Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. Giới thiệu chung về Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

  • Tên công ty: Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Tên viết tắt: Cantech.,JSC
  • Địa chỉ: Số 534 Trương Định – Tân Mai – Hoàng Mai – Hà Nội Tel: (84)04 – 36276314
  • Mã số thuế: 0101582594

Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới (Cantech) là một doanh nghiệp thương mại được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp giấy phép kinh doanh đầu năm 2004 với mã số doanh nghiệp là 0101582594, đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 18/07/2025.

  • Vốn điều lệ: 10.000.000.000 đồng (Mười tỷ đồng Việt Nam)

Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh. Công ty được sử dụng con dấu riêng và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn theo quy định của nhà nước. Công ty thực hiện chức năng kinh doanh theo điều lệ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế hiện hành.

  • Công ty Cantech là một doanh nghiệp kinh doanh XNK hàng hóa trong các lĩnh vực công nghệ và ứng dụng, cụ thể:

Thiết bị thi công: Với chức năng xuất nhập khẩu và quan hệ với các đối tác nước ngoài lâu năm, Cantech tư vấn và cung cấp cho khách hàng các thiết bị thi công nền móng chuyên dùng như: Máy khoan cọc nhồi Hitachi KH125-3, KH180-3; Nippon Sharyo ED 4000, ED 5500;DH 300; Sumitomo SD507, SD510…, máy đóng cọc Hitachi PD 80,PD100; máy cẩu bánh xích Hitachi, Nippon Sharyo, Kobelco, Sumitomo, IHI …Và các thiết bị chuyên dùng khác như gầu cạp vách thủy lực MASAGO 60100 MHL,80120 MHL với chất lượng tốt nhất, giá cả phù hợp nhất. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Phụ tùng máy công trình: Cantech cung cấp các loại phụ tùng thay thế như Cần khoan (Kelly Bar), Bánh chuyển động (Gale), Bánh tỳ, Chốt xích, Bơm thuỷ lực, Bánh răng, vòng bi và các chi tiết khác cho các chủng loại thiết bị thi công của các hãng Hitachi, Nippon Sharyo, Sumitomo, IHI, Kobelko, Komatsu. Các sản phẩm được sản xuất tại Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất.

Dung dịch khoan: Cantech hiện là nhà nhập khẩu và phân phối ủy quyền cho sản phẩm Bentonite, Polymer. Sản phẩm được sản xuất tại chính hãng tại Ấn độ, Australia, Taiwan, phù hợp theo tiêu chuẩn API và TCXD Việtnam 326.

Bentonite: Bentonite là một loại sét tự nhiên, sử dụng làm dung dịch ổn định khi khoan tạo lỗ cọc móng nhồi. Hiện tại Cantech đang nhập khẩu các sản phẩm thương hiệu như Bentonite Trugel 100 (Sản phẩm nhập khẩu từ Australia) và Bentonite Pol O Gel (Sản phẩm nhập khẩu từ India).

Polymer: Các sản phẩm Polymer mà Cantech hiện đang có là Polymer 830 C Sử dụng nước ngọt; Polymer 395 Sử dụng nước ngọt , nước nhiễm phèn đồng thời có thể phối trộn với Bentonite tăng hiệu quả.Polymer AIDDRILL 300 sử dụng đồng thời cả nước ngọt và nước mặn 4%.thi công hạ tầng, với thế mạnh về năng lực thiết bị, công ty đã thi công nhiều công trình hạ tầng và được nhiều đối tác đánh giá có uy tín.

Ngoài ra, Cantech còn là nhà cung cấp sản phẩm lưới PE và vải địa kỹ thuật phục vụ thi công đường cao tốc, chống lún, sụt lở và gia cường cho nền đất yếu, có nguy cơ sụt lở.

Cơ cấu tổ chức – nhân sự của Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Cơ cấu bộ máy tổ chức công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới được tổ chức theo mô hình trực tuyến từ chức vụ cao nhất là Giám đốc công ty cho đến các phòng ban và nhân viên trong công ty.

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu bộ máy tổ chức Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

  • Hội đồng quản trị Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

HĐQT là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến Sản xuất kinh doanh và quyền lợi của Công ty như quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường,…trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

  • Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có chức năng giám sát HĐQT, Ban Tổng Giám đốc Công ty về việc quản lý và điều hành Công ty. Chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ đươc giao.

  • Giám đốc công ty

Là người trực tiếp quản lý cao nhất của công ty, là người đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhà nước về các hoạt động của công ty và đại diện cho các quyền lợi của toàn bộ nhân viên trong công ty.Giám đốc đưa ra các đường lối, chính sách, phương hướng hoạt động của công ty.

  • Phó Giám đốc công ty

Dưới quyền giám đốc là phó giám đốc kỹ thuật, phó giám đốc hành chính và phó giám đốc kinh doanh, chịu trách nhiệm điều hành công ty theo phân công và uỷ quyền của giám đốc. Phó giám đốc kinh doanh phụ trách phòng kinh doanh và phòng xuất nhập khẩu hàng hóa, thiết bị; phó giám đốc hành chính chịu trách nhiệm điều hành bộ phận hành chính và tài chính- kế toán của công ty; phó giám đốc kỹ thuật trực tiếp quản lý và điều hành bộ phận kỹ thuật và quản lý thi công trong công ty, có trách nhiệm giám sát và quản lý trực tiếp các công trường xây dựng.

  • Phòng Nhân sự Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Nghiên cứu lập kế hoạch hoạt động chung cho toàn công ty. Quản lý và tổ chức nhân sự trong công ty và thực hiện các công tác lao động tiền lương, BHXH, BHYT. Hỗ trợ các phòng ban khác soạn thảo văn bản, công văn và hồ sơ dự thầu.

  • Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật

Nghiên cứu hồ sơ thiết kế, lập kế hoạch thi công cho từng công trình, quản lý và giám sát việc thi công về tiến độ và chất lượng thi công, lập dự toán và thiết kế các bản vẽ hồ sơ hoàn công. Giám sát các đơn vị thi công về kỹ thuật và theo đúng thiết kế Có trách nhiệm đảm bảo cho các công trình hoạt động liên tục, quản lý giao nhận vật tư và các trang thiết bị tại công trình, quản lý đội máy thi công. Công ty có tổ chức đội máy thi công riêng được quản lý bởi tổ trưởng tổ máy.

