Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

2.1.1. Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc, diện tích tự nhiên 6.110 km2, dân số hơn 1,1 triệu người. Toàn tỉnh có 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện, đường biên giới với Trung Quốc trải dài hơn 132 km. Là tỉnh có nhiều tiềm năng kinh tế rất phong phú và da dạng với nhiều tài nguyên và khoáng sản quý hiếm. Có Vịnh Hạ Long kỳ vĩ được UNESCO 2 lần công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Quảng Ninh còn là một trung tâm du lịch lớn của cả nước với bờ biển chạy dài 150 Km và là nơi giàu truyền thống cách mạng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thành lập ngày 26/4/1957 với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Một tháng sau đó, vào ngày 27/5/1957, Ngân hàng Kiến thiết Quảng Ninh, hiện nay là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh được mở cửa và đi vào hoạt động. Là Ngân hàng thương mại lâu đời nhất Việt Nam, với nhiệm vụ ban đầu là góp phần phục hồi và xây dựng các hầm lò than ở Quảng Ninh, cấp vốn kịp thời cho công tác cứu chữa, phục hồi và đảm bảo giao thông thời chiến, xây dựng công nghiệp địa phương. Hiện nay sau gần 57 năm hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh đã có tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán đạt trên 6.400 tỷ đồng. Huy động vốn địa phương đạt trên 4.000 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng và đầu tư đạt gần 6.000 tỷ đồng. Tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16%. Trong những năm tới chi nhánh Quảng Ninh sẽ tiếp tục có những bước phát triển nhanh, ổn định và bền vững, với mục tiêu đưa BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trở thành chi nhánh ngân hàng hàng đầu cả nước.

2.1.2.  Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

  • Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Nhận xét: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng được phân chia rõ ràng giúp chuyên môn hóa từng bộ phần chức năng các nghiệp vụ ngân hàng, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả.

2.1.3.  Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Trong quá trình hình thành và phát triển, BIDV Chi nhánh Quảng Ninh đã tận dụng tối đa thế mạnh của mình để kinh doanh một cách có hiệu quả, qua đã đó đã tạo được niềm tin và sự hài lòng của đông đảo khách hàng bởi sự đa dạng và phong phú của các loại hình dịch vụ. Kết quả các hoạt động kinh doanh đó được tổng hợp qua các bảng sau:

2.1.3.1. Tình hình huy động vốn

  • Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Số liệu trên cho thấy nguồn vốn của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có chiều hướng giảm rõ rệt, cụ thể đến ngày 31/12/2024 tổng nguồn vốn huy động là 2.905.288 triệu đồng, giảm 991.712 triệu đồng, tương ứng giảm 25,45% so với năm 2023. Đến năm 2025, công tác vốn huy động đã được Ngân hàng cải thiện với việc nguồn vốn đạt 3.495.609, tương ứng tăng 20,32% so với năm 2024, nhưng vẫn thấp hơn so với thời điểm năm 2023. Ta sẽ đi xem xét từng khoản mục cụ thể:

  • Về cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền gửi

Nguồn vốn huy động bằng nội tệ ghi nhận mức giảm sâu vào năm 2024, khi giảm đến 12,91% so với năm 2023, sau đó có mức phục hồi 16,21% vào năm 2025. Nguồn vốn huy động ngoại tệ sụt giảm nghiêm trọng hơn khi năm 2024 nguồn vốn này chỉ đạt 141.024 triệu đồng, giảm 80,49% so với năm 2023, sang năm 2025 nguồn vốn này đã có dấu hiệu phục hồi khi tăng đến 100,89% so với năm 2024 nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với thời điểm năm 2023.

Nguyên nhân của việc sụt giảm nguồn huy động từ nội tệ như vậy phần lớn đến từ việc tình hình chung của nền kinh tế gặp khó khăn, các chính sách về trần lãi suất của NHNN thay đổi liên tục và trải qua rất nhiều lần thay đồi lãi suất, trong vòng 3 tháng từ 13/3 – 11/6/2024 trần lãi xuất huy động hạ từ 14% xuống còn 9%. Và sự sụt giảm mạnh mẽ về huy động ngoại tệ là do chính sách từ phía Hội sở chính, hạn chế nhận tiền gửi từ các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính khác, ta có thể thấy điều này từ việc giảm tiền gửi của TCTD khác từ 1.183.184 triệu đồng năm 2023 xuống chỉ còn 215.647 năm 2025. Cùng với đó là quy định mới về trần lãi suất ngoại tệ, quy định lãi suất tiền gửi ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế cao nhất chỉ có 1%/năm thì các doanh nghiệp có nguồn ngoại tệ cũng xem xét đến việc bán ngoại tệ để gửi tiền đồng vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi suất cao hơn.

  • Về cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Tiền gửi không kì hạn trong năm 2025 của Ngân hàng giảm so với năm 2023 nhưng tỉ lệ giảm là không đáng kể, chỉ vào khoảng từ 4 – 5% nguyên nhân do từ năm 2024 thu nhập của khối doanh nghiệp và dân cư giảm dẫn đến nhu cầu thanh toán cũng giảm theo, nhưng theo dự đoán của Ban lãnh đạo ngân hàng lượng tiền gửi này sẽ có xu hướng tăng trong tương lai khi nền kinh đã ổn định trở lại. Tuy nhiên tiền gửi không kỳ hạn thường không ổn định, làm cho Ngân hàng rất khó lên kế hoạch kinh doanh, có thể ảnh hưởng đến tính thanh khoản của Ngân hàng bất cứ lúc nào.

Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên của Ngân hàng giảm vào năm 2024 nhưng sau đó tăng trở lại vào năm 2025. Nguyên nhân do trong năm 2024 lãi suất giảm sâu từ 14% xuống còn khoảng 9%, ngoài ra năm 2024 tỉ lệ lạm phát lớn dẫn đến chênh lệch giữa số lãi thực tế nhận được không lớn hơn lãi danh nghĩa là bao nhất là đối với tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng cũng là một nguyên nhân dẫn đến lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm.

Bảng 2.1 cho thấy hoạt động huy động tiền gửi khách hàng chỉ mới tập trung ở kỳ hạn ngắn hoặc không kỳ hạn. Do đó ngân hàng cần gia tăng tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn để góp phần cho hoạt động cho vay của Ngân hàng có hiệu quả, ngân hàng có thể an tâm đầu tư vào các dự án trung và dài hạn.

  • Về cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng khách hàng

Tiền gửi dân cư năm 2025 đạt 1.776.465 triệu đồng, tăng 21% so với năm 2024, năm 2024 đạt 1.468.168 triệu đồng, tăng 18,44% so với năm 2023. Đây là nguồn vốn không nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động và luôn chiếm tỷ trọng cao, cụ thể là năm 2025 chiếm 50,8% tổng nguồn vốn huy động. Phương thức huy động vốn này là nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng thương mại Việt Nam, nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn và BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đặc biệt quan tâm tới việc tăng tỷ trọng của nguồn vốn này. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Tiền gửi của tổ chức kinh tế, khoản tiền gửi này đa phần là của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất. Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại ngân hàng. Lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong giai đoạn này không ổn định, giảm hoặc tăng không đáng kể. Tín hiệu này không có gì là bất ngờ với nền kinh tế khó khăn của năm 2024, thị trường trầm lắng, sức mua giảm, trong 3 tháng đầu năm số lượng doanh nghiệp phá sản cao hơn số lượng doanh nghiệp được thành lập trên địa bàn. Ngân hàng cần duy trì và phát triển hơn nữa nguồn vốn này để có thể vừa huy động vốn, vừa tạo điều kiện để khách hàng sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng.

Tiền gửi TCTD, TCTC… năm 2025 là 215.647 triệu đồng, giảm hơn 80% so với năm 2023. Nguyên nhân đến từ chính sách của ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam là từ năm 2024 hạn chế nhận tiền gửi các TCTD, TCTC… vì đây là nguồn vốn kém ổn định, các TCTD, TCTC có nhu cầu rút tiền để thanh toán lớn. Dẫn đến khó khăn trong việc lập kế hoạch tài chính của Ngân hàng.

Trong thời gian qua, mặc dù nền kinh tế có nhiều dấu hiệu giảm sút nhưng tình hình huy động vốn của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh vẫn có được những kết quả đáng khích lệ. Chi nhánh đã nắm bắt kịp thời, hoạt động linh hoạt trước sự biến động của lãi suất thị trường. Từ đó Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác huy động vốn, tạo sự ổn định và chủ động về nguồn vốn để đầu tư cho vay phát triển kinh tế.

2.1.3.2 Tình hình cho vay

  • Bảng 2.2: Tình hình cho vay của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Nhìn vào bảng 2.2 ta có thể thấy tổng dư nợ của Ngân hàng là tương đương nhau từ năm 2023 tới năm 2025. Tổng dư nợ của Ngân hàng năm 2025 là 6.398.734 triệu đồng, trong khi năm 2024 là 6.462.036 triệu đồng, thay đổi tổng dư nợ chỉ ở mức dưới 1%. Tốc độ tăng trưởng của hoạt động cho vay không giảm nhiều, thể hiện hoạt động cho vay ổn định. Đây là kết quả tích cực trong hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • Cơ cấu dư nợ theo thời gian

Tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn ở mức cao và chiếm tỷ trọng lớn trong doanh số cho vay, chiếm 66,4% vào năm 2025. Các khoản vay ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn dưới 12 tháng nhằm giúp khách hàng tăng cường vốn lưu động tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất và tiêu dùng. Lãi suất cho vay ngắn hạn có thời điểm thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn nên khách hàng thường sử dụng loại cho vay này nhất là các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Đó cũng là nguyên nhân chính khiến dư nợ cho vay ngắn hạn của năm 2025 chiếm tỷ trọng cao như vậy trên tổng dư nợ Ngân hàng trong thời kỳ sản xuất kinh doanh lâu dài gặp nhiều khó khăn.

Về dư nợ cho vay trung, dài hạn, loại dư nợ này chiếm tỷ trọng thấp trong năm 2025 (chỉ 33,57%) nhưng lại chiếm tỷ trong tương đối cao trong năm 2023 là 43,53%. Lý do là từ năm 2023 trở về trước, nền kinh tế đang trên đà phát triển, các doanh nghiệp có xu hướng vay trung, dài hạn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh lâu dài nhưng từ năm 2024, sự đi xuống của nền kinh tế toàn cầu đã sự ảnh hưởng đến Việt Nam, không còn nhiều doanh nghiệp mặn mà với đầu tư các khoản lớn mà chỉ dám đầu tư nhỏ lẻ nhằm tránh rủi ro. Và do lãi suất khi lãi vay trung, dài hạn bao giờ cũng lớn hơn vay ngắn hạn.

Qua bảng số liệu trên cho thấy, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đang có những dấu hiệu thay đổi trong cơ cấu tín dụng, xu hướng đầu tư vào cho vay ngắn hạn lớn, chiếm tỷ trọng cao vì ngắn hạn thì thời gian quay đồng vốn nhanh, ít rủi ro, mang lại hiệu quả cao cho Ngân hàng.

  • Cơ cấu dư nợ phân theo đối tượng vay

Dư nợ hộ sản xuất và cá nhân năm 2025 chỉ chiếm 28,2% tổng dự nợ, giảm so với năm 2023, nguyên nhân là do nền kinh tế suy thoái khiến cho thu nhập của người dân cũng giảm theo, họ không muốn đầu tư để tránh gặp rủi ro, đợi tình hình kinh tế phục hồi trở lại mới dám tiến hành vay vốn đầu tư. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Dư nợ doanh nghiệp có xu hướng tăng, cụ thể là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Những năm gần đây dư nợ của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn chiếm một nửa tổng dư nợ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh. Đối với những thành phần kinh tế này thì món vay thường tương đối lớn vì đa số các doanh nghiệp vay để đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại nhằm giảm chi phí trong sản xuất và đem lại hiệu quả cao nhất. Doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ vì doanh nghiệp Nhà nước là những khách hàng truyền thống của Ngân hàng, nhưng Ngân hàng chỉ lựa chọn những doanh nghiệp có khả năng sản xuất kinh doanh tốt và có khả năng trả nợ.

