn 40 ngân hàng với mạng lưới 29.000 đơn vị chấp nhận thẻ và gần 14 triệu thẻ thanh toán. Hoạt động thanh toán thẻ của các ngân hàng chủ yếu được thực hiện:
- Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin khách hàng đơn vị chấp nhận thẻ.
- Quản lý hoạt động của mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ.
- Tổ chức thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ cho các đơn vị chấp nhận thẻ.
- Cung cấp dịch vụ khách hàng.
- Tổ chức tập huấn kiến thức thanh toán thẻ cho nhân viên các đơn vị chấp nhận thẻ.
- Cung cấp trang thiết bị, vật tư phục vụ cho thanh toán thẻ.
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ
Hoạt động thanh toán thẻ bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Chủ thẻ mua hàng hóa và dịch vụ tại Đơn vị chấp nhận thẻ.
- Bước 2: Đơn vị chấp nhận thẻ gửi hóa đơn giao dịch tới Ngân hàng thanh toán.
- Bước 3: Ngân hàng thanh toán tạm ứng tiền để trả cho Đơn vị chấp nhận thẻ (ngân hàng thanh toán báo Có cho Đơn vị chấp nhận thẻ).
- Bước 4: Ngân hàng thanh toán gửi dữ liệu thanh toán thẻ tới Tổ chức thẻ quốc tế để đòi tiền.
- Bước 5, 6, 7: Tổ chức thẻ quốc tế xử lý dữ liệu, báo Có cho Ngân hàng thanh toán, gửi tiếp dữ liệu và báo nợ cho Ngân hàng phát hành thẻT.
- Bước 8: Ngân hàng phát hành thẻ nhận dữ liệu và gửi sao kê chi tiết thông báo giao dịch cho chủ thẻ.
- Bước 9: Chủ thẻ thanh toán giao dịch của mình cho Ngân hàng phát hành thẻ.
Đối với thanh toán thẻ nội địa thì không qua Tổ chức thẻ quốc tế mà Ngân hàng thanh toán trực tiếp gửi chứng từ đến Ngân hàng phát hành thẻ, Ngân hàng phát hành thẻ kiểm tra sau đó gửi lệnh chuyển có cho Ngân hàng thanh toán.
Ngoài ra, hệ thống máy giao dịch tự động ATM cũng phục vụ hoạt động thanh toán thẻ thông qua việc rút tiền mặt cho chủ thẻ. Máy ATM phục vụ 24/24h, có tính liên kết quốc gia hay thế giới, khách hàng có thể rút tiền mặt, chuyển khoản, kiểm tra số dư tài khoản… Do tính tiện lợi, máy ATM ngày càng được sử dụng rộng rãi và phát triển trên toàn thế giới.
1.2.3. Hoạt động quản lý rủi ro Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Kinh doanh thẻ ngân hàng càng phát triển thì lĩnh vực quản lý rủi ro càng được đầu tư nhiều hơn. Các chuyên gia trong lĩnh vực này là những người thực sự am hiểu về thẻ và công nghệ hiện đại bởi trước khả năng thu lời siêu lợi nhuận, các tổ chức tội phạm quốc tế đã tận dụng công nghệ hiện đại, bằng mọi cách thu thập các dữ liệu về thẻ, tài khoản của khách hàng, từ đó thực hiện các hành vi giả mạo, gây tổn hại khôn lường về tài chính cũng như uy tín cho ngân hàng, chủ thẻ…
Phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng phải đối mặt với khá nhiều loại rủi ro khác nhau như: việc các tổ chức, cá nhân cố ý sử dụng thẻ một cách không hợp pháp, các đơn vị chấp nhận thẻ không tuân thủ quy trình đã được hướng dẫn, thực hiện giao dịch giả mạo, cung cấp các thông tin về thẻ cho bên thứ ba hoặc việc các đơn vị chấp nhận thẻ không thông báo việc chấm dứt hoạt động kinh doanh trong khi vẫn còn nợ tiền ngân hàng…Tất cả những hành vi trên đều gây ra những rủi ro và tổn thất tài chính đối với ngân hàng. Chính vì vậy, một trong những lĩnh vực quan trọng của kinh doanh thẻ ngân hàng là hoạt động quản lý rủi ro.
Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộ phận xương sống trong hoạt động thẻ, thực hiện các chức năng:
- Ngăn ngừa và điều tra các hành vi sử dụng thẻ giả mạo. Quản lý danh mục các tài khoản liên quan tới những thẻ đã được thông báo mất, thất lạc.
- Xây dựng các kế hoạch theo dõi việc bảo mật phôi thẻ, thẻ đã in và thẻ hỏng, thẻ thu hồi.
- Hợp tác với cơ quan có thẩm quyền liên quan trong việc điều tra, xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng, giả mạo.
- Theo dõi và quản lý hoạt động của Trung tâm Thẻ, bao gồm cả hoạt động của các cán bộ. Tổ chức tập huấn cho nhân viên đơn vị chấp nhận thẻ và chủ thẻ về các biện pháp phòng ngừa giả mạo.
1.2.4. Marketing và dịch vụ khách hàng
Cũng như những ngành nghề khác, kinh doanh thẻ ngân hàng đòi hỏi chú trọng đáng kể vào công tác marketing và dịch vụ khách hàng. Về lý thuyết, marketing và dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thẻ là khái niệm tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các phương thức để tìm kiếm khách hàng (đơn vị chấp nhận thẻ và chủ thẻ), giúp họ tiếp cận, quyết định lựa chọn phương thức thanh toán phi tiền mặt này và trở thành khách hàng lâu dài của ngân hàng.
- Trên thực tế, marketing bao gồm các hoạt động như: Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Tiếp xúc với các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng cho hoạt động thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ thông qua những lợi ích về thẻ ngân hàng và các ưu thế của ngân hàng riêng biệt.
Cung cấp dịch vụ cho các đơn vị chấp nhận thẻ như: lắp đặt các thiết bị đọc thẻ, hướng dẫn quy trình nghiệp vụ, thao tác cần thiết cho hoạt động chấp nhận thẻ, tiếp nhận những yêu cầu về duy trì, bảo dưỡng máy móc thiết bị từ đơn vị chấp nhận thẻ.
Tiến hành việc quảng cáo cho các đơn vị chấp nhận thẻ nói chung hoặc các đơn vị chấp nhận thẻ tiềm năng cùng với chương trình quảng cáo, khuếch trương thẻ.
Nâng cao tính trung thành của các đơn vị chấp nhận thẻ bằng cách xếp hạng, tính điểm phục vụ hoặc lượng giá trị giao dịch tại đơn vị để từ đó có thể giảm phí chiết khấu…
Tiếp xúc với các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp có tiềm năng sử dụng thẻ, thuyết phục họ ký kết hợp đồng sử dụng thẻ thông qua những tiện ích của thẻ ngân hàng nói chung và các ưu thế, những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp nói riêng.
Duy trì mối liên hệ với chủ thẻ, khuyến khích tiêu dùng của chủ thẻ thông qua các chương trình khuyến mại, điểm thưởng…
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng và đóng vai trò quyết định trong hoạt động marketing chính là con người. Các cán bộ marketing đòi hỏi vừa vững về nghiệp vụ thẻ nói chung, vừa nắm rõ thị trường, nhanh nhạy với các thông tin và có khả năng nghiệp vụ marketing.
Cũng giống như công tác marketing, dịch vụ chăm sóc khách hàng trong kinh doanh thẻ cũng đặt yếu tố con người vào vị trí trung tâm. Thật vậy, nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động dịch vụ khách hàng là cung cấp cho chủ thẻ những thông tin theo yêu cầu một cách chính xác, nhanh nhất với thái độ tận tình nhất. Thông thường những ngân hàng phát triển về kinh doanh thẻ đều có bộ phận dịch vụ khách hàng phục vụ 24h/7 ngày trong tuần, sẵn sàng tiếp nhận và giải đáp mọi thắc mắc của chủ thẻ liên quan tới việc sử dụng thẻ. Bộ phận dịch vụ khách hàng đáp ứng nhu cầu của chủ thẻ thông qua điện thoại hoặc trực tiếp tại nơi làm việc.