  • Phòng Tài chính – Kế toán

Tổ chức công tác tài chính- kế toán trong công ty. Tập hợp và huy động các nguồn tài chính, quản lý quỹ, thanh toán vật tư và tập hợp các chi phí của từng công trình.

Phòng Kinh doanh

  • Thu thập thông tin về khách hàng, khai thác và phát triển thị trường
  • Đàm phán và tư vấn cung cấp dịch vụ cho khách hàng
  • Soạn thảo Hợp đồng dịch vụ trình Ban Giám Đốc ký kết với khách hàng
  • Chăm sóc khách hàng và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến dịch vụ đối với khách hàng. Phối hợp chặt chẽ với Phòng Tài chính-Kế toán để giải quyết tất cả các vấn đề khiếu nại của khách hàng

Phòng Xuất-Nhập khẩu

  • Liên hệ tìm đối tác theo đúng quy trình xuất nhập khẩu
  • Đảm bảo chỉ tiêu số lượng hàng nhập khẩu và phù hợp với nhu cầu kinh doanh
  • Kiểm tra giám sát quá trình giao nhận hàng của nhân viên tại cảng. Kịp thời xử lý các phát sinh về chứng từ tại cảng.
  • Khiếu nại về hàng hóa đúng nơi, đúng hạn quy định.
  • Quản lý phân công công việc, đôn đốc nhân viên làm theo nhiệm vụ
  • Triển khai nội quy, các quy chế đến từng nhân viên đồng thời kiểm tra đôn đốc nhân viên thực hiện quy chế
  • Phối hợp làm việc với các phòng ban khác một cách mềm dẻo, linh hoạt

2.1.3. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Công ty là nhà nhập khẩu và phân phối phụ tùng, phụ kiện, linh kiện, thiết bị, phụ tùng máy công trình, dung dịch khoan, polymer chất lượng từ Ấn độ, Australia, Taiwan…Các sản phẩm được nhập từ các nhà máy sản xuất ủy quyền, liên doanh trong nước và được nhập khẩu từ trụ sở chính của các nhãn hàng tại nước ngoài.

Từ năm 2023 công ty bắt đầu thực hiện thi công một số hạng mục tại các công trình xây dựng. Do đặc điểm của ngành xây dựng bao gồm nhiều lĩnh vực, hoạt động trên phạm vi rộng nên để đáp ứng được yêu cầu quản lý công ty đã chia công nhân thành các đội sản xuất nhỏ với chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Khi công trình thi công, tùy theo đặc điểm yêu cầu kỹ thuật của từng công trình mà công ty sẽ giao cho các đội có chức năng đảm nhận tiến hành công việc. Thường thì lực lượng lao động ở các đội xây dựng kết hợp với nhau để thi công một công trình hay hạng mục công trình, nhưng cũng có thể có một đội thi công một công trình xây dựng do giám đốc giao cho.Với cơ cấu tổ chức như trên đã tạo điều kiện tổ chức quản lí chặt chẽ về mặt kinh tế, kỹ thuật với từng đội xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

2.1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2023 – 2025

Căn cứ vào Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty trong 3 năm 2023, 2024 và 2025 (bảng 2.1) ta có thể thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có một vài thay đổi. Có thể thấy rõ nhất là sự thuyên giảm liên tục của doanh thu và lợi nhuận. Để hiểu thêm điều này ta có thể đi sâu phân tích các chỉ tiêu. Cụ thể như sau:

Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2024 giảm 41,99% so với năm 2023. Nguyên nhân một phần là do trong năm 2024, thị trường bất động sản đóng băng, nhiều dự án xây dựng rơi vào trạng thái ngừng thi công, Công ty nhận được ít các hợp đồng thi công (chủ yếu là thi công cọc khoan nhồi) đã làm cho doanh thu bị giảm xuống. Đến năm 2025, mặc dù Công ty đã rất tích cực trong việc thực hiện các chính sách tín dụng tốt dành cho khách hàng, thực hiện chiết khấu thanh toán, giảm giá nhưng các hợp đồng có được vẫn rất ít ỏi khiến doanh thu vẫn tiếp tục giảm thêm, cụ thể là giảm 30,74% so với năm 2024. Có thể thấy rằng, tình hình thị trường bất động sản và xây dựng đã ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu bán hàng của Công ty do toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, các mặt hàng kinh doanh của Công ty đều liên quan trực tiếp tới các thị trường này.

Giá vốn hàng bán hàng năm cũng giảm theo doanh thu bán hàng tuy nhiên giảm nhanh. Dưới tác động của thi trường bất động sản và xây dựng, các loại vật liệu xây dụng đã giảm xuống khá mạnh tuy nhiên không có người mua làm cho tốc độ giảm giá vốn hàng bán nhanh hơn so với tốc độ giảm của doanh thu thuần. Điều này dẫn đến lợi nhuận gộp về mặt bằng chung lại có sự tăng lên vào năm 2025, khi tăng 21,22% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

  • Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025

Việc kinh doanh không thuận lợi, doanh thu đem lại hàng năm giảm đã khiến cho Công ty phải thực hiện các hoạt động đi vay để có vốn đầu tư mua sắm hàng hóa, thực hiện mở rộng quy mô Công ty, hiện đại hóa công nghệ để phục vụ quá trình thi công đã gây nên áp lực trả nợ lớn cho Công ty mỗi năm. Thực tế trong bẳng báo cáo kết quả kinh doanh đã cho thấy chi phí tài chính hàng năm của Công ty đang tăng lên khá nhanh. Năm 2024 chi phí tài chính Công ty đã tăng thêm 47,77% so với năm 2023 khi đạt mức 2.185.219.033 đồng, đến năm 2025 đã tăng lên 4.725.548.125 đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 46,34%. Có thể thấy chỉ sau 2 năm, chi phí tài chính của Công ty đã tăng thêm gần 2,2 lần. Đây thực sự là một con số đáng quan ngại đối với Công ty, nó có thể làm giảm lợi nhuận của Công ty qua mỗi năm.