Từ những phân tích trên cho thấy, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có chủ trương mở rộng cho vay đến nhiều thành phần kinh tế nhằm đa dạng hóa khách hàng vay vốn đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế, có thể phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

  • Cơ cấu nợ quá hạn, nợ xấu

Nợ quá hạn năm 2024 là 64.180 triệu đồng, giảm 32,58% so với năm 2023, sang đến năm 2025, nợ quá hạn có tăng nhưng không đáng kể so với năm 2024, chỉ tăng 8,09%. Nguyên nhân một phần là do khách hàng đã trả được nợ, phần khác là do Ngân hàng đã tiến hành điều chỉnh lại thời hạn trả nợ để hỗ trợ các doanh nghiệp khách hàng giảm bớt khó khăn trong thời kì suy giảm kinh tế. Để thấy rõ hơn chất lượng tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh, chúng ta sẽ đi nghiên cứu thông qua bảng sau:

  • Bảng 2.3: Chất lượng tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ: Trong ba năm từ 2023 đến 2025, tỷ lệ nợ xấu là tương đương nhau, có thay đổi nhưng không nhiều, đây là dấu hiệu tích cực trong hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu ở mức xấp xỉ 1%, thấp hơn khá nhiều so với thông lệ quốc tế là nhỏ hơn 3%, cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng tương đối tốt.

Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: Từ năm 2023 đến năm 2025, tỷ lệ nợ quá hạn của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh chỉ có những biến động nhỏ, chủ yếu xung quanh mức 1%, theo tiêu chí của ngành ngân hàng thì tỷ lệ này vẫn nằm ở mức cho phép, đó là thấp hơn 5%. Do hoạt động tín dụng chủ yếu của ngân hàng là cho vay ngắn hạn nên khi xảy ra suy thoái kinh tế mức độ rủi ro mà Ngân hàng phải gánh chịu đã được giảm thiểu. Mặt khác chiếm tỉ trọng vay cao nhất trong hoạt động tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh là các hộ sản xuất và doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo chủ trương ưu đãi tín dụng cho DN nhỏ, vừa và DN ngoài quốc doanh của tỉnh Quảng Ninh. Đây là các thành phần kinh tế có năng lực quản lý tương đối cao và tình hình tài chính lành mạnh nên đã chống đỡ tốt với khủng hoảng kinh tế, hạn chế được việc mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn đối với Ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Kết quả trên cho thấy, tình hình dư nợ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong thời gian qua có sự tăng trưởng ổn định, Chi nhánh đã làm tốt công tác xây dựng, ban hành các quy trình hướng dẫn cho vay, khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là những đối tượng có uy tín, có biểu hiện tốt trong việc trả nợ, quy trình phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước luôn được Ngân hàng tuân thủ nghiêm túc và chặt chẽ.

2.1.3.3. Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh

  • Bảng 2.4: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Tổng doanh thu: năm 2025 là 1.084.664 triệu đồng, tăng 12,66% so với năm 2024, năm 2024 đạt 962.800 triệu đồng, giảm 13,01% so với năm 2023. Cụ thể:

Thu lãi cho vay từ năm 2023 đến năm 2025 có sự ổn định, trong đó, năm 2025 tăng 8,89% so với năm 2024. Trong năm 2024 Ngân hàng thực hiện nguyên tắc thận trọng trong việc cho vay và quản lý món tiền cho vay với mục đích đảm sự an toàn và lợi ích lâu dài cho Ngân hàng, điều này đã làm giảm thu nhập từ lãi cho vay của ngân hàng xuống 10,1% so với năm 2023. Tuy nhiên mức sụt giảm này là hệ quả tất yếu và đã nằm trong kế hoạch của ban giám đốc Ngân hàng.

Thu ngoài tín dụng, trong đó thu từ dịch vụ ròng của năm 2025 là 760 triệu đồng, tăng 82,69% so với năm 2024 do các dịch vụ của ngân hàng ngày càng được người dân và các tổ chức, doanh nghiệp trong địa bàn tin dùng, và ngân hàng đang làm tốt công tác cung cấp và cải tiến chất lượng dịch vụ. Thu từ các hoạt động kinh doanh khác cũng liên tục tăng trong giai đoạn 2023 – 2025, năm 2025 là 854 triệu đồng, tăng 69,44% so với năm 2024 và năm 2024 tăng đến 147,06% so với năm 2023, các khoản này bao gồm thu từ mua bán chứng khoán kinh doanh, thu từ mua bán chứng khoán đầu tư và đặc biệt là thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng lên đáng kể do trong năm 2025 hoạt động buôn bán hàng hóa của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn với Trung Quốc tăng mạnh. Nhận thấy thu từ dịch vụ tuy còn thấp so với tổng doanh thu nhưng nguồn thu này rất có tiềm năng trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Tổng chi phí: Theo bảng số liệu trên ta thấy, mọi khoản chi phí đều có xu hướng giảm. Nguyên nhân do từ năm 2024 chứng kiến việc giảm lãi suất huy động theo chủ trương của NHNN từ 14% xuống còn 6% vào cuối năm 2025. Từ đó dẫn đến hiện tượng rút tiền của các bộ phận dân cư và các doanh nghiệp tăng lên, trong khi đó lượng tiền gửi mới vào ngân hàng sụt giảm. Hệ quả là chi phí lãi tiền gửi giảm, chi phí dự phòng rủi ro cũng giảm theo do tình hình cho vay không có sự tăng trưởng, chi phí hoạt động và các khoản chi khác cũng giảm rõ rệt, trong đó lương của nhân viên giảm đáng kể do lợi nhuận của Ngân hàng giảm. Ngoài các khoản đã chi, Ngân hàng còn phải chi cho các khoản khác như là chi cho việc tăng thêm dịch vụ, đầu tư thêm trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch vụ… . Đó là tình hình chung của các Ngân hàng thương mại trong năm 2024 đến nay. Từ thực tế như vậy, sang đến năm 2025, Ngân hàng đã tăng cường công tác huy động vốn để giảm thiểu tác động của trần lãi suất, đáp ứng nhu tốt hơn cầu về vốn vay của khách hàng, cùng với đó là tăng sức cạnh tranh với các ngân hàng khác trên địa bàn.

Thu nhập trước thuế: Qua những phân tích trên cho thấy tuy có nhiều biến động do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng có thể nói hoạt động kinh doanh của của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã đạt được như mong muốn, đặc biệt thu nhập trước thuế năm 2025 đạt 256.854 triệu đồng đã vượt được kết quả năm 2024, với mức tăng hơn 34%. Nguyên nhân là do Ban lãnh đạo Ngân hàng đã có những chính sách, chiến lược đúng đắn giúp Ngân hàng đứng vững trong thời kì nền kinh tế chung gặp nhiều khó khăn. Qua đó cho thấy hiệu quả trong kinh doanh của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh bước đầu đã đạt được như kì vọng, kết quả kinh doanh năm sau được cải thiện và cao hơn năm trước.

2.2. Tổng quan thị trường thẻ Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Hiện nay, các ngân hàng đang chuyển hướng đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt phát triển kinh doanh mảng thẻ, chú trọng vào những sản phẩm như: Phát hành thêm các loại thẻ, cho vay tiêu dùng, cho vay qua thẻ… Theo NHNN Việt Nam, đã có 33 triệu người Việt Nam sử dụng thương mại điện tử, tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ngày càng giảm.

Tính đến hết năm 2025, đã có 52 tổ chức đăng ký phát hành thẻ, nhiều ngân hàng đã trở thành thành viên chính thức của Visa và MasterCard như SHB, Bản Việt, OCB, GPBank, Indovina Bank,… Có nhiều thương vụ hợp tác giữa ngân hàng và các công ty viễn thông lớn như Viettel hợp tác với hàng loạt ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, Agribank, BIDV,… để cung cấp dịch vụ ngân hàng di động Mobile BankPlus, Vietcombank hợp tác với Vinaphone ra mắt dịch vụ chuyển tiền di động Momo, SHB và Vinaphone phối hợp cung cấp thẻ đồng thương hiệu,…

Ngoài ra, các ngân hàng cũng chạy đua mở rộng mạng lưới thanh toán, cung cấp các sản phẩm giá trị gia tăng cho chủ thẻ. Cuối 2025, Vietinbank trở thành ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ thanh toán di động MPOS. Các ngân hàng cũng bắt tay nhau tạo nên dịch vụ chuyển tiền nhanh liên ngân hàng 24/7 của Smartlink. Discover và Smartlink hợp tác liên minh chiến lược, mục tiêu của sự hợp tác này chính là việc mở rộng mạng lưới thanh toán thẻ tại Việt Nam, qua đó giúp các chủ thẻ của Discover và Dinner Club International trên toàn cầu có thể dễ dàng thực hiện giao dịch tại các mạng lưới liên thông hơn 16.000 ATM của các ngân hàng thương mại trong nước.

  • Biểu đồ 2.1: Tình hình phát triển số lượng thẻ Việt Nam từ 2023-2025

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 12/2025, đã có 52 ngân hàng thương mại trong nước và ngân hàng có vốn nước ngoài đăng ký phát hành thẻ, với trên 63,68 triệu thẻ các loại đã được phát hành, tăng đến hơn 50% so với cuối năm 2023. Đây là tốc độ phát triển hết sức ấn tượng. Trong đó, hầu hết là thẻ ghi nợ (chiếm 93,6%), thẻ tín dụng (chiếm 3,1%). Tỷ lệ sử dụng thẻ ngân hàng so với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác đang có xu hướng tăng lên.

  • Biểu đồ 2.2: Tình hình phát triển máy ATM, POS tại Việt Nam từ 2023 – 2025

Có thể thấy sự gia tăng số lượng ATM, POS khá phù hợp với số lượng thẻ phát hành trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng thông qua sử dụng thanh toán bằng thẻ. Điều này đã làm giảm tình trạng giao dịch tiền mặt và tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Đến cuối năm 2025, có 52 Ngân hàng thương mại đã trang bị máy ATM, POS với số lượng trên 15.265 ATM và hơn 129.653 POS. Ước tính số lượng máy ATM năm 2025 tăng 5,7% so với năm 2024 và hơn năm 2023 là 1.252 ATM, xấp xỉ 9,2%.

Qua đó, có thể thấy tiềm năng của thị trường thẻ Việt Nam là rất lớn. Mục tiêu của Chính phủ và NHNN là tiếp tục phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán, nhất là dịch vụ thẻ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt về tập quán thanh toán trong xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng, phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững nền kinh tế và hiệu quả quản lý nhà nước.

2.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

2.3.1 Hoạt động phát hành thẻ tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

2.3.1.1. Quy trình phát hành thẻ tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

  • Bảng 2.5: Quy trình phát hành thẻ tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Bước 1: Khách hàng tới BIDV chi nhánh Quảng Ninh đăng kí định danh thẻ và nộp bản sao CMT hoặc các giấy tờ cần thiết khác.

Bước 2: BIDV chi nhánh Quảng Ninh, sau khi nhận bản đăng kí định danh thẻ từ phía khách hàng, kiểm tra xem khách hàng đã có tài khoản tại BIDV hay chưa.