1.2.5. Hệ thống công nghệ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Thẻ ngân hàng là một sản phẩm gắn liền với công nghệ hiện đại. Chính vì vậy, hệ thống công nghệ kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng cho dịch vụ thẻ phát triển và hoạt động hiệu quả.
Giải pháp cho hệ thống công nghệ của từng ngân hàng được lựa chọn phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của ngân hàng đó. Ngân hàng triển khai dịch vụ thẻ phải đầu tư một hệ thống công nghệ kỹ thuật theo chuẩn quốc tế bao gồm hệ thống quản lý thông tin khách hàng, hệ thống quản lý hoạt động sử dụng và thanh toán thẻ đáp ứng yêu cầu của các Tổ chức thẻ quốc tế. Hệ thống này kết nối trực tuyến với hệ thống xử lý dữ liệu của các Tổ chức thẻ quốc tế.
Bên cạnh đó, ngân hàng đầu tư hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc phát hành và thanh toán thẻ phải đồng bộ và có khả năng tích hợp cao do giao dịch thẻ được xử lý nhanh hay chậm cũng phụ thuộc phần lớn vào tính đồng bộ, khả năng và tốc độ xử lý của toàn hệ thống.
1.3. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
1.3.1. Số lượng thẻ phát hành
Thông qua so sánh về số lượng thẻ phát hành qua các năm có thể đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ có phát triển hay không. Số lượng thẻ ngày càng tăng có nghĩa hoạt động phát hành của ngân hàng đã được mở rộng.
Chỉ tiêu này đo lường tính hấp dẫn của sản phẩm thẻ và hiệu quả marketing của ngân hàng.
1.3.2. Mạng lưới ATM, đơn vị chấp nhận thẻ
Sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng thương mại cũng được thể hiện qua sự gia tăng số lượng máy ATM, POS
Số lượng máy ATM, POS phản ánh sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh thẻ và khả năng chiếm lĩnh thị trường của ngân hàng so với ngân hàng khác.
1.3.3. Doanh số thanh toán thẻ
Doanh số thanh toán thẻ là cụm thống nhất để chỉ tổng số lượng giao dịch và tổng giá trị thanh toán thẻ. Trong hoạt động kinh doanh thẻ, nguồn thu chính của ngân hàng đến từ việc khách hàng thực hiện rút tiền trên ATM hay thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ trên POS. Vì vậy doanh số thanh toán thẻ tăng sẽ tăng thu cho ngân hàng và đẩy mạnh sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ.
1.3.4. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ thẻ
Ngân hàng càng đưa ra nhiều loại sản phẩm, dịch vụ thẻ tiện ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì hoạt động kinh doanh thẻ càng có điều kiện phát triển.
1.3.5. Số dư tài khoản thẻ khách hàng
Số dư tài khoản đối với thẻ ghi nợ và dư nợ của thẻ tín dụng có thể được coi là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ sôi động và phát triển chung của việc kinh doanh thẻ. Việc khách hàng duy trì một số dư tài khoản cao đối với thẻ ghi nợ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nâng cao nguồn vốn huy động giá rẻ của ngân hàng và tình hình dư nợ của thẻ tín dụng là thước đo chính xác cho việc đánh giá hiệu quả của công tác tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt.
1.3.6. Thu nhập – chi phí – lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thẻ Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
1.3.6.1. Thu nhập
Khoản thu nhập thứ nhất tương đối ổn định mà ngân hàng thu được đó là thu từ các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối với các đơn vị chấp nhận thẻ khoản phí này được coi là phí cho mỗi đồng doanh thu có được từ việc chấp nhận thanh toán thẻ (khoản chiết khấu thương mại). Bên cạnh đó, ngân hàng còn thu một số khoản phí cơ bản của hoạt động kinh doanh thẻ như phí phát hành thẻ, phí thường niên thu theo chu kì quý hoặc năm đối với khách hàng sử dụng thẻ, thu lãi cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh toán.