Chỉ tiêu chi phí quản lý doanh nghiệp trong 3 năm phân tích đang giảm dần. Công ty cũng rất nỗ lực trong công tác tiết kiệm tối đa các loại chi phí phát sinh trong quá trình quản lý. Năm 2024, chi phí quản lý doanh nghiệp giảm nhẹ 2,11% so với năm 2023, năm 2025 giảm nhanh hơn năm 2024 khi giảm thêm 26,88%. Điều này chứng tỏ công tác quản lý bán hàng và quản lý doanh nghiệp của công ty là khá tốt bới doanh thu tăng khá cao mà các khoản chi phí lại không phát sinh quá nhiều. Tuy nhiên chi phí quản lý kinh doanh của Công ty vẫn còn rất lớn, nó đã trở thành một trong số nguyên nhân làm cho lợi nhuận thuần hàng năm qua 3 năm phân tích luôn bị âm. Bởi vậy để tăng lợi nhuận cao hơn nữa, Công ty cần phải phải tiết kiệm các khoản chi phí hoạt động khác, tận dụng tối ta năng suất lao động của công nhân viên, sử dụng tối đa các tài sản phục vụ mục đích chuyên chở, hạn chế thuê ngoài sẽ giúp công ty tiết kiệm được một khoản chi phí khá lớn.

Mặc dù lợi nhuận thuần hàng năm của Công ty liên tục âm nhưng nhờ vào một khoản thu nhập khác hàng năm của Công ty đã giúp cho lợi nhuận trước thuế của Công ty luôn dương. Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế năm 2024 giảm 50,02% so với năm 2023. Nguyên nhân là do doanh thu bán hàng trong năm giảm, các khoản chi phí quản lý kinh doanh và chi phí tài chính cao đã làm cho lợi nhuận thuần giảm nhưng nhờ vào khoản thu nhập khác từ hoạt động thi công một số hạng mục liên quan đến cọc nhồi như đào tường vây, uốn và cắt sắt đã làm cho lợi nhuận sau thuế dương. Tuy nhiên hoạt động này thường không thường xuyên do còn phụ thuộc vào một số yêu cầu khác nảy sinh từ các hợp đồng xây dựng. Năm 2025, lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng thêm 76,82% so với năm 2024 do Công ty đã kiểm soát tốt hơn khoản chi phí quản lý kinh doanh, giá nhập hàng hóa giảm cũng là một nguyên nhân giúp tăng lợi nhuận cho Công ty.

2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cô phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

2.2.1. Thực trạng khả năng thanh toán tại Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

Bảng 2.2. Bảng các nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính Công ty giai đoạn 2023 – 2025

  • Hệ số thanh toán hiện hành (bảng 2.2)

Hệ số thanh toán ngắn hạn của Công ty thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn bằng cách chuyển đổi tài sản lưu động thành tiền. Theo kết quả tính toán thì khả năng thanh toán nợ hiện thời của Công ty năm 2023 là 1,28 lần, năm 2024 giảm xuống còn 0,91 và sang đến năm 2025 hệ số này lại tiếp tục giảm xuống còn 0,62 lần. Với đặc điểm hoạt động trong ngành xây dựng và kinh doanh vật liệu xây dựng thì hệ số này vẫn được coi là hợp lý và an toàn. Như đã nói ở trên, đặc thù của ngành xây dựng là mua chịu rất nhiều, với số vốn sở hữu ít ỏi Công ty không thể kinh doanh được nếu không có nguồn tài trợ từ ngân hàng và đối tác.

  • Hệ số thanh toán nhanh

Hệ số thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn, đến hạn thanh toán trong kỳ mà không phải dựa vào việc phải bán ngay các tài sản dự trữ. Hệ số này giảm dần qua các năm, cụ thể năm 2023 từ 0,86 lần xuống còn 0,76 lần vào năm 2024 và 0,56 lần năm 2025 cho thấy tình hình đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của công ty đang có dấu hiệu đi xuống. Điều này có thể thấy rõ ở lượng tiền nợ phải trả tăng lên nhanh chóng. Qua số liệu trên cho thấy mặc dù Công ty đã có những biện pháp tốt trong việc quản lý hàng tồn kho, nhưng việc đi vay thêm vốn hoặc chiếm dụng nợ quá nhiều đã làm tăng thêm gánh nặng nợ cho Công ty, làm giảm khả năng thanh toán của Công ty khiến công ty bị động dần dần về nguồn tài trợ cho tài sản lưu động nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, mặc dù có xu hướng giảm nhưng chỉ tiêu này vẫn nằm trong mức an toàn, chỉ tiêu này cho thấy công ty vẫn có thể thanh toán các khoản nợ bằng tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh nhất có thể. Tuy nhiên cũng cẫn phải lưu ý rằng cho dù trị số nãy vẫn được cho là ở mức có thể kiểm soát được nhưng do chỉ tiêu này vẫn nhỏ hơn 1, nếu không do áp lực phá sản hay một lí do nào đó, hiếm có một doanh nghiệp nào lại bán toàn bộ tài sản lưu động hiện có (trừ hàng tồn kho) để thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn bởi như vậy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty. Mặt khác, không phải tài sản lưu động nào của doanh nghiệp cũng có thể bán ngay được.

  • Hệ số thanh toán tức thời Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời của Công ty rất thấp và có sự sụt giảm qua các năm từ 0,026 lần năm 2023 xuống còn 0,008 lần năm 2024 và tiếp tục giảm xuống còn 0,006 lần trong năm 2025. Điều này chứng tỏ khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp đang thấp và đang yếu dần do đó khi gặp rủi ro trong kinh doanh Công ty có thể không có đủ khả năng trả nợ ngay mà cần có thời gian để chuyển các tài sản lưu động khác thành tiền mới trả được nợ ngắn hạn.

Đầu năm Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới lập một bảng kế hoạch chi phí gửi cho ngân hàng đề nghị ngân hàng cho vay, và lập hợp đồng vay mượn với ngân hàng trong năm ấy. Dựa trên kế hoạch chi phí và bản hợp đồng cho vay đó ngân hàng sẽ cho Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới vay theo từng dự án cụ thể. Chính vì vậy mà các khoản nợ ngắn hạn của Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới mới chiếm một tỷ lệ lớn như vậy, đó chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn của công ty ở ngân hàng mà các khoản vay ngắn hạn này của công ty lại được đảm bảo bằng các biên bản nghiệm thu công trình hoàn thành của Công ty. Do đó mà những con số trên không phải phản ánh một tình trạng mất khả năng thanh toán của công ty. Mà ngược lại những con số đó lại biểu hiện rằng Công ty sử dụng TS nợ rất có hiệu quả:

Thứ nhất là sử dụng nợ bao giờ cũng rẻ hơn sử dụng vốn chủ sở hữu (Cụ thể như Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới ở đây nguồn vốn chủ sở hữu chỉ xấp xỉ 3-4 tỷ đồng trong khi ấy tổng TS cuối năm 2025 lên tới gân 40 tỷ đồng)

Thứ hai là khi vay ngân hàng thì bao giờ Công ty cũng vay theo khoản mục công trình vì thế sẽ không bị tốn nhiều chi phí vào lãi vay ngân hàng, tiết kiệm được chi phí, ngoài ra còn tránh được việc rủi ro của việc giữ tiền.