  • Đối với khách hàng đã có tài khoản tại BIDV: lưu đơn đăng kí theo tài khoản của khách hàng.
  • Đối với khách hàng chưa có tài khoản: mở tài khoản cho khách hàng trước khi lưu đơn đăng kí.

Bước 3: BIDV chi nhánh Quảng Ninh tập hợp danh sách khách hàng phát hành thẻ và gửi danh sách đến trung tâm thẻ.

Bước 4: Căn cứ vào danh sách do Chi nhánh phát hành thẻ gửi đến, trung tâm thẻ chịu trách nhiệm phát hành thẻ theo đúng quy định. Sau khi phát hành, trung tâm thẻ có trách nhiệm gửi thẻ và thông báo mã số cá nhân PIN cho chi nhánh phát hành để Chi nhánh trả cho khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Bước 5: Sau khi nhận được thẻ từ trung tâm thẻ:

  • Giao dịch viên có trách nhiệm liên lạc với khách hàng, mời khách hàng đến nhận thẻ. Thủ tục giao thẻ theo quy định hiện hành của BIDV áp dụng cho toàn hệ thống.
  • Giao dịch viên có trách nhiệm yêu cầu khách hàng điền đầy đủ thông tin và kí đơn xác nhận đã nhận thẻ.
  • Giao dịch viên cung cấp số tài khoản, số thẻ, hướng dẫn sử dụng thẻ… cho khách hàng sử dụng.

Sau khi hoàn thành việc mở tài khoản cá nhân, phát hành thẻ cho khách hàng, giao dịch viên tiến hành lưu trữ thông tin khách hàng trên hệ thống của BIDV và lưu trữ chứng từ theo đúng quy định hiện hành của BIDV.

2.3.1.2. Các sản phẩm thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Với mục tiêu trở thành nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt nam, BIDV đã và đang đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong đó có dịch vụ thẻ. Các sản phẩm dịch vụ thẻ đã được phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Hiện nay, BIDV – chi nhánh Quảng Ninh đang triển khai phát hành 3 dòng sản phẩm thẻ chủ yếu: thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng quốc tế.

a. Thẻ ghi nợ nội địa BIDV

  • Giới thiệu chung:

Các loại thẻ ghi nợ nội địa do BIDV phát hành được kết nối với tài khoản tiền gửi thanh toán VNĐ. Thẻ được sử dụng để giao dịch tại các máy ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ có logo Banknetvn, Smartlink và VNBC trên toàn quốc.

  • Tiện ích: Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Rút tiền mặt tại hơn 11,000 máy ATM có biểu tượng Banknetvn, Smartlink và VNBC trên toàn quốc. Thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ có biểu tượng Banknetvn, Smartlink và VNBC.

Thực hiện các giao dịch chuyển khoản, vấn tin số dư, sao kê giao dịch… trực tiếp trên máy ATM của BIDV.

Sử dụng các dịch vụ tiện ích e-banking để vấn tin tài khoản, sao kê giao dịch, chuyển khoản, nạp tiền điện thoại, thanh toán phí bảo hiểm, tiền điện, tiền nước và các dịch vụ khác.… Sử dụng dịch vụ thanh toán qua mạng tại các website chấp nhận thẻ BIDV.

Dịch vụ khách hàng hoạt động liên tục 24/7.

Bảng 2.6: Danh sách các loại thẻ ghi nợ nội địa BIDV

  • BIDV Lingo – Thẻ tiêu dùng

BIDV Lingo là tấm thẻ tiêu dùng thông minh hấp dẫn dành cho thương nhân, nhân viên văn phòng và giới trẻ năng động. Với ưu đãi giảm giá và tích lũy điểm thưởng tại hàng trăm thương hiệu hàng đầu, được ưu thích tại Việt Nam và thế giới trong các lĩnh vực thời trang, du lịch, ẩm thực, làm đẹp,…

  • Thẻ BIDV Harmony

Xuất phát từ quan niệm Âm dương Ngũ Hành, bộ thẻ ghi nợ cao cấp BIDV Harmony được thiết kế với năm màu sắc tượng trưng cho năm trạng thái Kim – Mộc –Thủy – Hỏa – Thổ kết hợp với hình ảnh phượng hoàng, linh vật của Ngũ hành tạo nên vẻ đẹp đậm đà phong cách Á Đông.

  • Thẻ BIDV eTrans

BIDV eTrans là sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa tích hợp đa dạng tính năng và tiện ích, không chỉ dành cho khách hàng cá nhân mà còn là sự lựa chọn hoàn hảo cho các doanh nghiệp mong muốn sử dụng dịch vụ trả lương qua thẻ ATM.

  • Thẻ BIDV Moving Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Bên cạnh những tính năng và tiện ích vốn có của một chiếc thẻ ghi nợ, BIDV Moving còn mang tới nét “Năng động, trẻ trung và hiện đại”. Kết hợp những vệt ánh sáng cùng tông màu lạnh, BIDV Moving tượng trưng cho sự chuyển động không ngừng của cuộc sống hiện đại.

Nhận xét: Số lượng sản phẩm thẻ nội địa của BIDV chưa đa dạng, sản phẩm thẻ chưa có đặc điểm nổi bật so với các sản phẩm thẻ của các ngân hàng cùng ngành, thẻ chưa tập chung và một phân khúc thị trường nhất định (như thẻ liên kết sinh viên của ngân hàng Agribank và ngân hàng Đông Á, E-Partner Pink card dành riêng cho phái nữ của Vietinbank)

Hạn mức rút tiền mặt tối đa trong ngày được chia làm 3 mức: 15 triệu, 20 triệu, 40 triệu. Đây là hạn mức rút tiền phù hợp với phần lớn nhu cầu chi tiêu của người dân Việt Nam và giúp họ kiểm soát được lượng tiền tiêu dùng trong ngày. Tuy nhiên, hạn mức rút tiền của BIDV không có sự nổi bật so với các ngân hàng khác trên thị trường. Đây chưa phải là yếu tố cạnh tranh nổi bật của Ngân hàng.

b. Thẻ ghi nợ quốc tế BIDV

  • Giới thiệu chung:

Thẻ MasterCard Debit là thẻ ghi nợ quốc tế kết nối với tài khoản tiền gửi thanh toán VND mang thương hiệu MasterCard do Ngân hàng BIDV phát hành. Thẻ được sử dụng để giao dịch tại máy ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ có logo MasterCard trên toàn thế giới.

  • Tiện ích:

Rút tiền đơn giản tại hơn 1 triệu máy ATM có logo MasterCard trên toàn thế giới.

Thanh toán dễ dàng tại hơn 30 triệu điểm có logo MasterCard tại 220 quốc gia khác và 15.000 điểm bán hàng tại Việt Nam. Chuyển khoản trong hệ thống BIDV.

Khách hàng sử dụng tiền trực tiếp từ tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ động hơn trong chi tiêu. Tận hưởng ưu đãi giảm giá đối với chủ thẻ MasterCard với các dịch vụ du lịch, giải trí, mua sắm… trên toàn thế giới.

  • Bảng 2.7: Danh sách các loại thẻ ghi nợ quốc tế BIDV

c. Thẻ tín dụng quốc tế BIDV Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Về sản phẩm thẻ tín dụng, BIDV đã triển khai dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế VISA từ cuối năm 2020. Mặc dù ra mắt thị trường sau một số ngân hàng khác, song sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế BIDV với lợi thế cạnh tranh về chính sách phí cũng như chất lượng dịch vụ ổn định, đã dần được thị trường đón nhận.

  • Giới thiệu chung:

Thẻ BIDV Visa/MasterCard là sản phẩm thẻ thanh toán thay thế tiền mặt của tổ chức thẻ quốc tế Visa, MasterCard. Ngoài tính năng “chi tiêu trước, trả tiền sau” và thời hạn ưu đãi miễn lãi lên đến 45 ngày, thẻ BIDV Visa/MasterCard đặc biệt an toàn và thuận tiện cho quý khách trong mọi giao dịch thanh toán trên toàn cầu.

Với thẻ tín dụng BIDV, chủ thẻ được Ngân hàng cấp trước một hạn mức tín dụng.

Gồm 3 loại: thẻ chuẩn, thẻ vàng và thẻ Platinum.

  • Thẻ chuẩn: hạn mức từ 10 triệu VND đến 50 triệu VND.
  • Thẻ vàng: hạn mức từ 50 triệu VND đến 300 triệu VND.
  • Thẻ Platinum: hạn mức từ 100 triệu VND trở lên.
  • Thời hạn thẻ : 3 năm.

Tiện ích:

Không sợ rủi ro khi phải mang quá nhiều tiền mặt trong người khi đi công tác, du học, du lịch… trong và ngoài nước. Tính năng an toàn của thẻ cao. Mất thẻ không có nghĩa là mất tiền nếu chủ thẻ thông báo kịp thời cho BIDV. Chủ thẻ được tặng tối đa 9 quyền lợi bảo hiểm thiết thực.

Chi tiêu trước – trả tiền sau, miễn lãi lên đến 45 ngày. Chỉ thanh toán tối thiểu 5% số tiền sử dụng hàng tháng. Thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ Visa, MasterCard như: siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, đại lý vé máy bay, khu du lịch, bệnh viện, câu lạc bộ… tại Việt Nam và hơn 220 quốc gia trên toàn thế giới.

Rút tiền mặt tại hơn 30 triệu điểm chấp nhận thẻ và hơn 1 triệu máy rút tiền ATM mang thương hiệu Visa, MasterCard hoạt động 24/24 tại Việt Nam và khắp nơi trên thế giới. Dễ dàng đặt hàng qua thư hay điện thoại và thực hiện các dịch vụ thanh toán trên mạng Internet.

Thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào trên thế giới và thanh toán lại cho BIDV chỉ bằng VND.

Dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/24. Chủ thẻ được hưởng các chương trình ưu đãi mua sắm từ BIDV và tổ chức thẻ Visa, MasterCard. Số tiền trong tài khoản ký quỹ sẽ được hưởng lãi kỳ hạn 12 tháng theo lãi suất của BIDV từng thời điểm.

Bảng 2.8: Danh sách các loại thẻ tín dụng quốc tế BIDV

  • Thẻ MasterCard Platinum Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Thẻ BIDV Platinum ra đời như một tinh hoa đẳng cấp về công nghệ bảo mật Chip theo chuẩn EMV, về tiện ích và dịch vụ ưu đãi hỗ trợ toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống; tất cả sẽ khiến chủ thẻ được tận hưởng nhịp đập cuộc sống đẳng cấp thực sự thời công nghệ số.

  • Thẻ Visa gold (Precious)

Gây ấn tượng bởi hai chữ Lộc Phát cách điệu nổi bật trên nền vàng sang trọng, giàu tính thẩm mỹ và mang nhiều ý nghĩa với người Á Đông, BIDV Precious xứng đáng là hình ảnh đại diện cho đẳng cấp và phong cách chủ thẻ…

  • Thẻ đồng thương hiệu BIDV MU

Sự kết hợp giữa đội bóng được yêu thích nhất trên thế giới và định chế tài chính hàng đầu Việt Nam đã mang đến thẻ tín dụng đồng thương hiệu BIDV Manchester United sản phẩm không thể thiếu trong bộ sưu tập của fan hâm mộ đội bóng Quỷ đỏ. Trở thành chủ thẻ tín dụng BIDV Manchester United để thể hiện tình yêu cuồng nhiệt của mình với Câu lạc bộ và có cơ hội biến giấc mơ chiêm ngưỡng những trận cầu đỉnh cao của Manchester United tại thánh địa Old Trafford thành sự thật.