Khoản thu nhập thứ hai là doanh thu từ việc sử dụng nguồn vốn huy động từ tài khoản tiền gửi thanh toán thẻ. Đây là khoản thu khá lớn cho ngân hàng.
Khoản thu lớn nhất mà ngân hàng thu được là khoản phí do thực hiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng khác hoặc cho tổ chức phát hành thẻ. Khoản phí này được gọi là phí đại lý thanh toán…
1.3.6.2. Chi phí
Chi phí trong mua sắm, quản lý, trang bị máy móc thiết bị cho các máy ATM, POS, chi phí này chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh thẻ.
Chi phí in ấn và mã hóa thông tin, quản lý hồ sơ khách hàng: khoản chi phí này tương đối ổn định và chiếm một tỷ trọng nhỏ.
Lệ phí tham gia tổ chức thẻ quốc tế: khoản phí này được cố định hàng năm và do tổ chức thẻ quốc tế quy định.
Các tổn thất và rủi ro phát sinh. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Tiền lương công nhân viên tham gia hoạt động kinh doanh thẻ: khoản này tương đối ổn định, có thể tăng theo mức tăng trưởng của quy mô phát hành thẻ nhưng mức tăng của nó sẽ chậm hơn mức tăng trưởng của doanh số thanh toán.
Các chi phí khác bao gồm: chi phí bảo hiểm liên quan đến tài sản cố định, các khoản trả lãi cho các số dư tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng và các chi phí khác liên quan, chi phí cho việc quảng cáo, marketing sản phẩm thẻ…
Có thẻ nói chi phí cho hoạt động kinh doanh thẻ là rất lớn, chính vì vậy, quản lý các chi phí là việc không thể thiếu trong việc phát triển hoạt động kinh doanh thẻ.
1.3.6.3. Lợi nhuận
Lợi nhuận thu được bằng thu nhập trừ đi các khoản chi phí và vốn đầu tư bỏ ra.
Sự phát triển hoạt động kinh doanh thẻ có thể đánh giá bằng lợi nhuận giữa các năm, nếu năm sau cao hơn năm trước thì có thể coi là hoạt động kinh doanh đã có hiệu quả hơn.
Tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh thẻ là chỉ tiêu quan trọng của ngân hàng, nó phản ảnh sự phát triển hay suy yếu của hoạt động kinh doanh thẻ qua các kỳ. Chỉ tiêu này giúp ngân hàng thấy được thực trạng hoạt động kinh doanh của mình để có giải pháp phát huy hoặc đổi mới phương thức hoạt động.
1.3.7. Thị phần
Thị phần của các ngân hàng trên thị trường thẻ ngày càng tăng nghĩa là đã có nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ thẻ của ngân hàng, doanh số thanh toán lớn hơn các ngân hàng khác… và như vậy hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng đã được mở rộng và phát triển. Từ đây, ngân hàng có thể thấy rõ được vị trí của mình so với các ngân hàng khác trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán thẻ.
1.4. Xu thế phát triển của hoạt động kinh doanh thẻ trên thế giới Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
1.4.1. Xu thế phát triển thanh toán bằng thẻ tại một số khu vực trên thế giới
Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay, trong tương lai thẻ thanh toán vẫn sẽ là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được ưa chuộng, nhất là trong tầng lớp dân cư. Số lượng thẻ sẽ tiếp tục tăng ở các thị trường trên thế giới. Nhưng tốc độ phát triển của thẻ tại các khu vực cụ thể sẽ có những thay đổi rõ rệt. Điều này được thể hiện rõ qua bảng tổng kết và dự báo sau:
- Bảng 1.1: Tổng kết và dự báo các thị trường thẻ trên thế giới
Theo bảng tổng kết dự báo trên, trong thời gian tới, Mỹ vẫn là nước có giá trị thanh toán thẻ lớn nhất trên thế giới, mỗi năm con số này vẫn tăng đều là 20%. Điều này dễ hiểu bởi Mỹ là quê hương của thẻ thanh toán. Cùng với Mỹ, Châu Âu cũng là thị trường lý tưởng cho các tổ chức thẻ hoạt động và phát triển. Người dân ở đây sử dụng thẻ như là một phương thức thanh toán hàng ngày thay cho tiền mặt. Tuy nhiên, thị phần về giá trị thanh toán thẻ của 2 thị trường này đang có xu hướng giảm hoặc tăng trưởng không rõ rệt, nguyên nhân là do sự vươn lên của các thị trường mới nổi khác.