Thứ ba khi vay ngân hàng như vậy sẽ không làm chậm tiến độ thi công công trình, nâng cao khả năng cạnh tranh của bản thân Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới. Bởi trong ngành xây dựng thì sự chậm trễ trong thanh toán là không thể tránh khỏi ngay cả khi Công ty đã đưọc nghiệm thu thì chưa chắc đã được thanh toán ngay, ngoài ra thì còn bên A còn giữ lại phần trăm bảo hành. Vì vậy mà vay tiền ngân hàng dựa trên những khoản phải thu khách hàng là một phương pháp hợp lý nhất.

Từ những phân tích đó ta có thể thấy được rằng khả năng thanh toán của Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới có thể nói là vẫn ổn định, Công ty có thể thanh toán đối với khách hàng mà không cần phải có trong quỹ hay tài khoản gửi ngân hàng một lượng tiền lớn.

2.2.2. Thực trạng khả năng sinh lời tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

  • Biểu đồ 2.1.Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
  • Bảng 2.3. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu

Đây là tỷ suất quan trọng đối với các nhà quản trị vì nó cho biết khả năng kiểm soát các chi phí hoạt động cũng như phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh, nó cho biết lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ sản phẩm đem lại. Qua bảng phân tích cũng như biểu đồ ta có thể thấy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đang có xu hướng tăng nhưng không đều mặc dù doanh thu hàng năm đang giảm xuống. Đây là dấu hiệu tốt cho thấy chi phí các hoạt động đang giảm dần theo doanh thu. Cụ thể:

Năm 2024 tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 1,01%, giảm so với năm 2023 là 0,17%. Điều này cho ta biết cứ 100 đồng doanh thu thuần tạo ra được 1,01 đồng lợi nhuận. Trong năm, doanh thu thuần đã giảm từ 55.095 triệu đồng năm 2023 xuống còn 32.002 triệu đồng năm 2024, tương ứng giảm 41,92%. Doanh thu giảm kéo theo giá vốn giảm nhưng giảm mạnh hơn với tốc độ giảm 46,78%, chi phí quản lý kinh doanh giảm nhẹ 2,11%. Tác động tổng hợp này vẫn làm cho ROS giảm nhẹ trong năm 2024. Năm 2025, ROS đã tăng lên mức 2,58%, lúc này 100 đồng doanh thu thu được,

Công ty có được 2,58 đồng lợi nhuận sau thuế. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế tăng lên do công tác giảm chi phí tốt công với doanh thu ngoài hoạt động kinh doanh chính của Công ty lớn đã giúp cho lợi nhuận sau thuế tăng.

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

  • Bảng 2.4.Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
  • Biểu đồ 2.2. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Cũng giống như các chỉ số đánh giá khái quát khả năng sinh lời đã phân tích ở trên, ta cũng dễ thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đang có xu hướng giảm nhưng biến động. Tuy nhiên chỉ tiêu này vẫn ở mức khá cao. Cụ thể:

Năm 2024 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 9,48%, giảm so với năm 2023 là 9,08%, tức là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu được đầu tư thì công ty thu về 9,08 đồng lợi nhuận ròng. Nhưng đến năm 2025, tỷ suất này lại tăng lên so với năm trước đó. Năm 2025, với 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra chỉ thu về được 14,16 đồng lợi nhuận ròng.

Mặc dù tỷ số ROE có xu hướng giảm song có thể nhận thấy rằng chỉ tiêu này vẫn ở mức khá cao. Sự thay đổi của chỉ tiêu này chủ yếu phụ thuộc vào lợi nhuận ròng hàng năm của Công ty bởi vốn chủ sở hữu của Công ty qua 3 năm phân tích có tăng nhưng chậm. Sự thay đổi không theo một xu hướng chung cụ thể của ROE cho ta thấy Công ty còn chưa cân đối hài hòa giữa vốn đầu tư của chủ sở hữu và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.

2.2.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng tổng tài sản tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

  • Biểu đồ 2.3. Hiệu suất sử dụng tổng TS

Nhìn vào bảng phân tích và biểu đồ có thể thấy được hiệu suất sử dụng tài sản đang có xu hướng giảm qua các năm. Bên cạnh đó thì doanh thu thuần và tổng tài sản cũng đang có chiều hướng biến động không ít. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng tài sản của công ty vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Cụ thể như sau:

Năm 2023-2024: Năm 2023 hiệu suất sử dụng của tổng tài sản là 3,44 lần, sang năm 2024 là 1,51 lần, giảm 1,93 lần. Ở đây có thể hiểu rằng một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì thu được 3,44 đồng doanh thu thuần vào năm 2023 và 1,51 đồng năm 2024. Chỉ số này giảm do doanh thu thuần năm 2024 giảm 41,92% thấp trong khi tổng tài sản năm 2024 tăng 32,85%. Tuy việc đầu tư của tài sản vào doanh thu thuần giảm nhưng tỷ lệ này vẫn đạt ở mức cao (lớn hơn 1).

Năm 2024-2025: Việc tiếp tục đầu tư vào tài sản tăng tới 85,23% nhưng lại chưa đảm bảo doanh thu tăng tướng ứng nên hiệu suất sử dụng tài sản giảm xuống chỉ còn 0,56 lần. Tức là năm 2025, một đồng tài sản bỏ ra đầu tư chỉ thu được 0,56 đồng doanh thu thuần. Nguyên nhân là do trong năm 2025, Công ty vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh tuy nhiên tình hình kinh doanh không tốt, các hợp đồng xây dựng ít hoặc có giá trị nhỏ, các đơn đặt hàng cũng giảm dần do ảnh hưởng từ thị trường bất động sản xây dựng đóng băng đã làm cho doanh thu thuần giảm xuống. Điều này chính là nguyên nhân làm giảm hiệu suất sử dụng tài sản trong năm. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Vậy hiệu quả sử dụng tài sản trong 3 năm vừa qua đang giảm dần trong thời gian gần đây và dao động quanh mức 1,84 lần cho thấy việc sử dụng tài sản chưa mang lại cho Công ty được hiệu quả cao nhất. Điều này là do tốc độ tăng của tài sản đều lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần. Vì vậy, công ty cần có những biện pháp nhằm tăng doanh thu cũng như có các chính sách sử dụng tài sản một cách hợp lý hơn, điều chỉnh giá cả hợp lý để tăng doanh thu tương ứng với tăng tài sản của công ty.

  • Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA

Thông qua bảng 2.2 ta thấy từ năm 2023 đến năm 2025, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có xu hướng giảm.

Năm 2023, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của công ty là 4,05% nhưng đến năm 2024 thì tỷ suất này giảm đột ngột còn 1,52% (giảm so với năm 2024 là 2,53%), tức là cứ 100 đồng tài sản được đầu tư thì năm 2024 Công ty chỉ thu về 1,52 đồng lợi nhuận ròng. Năm 2025 ROA vẫn tiếp tục giảm xuống còn 1,45%. Việc giảm khả năng sinh lời trên đã cho thấy nhìn chung với số vốn Công ty bỏ ra thì việc thu lại lợi nhuận chưa cao, hiệu quả sử dụng vốn giảm và vẫn còn thấp. Nguyên nhân là do lợi nhuận ròng năm 2025 tăng khá nhanh với 76,82% tuy nhiên tốc độ tăng của tổng tài sản cao hơn khi tăng thêm 85,23% so với năm 2025 đã làm cho ROA giảm xuống.

Một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của thu nhập trên tổng tài sản là khả năng phối hợp của các chỉ số tài chính để tính toán ROA. Một ứng dụng thường được nhắc tới nhiều nhất là mô hình phân tích Dupont dưới đây.

Muốn lý giải diễn biến quá khứ của ROA của Công ty, hay dự báo giá trị tương lai của ROA phải cẩn thận lưu ý đến tổ hợp lợi nhuận ròng, doanh thu và tổng tài sản của công ty. Đi phân tích cụ thể sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ lý do.

  • Bảng 2.5. Mức độ ảnh hưởng của ROS và Hiệu suất sử dụng tài sản lên tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA

Năm 2023-2024: ROA giảm từ 4,05% năm 2023 xuống chỉ còn 1,52% vào năm 2024. Năm 2024, do tỷ suất sinh lời trên doanh thu(ROS) và số vòng quay tổng tài sản giảm đã kéo theo hậu quả là với một đồng tài sản đầu tư tại Công ty chỉ đem lại 1,52 đồng lợi nhuận. Năm 2024, thị trường bất động sản và xây dựng đóng băng, cung nhiều hơn cầu dẫn tới nhiều dự án xây dựng đã bị tạm dừng thi công hoặc loại nên sự ảnh hưởng của nó lên Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới là điều khó tránh khỏi. Đầu tư vào tài sản thì nhiều mà doanh thu, lợi nhuận mang lại không cao. Với khả năng quản lý chi phí của công ty hiện tại chưa đem lại hiệu quả dẫn đến ROS giảm 0,17% khiến cho hiệu quả sinh lời trên tổng tài sản giảm 0,58%, mặt khác cũng trong năm 2024, khả năng quản lý tài sản của Công ty cũng giảm, tốc độ quay vòng vốn của tài sản giảm 1,93 vòng khiến cho ROA giảm 1,95%. Tác động tổng hợp của cả ROS giảm và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm khiến cho hiệu quả sinh lời tài sản của Công ty giảm mạnh với mức giảm 2,53% hay 100 đồng tài sản năm 2024 đã tạo ra ít hơn năm 2023 là 2,53 đồng lợi nhuận.

Năm 2025, thị trường bất động sản đầu vẫn chưa khả quan, gói kích thích kinh tế của chính phủ đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp ngành xây dựng. Tác động của gói kích thích kinh tế cũng đã thúc đẩy người dân gia tăng chi tiêu cho các hoạt động xây dựng. ROS tăng từ 1,01% lên đến 2,58%, tác động của ROS tăng lên khiến cho ROA tăng 2,37%, hay 100 đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư đã tạo ra nhiều hơn năm 2024 là 2,37 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên, tình hình quản lý tài sản của công ty không mấy khả quan khi hiệu suất sử dụng tài sản giảm từ 1,51 lần xuống còn 0,56 lần, điều này đã tác động làm ROS giảm 2,45%, lúc này 100 đồng tài sản bỏ ra, thu được ít đồng doanh thu thuần hơn. Tác động đối nghịch của ROS và Hiệu suất sử dụng tổng tài sản khiến cho hiệu quả đầu tư vào tài sản giảm nhẹ so với năm 2024 khi giảm 0,07%.

Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài sản của công ty có xu hướng giảm mạnh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai yếu tố trên có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên trong doanh nghiệp.

2.2.4. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Tốc độ luân chuyển tài sản lưu động

  • Biểu đồ 2.4. Tốc độ luân chuyển tài sản lưu động

Nhìn kết quả tính toán các chỉ tiêu tài chính phản ánh tốc độ luân chuyển tài sản lưu động của Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới ta có nhận xét:

Về vòng quay tài sản lưu động: Chỉ tiêu nói cho ta biết về số vòng quay của tài sản lưu động của Công ty được luân chuyển trong một năm. Công ty có vòng quay tài sản lưu động thuộc loại khá thấp, vòng quay tài sản lưu động đang có xu hướng giảm đều những năm vừa qua (năm 2024 tài sản lưu động luân chuyển được 1,98 vòng, giảm 1,47 so với năm 2023; năm 2025 tài sản lưu động luân chuyển được 1,02 vòng, giảm 0,96 vòng so với năm 2024). Thực tế này đã thể hiện sư thiếu hiệu quả trong sử dụng tài sản lưu động của Công ty. Số vòng quay tài sản lưu động qua 3 năm phân tích giảm do doanh thu thuần hàng năm liên tục giảm xuống bởi tình hình sản xuất kinh doanh kém đi trong khi tài sản lưu động lại đang tăng lên qua mỗi năm. Tài sản lưu động tăng là do khoản phải thu tăng mạnh, trong đó chủ yếu là các khoản phải thu khách hàng. Doanh thu giảm là do tình hình kinh doanh vật liệu, hóa chất ngành xây dựng không tố, không bán được hàng do thị trường bất động sản và xây dựng vẫn tiếp tục đi xuống.