  • Thẻ Visa Classic (Flexi)

Tích hợp nhiều tiện ích vượt trội, công nghệ bảo mật bằng Chip theo chuẩn EMV và các dịch vụ ưu đãi hỗ trợ toàn diện, BIDV Flexi sẽ cùng khách hàng tận hưởng cuộc sống ở Việt Nam và bất kì nơi nào trên thế giới.

Nhận xét: Giống như hầu hết các ngân hàng trên thị trường, sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế của BIDV là thẻ Visa và MasterCard. Tuy nhiên, Ngân hàng hoàn toàn có thể cung cấp các sản phẩm thẻ của American Express, JCB,… đây là một hạn chế của BIDV khi chưa mở rộng kết nối với các tổ chức quốc tế lớn để khách hàng có thêm sự lựa chọn.

2.3.1.3. Số lượng thẻ đã phát hành tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Mặc dù là một trong những chi nhánh gia nhập thị trường thẻ khá muộn của BIDV, nhưng cho đến nay, các sản phẩm thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh vẫn được khách hàng đánh giá là một trong những thẻ thanh toán tiện ích nhất trên địa bàn Tỉnh. Năm 2020, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã được Hội sở chính bình chọn là chi nhánh có tốc độ phát triển cao nhất cả nước.

  • Bảng 2.9: Tình hình phát hành thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Trong những năm gần đây, tình hình phát hành thẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có sự tăng trưởng ổn định. Điều này thể hiện ở số lượng thẻ phát hành năm 2023 là 56.942 thẻ, năm 2024 là 81.556 thẻ, tăng 24.614 thẻ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 43,23% so với năm 2023. Sang đến năm 2025, số lượng thẻ phát hành tăng thêm 15.766 thẻ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 19,33% so với năm 2024. Đây là thành tích đáng được ghi nhận của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh từ khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam được cổ phần hóa vào ngày 27/04/2024.

  • Sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa BIDV – chi nhánh Quảng Ninh

Số lượng thẻ ghi nợ nội địa của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh tăng đều qua các năm. Tính đến 31/12/2024, số lượng thẻ ghi nợ nội địa đã phát hành đạt 80.683 thẻ, tăng 24.189 thẻ so với năm 2023, tương ứng tăng 42,83%. Tính đến hết năm 2025, số lượng thẻ ghi nợ nội địa phát hành đã lên tới 96.091 thẻ, tăng 19,1% so với năm 2024. Do nhận thức của người dân đang tăng lên, cộng với sự gia tăng đồng bộ các hệ thống máy POS tại các nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại đã giúp cho việc sử dụng thẻ dễ dàng hơn. Tuy những con số trên được cho là khiêm tốn so với một chi nhánh ngân hàng trên địa bàn tỉnh nhưng qua đó thấy được sự cố gắng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong công tác đưa thẻ ghi nợ nội địa tiến sâu hơn vào thị trường. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • Sản phẩm thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Khác với thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng quốc tế và thẻ ghi nợ quốc tế có phần kém phát triển hơn. Cho đến năm 2020, BIDV mới bắt đầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế ra công chúng và năm 2025 mới chính thức ra mắt sản phẩm thẻ ghi nợ quốc tế MasterCard BIDV Ready. Năm 2023, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã phát hành được 448 thẻ tín dụng quốc tế. Đến năm 2024, số lượng phát hành của thẻ tín dụng quốc tế tiếp tục tăng lên là 873 thẻ, tương ứng tăng 94,87% so với năm 2023. Đến hết năm 2025, Ngân hàng vẫn không ngừng phát triển và đã phát hành được 1.140 thẻ tín dụng ra công chúng, tăng 30,58% so với năm 2024. Tuy con số tăng trưởng tương đối giảm dần từ 94,87% năm 2024, sang 30,58% năm 2025 nhưng xét về số tuyệt đối thì vẫn đem lại nhiều dấu hiệu khả quan khi số lượng thẻ tín dụng phát hành luôn tăng đều qua các năm.

Số lượng thẻ ghi nợ quốc tế phát hành tại Chi nhánh năm 2025 mới chỉ đạt được 91 thẻ, nguyên nhân do thẻ ghi nợ quốc tế mới được BIDV ra mắt vào ngày 1/4/2025. Theo BIDV, giải thích cho sự chậm trễ này là do trong năm 2024 BIDV đang chuẩn bị cho việc tái cơ cấu tổ chức, bộ phận chịu trách nhiệm phát triển số lượng thẻ ghi nợ quốc tế chưa được tổ chức một cách tốt nhất và các điều khoản trong hợp đồng phát hành thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế chưa hoàn thiện nên phát triển số lượng thẻ ghi nợ quốc tế đã không được triển khai một cách nhanh chóng đến tay khách hàng.

Việc phát hành thẻ ghi nợ và thanh toán quốc tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, một phần do phải cạnh tranh với các thương hiệu mạnh mạnh khác như VCB, Vietinbank, ACB… ngoài ra còn do thói quen dùng tiền mặt đã gắn bó với người dân Việt Nam. Người dân chưa có thói quen tiêu dùng kiểu hạn mức tín dụng. Bên cạnh đó, muốn phát hành thẻ tín dụng quốc tế người dân còn phải kí quỹ hoặc cầm cố, thế chấp nên nhiều người còn cảm thấy e ngại và bất tiện.

Để giúp người dân dễ dàng tiếp cận hơn với các loại hình chi tiêu này, BIDV – chi nhánh Quảng Ninh đã có những chính sách nới lỏng các quy định về điều kiện phát hành thẻ tín dụng, theo đó, Giám đốc Chi nhánh có quyền được phát hành thẻ tín dụng cho những chủ thẻ xét thấy có đủ uy tín. Nâng hạn mức tín dụng cho những chủ thẻ có nhu cầu đột xuất. Ngân hàng đã đặt ra định hướng phát triển cho những năm tới với chính sách “linh hoạt trong công tác cấp hạn mức tín dụng, đảm bảo mục tiêu, hạn chế rủi ro”.

Trong thời gian qua, mặc dù tình hình giá cả có nhiều biến động, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, mức tiêu dùng của người dân giảm mạnh nhưng tình hình phát hành thẻ của BIDV Chi nhánh Quảng Ninh vẫn có được những kết quả đáng khích lệ. Chi nhánh đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng thẻ thanh toán, nắm bắt kịp thời sự biến động của thị trường, chủ động linh hoạt trong phạm vi hoạt động của chi nhánh, đảm bảo hiệu quả kinh doanh.

2.3.2 Hoạt động thanh toán thẻ tại BIDV – chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

2.3.2.1 Quy trình thanh toán thẻ

  • Bảng 2.10: Quy trình thanh toán thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Bước 1: Chủ thẻ thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại Đơn vị chấp nhận thẻ.

Bước 2: Khi giao dịch phát sinh, Đơn vị chấp nhận thẻ lập hóa đơn chi tiết về nội dung giao dịch, hóa đơn gửi đến Ngân hàng thanh toán.

Bước 3: Ngân hàng thanh toán sẽ ghi Có cho tài khoản của Đơn vị chấp nhận thẻ tại ngân hàng đồng thời lưu trữ hóa đơn để kiểm tra và khiếu nại khi cần thiết. Sau đó, Ngân hàng thanh toán sẽ lập bộ chứng từ nhờ thu gửi Tổ chức thẻ quốc tế để thanh toán với Ngân hàng phát hành.

Bước 4: Tổ chức thẻ quốc tế xử lý dữ liệu nhận được từ Ngân hàng thanh toán, báo Có cho Ngân hàng thanh toán. Sau đó gửi dữ liệu báo Nợ cho Ngân hàng phát hành thẻ.

Bước 5: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Quảng Ninh với vai trò là Ngân hàng phát hành thẻ sẽ tiến hành làm thủ tục thanh toán với Tổ chức thẻ quốc tế. Cuối cùng, Ngân hàng gửi sao kê chi tiết cho chủ thẻ những khoản chi tiêu, lãi phí phát sinh trong kì.

2.3.2.2. Mạng lưới ATM, các đơn vị chấp nhận thẻ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Để đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh rất chú trọng phát triển mạng lưới ATM và các điểm chấp nhận thẻ trên địa bàn toàn Tỉnh. Nếu những ngày đầu bước chân vào thị trường thẻ, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh chỉ có 3 máy ATM và không có máy chấp nhận thẻ POS thì đến nay Ngân hàng đã có 33 máy ATM và 55 máy POS. Chất lượng, tiện ích trên các giao dịch luôn được BIDV –Chi nhánh Quảng Ninh cải thiện liên tục, tăng sự hài lòng của khách hàng.

Tình hình số lượng ATM, POS tăng lũy kế qua các năm như sau:

  • Biểu đồ 2.3: Số lượng máy ATM, POS của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Qua biểu đồ 2.3, ta có thể thấy số lượng ATM, POS trong những năm qua của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh luôn tăng trưởng đều qua các năm. Điều này chứng tỏ Chi nhánh đã có sự quan tâm lớn tới việc nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng nhiều lợi ích của sản phẩm thẻ tới khách hàng. Số lượng máy ATM năm 2023 là 26 máy, sang đến năm 2025, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh tiến hành lắp đặt thêm 7 máy, nâng tổng số thiết bị ATM lên 33 máy. Việc gia tăng số lượng máy ATM đã giúp BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong thời gian tới có thể nâng cao chất lượng, giảm chi phí giao dịch để thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, việc gia nhập liên minh thanh toán thẻ Smartlink, Banknetvn cũng giúp cho khách hàng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có thể rút tiền từ hơn 300 máy ATM của ngân hàng khác trên địa bàn Tỉnh. Chính điều này đã giúp cho Chi nhánh không cần tốn nhiều phí lắp đặt thêm máy ATM, tránh gây lãng phí và tránh được rủi ro.

Cùng các ngân hàng khác thực hiện triển khai đề án thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã nâng số lượng thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ POS tại Đơn vị chấp nhận thẻ. Cụ thể năm 2024, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã trang bị 50 thiết bị, tăng 15 máy so với năm 2023; sang đến năm 2025, Chi nhánh tiếp tục nâng tổng số thiết bị POS lên 55 máy, tăng 5 máy so với năm 2024. Số lượng POS tăng lên đã tạo thuận lợi cho khách hàng sử dụng thẻ BIDV trong việc thanh toán hàng hoá dịch vụ một cách tiện lợi và an toàn. Ngoài ra, khách hàng của Ngân hàng còn được hưởng lợi từ việc thanh toán bằng thẻ, do BIDV đã liên kết với các đơn vị chấp nhận thẻ dành tặng cho các khách hàng những ưu đãi khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ. Đây cũng là chính sách khuyến khích tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt của BIDV –Chi nhánh Quảng Ninh, hy vọng thu hút được nhiều khách hàng hơn nữa, gia tăng số lượng, giá trị giao dịch và tăng thị phần của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

2.3.2.3 Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

Bảng 2.11: Kết quả hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

  • Qua bảng 2.11, ta có thể thấy:

Tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh thẻ: năm 2023 là 1.377 triệu đồng, năm 2024 đạt 1.990 triệu đồng, tăng 44,52% so với năm 2023, sang đến năm 2025 dừng lại ở mức 2.308 triệu đồng, tương ứng tăng 15,98% so với năm 2024. Mức tăng trưởng đó chứng tỏ trong năm vừa qua, hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã được mở rộng. Mặc dù so với chi nhánh của các Ngân hàng thương mại khác, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh vẫn còn thua kém, nhưng xét về tổng thể, các số liệu cho thấy một tín hiệu tốt về khả năng phát triển trong tương lai và Chi nhánh cần tiếp tục phát huy. Sau khi tái cơ cấu, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh triển khai chiến lược tập trung khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán thẻ và xây dựng trung tâm chăm sóc khách hàng 24/7. Bên cạnh đó, năm 2025 số lượng thẻ phát hành đã đạt được 97.322 thẻ, tăng 19,33% so với năm 2024. Đây là nhân tố góp phần làm cho doanh thu dịch vụ thẻ ngân hàng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh tăng lên, khiến cho doanh thu từ phát hành thẻ, thu phí thường niên, thu lãi cho vay tín dụng và các hình thức thu phí khác cũng tăng theo. Năm 2025, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã thực hiện chương trình phát hành thẻ ghi nợ nội địa miễn phí cho khách hàng, thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi đối với từng loại thẻ khác nhau. Mức thu phí thường niên dao động từ 20.000 – 60.000 VNĐ đối với thẻ ghi nợ nội địa và từ 200.000 – 1.000.000 VNĐ đối với thẻ tín dụng quốc tế. Các khoản thu khác cũng có chiều hướng tăng lên, cụ thể: thu khác năm 2024 là 41 triệu đồng, cao hơn 16 triệu đồng so với năm 2023 và năm 2025 đạt 78 triệu đồng, tương ứng tăng 90,24% so với năm 2024. Nhìn chung doanh thu từ dịch vụ thẻ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng thu dịch vụ của toàn hệ thống ngân hàng, tuy nhiên nó vẫn có mức độ tăng trưởng ổn định. Trong tương lai, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cần có nhiều chính sách ưu đãi và khuếch trương sản phẩm để thu hút khách hàng, phát hành thẻ và từ đó đem lại nguồn thu lớn hơn cho ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Tổng chi phí từ hoạt động kinh doanh thẻ: năm 2023 là 1.489 triệu đồng, năm 2024 chi phí hoạt động dịch vụ kinh doanh thẻ là 2.061 triệu đồng, tương ứng tăng 38,42% so với năm 2023. Sang đến năm 2025, chi phí đã tăng 15,04% so so với năm 2024 và đạt mức 2.371 triệu đồng. Các chi phí kể trên chưa bao gồm các khoản phí được hạch toán một lần tại Hội sở chính như phí thanh toán, phát hành thẻ quốc tế phải trả cho Tổ chức thẻ quốc tế, phí phải trả cho các công ty chuyển mạch như Banknetvn, SmartLink, VNBC; phí bản quyền phần mềm dùng trên ATM và POS; phí phôi thẻ. Một khoản chi lớn khác mà ngân hàng phải chịu là chi phí tiếp quỹ, chi phí này không được hạch toán mà được coi là chi phí cơ hội cho hoạt động của các máy ATM, nghĩa là ngân hàng phải duy trì một lượng tiền mặt lớn để đảm bảo cho sự hoạt động liên tục của các máy ATM, chi phí lãi này được BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh ước tính là 2%/năm. Ngoài ra, lương cán bộ phụ trách hoạt động kinh doanh thẻ và chi phí lãi trả cho khách hàng có số dư trong tài khoản thẻ cũng không được hạch toán vào chi phí hoạt động dịch vụ kinh doanh thẻ mà được hạch toán vào chi phí hoạt động và chi phí lãi theo quy định của Ngân hàng.

Trong các khoản phí được hạch toán tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh, phí bảo trì, khấu hao đối với máy ATM là lớn nhất, năm 2025 là 1.687 triệu đồng, tăng 85 triệu đồng, tương ứng tăng 5,31% so với năm 2024. Năm 2024 tăng 32,73% so với năm 2023, nguyên nhân do số lượng máy ATM được tăng đều qua các năm và giá trị của các máy ATM là tương đối lớn, giá mỗi máy không dưới 20 nghìn USD hầu hết được nhập từ nước ngoài. Trong quá trình vận hành máy luôn được đội ngũ nhân viên của Ngân hàng và công ty thuê ngoài quản lý, bảo dưỡng thường xuyên nhằm đảm bảo hệ thống hoạt động an toàn và ổn định. Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ hoạt động thẻ cũng như uy tín, hình ảnh của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh. Chi phí khấu hao máy POS là tương đối nhỏ do giá trị của các máy POS thấp hơn nhiều so với các máy ATM, và số lượng các máy POS trên địa bàn Tỉnh còn tương đối ít. Chi phí khác bao gồm phí mặt bằng, thuê ngoài marketing… các chi phí này chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ trong cơ cấu chi phí của hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh nhưng đã góp phần giúp cho hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng được thực hiện một cách liên tục, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thẻ.

Lợi nhuận: Dựa vào bảng 2.11, ta có thể dễ dàng nhận thấy BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đang phải chịu những khoản lỗ liên tiếp trong hoạt động kinh doanh thẻ. Cụ thể: năm 2025 Ngân hàng lỗ 63 triệu đồng, năm 2024 Ngân hàng chịu khoản lỗ 71 triệu đồng, và con số thua lỗ năm 2023 là 112 triệu đồng. Nhưng các con số trên chỉ thể hiện được ý nghĩa thống kê trong kinh tế. Trên thực tế, trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh thẻ nhiệm vụ của máy ATM không đơn giản chỉ là rút tiền và thực hiện giao dịch cá nhân. Mà còn là để tiết kiệm chi phí giao dịch của Ngân hàng, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong những thời gian cao điểm trong năm như các dịp lễ, Tết… Ngân hàng sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí tiền lương trả cho nhân viên trong việc xử lý các giao dịch, tránh được những sai sót không mong muốn. Ngoài ra, Ngân hàng còn có lợi ở việc huy động vốn với giá rẻ, lợi ích mang lại là khoản chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi thanh toán 2%/năm (trả vào tài khoản của chủ thẻ) và lãi suất huy động 8%/năm (lãi suất huy động vốn thông thường ở Ngân hàng). Từ những phân tích trên cho thấy dù đang phải chịu những khoản lỗ nhưng các khoản lỗ này là tương đối nhỏ so với quy mô của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh, hơn nữa các khoản lỗ của Ngân hàng đang có xu hướng giảm theo thời gian, năm 2025 giảm 11,27% so với năm 2024, năm 2024 giảm 36,61% so với năm 2023. Chiều hướng này hứa hẹn BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh sẽ có lãi thực trong tương lai không xa.

2.3.2.4 Tình hình số dư tài khoản thẻ khách hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • Bảng 2.12: Tình hình số dư tài khoản thẻ khách hàng tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Để đánh giá tình hình số dư tài khoản thẻ khách hàng, trước tiên, ta quay trở lại bảng số liệu 2.9, bảng thể hiện tình hình phát hành thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh giai đoạn 2023 – 2025, từ bảng 2.9 ta thấy số lượng thẻ phát hành ra hàng năm của Ngân hàng luôn tăng, năm 2024 số lượng thẻ tăng tương đối so với năm 2023 là 43,23%, năm 2025 số lượng thẻ tăng tương đối so với năm 2024 là 19,33%, từ đó ta có thể kì vọng rằng tình hình số dư tài khoản thẻ khách hàng cũng tăng lên xấp xỉ như vậy. Thực tế cho thấy con số tương đối thể hiện số dư tài khoản thẻ cũng tăng đều qua các năm, nhưng so với số lượng thẻ phát hành thêm qua các năm thì vẫn thấp hơn. Năm 2023, tổng số dư tài khoản của tiền gửi không kì hạn đạt 107.758 triệu đồng, năm 2024 đạt 140.650 triệu đồng, tương ứng tăng 30,52% so với năm 2023 và sang đến năm 2025, tổng số dư tài khoản thẻ tăng 17,92% so với năm 2024.

Giải thích cho sự khác biệt trong sự gia tăng của con số tương đối giữa số dư tài khoản thẻ so với tổng số lượng phát hành thẻ qua các năm là do công tác phát hành chưa hoàn thiện. Đôi khi thẻ đã được hoàn thiện nhưng vẫn chưa đến được tay khách hàng để sử dụng. Nhiều loại thẻ đã được triển khai ra ngoài thị trường nhưng vẫn chưa được khách hàng kích hoạt. Một nguyên nhân khác đó là tình hình kinh tế những năm gần đây gặp nhiều khó khăn, chi cho tiêu dùng suy giảm nên khách hàng có xu hướng duy trì số dư ít hơn trong tài khoản thẻ ngân hàng.

Bên cạnh sự gia tăng của số lượng thẻ phát hành và số dư tài khoản tiền thanh toán, dư nợ thẻ tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cũng có chiều hướng tăng lên. Dư nợ thẻ tín dụng các năm diễn biến như sau, năm 2024 dư nợ thẻ tín dụng ở mức 351 triệu đồng, tăng 15.628 triệu đồng, tương ứng tăng 91,8% so với năm 2023, đến năm 2025 dư nợ thẻ tín dụng đạt 430 triệu đồng, tăng 22,51% so với năm 2024. Sự gia tăng của dư nợ thẻ tín dụng cho thấy ngày càng có nhiều người sử dụng thẻ tín dụng để chi trả cho các giao dịch của mình thay vì dùng tiền mặt, điều đó nói lên công tác đẩy mạnh phát triển thanh toán thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã phần nào phát huy hiệu quả. Nguyên nhân do chất lượng dịch vụ thanh toán thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh không ngừng được nâng cao, các sản phẩm thẻ đã có sức hấp dẫn thu hút số lượng người sử dụng ngày một nhiều, Chi nhánh đã tìm được chỗ đứng và có sức cạnh tranh trên thị trường thẻ Quảng Ninh. Nguyên nhân khách quan đó là do đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, đặc biệt là những người trẻ tuổi có thói quen mua sắm nhiều. Do vậy số người tiếp cận với xu hướng mua bán hiện đại là thanh toán không dùng tiền mặt ngày một nhiều hơn.

Với tình hình khả quan đã nêu, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cần tăng cường công tác thẩm định khách hàng cũng như thường xuyên thông báo cho các khách hàng về thời hạn trả nợ của họ để giảm thiểu tối đa tỉ lệ nợ quá hạn cho ngân hàng, đồng thời cũng giúp khách hàng không phải chịu mức lãi suất cho vay cao.

Để đạt được kết quả như trên, Ngân hàng đã xây dựng, ban hành các quy trình hướng dẫn về phát hành thẻ đối với từng nhóm khách hàng mục tiêu, phân loại sản phẩm thẻ phù hợp với từng thời kì phát triển. Trong tương lai, Ngân hàng cần tiếp tục duy trì lượng khách hàng truyền thống và thu hút hiệu quả nguồn khách hàng tiềm năng tại thị trường Quảng Ninh, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh thẻ của đơn vị. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

2.3.2.5 Tình hình thanh toán thẻ của khách hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

Bảng 2.13: Tình hình thanh toán thẻ tại BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

  • Giao dịch trên ATM

Năm 2024, số lượng giao dịch trên ATM của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đạt 732 nghìn món với tổng giá trị khoảng 1.295 tỷ đồng, tăng 5,6% xét về số lượng giao dịch và tăng 26,9% xét về giá trị giao dịch so với năm 2023. Doanh số năm 2025 tiếp tục tăng 4% và 25,5% so với năm 2024 để đạt mức 761 nghìn giao dịch với tổng giá trị 1.626 tỷ đồng. Nguyên nhân do có sự tăng trưởng về số lượng thẻ phát hành, số lượng máy và chất lượng giao dịch thông qua máy ATM đươc triển khai trên địa bàn được cải thiện rõ rệt.