Khu vực Châu Á TBD là một khu vực rộng lớn với khoảng 41 quốc gia. Đây chính là mảnh đất tiềm năng đối với thị trường thẻ bởi sự chuyển mình vươn lên về mặt kinh tế của nhiều nước trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc… Thẻ hiện nay chủ yếu được sử dụng ở một số nước như Nhật Bản, Singapore, Australia… nên giá trị thanh toán còn thấp so với thị trường khác. Nhưng với nhịp độ phát triển kinh tế như hiện nay, thị trường thẻ khu vực này sẽ đuổi kịp và vượt Mỹ và Châu Âu trong thời gian không xa.
Châu Mỹ La-tinh, Trung Đông và Châu Phi là những châu lục có sự phát triển kinh tế không đồng đều. Cho đến đầu thập niên 90, kinh tế ở đây mới bắt đầu ổn định và có đầu tư nước ngoài. Nơi đây có thế mạnh những vùng nổi tiếng về du lịch, thu hút phần lớn khách du lịch là Châu Âu, Mỹ. Điều này mở ra một thị trường mới đầy hấp dẫn cho dịch vụ thẻ. Thẻ ở đây đang dần phổ biến, trong tương lai sẽ trở thành một phương tiện thanh toán chủ yếu. Có thể nói đây sẽ là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong thời gian tới.
Như vậy, trên thế giới, doanh số thanh toán thẻ ngày càng tăng lên từ 5.456,9 tỷ USD năm 2017 lên 13.205,1 tỷ USD năm 2022 và dự kiến sẽ còn tăng lên đến 28.528 tỷ USD vào năm 2027. Do đó, có thể kết luận dịch vụ thẻ có xu hướng phát triển rất mạnh trên thế giới trong những năm qua và những năm sắp tới.
1.4.2. Triển vọng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Việt Nam Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Với xu hướng phát triển chung của thế giới, Việt Nam không thể tách mình ra khỏi xu hướng này nếu muốn phát triển ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nếu chỉ dựa thuần tuý vào con số thống kê về số người sử dụng thẻ thì có thể chưa thấy hết được tiềm năng phát triển ứng dụng công nghệ thẻ thanh toán ở Việt Nam. Nhưng nếu xét từ xu hướng phát triển, yêu cầu hội nhập và đặc biệt là từ góc độ của nhà kinh doanh ngân hàng, thị trường thẻ ở Việt Nam lại có tiềm năng rất lớn trong việc ứng dụng công nghệ thẻ thanh toán. Các ngân hàng Việt Nam đang tận dụng lợi thế của người đi sau để tiến hành hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, tiêu chuẩn hoá các nghiệp vụ và từng bước đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các dịch vụ công nghệ cao, trong đó hầu hết là các dịch vụ thẻ thanh toán như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ kết hợp với ví tiền điện tử, thương mại điện tử…
Đây là những yêu cầu mới đang đặt ra mà các ngân hàng thương mại sớm phải thực hiện trong quá trình hội nhập. Như vậy, có thể khẳng định Ngân hàng, một trong ba thành phần chính tham gia vào quá trình thực hiện các giao dịch bằng thẻ thanh toán, luôn phải sẵn sàng nắm bắt và tạo điều kiện để phát triển các dịch vụ này. Đối với hai thành phần còn lại, người sử dụng thẻ và người chấp nhận thẻ cũng cần làm quen với phương thức thanh toán mới, hiện đại. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng muốn đưa hàng hóa của mình vượt ra khỏi ngoài biên giới quốc gia, ngoài các yếu tố về chất lượng hàng hoá, chính sách giá cả cũng như các chính sách sau bán hàng, họ cũng phải quan tâm đến các phương thức thanh toán mới đang thịnh hành trên thị trường thế giới.