Về thời gian luân chuyển tài sản lưu động: Chỉ tiêu này cho biết số ngày để tài sản lưu dộng luân chuyển hết được một vòng của nó. Chỉ tiêu này ở Công ty là cao và đang có xu hướng tăng lên. Chỉ tiêu này thấp hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh đặc của Công ty là một Công ty chuyên thi công các hạng mục cọc nhồi, cọc sắt cho các công trình xây dựng. Tuy nhiên, chỉ số này tăng lên cũng cho thấy một tín hiệu không tốt, chậm thu hồi vốn lưu động để tái sản xuất và đầu tư. Năm 2023 thời gian luân chuyển tài sản lưu động là 104,45 ngày thì tài sản lưu động luân chuyển được một vòng, đến năm 2025 thì phải mất gần một năm, cụ thể là 353,69 ngày để tài sản lưu động luân chuyển hết một vòng. Là một chỉ tiêu ngược với số vòng quay của tài sản lưu động, thời gian luân chuyển có xu hướng tăng lên phản ánh sự kém hiệu quả trong kinh doanh của Công ty. Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh tự do, Công ty vẫn cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả hoạt động chỉ có thế mới đảm bảo được hoạt động quay vòng vốn kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

  • Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động (Biểu đồ 2.2)

Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động của Công ty cho thấy năm 2023 để tạo ra một đồng doanh thu thuần công ty chỉ mất 0,29 đồng tài sản lưu động và sang đến các năm tiếp theo thì hệ số này đang tăng dần lên. Vào năm 2024 để thu được một đồng doanh thu thuần Công ty phải bỏ ra 0,51 đồng tài sản lưu động và sang năm 2025 thì phải bỏ ra 0,98 đồng tài sản lưu động để có được 1 đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng tăng lên càng không tốt cho Công ty bởi Công ty sẽ phải bỏ ra nhiều vốn hơn để có thể thu được doanh thu.

  • Biểu đồ 2.5. Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động

Doanh thu thuần là một chỉ tiêu hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp nhưng cái mà doanh nghiệp quan tâm cuối cùng không phải là doanh thu thuần mà là phần lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận sau thuế). Để đánh giá sự đóng góp của tài sản lưu động trong việc tạo ra lợi nhuận sau thuế ta sử dụng chỉ tiêu Sức sinh lời của tài sản lưu động.

Sức sinh lời của tài sản lưu động

  • Bảng 2.6. Hệ số sinh lời của tài sản lưu động

Lợi nhuận sau thuế giảm và biến động qua 3 năm, giảm đỉnh điểm tại năm 2024 khiến cho hệ số sinh lời của Tài sản lưu động giảm xuống còn 0,02 lần, tức là lúc này 1 đồng tài sản lưu động đem vào đầu tư Công ty chỉ thu được 0,02 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2023 được cho là năm Công ty sử dụng khá tốt tài sản lưu động nhưng chỉ là so với các năm còn lại, ở đây hệ số sinh lời của tài sản lưu động là 0,041, tức là cứ 1 đồng tài sản lưu động thì tạo ra được 0,041 đồng lợi nhuận sau thuế, con số này vẫn còn khá ít. Năm 2025, lợi nhuận sau thuế tăng thêm 76,82% so với năm 2024 từ 324 triệu đồng lên 572 triệu đồng khiến cho hệ số sinh lời năm 2024 đạt 0,026 lần, lúc này 1 đồng Tài sản lưu động tạo được 0,026 đồng lợi nhuận sau thuế.

Phân tích các chỉ tiêu đánh giá các thành phần của Tài sản lưu động

  • Bảng 2.7. Tình hình các khoản phải thu Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Nhìn vào bảng 2.8 thì ta có thể thấy xu hướng của kỳ thu tiền là tăng qua các năm. Cụ thể:

Trong năm 2024, số vòng quay các khoản phải thu đạt 2,76 vòng giảm so với năm 2023 là 4,13 vòng. Điều này đã khiến cho kỳ thu tiền bình quân tăng lên mức 130,29 ngày so với 52,24 ngày của năm 2023. Điều này cho thấy tốc độ thu hồi nợ của Công ty đang giảm dần. Sang năm 2025, vòng quay khoản phải thu tiếp tục giảm xuống còn 1,43 vòng, giảm 1,33 vòng so với năm 2024 cho thấy công tác thu hồi nợ của Công ty ngày càng kém, lúc này Công ty phải mất tới 252,20 ngày để thu hồi vốn nợ từ phía khách hàng để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh.

Trong 3 năm, các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng theo chiều hướng kém đi. Điều này đã được dự đoán trước khi Công ty bắt đầu thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng đối với khách hàng. Lượng vốn mà Công ty bị khách hàng chiếm dụng vẫn còn khá cao, dấu hiệu cho thấy chỉ tiêu này đang biến đổi xấu đi đòi hỏi Công ty cần xem xét lại chính sách tín dụng của mình một cách có hợp lý để không những không làm ảnh hưởng đến chính sách hiện tại của doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo các khoản thu được thu hồi nhanh.

Tại Công ty CP Hóa ứng dụng và Công nghệ mới, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng thứ hai sau khoản phải thu trong tổng vốn lưu động. Hàng tồn kho tại Công ty bao gồm cả hàng hóa cũng như nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động thi công và kinh doanh.

  • Bảng 2.8. Tình hình hàng tồn kho

Dựa vào bảng số liệu trên, ta có thể thấy hàng tồn kho tại Công ty quay vòng với tốc độ khá cao: 8,96 vòng/năm vào năm 2023, 9,44 vòng/năm vào năm 2024 và 6,55 vòng/năm vào năm 2025. Chỉ tiêu này giảm không đều trong 3 năm phân tích phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho của Công ty bất ổn định. Tuy nhiên vòng quay hàng tồn kho khá cao phù hợp với tính chất của một DN vừa sản xuất vừa kinh doanh bởi trữ lượng hàng tồn kho rất lớn trong khi giá vốn hàng bán được tập hợp từ khá nhiều chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí lao động trực tiếp, chi phí vận chuyển, chi phí SX chung…), do vậy mà tốc độ quay vòng hàng tồn kho lớn hơn vòng quay hàng tồn kho của các DN chuyên về sản xuất.