  • Giao dịch trên POS

Giá trị giao dịch trên POS năm 2025 là 119 tỷ đồng, trong khi con số đó ở năm 2023 là 65 tỷ đồng. Cùng với đó, số lượng giao dịch năm 2025 đạt 22 nghìn món, năm 2023 đạt 13 nghìn món. Điều đó cho thấy, từ năm 2023 đến năm 2025 giá trị giao dịch đã tăng 83,1% và số lượng giao dịch đã tăng 69,2%. Ngoài việc số lượng máy POS và các đơn vị chấp nhận thẻ tăng lên, nguyên nhân còn đến từ việc người dân đã dần quen với phương thức thanh toán bằng thẻ ở các đơn vị chấp nhận thẻ của BIDV trên địa bàn Quảng Ninh, bên cạnh đó trong giai đoạn từ năm 2023 đến 2025 số lượng khách du lịch nước ngoài đến với Quảng Ninh tăng cao do công tác quảng bá du lịch của các cấp chính quyền Tỉnh đã phát huy hiệu quả tích cực. Điều đó tác động to lớn tới hoạt động kinh doanh của các đơn vị chấp nhận thẻ trên địa bàn, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh thẻ trong đó có thanh toán thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh.

  • Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng giá trị giao dịch giữa ATM và POS giai đoạn 2023 – 2025

Dựa vào biểu đồ 2.4, ta dễ dàng nhận thấy tỷ trọng giá trị giao dịch rút tiền mặt trên máy ATM vẫn vượt trội với tỷ lệ luôn lớn hơn 90% trong suốt giai đoạn từ năm 2023 đến 2025. Điều đó cho thấy người sử dụng thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh phần lớn là để rút tiền, chứ không phải thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thẻ. Điều đó cho thấy tác dụng giảm sử dụng tiền mặt trong thanh toán chưa nhiều, mặt khác làm tăng áp lực đối với duy trì hoạt động và tiếp quỹ tiền mặt cho máy ATM. Việc thẻ ngân hàng chủ yếu chỉ phục vụ nhu cầu rút tiền tiền mặt của người dân là một sự lãng phí lớn, trong khi các tính năng như chuyển khoản, thanh toán chưa được sử dụng nhiều. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Đây là thực trạng chung của thị trường thẻ Việt Nam nhưng vẫn cần phải kể ra một số nguyên nhân đã tồn tại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như sau, hệ thống máy POS và các đơn vị chấp nhận thẻ tuy phát triển nhanh, nhưng phân bố lại chưa đều. Số lượng máy tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, nơi phát triển dịch vụ thanh toán, trong khi ở khu vực nông thôn, miền núi còn hạn chế. Một phần nguyên nhân cũng do người dân khu vực này chủ yếu có thu nhập thấp, nên họ thích lưu trữ tiền mặt hơn là sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Nhiều điểm chấp nhận thẻ hiện nay vẫn chưa mặn mà với việc khuyến khích khách hàng thanh toán bằng thẻ, vì phải trả một khoản phí cho ngân hàng, tình trạng đơn vị chấp nhận thẻ thu phụ phí của khách hàng thanh toán bằng thẻ đã xảy ra, khiến người sử dụng muốn chuyển sang thanh toán bằng tiền mặt.

Tóm lại, hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng kết quả của việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tỉnh đã không đạt được chỉ tiêu đề ra. Nguyên nhân là do Ban lãnh đạo Ngân hàng chưa có những chính sách, chiến lược đúng đắn để phù hợp với từng thời kì của nền kinh tế. Ngoài sự nỗ lực của Ngân hàng thì tình hình kinh tế và tập quán tiêu dùng của người dân Việt Nam cũng ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của Ngân hàng.

2.3.2.6. Thị phần trong hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh

Dù gia nhập vào thị trường thẻ sau nhiều ngân hàng, tuy nhiên nhờ những cố gắng và nỗ lực của lãnh đạo Ngân hàng cũng như những cán bộ tại trung tâm thẻ, hiện nay BIDV đã có chỗ đứng riêng cho mình trên thị trường thẻ. Thị phần trong hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh được thể hiện qua những biểu đồ dưới đây:

  • Biểu đồ 2.5: Thị phần thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Dựa vào biểu đồ 2.5, có thể nhận thấy 2 xu hướng của thị phần thẻ trên địa bàn Tỉnh, những ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển hoạt động kinh doanh thẻ trên địa bàn như Agribank và Vietinbank đang có dấu hiệu phát triển chững lại, nhường chỗ cho những ngân hàng mới nổi trong hoạt động kinh doanh thẻ như BIDV, Đông Á, Maritime bank… Từ đó có thể thấy miếng bánh thị phần trên thị trường kinh doanh thẻ đang được phân chia lại, bắt đầu một giai đoạn cạnh tranh khốc liệt mới.

Cùng với xu hướng phát triển thẻ trên thị trường, thị phần thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh theo đó cũng tăng đều qua các năm. Năm 2024, thị phần của Ngân hàng trên thị trường thẻ đạt 14,6%, tăng 0,2% so với năm 2023. Trong năm 2025 vừa qua, tổng số lượng thẻ đã phát hành của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đạt 97.322 thẻ, chiếm 15% thị trường thẻ toàn Tỉnh. Số lượng thẻ này hiện có tổng giá trị thanh toán đạt khoảng 1.745 tỷ đồng, như vậy mỗi thẻ được phát hành của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có giá trị sử dụng đạt gần 18 triệu đồng/năm, cao hơn giá trị sử dụng thẻ trung bình của toàn thị trường Việt Nam được Hiệp hội ngân hàng điều tra là 17 triệu đồng. Tuy số lượng thẻ phát hành chỉ xếp thứ 4 trên thị trường thẻ trên địa bàn Tỉnh nhưng điều này cho thấy hiệu quả sử dụng, cũng như hiệu quả trong việc phát hành thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh là rất tốt, ít xảy ra tình trạng thẻ được phát hành ra không được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả.

  • Biểu đồ 2.6: Thị phần máy ATM của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Song song với việc phát triển số lượng thẻ, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cũng đã có sự quan tâm đúng mức đến việc phát triển số lượng máy ATM, bằng chứng là thị phần máy ATM của Ngân hàng luôn tăng đều qua các năm, năm 2024 tăng 0,3% so với năm 2023, năm 2025 tăng 0,2% so với năm 2024. Điều này mang đến những lợi thế cạnh tranh nhất định cho Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ. Hiện nay, BIDV –Chi nhánh Quảng Ninh đã có một số lượng ATM tương đối lớn và được phân bố đều trên toàn Tỉnh. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Trong giai đoạn từ năm 2023 – 2025, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã triển khai thêm được 10 máy ATM, nâng tổng số lên 33 máy. Với tổng số máy ATM như vậy, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh hiện đang nắm giữ 13,2% số lượng máy ATM trên thị trường Quảng Ninh. Trong năm 2025, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã tập trung mở rộng mạng lưới tại các thành phố trọng điểm của Tỉnh để chiếm lĩnh địa bàn kinh tế phát triển như trung tâm thương mại, khu vực đông dân cư…

Số lượng ATM tăng cũng đồng nghĩa với các rủi ro và chi phí tăng lên, BIDV –Chi nhánh Quảng Ninh cần thường xuyên duy trì công tác bảo dưỡng và kiểm tra các địa điểm ATM. Nâng cao hệ thống công nghệ thông tin nhằm tránh các rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra cho cả Ngân hàng lẫn khách hàng.

  • Biểu đồ 2.7: Thị phần máy POS của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Số lượng POS của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh tính đến hết năm 2025 đạt 55 máy, đứng thứ 3 trong số các ngân hàng dẫn đầu về số lượng POS trên thị trường. Tuy nhiên, giá trị thanh toán trên POS tại các Đơn vị chấp nhận thẻ tính riêng trong năm 2025 chỉ đạt 119 tỷ, chiếm 6,8% tỷ trọng thanh toán thẻ, số còn lại là rút tiền mặt qua máy ATM, điều này chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trên thị trường có nhiều điều kiện phát triển du lịch và dịch vụ. Qua đó cho thấy hiệu quả sử dụng POS chưa cao, hoạt động không hiệu quả gây tốn kém chi phí. Nhận thức được điều đó, ban Giám đốc ngân hàng đã có những kế hoạch chủ động giảm mức đầu tư vào các Đơn vị chấp nhận thẻ mới, hạn chế mua sắm thêm các máy POS mới thay vào đó là duy trì, bảo dưỡng nâng cao khả năng hoạt động các máy POS ở các Đơn vị chấp nhận thẻ hiện tại. Điều này làm giảm thị phần POS của Ngân hàng xuống còn 17% vào năm 2025 so với 17,6% năm 2023, nhưng điều đó không đáng lo ngại do đã nằm trong kế hoạch của Ngân hàng, Ngân hàng sẽ đầu tư nâng cao thị phần POS vào thời điểm được cho là thích hợp.

Qua 3 biểu đồ thể hiện thị phần trong hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh có thể nhận thấy vị thế của Ngân hàng đang ở nhóm dẫn đầu thị trường, đứng thứ 4 trong thị trường kinh doanh thẻ toàn Tỉnh, điều đó cho thấy những nỗ lực của toàn thể đã đạt được những hiệu quả nhất định, từ những kết quả đó, trong thời gian tới BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cần làm tốt hơn nữa để cải thiện vị trí của mình trên thị trường thẻ tỉnh Quảng Ninh, hướng tới mục tiêu bắt kịp và vượt qua các chi nhánh lớn khác của BIDV trên toàn quốc.

2.4. Đánh giá về hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Qua thực trạng về hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh, có thể thấy Chi nhánh đã có những bước tiến mạnh mẽ và đã đạt được một số thành công đáng kể. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động kinh doanh thẻ, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh vẫn còn có những hạn chế cần khắc phục, điều này đòi hỏi Ban lãnh đạo Ngân hàng cần có những quyết định đúng đắn, định hướng lâu dài đảm bảo hiệu quả kinh doanh thẻ ngân hàng.

2.4.1. Kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh thẻ

Hoạt động kinh doanh thẻ là một nghiệp vụ nhỏ trong toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh. Từ trước đến nay, kết quả hoạt động kinh doanh thẻ chủ yếu được tính bằng tổng giá trị giao dịch, số lượng thẻ phát hành, các khoản thu phí chứ chưa thực sự có tính toán thu chi một cách chi tiết và riêng biệt để biết được hiệu quả tài chính thực sự của hoạt động kinh doanh thẻ. Một phần nguyên nhân do thời gian đầu chi phí cho việc triển khai dịch vụ thẻ, chi khấu hao máy móc thiết bị, chi cho hoạt động marketing thẻ… là rất lớn, nên các phí thu được từ hoạt động kinh doanh thẻ chưa đủ bù đắp cho các khoản phí phát sinh.

Mặc dù vậy, thời gian hoạt động trong lĩnh vực thẻ chưa phải là dài nhưng thẻ BIDV đã bắt đầu có được chỗ đứng trên thị trường, bước đầu mang lại những nguồn thu và lợi ích to lớn cho ngân hàng. Dưới đây trình bày những nỗ lực trong việc phát triển hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng:

  • a. Về phát hành thẻ

Công tác phát hành thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã đạt được kết quả tốt, vượt chỉ tiêu đề ra. Tính đến cuối năm 2025, số lượng thẻ phát hành của Chi nhánh trên toàn Tỉnh là 97.322 thẻ, vượt 2.322 thẻ so với chỉ tiêu đề ra, tăng 19,33% so với năm 2024. Ngoài ra, thủ tục phát hành các loại thẻ của Chi nhánh vô cùng đơn giản nhưng vẫn đảm bảo được tính bảo mật, an toàn trong hoạt động phát hành. Như vậy, dù là Chi nhánh mới tham gia vào thị trường thẻ nhưng kết quả mà BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đạt được là rất khả quan, điều này cũng nói lên được những nỗ lực của Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ đã đem lại những thành tựu nhất định. Trong những năm tới chắc chắn thị phần của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong thị trường thẻ sẽ tăng lên rất nhiều. Đặc biệt là sau khi Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam phát hành thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng MasterCard Platium vào năm 2025.