Cùng với xu hướng hội nhập, những dịch vụ ngân hàng hiện đại được phổ biến, đời sống đã và đang ngày đuợc tăng lên, việc chấp nhận thẻ đã trở nên phổ biến. Việc mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ không chỉ đơn thuần cho việc đầu tư lấy lãi mà còn phục vụ cho việc thanh toán hoặc cho các mục đích đầu tư khác. Khi những chi phí cho việc bảo quản, sử dụng tiền mặt truyền thống và tính bất tiện, không an toàn của chúng ngày càng được nhận rõ thì những tập quán này sẽ sớm được thay thế bằng các phương thức thanh toán hiện đại, trong đó có thẻ thanh toán.
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ là một nghiệp vụ của ngân hàng, và cũng như các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh khác, nó chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có các nhóm các yếu tố chủ quan bắt nguồn từ nội tại của ngân hàng và nhóm yếu tố khách quan từ bên ngoài tác động tới ngân hàng.
1.5.1. Các nhân tố chủ quan
- Chiến lược phát triển sản phẩm:
Khi tham gia vào bất cứ lĩnh vực nào, ngân hàng đều phải đề ra cho mình mục đích tham gia thị trường, kế hoạch phát triển và các chiến lược để phát triển thị trường đó. Với việc hoạch định chiến lược rõ ràng sẽ đem lại hiệu quả cao cho ngân hàng trong hoạt động đầu tư. Đặc biệt với thị trường thẻ, một thị trường còn tương đối mới ở Việt nam, việc đặt ra cho mình kế hoạch ngắn và dài hạn sẽ giúp ngân hàng thành công hơn trong khai thác thị trường này. Các chiến lược cụ thể được biểu hiện qua các hoạt động marketing quảng cáo sản phẩm, mở rộng mạng lưới phát hành và thanh toán thẻ. Ngân hàng có hoạt động marketing tốt sẽ thu được thành công tốt trong mở rộng thị phần, tăng doanh thu.
- Nền tảng công nghệ:
Thẻ là một sản phẩm công nghệ nên nền tảng hệ thống công nghệ tiên tiến, tiêu chuẩn quốc tế, hoạt động ổn định là yếu tố sống còn của hoạt động kinh doanh thẻ.
Giải pháp cho nền tảng công nghệ của từng ngân hàng được lựa chọn phù hợp với định hướng chiến lược phát triển của từng ngân hàng đó. Các ngân hàng triển khai dịch vụ thẻ phải đầu tư một nền tảng công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế bao gồm hệ thống quản lý thông tin khách hàng, hệ thống quản lý hoạt động sử dụng và thanh toán thẻ để đáp ứng yêu cầu của các Tổ chức thẻ quốc tế, hệ thống này phải được kết nối trực tiếp với hệ thống xử lý dữ liệu của các Tổ chức thẻ quốc tế. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng phải đầu tư hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc phát hành thẻ và thanh toán thẻ như máy in thẻ, máy thanh toán tự động, máy rút tiền tự động ATM… Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Vì vậy, khi thực hiện hoạt động kinh doanh thẻ, ngân hàng phải đảm bảo triển khai một hệ thống công nghệ hiện đại theo kịp của thế giới.
- Chất lượng thẻ:
Trên thực tế một số ngân hàng có thẻ đa chức năng nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng chưa cao. Song đối với các nước phát triển, nơi có điều kiện ứng dụng công nghệ vào cuộc sống cao thì tính năng thẻ quyết định rất lớn tới lựa chọn sản phẩm của khách hàng. Hiện nay chất lượng thẻ tại các nước đang phát triển như Việt Nam chính là vấn đề bảo mật và an an toàn thẻ. Tình trạng thẻ giả, lỗi thanh toán thẻ, thẻ báo nhầm, thanh toán sai… khiến khách hàng thiếu tin tưởng vào thẻ, làm giảm lượng phát hành.