2.2.5. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Bảng 2.9. Tình hình quản lý tài sản cố định

  • Sức sản xuất của TSCĐ

Nhìn chung, sức sản xuất của TSCĐ của Công ty trong 3 năm qua đang giảm rất nhanh. Năm 2023, một đồng tài sản cố định tạo ra 102,35 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên sang đến năm 2024 và 2025 thì một đồng tài sản chỉ tạo ra lần lượt là 5,25 đồng và 1,12 đồng doanh thu thuần. Sự thay đổi lớn của chỉ tiêu này đang phản ánh khá rõ sự thay đổi trong loại hình hoạt động kinh doanh của Công ty. Năm 2023, Công ty hầu như vẫn đang là một doanh nghiệp kinh doanh thương mại các sản phẩm, hóa chất, nguyên liệu phục vụ cho ngành xây dựng. Tuy nhiên sau năm 2023 trở đi, Công ty đã chuyển sang loại hình doanh nghiệp vừa sản xuất và vừa kinh doanh khi mở rộng hoạt động thi công một số hạng mục liên quan đến sản phẩm bán cho các công trình xây dựng. Mặc dù chỉ tiêu này giảm nhưng vẫn lớn hơn 1 chứng tỏ tài sản cố định của Công ty vẫn được khai thác có hiệu quả và tạo được lợi nhuận.

  • Suất hao phí của TSCĐ

Cùng với sự biến động của sức sản xuất TSCĐ qua các năm trên, sức hao phí TSCĐ tăng từ năm 2023 tới năm 2025, từ 0,01 lần (năm 2023) lên đến 0,89 lần (năm 2025). Nó cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải hao phí bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ. Chỉ tiêu này tăng cho thấy Công ty đang chú trọng đầu tư nhiều hơn vào TSCĐ, lượng TSCĐ tăng nhanh qua mỗi năm. Mặc dù trên lý thuyết, chỉ tiêu này tăng lên thể hiện Công ty đã khai thác TSCĐ chưa hợp lý nhưng thực tế thì việc đầu tư này mang tính lâu dài và có thể sẽ tăng lên sau khi hoạt động mua sắm, nâng cấp đã đi vào hoạt động một cách trơn tru.

  • Tỷ suất sinh lời của TSCĐ Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

Trong năm 2023, cứ 100 đồng TSCĐ thì tạo ra 120,31 đồng lợi nhuận, đến năm 2024 tạo ra 5,31 đồng lợi nhuận, giảm 115 đồng so với năm 2023.

Đến năm 2025, tỷ suất sinh lời của TSCĐ giảm xuống còn 2,90%, tức là cứ 100 đồng TSCĐ thì chỉ tạo được 2,90 đồng. Mặc dù giảm xuống nhưng đây vẫn là con số khá cao đối với Công ty, cho thấy trong những năm này Công ty vẫn tiếp tục khai thác tốt công suất máy móc thiết bị. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do Công ty đầu tư mua thêm trang thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình thi công xây dựng.

Nhìn chung, tỷ suất sinh lời của TSCĐ có xu hướng giảm nhưng vẫn trong phạm vi kiểm soát bởi giá trị đạt được vẫn rất cao. Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả của việc sử dụng tài sản này đã phát huy tác dụng, Công ty đã biết cách tận dụng được lợi ích mà tài sản này đem lại.

2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Hóa ứng dụng và Công nghệ mới

2.3.1. Kết quả đạt được

Có thể thấy trong thời gian qua, chi phí quản lý kinh doanh của Công ty đang giảm đi khá nhanh cho thấy công tác quản lý chi phí của Công ty đang diễn ra hiệu quả.

Công ty luôn duy trì mức độ cân bằng tài chính của ở mức khả quan, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, điều này giúp Công ty có thể hoạt động kinh doanh ổn định mà không phải lo lắng sức ép lớn từ các khoản nợ. Tuy nhiên công ty cần chú ý tới lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền để đảm bảo cho các giao dịch thanh toán nhanh.

Mặc dù doanh thu hàng năm giảm dần nhưng lợi nhuận sau thuế hàng năm luông dương cho thấy Công ty luôn cố gắng đảm bảo kinh doanh hàng năm luôn có lãi.

Nhìn chung công ty đã chấp hành đầy đủ các quy định về chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp khi cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế, đảm bảo sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả, không dùng vốn vay ngắn hạn và dài vào đầu tư kinh doanh.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

  • Hạn chế

Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty thấp trên tất cả các chỉ tiêu và có xu hướng giảm sút. Cụ thể:

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản thấp và suy giảm. Chỉ tiêu này trong 3 năm vừa qua đang giảm dần và dao động quanh mức 1,84 lần cho thấy việc sử dụng tài sản chưa mang lại cho Công ty được hiệu quả cao nhất.

Khả năng sinh lời trên tổng tài sản của Công ty có xu hướng giảm mạnh qua các năm cho thấy khả năng sinh lời của Công ty đang kém hiệu quả.

Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng phản ảnh tình trạng sử dụng tài sản lưu động đang kém hiệu quả: vòng quay tài sản lưu động của Công ty thuộc loại khá thấp và đang có xu hướng giảm đều trong những năm qua (năm 2024 tài sản lưu động luân chuyển được 1,98 vòng, giảm 1,47 so với năm 2023; năm 2025 tài sản lưu động luân chuyển được 1,02 vòng, giảm 0,96 vòng so với năm 2024). Thực tế này đã thể hiện sư thiếu hiệu quả trong sử dụng tài sản lưu động của Công ty. Vòng quay tài sản lưu động giảm kéo theo sư tăng lên của thời gian luân chuyển tài sản lưu động cũng cho thấy một tín hiệu không tốt, chậm thu hồi vốn lưu động để tái sản xuất và đầu tư.

Chính sách quản lý các khoản phải thu chưa tốt: Trong năm 2024, số vòng quay các khoản phải thu đạt 2,76 vòng giảm so với năm 2023 là 4,13 vòng. Điều này đã khiến cho kỳ thu tiền bình quân tăng lên mức 130,29 ngày so với 52,24 ngày của năm 2023. Điều này cho thấy tốc độ thu hồi nợ của Công ty đang giảm dần. Sang năm 2025, vòng quay khoản phải thu tiếp tục giảm xuống còn 1,43 vòng, giảm 1,33 vòng so với năm 2024 cho thấy công tác thu hồi nợ của Công ty ngày càng kém. Khoản phải thu chiếm tỷ trọng nhất trong cơ cấu tài sản lưu động có nghĩa là một tỷ lệ lớn tài sản lưu động của Công ty đã tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu bị khách hàng chiếm dụng, khoản tiền này thường không có khả năng sinh lời. Điều này sẽ ảnh hướng đến công tác thu hồi vốn kinh doanh cũng như khả năng thanh toán của Công ty. Điều này là rất nguy hiểm sẽ gây ra tình trạng ứ đọng vốn mà trong thời điểm hiện nay Công ty luôn trong tình trạng cần vốn đề đầu tư. Bên cạnh đó nếu Công ty vẫn không giảm thêm được các khoản phải thu thì một số khoản trở thành nợ khó đòi đối với Công ty, ảnh hưởng không nhỏ đến việc kế hoạch hoá ngân quĩ Công ty cũng như tốc độ luân chuyển và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.

Mặc dù số vòng quay hàng tồn kho của Công ty khá cao (năm 2025 là 6,55 vòng) tuy nhiên quy mô hàng tồn kho vẫn còn lớn, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thứ hai chỉ sau các khoản phải thu. Lượng hàng tồn kho nhiều gây ra các chi phí không cần thiết như chi phí bảo quản và không giúp doanh nghiệp sinh lời. Công ty cũng chưa có sự quan tâm tới công tác bảo quản hàng hóa khiến một số hàng hóa bị giảm chất lượng, điều này ảnh hưởng lớn tới công tác bán hàng cũng như doanh thu của Công ty.

Công tác quản lý TSCĐ còn lỏng lẻo, mặc dù Công ty đang chú trọng đầu tư nhiều hơn vào TSCĐ nhưng thông qua các chỉ tiêu đánh giá ta thấy Công ty chưa khai thác được hết những lợi ích mà TSCĐ đem lại: Sức sản xuất của TSCĐ của Công ty trong 3 năm qua đang giảm rất nhanh. Năm 2023, một đồng tài sản cố định tạo ra 102,35 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên sang đến năm 2024 và 2025 thì một đồng tài sản chỉ tạo ra lần lượt là 5,25 đồng và 1,12 đồng doanh thu thuần. Tỷ suất sinh lời trên TSCĐ mặc dù khá cao nhưng lại đang giảm dần đòi hỏi Công ty phải chú trọng hơn trong việc phát huy tác dụng của TSCĐ.

Hiệu quả thanh toán thấp và suy giảm: Khả năng năng toán hiên hành, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời đang có xu hướng giảm phản ánh tình hình thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanh khoản cao của Công ty đã giảm xuống, lượng dự trữ tiền mặt giảm không đủ để chi trả ngay các nghĩa vụ nợ ngắn hạn.

Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

  • Nguyên nhân chủ quan

Công ty chưa chú trọng đến công tác quản lý hàng tồn kho, chưa có những kế hoạch quản lý hàng tồn kho để khắc phục các nhược điểm liên quan đến lượng hàng tồn kho lớn, hàng hóa tồn kho khó bảo quản. Điều nãy sẽ làm tăng các chi phí quản lý, bảo quản phát sinh không cần thiết, làm giảm chất lượng sản phẩm dẫn đến ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của Công ty.

Công tác quản lý các khoản phải thu còn chưa đạt hiệu quả cao nguyên nhân là do Công ty chưa có chính sách khuyến khích khách hàng thanh toán tiền hàng nhanh chóng, chưa có các biện pháp quản lý khách hàng, đánh giá tín dụng khách hàng mà đã đồng ý cho khách hàng vay nợ nên tài sản lưu động bị ứ đọng ở khâu này chiếm tỉ trọng cao và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của Công ty.

Công ty chưa quan tâm đầy đủ đúng mức đến việc khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả, sự quan tâm không có đủ năng lực để quản lý, dẫn đến sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2023 – 2025 mặc dù sự nỗ lực của toàn thể ban lãnh đạo cũng như cán bộ công nhân viên công ty là đáng ghi nhận nhưng từ những kết quả đạt được cho thấy hiệu quả đem lại trong công tác quản lý và sử dụng tài sản tài sản chưa thực sự hiệu quả, vẫn còn đâu đó sự thiếu quyết đoán và nhanh nhạy trong việc nắm bắt tình hình diễn biến ngành xây dựng cũng như các chính sách của Nhà nước trong việc quản lý kinh tế, quản lý tình hình xuất nhập khẩu và kinh doanh thiết bị thi công công trình xây dựng.

  • Nguyên nhân khách quan

Tình hình ngành xây dựng trong nước những năm qua còn gặp nhiều khó khăn. Tình hình kinh tế khó khăn kéo theo bất động sản đi xuống, nguồn đầu tư cũng không còn nên các dự án bị chậm tiến độ hoặc tạm ngừng. Trong năm 2024, mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế, lãi suất cho vay đã giảm đáng kể so với cuối năm 2023 nhưng các doanh nghiệp ngành Xây dựng vẫn phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn. Các doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng cho sản xuất và đầu tư phát triển nhưng không đủ chuẩn, lãi suất cho vay tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao khiến nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được vốn vay. Thị trường bất động sản đóng băng không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản mà còn ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, gây đình trệ sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp, sản xuất, kinh doanh hàng trang trí nội thất… Nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng hoạt động cầm chừng, lượng tồn kho lớn. Một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, phá sản, không tự cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư. Các doanh nghiệp xây dựng gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới cũng như trong thực hiện các công trình dở dang, công nợ tại các công trình rất lớn.

Chính sách quản lý của nhà nước đối với ngành Xây dựng còn thiếu sự quyết đoán. Công tác hoàn thiện hệ thống ván bản pháp luật còn chậm. Thị trường bất động sản phát triển thiếu kiểm soát, thừa dự án nhưng thiếu công trình hạ tầng, thiếu nhà ở cho người có thu nhập thấp hay tình trạng đô thị phát triển không đồng đều, ách tắc… Nguyên nhân do văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, bỏ sót, khập khiễng, không theo kịp yêu cầu thực tế. Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng

  1. Pingback: Khóa luận: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Hóa ứng dụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537