  • b. Về hoạt động thanh toán thẻ Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Do sử dụng công nghệ hiện đại, sự kết nối tốt giữa hệ thống quản lý của Chi nhánh với Hội sở chính và các công ty chuyển mạch đã tạo nên sự thanh toán rất thuận tiện nhanh chóng cho khách hàng. Số lượng giao dịch tăng trưởng nhanh chóng, đối với ATM, số lượng giao dịch đạt 693 nghìn món năm 2023 tăng lên thành 761 nghìn món năm 2025, đối với POS, số lượng giao dịch năm 2023 đạt 13 nghìn món và năm 2025 số lượng giao dịch đã tăng lên gần gấp đôi đạt 22 nghìn món. Việc sử lý giao dịch thanh toán giữa Chi nhánh với các chi nhánh khác và các ngân hàng trong liên minh thẻ được xử lý tự động, đảm bảo an toàn, chính xác, kịp thời cho các bên tham gia thanh toán (người sử dụng, Đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành).

  • c. Hệ thống chấp nhận thẻ đang tích cực được mở rộng

Hệ thống chấp nhận thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đang ngày càng được mở rộng trên toàn Tỉnh. Ngân hàng đã và đang nỗ lực triển khai hệ thống thanh toán thẻ ngày càng hiện đại và thuận tiện cho người sử dụng.

Hiện tại, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã đưa vào hoạt động 33 máy ATM trên địa bàn Tỉnh, dự kiến đến năm 2027 sẽ lắp thêm khoảng 10 máy nữa. Hệ thống Đơn vị chấp nhận thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh hiện nay là 55 POS tại các thành phố Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, Móng Cái… Hầu hết các POS của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đều đặt tại các nhà hàng, khách sạn, siêu thị… nên tình hình giao dịch tốt và diễn ra thường xuyên, có những giao dịch lớn, đem lại doanh thu tốt và khả năng quảng bá thương hiệu BIDV tới mọi đối tượng khách hàng là rất cao.

Thẻ ghi nợ nội địa của BIDV hiện tại có thể được chấp nhận thanh toán không chỉ ở các ATM, POS của BIDV mà còn được chấp nhận tại các ATM, POS của các ngân hàng khác trong liên minh thẻ Banknetvn. Đồng thời các điểm chấp nhận thanh toán của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh cũng chấp nhận thanh toán các loại thẻ của các ngân hàng trong liên minh thẻ và những thẻ mang thương hiệu quốc tế như VISA, MasterCard…

  • d. Công tác chăm sóc khách hàng ngày càng được chú ý đến

Trong các yếu tố hình thành nên chất lượng dịch vụ hoàn hảo thì yếu tố con người là quan trọng nhất. Bởi vì hầu hết khách hàng đều giao dịch trực tiếp với nhân viên ngân hàng. Mọi cử chỉ, tác phong, hành động của nhân viên ngân hàng đều nằm trong mắt của khách hàng và thực tế khách hàng thường đánh giá ngân hàng qua nhân viên của ngân hàng đó. Một nhân viên nhiệt tình, thân thiện, tỉ mỉ, biết lắng nghe và luôn mỉm cười sẽ nâng cao giá trị của ngân hàng trong mắt khách hàng và thúc đẩy họ cộng tác với ngân hàng nhiều hơn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Nắm rõ tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng, bản thân BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh hết sức chú trọng đến năng lực và tác phong làm việc của đội ngũ nhân viên, đặc biệt là những bộ phận thường xuyên làm việc với khách hàng như nhân viên giao dịch và nhân viên thẻ. Khảo sát đánh giá của khách hàng về nhân viên thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh được tổng hợp qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.8: Đánh giá của khách hàng về nhân viên thẻ BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh

Biểu đồ đánh giá cho thấy, đội ngũ nhân viên giao dịch và nhân viên thẻ BIDV –Chi nhánh Quảng Ninh được khách hàng đánh giá cao về sự nhiệt tình (60%) và thân thiện (85%). Về tiêu chí cẩn thận, tỉ mỉ và biết lắng nghe qua khảo sát cũng cho thấy những thông tin rất khả quan (70% và 80%). Đây được coi là thành công đáng kể của hoạt động kinh doanh thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh nói riêng và toàn hệ thống BIDV nói chung.

  • e. Tăng doanh thu, lợi nhuận, thị phần

Dịch vụ thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã góp phần không nhỏ giúp ngân hàng tăng doanh thu, lợi nhuận hàng năm. Mức tăng doanh thu từ hoạt động kinh doanh thẻ tuy chưa cao nhưng ổn định và chắc chắc, mang lại cho ngân hàng cơ sở tin tưởng vào sự phát triển bền vững trong tương lai.

Dịch vụ thẻ cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng thị phần cho ngân hàng. Trong thời gian ngắn, ngân hàng đã có thêm hàng chục nghìn tài khoản khách hàng cá nhân cùng với số lượng khách hàng doanh nghiệp trả lương cho cán bộ công nhân viên. Phát triển thẻ tín dụng giúp ngân hàng tăng nguồn thu, tăng tín dụng bán lẻ, không gây sức ép lên huy động vốn trung và dài hạn.

2.4.2 Hạn chế trong hoạt động kinh doanh thẻ Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • a. Công tác phát triển mạng lưới thanh toán thẻ còn yếu

Mạng lưới máy ATM và POS của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Quảng Ninh còn một số hạn chế cần giải quyết:

Đơn vị chấp nhận thẻ ít và chưa đa dạng: Số lượng Đơn vị chấp nhận thẻ còn ít, các điểm giao dịch của Chi nhánh mới chỉ tập trung tại địa bàn các thành phố lớn như Hạ Long, Móng Cái… không những thế việc triển khai mạng lưới Đơn vị chấp nhận thẻ còn chậm. Loại hình Đơn vị chấp nhận thẻ không đa dạng, chỉ chủ yếu tập trung phục vụ khách nước ngoài như khách sạn, công ty lữ hành, cửa hàng đồ lưu niệm, nhà hàng cao cấp. Các Đơn vị chấp nhận thẻ phục vụ những nhu cầu thiết yếu của bản thân chủ thẻ của Ngân hàng còn thiếu. Ngoài ra, còn thiếu chính sách khuyến khích thích hợp đối với các Đơn vị chấp nhận thẻ để họ cố gắng hơn trong việc giúp Ngân hàng phát triển hoạt động thanh toán tiền hàng hóa bằng thẻ.

Hệ thống máy ATM còn ít và chưa hiệu quả: Quảng Ninh có diện tích trên 6.000 km2, nhưng số lượng máy ATM mà Ngân hàng triển khai cho đến hết năm 2025 chỉ là 33 máy, quá ít so với nhu cầu của khách hàng. Hệ thống máy thường tập trung ở những thành phố lớn trong khi các huyện vùng núi và hải đảo chưa được quan tâm đúng mức. Một số địa điểm đặt máy còn chưa hiệu quả, có những điểm đặt máy bên trong phòng giao dịch hay quỹ tiết kiệm, khi phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm đóng cửa thì chủ thẻ không thể sử dụng được máy ATM, như vậy không đảm bảo máy hoạt động 24/24h. Hay có những điểm đặt máy chưa thuận tiện cho việc rút tiền khiến doanh số giao dịch thấp. Vì vậy, khi quyết định chọn địa điểm đặt máy cần hết sức cân nhắc, tính toán hiệu quả sử dụng của máy.

Mặc dù công tác bảo trì, bảo dưỡng máy ATM đã được Ngân hàng chú trọng, nhưng vẫn còn một số tồn tại như chưa trang bị hệ thống quạt gió cho máy ATM để nâng cao tuổi thọ, cần chọn vị trí đặt máy ATM trong phòng hay phải có mái che để hạn chế những tác động do thời tiết xấu gây ra. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • b. Phát triển sản phẩm dịch vụ thẻ còn nghèo nàn

Sau gần 10 năm kể từ lúc bắt đầu tham gia vào thị trường thẻ đến nay, Ngân hàng đã phát hành được 97.322 chiếc thẻ nhưng sự phong phú về chủng loại thẻ thì còn rất hạn chế khi có đến 96.091 chiếc trong số đó là thẻ ghi nợ nội địa (chiếm trên 98% tổng số lượng thẻ phát hành), thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng vẫn chưa được Ngân hàng chú trọng phát triển. Trong khi đó, việc phát triển đa dạng hoá các hình thức dịch vụ kinh doanh thẻ sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao uy tín của mình trên thị trường và khả năng sinh lời cao. Do vậy, một ngân hàng muốn tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ là việc cần làm và nhất thiết phải làm.

  • c. Lợi nhuận thực còn đang ở mức âm

Với việc gia nhập thị trường muộn và ban đầu Chi nhánh chỉ phát hành thẻ ghi nợ nội địa, loại thẻ đã được các ngân hàng đi trước trên thị trường thẻ phát hành trước đó, BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã phải chịu sự cạnh tranh rất nhiều từ các chi nhánh ngân hàng khác như Vietcombank, Vietinbank, Đông Á bank… Cùng với đó là mức vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh thẻ ban đầu là rất lớn. Doanh thu không đủ bù đắp cho chi phí và kết quả là lợi nhuận thực của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã ở mức âm, cụ thể năm 2023, Ngân hàng phải gánh chịu khoản lỗ 112 triệu cho hoạt động kinh doanh thẻ. Tuy các số liệu cho thấy mức thua lỗ của Ngân hàng đang có chiều hướng giảm dần nhưng Ban lãnh đạo Ngân hàng cần có nhiều quyết sách hơn nữa để hoạt động kinh doanh thẻ được cải thiện và có thể đóng góp một phần đáng kể vào doanh thu từ dịch vụ của Ngân hàng.

  • d. Hạn chế khác

Cán bộ thẻ còn mỏng gây khó khăn cho việc phát triển dịch vụ thẻ: việc tiếp quỹ cho các máy ATM không kịp thời, các cán bộ chưa đầu tư nhiều thời gian để học tập nâng cao kiến thức chuyên môn…

Hiện tại đã có một số rủi ro đối với thẻ ghi nợ do Ngân hàng phát hành, một phần do Ngân hàng chưa có những cập nhật thông tin về tình hình thẻ giả mạo, kẻ gian lấy cắp thông tin chủ thẻ… Ngân hàng cũng chưa có quỹ dự phòng rủi ro cho hoạt động kinh doanh thẻ nhằm bù đắp cho những rủi ro có thể phát sinh.

Tại các Đơn vị chấp nhận thẻ, tâm lý người bán hàng vẫn muốn khách hàng của họ thanh toán bằng tiền mặt, kiến thức của các nhân viên bán hàng tại các Đơn vị chấp nhận thẻ còn thiếu trong việc phát hiện thẻ giả. Mặt khác, khi Đơn vị chấp nhận thẻ nhận thanh toán thẻ quốc tế, họ được thanh toán bằng đồng đôla Mỹ nhưng phải bán lại cho Ngân hàng theo tỷ giá mua hiện hành của Ngân hàng, trong khi hiện nay đồng đôla Mỹ không ổn định dễ dẫn đến thua thiệt cho Đơn vị chấp nhận thẻ.

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế

2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan

  • a. Môi trường xã hội chưa phát triển Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Đi lên từ nền kinh tế kém phát triển, thói quen sử dụng tiền mặt trong sinh hoạt đã ăn sâu vào con người Việt Nam, đây là một trong những nguyên nhân căn bản về yếu tố xã hội có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới hoạt động kinh doanh thẻ của hệ thống ngân hàng nói chung và BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh nói riêng. Trong thời gian qua, các ngân hàng cũng như chính phủ đều có những nỗ lực nhằm tuyên truyền quảng bá cho các hình thức thanh toán thẻ, tuy nhiên vẫn chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn.

Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay nhiều sự cố liên quan đến thanh toán thẻ qua máy ATM như mất cắp thông tin, nuốt thẻ, sự quá tải của hệ thống ATM vào dịp lễ Tết… càng khiến người dân ngại ngùng khi tham gia dịch vụ này. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, 90% giao dịch thanh toán vẫn là các giao dịch bằng tiền mặt và để thay đổi thói quen này không chỉ phụ thuộc vào Nhà nước và những tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mà còn phụ thuộc thời gian.

  • b. Khó khăn trong việc phát triển mạng lưới đại lý

Việc phát triển mạng lưới đại lý của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh gặp nhiều khó khăn do các Đơn vị chấp nhận thẻ chưa ý thức được một cách rõ nét những lợi ích do việc tham gia vào hệ thống chấp nhận thanh toán. Nhiều đại lý phàn nàn rằng mức phí chiết khấu mà ngân hàng đưa cho họ là quá cao làm giảm lợi nhuận của họ. Và cũng có những Đơn vị chấp nhận thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh đã vi phạm hợp đồng khi họ áp đặt những phụ phí bằng hoặc cao hơn mức chiết khấu đại lý mà ngân hàng đưa ra khiến nhiều khách hàng e ngại thanh toán thẻ. Ngoài ra, chính sách khuyến khích cho các Đơn vị chấp nhận thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh vẫn chưa có sự thu hút như một số ngân hàng khác.

  • c. Áp lực cạnh tranh từ phía các ngân hàng khác

Do cạnh tranh trên thị trường thẻ Việt Nam hiện giờ vẫn thường thiên về giá và phí, vì thế những ngân hàng mới gia nhập thị trường, sản phẩm dịch vụ chưa thật đa dạng như BIDV thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận khách hàng. Nhiều ngân hàng áp dụng cơ chế miễn phí khi phát hành thẻ, thanh toán thẻ, miễn phí các dịch vụ hỗ trợ như e-banking đã gây khó khăn cho các ngân hàng khác trong đó có BIDV. Đồng thời cạnh tranh chủ yếu bằng giá, phí trong hoạt động thanh toán thẻ của một số ngân hàng làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh thẻ của các ngân hàng nói chung. Điều đó khiến cho doanh thu của các ngân hàng từ hoạt động kinh doanh thẻ giảm xuống từ đó gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tiện ích thẻ của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

Ngoài áp lực cạnh tranh từ phía các Ngân hàng thương mại trong nước, BIDV còn phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Các ngân hàng lớn, có tiếng về phát triển dịch vụ thẻ trên thị trường quốc tế và khu vực như Citibank, HSBC, ANZ với nền tảng trình độ công nghệ cao, nguồn vốn lớn, có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh thẻ đều đã đang có kế hoạch mở rộng, phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường Việt Nam.

Như vậy về lâu dài, việc phát triển dịch vụ, tăng tính hiệu quả, tạo dựng thương hiệu của sản phẩm thẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam là vấn đề sống còn nhằm thu hút và giữ chân khách hàng.

  • d. Chưa có quy chế chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về thẻ

Các văn bản pháp quy về thẻ do NHNN ban hành còn thiếu và còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tế, tính chất cũng như phạm vi sử dụng của thẻ. Quy chế chính thức về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành theo Quyết định 371/1999/NHNN đã đặt nền móng cho sự phát triển của thanh toán thẻ tại Việt Nam. Tuy vậy, quy chế này quá chặt chẽ đối với hoạt động của các ngân hàng, thủ tục yêu cầu để được phát hành và thanh toán thẻ mà Ngân hàng Nhà nước đề ra cho các ngân hàng còn nhiều phiền hà và không hợp lý, làm mất đi sự chủ động của các ngân hàng trong phát hành và thanh toán thẻ. Ngoài luật quốc tế, các ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, luật giao dịch điện tử… nhưng những văn bản pháp luật này chưa bao quát được hết các vấn đề xoay quanh hoạt động kinh doanh thẻ, chính vì vậy nhiều tranh chấp, khiếu nại về thẻ chưa được giải quyết thỏa đáng. Ngoài ra, dịch vụ thẻ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là đối với thị trường mới nổi như Việt Nam, tuy nhiên những quy định pháp lý hiện nay lại chưa đề cập tới việc giải quyết những khiếu nại, tranh chấp, cũng như khung pháp lý đối với những vướng mắc, gian lận trong dịch vụ thẻ.

2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan

  • a. Thiếu kinh nghiệm, chưa có chiến lược trong hoạt động kinh doanh thẻ

Các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung trong đó có BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh hiện nay mới chỉ chú trọng đến hoạt động tín dụng, bởi vì lĩnh vực kinh doanh này đem lại 90 – 95% nguồn thu nhập cho ngân hàng. Trên thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay, BIDV được đánh giá là một trong những ngân hàng lớn mạnh nhưng có thể đánh giá dịch vụ thẻ không phải là thế mạnh truyền thống của BIDV. Ngân hàng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong đó có dịch vụ thẻ. Chính vì thế, để phát triển dịch vụ thẻ còn cần nhiều nỗ lực để vượt qua rào cản này nhằm tiếp cận và nâng cao uy tín của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh trong hoạt động kinh doanh thẻ.

Hiện nay dịch vụ thẻ còn chưa được quan tâm đúng mức trong hoạt động chung của Ngân hàng. Dịch vụ thẻ là nền tảng để phát triển khách hàng cá nhân, tuy nhiên vẫn chưa thực sự được quan tâm của Ban lãnh đạo ngân hàng, nhiều đề án, dự án dịch vụ thẻ chưa triển khai nhanh chóng để nắm bắt cơ hội kinh doanh. Cùng với đó là Ngân hàng chưa thiết lập một chiến lược kinh doanh tổng thể lâu dài trong đó đưa những mục tiêu cần đạt được và lộ trình, điều kiện để thực hiện, do đó gây khó khăn cho việc phát triển thị trường thẻ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • b. Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ còn yếu

Đầu tư nguồn nhân lực chưa tương xứng với tốc độ phát triển của sản phẩm dịch vụ. Kinh doanh thẻ là lĩnh vực nghiệp vụ mới không chỉ với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam mà với cả thị trường tài chính Việt Nam, hầu hết cán bộ làm công tác thẻ đều trẻ về tuổi đời lẫn kinh nghiệm. Cán bộ thẻ ngoài những kiến thức cơ bản thì phải tự học để nâng cao nghiệp vụ là chủ yếu, hiện nay còn thiếu những tài liệu nghiệp vụ bằng tiếng Việt, chủ yếu bằng tiếng Anh trải rộng trên nhiều lĩnh vực như thanh toán, tín dụng, marketing… mà chi phí cho tài liệu và các khóa đào tạo tại nước ngoài là không nhỏ nên việc hiểu, tiếp thu và nâng cao trình độ cho phù hợp với trình độ chung của khu vực và thế giới còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, Chi nhánh vẫn chưa có cán bộ nhân viên chuyên biệt về dịch vụ thẻ mà còn kiêm nhiệm các chức năng, các cán bộ còn chưa thực sự chuyên nghiệp, hiểu rõ các nghiệp vụ.

  • c. Công tác marketing và bán hàng chưa chuyên nghiệp

Chất lượng dịch vụ khách hàng còn thấp, thể hiện ở trình độ nắm bắt đặc tính sản phẩm, thái độ phục vụ khách hàng. Yếu kém trong khâu giới thiệu sản phẩm và hướng dẫn khách hàng sử dụng thẻ đúng cách tránh những trường hợp thẻ bị nuốt, bị khóa gây mất thời gian giải quyết của cán bộ thẻ.

Việc khai thác tiềm năng sử dụng thẻ của khách hàng đối với những sản phẩm mới còn chưa hiệu quả, chưa có những chính sách chăm sóc khách hàng thích hợp. Bộ phận bán hàng, tiếp thị thẻ chưa chuyên nghiệp, chưa chủ động phát triển thị trường và phối hợp với đối tác khai thác một cách hiệu quả hệ thống khách hàng.

  • d. Nguồn vốn đầu tư có nhiều giới hạn

Nguồn vốn dành cho đầu tư công nghệ trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh bị giới hạn do chi phí đầu tư công nghệ cho hoạt động này rất cao. Riêng chi phí lắp đặt 1 máy ATM khoảng 20.000 USD, như vậy đòi hỏi thời gian hoàn vốn rất dài, đây có thể là một nguy cơ rủi ro rất lớn cho ngân hàng nếu không thu hút được khách hàng. Chi phí cho 1 máy đọc thẻ POS cũng lên tới trên 1.000 USD. Hơn nữa, các máy móc này hầu như phải nhập ngoại nên chi phí bảo dưỡng bỏ ra cũng không nhỏ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

  • e. Chưa làm chủ được công nghệ, kỹ thuật

Kỹ thuật, công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu đề ra. Các trang thiết bị máy móc về công nghệ thẻ đều phải nhập từ nước ngoài, còn phải mời chuyên gia nước ngoài tư vấn và sửa chữa máy móc, gây tốn kém. Nhiều trường hợp do không chủ động sửa chữa khi có hỏng hóc làm cho các thiết bị ngừng hoạt động trong thời gian dài, gây lãng phí, giảm uy tín của Ngân hàng.

  • f. Thủ tục mở tài khoản còn nhiều vấn đề cần giải quyết

Số lượng phát hành và doanh số sử dụng thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh hiện nay còn hạn chế, một phần do các thủ tục phát hành thẻ còn nhiều điều gây khó khăn cho việc tiếp cận của người dân. Điều kiện cấp tín dụng đối với khách hàng sử dụng thẻ tín dụng của BIDV – Chi nhánh Quảng Ninh là tương đối ngặt nghèo, hầu như các cá nhân muốn sử dụng thẻ tín dụng ngoài việc chứng minh mức thu nhập ổn định, khách hàng còn phải có thế chấp hoặc kí quỹ với một tỉ lệ nào đó tùy thuộc vào đối tượng khách hàng, hiện nay quy định là bằng 110% hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng. Lãi suất của các khoản nợ chưa thanh toán của khách hàng cao, bằng lãi suất cho vay ngắn hạn, ngoài ra khách hàng còn phải chịu các khoản phí trả chậm khác. Trong nhiều trường hợp, điều đó đã gây khó khăn, căng thẳng giữa khách hàng và ngân hàng, bởi không phải khách hàng nào cũng hiểu và chấp nhận các khoản phí này.

Khách hàng dùng thẻ tín dụng để rút tiền mặt phải chịu phí rút tiền cao, bằng 4% số tiền rút, tối thiểu là 50.000 VNĐ. Đây là một bất cập trong hoàn cảnh ngân hàng đang khuyến khích sử dụng thẻ tín dụng.

Thủ tục thanh toán thẻ cũng gây nhiều khó khăn, Đơn vị chấp nhận thẻ phải nộp hóa đơn chậm nhất là 3 ngày kể từ ngày thanh toán. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV

One thought on “Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ Ngân hàng BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537