- Hoạt động marketing:
Để cho hoạt động kinh doanh thẻ phát triển thì không thể không chú trọng với hoạt động marketing. Cần phải tích cực giới thiệu một cách rộng rãi sản phẩm dịch vụ thẻ để mọi người biết và hiểu sản phẩm của ngân hàng. Cái nhìn trong hoạt động marketing về thẻ không thể chỉ dừng lại ở mức nhận định nhu cầu thị trường và thỏa mãn nhu cầu đó như mô hình truyển thống mà phải được phát triển lên cao hơn. Nhiệm vụ của marketing thẻ phải tạo ra nhu cầu, tạo ra sự ham muốn dành cho sản phẩm.
Về quảng cáo sản phẩm cũng không thể đánh đồng các loại thẻ mà với mỗi loại phải xác định được đối tượng khách hàng mục tiêu riêng, từ đó đề ra chiến lược marketing phù hợp.
- Phát triển sản phẩm mới:
Cũng giống như các lĩnh vực kinh doanh khác, những sản phẩm mới luôn thu hút sự quan tâm của khách hàng. Việc không ngừng đưa ra các loại sản phẩm mới với tiện ích nổi trội hơn sẽ là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thẻ nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
Ngoài ra, bên cạnh sản phẩm thẻ sẵn có, ngân hàng có thể phát triển thêm nhiều dịch vụ mới kèm theo như dịch vụ thanh toán điện tử… khi đó người dùng sẽ thấy thẻ thực sự mang nhiều tiện ích và sẽ ưa chuộng thẻ hơn.
- Nguồn nhân lực: Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Thẻ là phương tiện thanh toán hiện đại, áp dụng công nghệ cao. Để kinh doanh thẻ có hiệu quả, đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có đội ngũ nhân lực có trình độ, tinh thần làm việc tốt đảm bảo phát huy hiệu quả trong mỗi nghiệp vụ.
- Hoạt động quản lý rủi ro:
Trong bất kì hoạt động kinh doanh nào cũng đều chứa đựng rủi ro, hoạt động kinh doanh thẻ cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải quản lý và thực hiện các biện pháp phòng ngừa như thế nào để có thể giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất, có thể mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động kinh doanh thẻ. Rủi ro hoạt động kinh doanh thẻ tại các Ngân hàng thương mại, nhìn chung có thể được nhìn nhận thành bốn loại sau:
Rủi ro giả mạo: Giả mạo có thể xảy ra trong toàn bộ quá trình kinh doanh thẻ từ khâu phát hành đến khâu thanh toán. Giả mạo thẻ có thể chia thành các loại sau: Đơn xin phát hành thẻ giả mạo, thẻ giả, đơn vị chấp nhận thẻ giả mạo, sao chép và tạo băng từ giả, các giao dịch thanh toán không có sự xuất trình thẻ như giao dịch qua mạng…
Nguyên nhân gây ra rủi ro loại này là do sơ suất của chủ thẻ để lộ các thông tin cá nhân liên quan đến thẻ, hoặc bị kẻ gian thực hiện sao chép tạo băng từ giả trong quá trình chi tiêu nhất là các giao dịch qua mạng…
Rủi ro tín dụng: Thường xảy ra ở các loại thẻ tín dụng, khi chủ thẻ không có khả năng thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng. Khi ngân hàng đồng ý phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng, tức là họ đã cam kết cho chủ thẻ được vay một số tiền, vì vậy nếu chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản đã sử dụng thì ngân hàng sẽ mất vốn.
Nguyên nhân gây ra rủi ro này là do khâu thẩm định khách hàng không cẩn thận, không nắm bắt đầy đủ các thông tin về khách hàng, không sử dụng các biện pháp bảo đảm cần thiết… Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
Rủi ro về kĩ thuật: Đây là loại rủi ro liên quan đến hệ thống quản lý thẻ, như các sự cố về nghẽn mạng, các trục trặc về xử lý thông tin, bảo mật… Đây là loại rủi ro rất cần được quan tâm vì khi sự cố xảy ra tác hại của nó rất lớn, không chỉ ảnh hưởng đến một khách hàng, một ngân hàng mà còn có tác hại đến hoạt động của cả một hệ thống thẻ.
Nguyên nhân gây ra rủi ro này có thể do sự bất khả kháng, nhưng cũng có thể do nguyên nhân chủ quan là hệ thống không được đầu tư đúng mức, công tác cập nhật, bảo quản không được quan tâm một cách nghiêm túc để kẻ gian xâm nhập hệ thống đánh cắp dữ liệu, thông tin…
Rủi ro về đạo đức của cán bộ ngân hàng: Đó là hành vi cán bộ lợi dụng vị trí công tác, sự hiểu biết của mình về nghiệp vụ thẻ, quy trình nghiệp vụ không chặt chẽ… để thực hiện các hành vi gian lận, giả mạo gây tổn thất cho ngân hàng.
Nguyên nhân gây ra rủi ro là do cán bộ thoái hóa, biến chất, công tác soạn thảo quy trình tác nghiệp, kiểm tra kiểm soát nội bộ không thực hiện đúng chuẩn mực.
Tất cả những hành vi trên đều gây ra những rủi ro và tổn thất tài chính đối với ngân hàng. Chính vì vậy, một trong những lĩnh vực quan trọng của kinh doanh thẻ là hoạt động quản lý rủi ro. Bộ phận quản lý rủi ro tại các ngân hàng có kinh doanh thẻ được coi là bộ phận xương sống trong hoạt động thẻ.
Để hoạt động kinh doanh thẻ thực sự có hiệu quả và phát triển thì lĩnh vực quản lý rủi ro càng cần được quan tâm đúng mức. Bộ phận này phải luôn tự nâng cao trình độ, nắm bắt được các công nghệ hiện đại, đưa ra những biện pháp phòng chống rủi ro hữu hiệu nhất để hoạt động kinh doanh thẻ thực sự là một nguồn thu ít rủi ro nhất trong hoạt động ngân hàng.
1.5.2. Các nhân tố khách quan
- Sự ổn định của môi trường kinh tế
Sự ổn định của kinh tế trong nước, khu vực và trên thế giới tạo ra môi trường buôn bán thuận lợi. Sự phát triển thương mại, ngoại thương khiến nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng cao. Việc dùng các sản phẩm thanh toán hiện đại của ngân hàng cũng theo đó tăng lên.
- Thói quen của người dân
Thói quen tiêu dùng của người dân có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của thẻ. Nếu như người dân chủ có thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt thì sẽ không có điều kiện tốt để phát triển hoạt động kinh doanh thẻ.
- Trình độ dân trí
Một hình thức thanh toán hiện đại áp dụng vào môi trường với trình độ dân trí chưa cao sẽ giảm hiệu quả và ngược lại, khi dân trí có trình độ cao, thu nhập ổn định, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt tất yếu tăng lên là thuận lợi lớn cho bất kì ngân hàng nào đầu tư vào lĩnh vực này.
Hiện nay người dân Việt Nam vẫn còn xa lạ với việc giao dịch với ngân hàng và các dịch vụ do ngân hàng cung cấp, trong đó có dịch vụ thẻ. Các kiến thức cần thiết về sử dụng, thanh toán và bảo mật thẻ còn mới mẻ với họ. Nhiều người dân không được tiếp cận với những thông tin chính thức, chưa hiểu về những tiện ích của loại hình thanh toán này, thậm chí còn hoang mang không dám sử dụng… Chính những điều này làm cho thẻ chậm phát triển, chưa đến được với nhiều khách hàng tiềm năng.
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển thẻ. Một môi trường pháp lý chặt chẽ, hoàn thiện, đầy đủ và có hiệu lực mới có thể đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên tham gia và quá trình phát hành và thanh toán thẻ. Chỉ khi đó ngân hàng mới có cơ sở vững chắc để thực hiện đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh thẻ. Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV


Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV