Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Trình bày cơ sở lý thuyết về chu kỳ kinh tế, các lý thuyết về khủng hoảng tài chính, các phương pháp phân tích khủng hoảng tài chính. Đồng thời dựa vào nguyên tắc vòng lưu chuyển chi tiêu và thu nhập trong nền kinh tế, mô hình tổng cung – tổng cầu để mô tả, phân tích những tác động của khủng hoảng tài chính và đưa ra những giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế.
3.1. Cơ sở lý luận
3.1.1. Khái niệm chu kỳ kinh tế
Trong kinh tế học, chu kỳ kinh tế (hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh), là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự của ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh tế chỉ gồm hai pha cơ bản là suy thoái và hưng thịnh.
- Hình 3.1. Các Pha của Chu Kỳ Kinh Tế
Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đổi chiều giữa mức âm và dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội.
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái kinh tế là tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và kết quả là GDP thực tế giảm sút. Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái. Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái. Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu hiệu trên biến thiên theo chiều ngược lại.
Trước đây, một chu kỳ kinh tế thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v. không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái.
3.1.2. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
“Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình”. Một số dấu hiệu của khủng hoảng tài chính: các ngân hàng thương mại không thể hoàn trả các khoản tiền gửi của người gửi tiền; các khách hàng vay vốn (cá nhân, tập thể, chính phủ) gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn trả các khoản vay cho ngân hàng; chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Khủng hoảng tài chính được chia làm ba dạng: khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ.
3.1.2.1. Khủng hoảng tiền tệ (Currency Crisis)
Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF: “khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng nội tệ dẫn tới sự thâm hụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm đồng tiền nội tệ mất giá nhanh chóng hoặc buộc các cơ quan chức năng phải có biện pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ ngoại tệ lớn hoặc nâng cao mức lãi suất”. Khủng hoảng tiền tệ chiếm vị trí trung tâm trong các nghiên cứu về khủng hoảng tài chính vì khi xảy ra khủng hoảng tiền tệ thường đi kèm hoặc kéo theo các dạng khủng hoảng khác, chẳng hạn như khủng hoảng ngân hàng (còn được gọi là “khủng hoảng kép”).
Lý thuyết nghiên cứu về khủng hoảng tiền tệ: Các mô hình nghiên cứu về khủng hoảng tiền tệ ra đời cùng với các cuộc khủng hoảng tiền tệ đã từng diễn ra trong lịch sử và được xây dựng thành ba mô hình tương ứng với ba cuộc khủng hoảng.
Mô hình thứ nhất dùng để giải thích cho cuộc khủng hoảng xảy ra tại các nước Châu Mỹ Latinh vào những năm cuối thập kỷ 70 do Krugman(1979) phát triển trên cơ sở các nghiên cứu trước đó của Salant và Henderson (1978). Trọng tâm của các nghiên cứu này là các chính sách vĩ mô với tỷ giá hối đoái được neo giữ cố định. Tình trạng thiếu đồng bộ trong các chính sách kinh tế tạo ra nhiều bất ổn cho nền tảng kinh tế, khiến tỷ giá hối đoái cố định không thể tiếp tục duy trì và hệ quả tất yếu là sẽ có sự điều chỉnh về tỷ giá. Các nguyên nhân vĩ mô của khủng hoảng loại này là do tăng trưởng kinh tế quá nóng, những yếu kém trong hệ thống ngân sách và do nền kinh tế hoạt động nghèo nàn. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Mô hình thứ hai bắt đầu bằng những nghiên cứu của Obsbteld (2002 và 2012). Khủng hoảng tiền tệ xảy ra do có sự dịch chuyển từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác, như từ tỷ giá hối đoái cố định sang tỷ giá hối đoái thả nổi hoặc từ tỷ giá hối đoái cố định sang tỷ giá hối đoái cố định khác nhưng với tỷ giá thấp hơn. Một điển hình khác của loại khủng hoảng này liên quan tới các khoản thâm hụt tài chính của Chính phủ dẫn đến việc các nhà cho vay đồng loạt thu hồi lại vốn cho vay và gây sụp đổ hệ thống tiền tệ hoặc do hoạt động đầu cơ của các quỹ đầu tư lớn.
Lý thuyết về khủng hoảng tiền tệ có thêm một bước tiến mới sau khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm 2013. Những nghiên cứu từ cuộc khủng hoảng này đã phát triển thành mô hình khủng hoảng thuộc thế hệ thứ ba của khủng hoảng tiền tệ. Khủng hoảng xảy ra khi đất nước bị sụt giảm nhanh chóng về nguồn vốn do những hoảng sợ về tài chính đến từ phía các nhà đầu tư nước ngoài. Trong một số trường hợp, các nước duy trì một tỷ giá cố định với chức năng như một “hợp đồng bảo hiểm rủi ro tỷ giá” cho các nhà đầu tư nước ngoài. Một khi có dự báo về việc tỷ giá cố định không thể tiếp tục được duy trì sẽ khiến các nhà đầu tư cảm thấy khoản đầu tư của mình không an toàn nữa và đồng loạt rút vốn để đầu tư vào những tài sản ít biến động hơn. Sự ra đi ồ ạt của các khoản vay ngân hàng làm cho đất nước thiếu hụt trầm trọng dự trữ ngoại tệ và yếu kém về khả năng thanh toán.
3.1.2.2. Khủng hoảng ngân hàng ( Banking Crisis)
Khủng hoảng ngân hàng là trạng thái theo đó các ngân hàng lâm vào tình trạng rút tiền ồ ạt và bị phá sản. Các ngân hàng buộc phải dừng việc thanh toán các cam kết của mình, hoặc để tránh tình trạng này nhà nước phải can thiệp bằng các biện pháp hỗ trợ đặc biệt. Khủng hoảng ngân hàng có thể bùng phát tại một ngân hàng và lan ra toàn bộ hệ thống.
- Lý thuyết phân tích khủng hoảng ngân hàng
Trước thập niên 70, thế giới chỉ xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng vào diện rộng vào những năm 1929- 1933. Nhưng từ thập niên 70 trở lại đây, khủng hoảng ngân hàng theo kiểu dây chuyền đã xảy ra ở rất nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển, đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Đặc biệt là tại Châu Mỹ Latinh, khủng hoảng tài chính- ngân hàng đã xảy ra đôi ba lần ở cùng một quốc gia ( hai lần ở Brazil, Venezuela và Chile; ba lần ở Argentina, Costa Rica và Mexico). Khủng hoảng còn xảy ra ở Đông Á năm 2013, ngân hàng của nhiều nước Châu phi cũng lâm vào tình trạng tương tự.
Đặc trưng của khủng hoảng ngân hàng là hiện tượng rút tiền ồ ạt ra khỏi các ngân hàng gây nên tình trạng mất khả năng thanh toán cục bộ và có thể lan rộng sang các ngân hàng khác. Đã có nhiều cách lý giải cho hiện tượng này, (Kindleberger-1978, Diamond và Dybvid- 1983) cho rằng nguyên nhân có thể do thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và người gửi tiền hoặc có thể do kết quả của “sự kích động tâm lý của đám đông hỗn loạn”. Các lý thuyết giải thích hiện tượng rút tiền ồ ạt xuất phát từ yếu tố tâm lý cho rằng, mỗi người gửi tiền sẽ rút vốn khỏi ngân hàng khi nghĩ những người gửi tiền khác đang rút vốn, thậm chí khi ngân hàng của họ không có bất cứ vấn đề nào trong bảng cân đối tài sản.
Một hình thức lan truyền khác được đề cập đến trong nghiên cứu của Diamond và Rajan (2018) giả định rằng các ngân hàng có một cơ chế chung về thanh khoản. Sự sụp đổ của ngân hàng sẽ tạo ra những hạn chế về thanh khoản, từ đó gây nên những hạn chế về khả năng thanh toán và có thể dẫn đến sự suy sụp của một loạt các ngân hàng, thậm chí khi không có bất cứ một thông tin hoặc liên kết nào giữa các ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô có thể trở thành những yếu tố quan trọng gây nên sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, trong nhiều trường hợp sự can thiệp sớm một cách thiếu tổng thể của Chính phủ làm cho sự suy sụp ở mức độ nhỏ trở thành khủng hoảng ngân hàng. Chẳng hạn, các biện pháp chính sách nhất thời có thể gây sự hiểu lầm cho người gửi tiền gây nên việc rút tiền ồ ạt và dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn bộ.
Nguyên nhân phát sinh khủng hoảng ngân hàng không chỉ xuất phát từ các yếu tố nội sinh mà đôi khi các yếu tố kinh tế bên ngoài cũng đóng vai trò rất quan trọng. Điển hình là các cuộc khủng hoảng ngân hàng đầu thập niên 80 tại các nước đang phát triển chủ yếu là do giá dầu biến động và một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác ở các nước này giảm sút, ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp. Trả nợ nhiều và trả lãi tiền vay cao cho các nước phát triển cũng góp phần tăng nguy cơ xảy ra khủng hoảng ngân hàng. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
3.1.2.3. Khủng hoảng nợ nước ngoài ( Debt Crisis)
Theo IMF, “Khủng hoảng nợ nước ngoài xảy ra khi một quốc gia không có khả năng trả nợ nước ngoài, bao gồm khoản nợ của Chính phủ hay của khu vực tư nhân”. Khủng hoảng nợ xảy ra nhiều ở các nước đang phát triển mà nguyên nhân chủ yếu là do chủ các ngân hàng quốc tế. Dưới sức ép của các khoản tiền gửi ngày một tăng lên từ phía các nước xuất khẩu khi giá mặt hàng xuất khẩu đó tăng nhanh, các ngân hàng buộc phải tìm ra các con nợ để cho vay. Các ngân hàng quốc tế đã cho Chính phủ các nước phát triển vay những khoản rất lớn sau khi xem qua quýt về triển vọng trả nợ của họ. Khác với những khoản nợ tư nhân có thể thu hồi dựa trên cơ sở pháp luật, mức độ rủi ro vỡ nợ của các Chính phủ rất lớn. Tuy nhiên, với quan điểm gần như phổ biến là nợ Nhà nước bao giờ cũng được chính phủ hoàn trả nên dù rủi ro cao, các ngân hàng nước ngoài vẫn sẵn sàng cho chính phủ các nước đang phát triển vay mà không tiên liệu được khả năng là gánh nặng trả món nợ nhà nước có thể trở nên gay go đến mức vượt quá dự trữ ngoại hối của quốc gia đó. Một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến khủng hoảng nữa chính là những cơn sốc kinh tế toàn cầu do giá cả của một số hàng hóa thay đổi đột ngột và những chính sách kinh tế ở nhiều nước cho vay.
3.2. Các mô hình kinh tế được sử dụng để mô phỏng quá trình khủng hoảng Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
3.2.1. Mô hình “Nguy cơ đồng tiền bị phá giá”
Trong giai đoạn phát triển ổn định, hầu hết các nước đều cố định đồng tiền của mình với đô la Mỹ. Khi lạm phát của các nước này cao hơn ở các nước có đồng tiền mạnh (như USD, FRF, JPY..) thì chính tỷ giá cố định này đã khiến cho hoạt động xuất khẩu trở nên khó khăn hơn đồng thời cũng khuyến khích hoạt động nhập khẩu do hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn tương đối so với hàng hóa nhập khẩu. Kết quả là cán cân thương mại có xu hướng xấu đi và có thể dẫn đến thâm hụt thương mại nếu như không được cải thiện kịp thời. Để bù đắp lại khoản thâm hụt này (trả nợ cho khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu) thì Nhà nước phải bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp trả nợ hoặc vay nợ nước ngoài để bù đắp. Thông thường các quốc gia sẽ chọn cách thứ hai thông qua các hình thức thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp. Việc vay nợ nước ngoài chỉ là giải pháp mang tính tạm thời, bên cạnh việc tích cực tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng hàng hóa để cạnh tranh với hàng xuất khẩu của các nước khác nhằm giảm thâm hụt thương mại mà vẫn giữ được lãi suất cố định. Tuy nhiên, do việc vay nợ nước ngoài quá dễ dàng khi các nước đang phát triển mở rộng cửa nền kinh tế và tăng lãi suất để chào đón các nhà đầu tư nước ngoài nên các nước đang phát triển đã để nền kinh tế của nước mình phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài thay vì tự thân vận động. Khi số nợ ngày càng nhiều thì quốc gia đó khó có thể vay thêm nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt thương mại và tỷ giá cố định sẽ khó mà giữ được. Và rõ ràng nếu rơi vào tình trạng này tỷ giá sẽ tăng lên, thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài nếu quy đổi ra đô la Mỹ sẽ giảm rất nhiều. Để tránh điều này, một số nhà đầu tư đã lợi dụng ngay khi tỷ giá còn giữ cố định để bán vốn của mình bằng đồng nội tệ để mua ngoại tệ chuyển ngay về nước làm cho cầu về ngoại tệ tăng đột ngột. Lúc này, nếu nhà nước không có đủ ngoại tệ dự trữ để bán ra thì áp lực tăng tỷ giá sẽ rất lớn vì ngoài cầu ngoại tệ để thanh toán hàng nhập khẩu còn có cầu về ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài muốn rút vốn về nước. Trong trường hợp nhà nước buộc phải thả nổi thì tỷ giá sẽ tăng lên rất nhanh làm cho các nhà đầu tư còn lại và cả người dân cũng sẽ bắt đầu bán vốn và tài sản, càng làm cho cầu ngoại tệ tăng và càng đẩy tỷ giá lên cao.
3.2.2. Mô hình “Nguy cơ phá sản doanh nghiệp” Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Trong bất kỳ nền kinh tế thị trường nào, quá trình cạnh tranh sẽ đào thải những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Chính quy luật này đã tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải tìm cách để giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành đơn vị, tăng khả năng cạnh tranh và coi đó là cơ sở quyết định sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp. Như vậy, quá trình cạnh tranh tất yếu sẽ làm các doanh nghiệp kém hiệu quả nhất bị phá sản và trong trường hợp đó các nguồn lực xã hội sẽ được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế không có khả năng loại bỏ các doanh nghiệp kém thì có nghĩa là đã khuyến khích cho việc sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên và tích lũy dần sự yếu kém cho nền kinh tế. Lúc này, chỉ cần một tác động làm tăng chi phí đầu vào hoặc giảm chi phí đầu ra một cách đột ngột thì sẽ khiến cho hàng loạt doanh nghiệp phải phá sản kéo theo nhiều hậu quả về kinh tế xã hội cho đất nước. Doanh nghiệp phá sản sẽ không trả được nợ ngân hàng và có thể kéo theo các ngân hàng cũng phá sản theo vì mất khả năng thanh khoản.
Có nhiều nguyên nhân làm doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Doanh nghiệp phung phí vốn, thiếu quan tâm đến hiệu quả đầu tư và làm cho nợ ngày càng gia tăng. Nguồn vốn vay giống như “một con dao hai lưỡi”; nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đòn bẩy nợ sẽ giúp doanh nghiệp phát triển nhanh hơn vì có chi phí sử dụng thấp hơn tương đối so với các nguồn vốn khác; nhưng nó cũng có thể đưa doanh nghiệp đến chỗ phá sản nhanh chóng nếu sử dụng vốn vay phung phí, không hiệu quả. Vay vốn bất chấp hiệu quả đầu tư thì nguy cơ dẫn đến phá sản là rất lớn. Khi quốc gia bị thâm hụt tài khoản thương mại kéo dài, Chính phủ phải nâng lãi suất nội địa lên để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chính lãi suất quá cao này lại hạn chế các doanh nghiệp nội địa mượn tiền để đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ. Kết quả là hiệu quả sản suất vẫn không cao, khả năng cạnh tranh của hàng hóa vẫn kém.
Cơ cấu sản phẩm và chiến lược kinh doanh không phù hợp cũng là một trong những nguyên nhân khiến doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó, làn sóng đầu tư đổi mới công nghệ đã làm giá cả nhiều loại sản phẩm giảm mạnh và ngày càng có nhiều sản phẩm mới ra đời thay thế sản phẩm cũ. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp chậm đổi mới cơ cấu sản phẩm sẽ dần mất đi thị trường tiêu thụ, giảm thu nhập và có nguy cơ phá sản rất cao.
Môi trường kinh doanh vĩ mô bị biến động nhưng Chính phủ không có sự điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Ví dụ như trong trường hợp các nước cố gắng duy trì tỷ giá cố định trong khi lạm phát trong nước gia tăng sẽ khiến hạn chế xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu càng làm gia tăng áp lực cạnh tranh và phá sản trong nước.
Tỷ giá hối đoái tăng mạnh gần như trở thành một đòn quyết định đốn ngã các doanh nghiệp có nhiều khoản vay nợ nước ngoài để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc đầu tư. Khi tỷ giá tăng lên đột ngột khiến gánh nặng nợ nần của các doanh nghiệp này tính bằng đồng nội tệ tăng lên, dần vượt quá khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp và đi đến phá sản doanh nghiệp.
3.2.3. Mô hình “Nguy cơ phá sản các ngân hàng” Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Ngân hàng và các công ty tài chính là những mắt xích quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Hệ thống ngân hàng được ví như huyết mạch của nền kinh tế, có chức năng thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để sử dụng hiệu quả hơn. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, cũng xảy ra tình trạng quản lý yếu kém, làm ăn không hiệu quả. Nếu ngân hàng sử dụng các nguồn lực tài chính của xã hội một cách lãng phí, cho vay bất chấp hiệu quả đầu tư thì tác hại của nó lại nhân lên gấp bội. Trong trường hợp đó, nếu nền kinh tế không thể loại bỏ được những ngân hàng này thì chính nền kinh đó đang tích lũy dần các điều kiện gây nên khủng hoảng. Những yếu tố dẫn đến nguy cơ phá sản một ngân hàng:
Các doanh nghiệp- con nợ chính của các ngân hàng làm ăn thua lỗ, bị phá sản. Khi các doanh nghiệp phá sản hàng loạt khiến cho số nợ khó đòi của ngân hàng tăng lên, hậu quả là ngân hàng mất dần khả năng thanh toán và cuối cùng là đi đến phá sản.
Nhu cầu rút vốn tăng lên đột ngột, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. Điểm nguy hiểm của hệ thống ngân hàng là tính lan truyền rất nhanh chóng, chỉ vì có một ngân hàng yếu kém để xảy ra tình trạng trên cũng có thể kéo theo hàng loạt các ngân hàng đang hoạt động bình thường khác cũng bị ảnh hưởng. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu các ngân hàng này không có đủ dự trữ hoặc không được hỗ trợ kịp thời cũng hoàn toàn có thể xảy ra nguy cơ phá sản.
Sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động cho vay của ngân hàng, nhất là các ngân hàng nhà nước. Chính phủ có thể can thiệp bằng nhiều cách như: buộc ngân hàng cho vay ưu đãi hoặc bảo lãnh cho các khoản vay. Sự nhúng tay quá sâu của Chính phủ như vậy khiến cho các thủ tục thẩm định tín dụng vốn rất cần thiết nay chỉ mang tính hình thức, không được coi trọng đúng mức. Vì thế, vốn vay có thể đến tay những doanh nghiệp yếu kém, khả năng trả nợ thấp khiến nợ khó đòi của ngân hàng tăng lên và làm tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng.
3.2.4. Mô hình “ Nguy cơ quốc gia mất khả năng thanh toán”
Đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Song trong một số điều kiện nhất định, loại đầu tư này có thể tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán cho một quốc gia. Để thu hút đầu tư nước ngoài thì điều kiện cần thiết là lãi suất trong nước phải cao hơn lãi suất nước đi đầu tư. Nhưng lãi suất cao đồng nghĩa với việc số lãi phải trả tính bằng ngoại tệ càng nhiều, nợ quốc gia càng tăng. Hơn nữa, một khi nhà đầu tư muốn chuyển lợi nhuận về nước thì nhà nước phải bỏ ra một lượng ngoại tệ lớn để trả cho họ. Lượng ngoại tệ này quá lớn sẽ làm giảm dự trữ ngoại hối, nếu dự trữ ngoại tệ không đủ quốc gia mất khả năng thanh toán.
Một số quốc gia vay nợ ngắn hạn nhưng lại đầu tư vào những dự án dài hạn và ít đem lại nguồn thu ngoại tệ như các công trình xây dựng nhà ở, văn phòng, viễn thông..khi đến hạn trả quốc gia sẽ không có nguồn ngoại tệ để trả. Đây là nguy cơ mất khả năng thanh toán do cơ cấu đầu tư không hợp lý. Ngay cả đối với những khoản hỗ trợ chính thức (ODA) mà nước nhận tài trợ lựa chọn những dự án kém hiệu quả thì khả năng hoàn vốn cũng rất đáng lo ngại. Đến hạn trả nợ, Chính phủ phải xuất dự trữ ngoại tệ hoặc phải vay nợ mới để trả nợ cũ làm nợ nước ngoài càng tăng. Một khi nguy cơ mất khả năng thanh toán đến gần, quốc gia càng phải nhanh chóng thu hút nguồn ngoại tệ bổ sung. Khi đó biện pháp cơ bản nhất được áp dụng là tăng lãi suất cơ bản trong nước cao hơn lãi suất ở nước ngoài, điều này tiếp tục làm tăng khả năng quốc gia mất khả năng thanh toán. Quốc gia rơi vào vòng lẩn quẩn, càng trả nợ thì nợ lại càng tăng, nguy cơ mất khả năng thanh toán càng đến gần.
3.3 Mô hình dòng lưu chuyển của chi tiêu và thu nhập Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Biểu đồ dòng lưu chuyển thể hiện sự cân bằng trong chi tiêu, thu nhập và giá cả sản phẩm. Nó thể hiện những giao dịch giữa hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và phần còn lại của thế giới (thị trường thế giới). Những giao dịch này diễn ra ở thị trường các yếu tố sản xuất, thị trường hàng hóa và thị trường tài chính. Mọi hoạt động của nền kinh tế và tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ vận hành dựa trên nguyên tắc lưu chuyển của mô hình này.
- Hình 3.2. Dòng Lưu Chuyển của Chi Tiêu và Thu Nhập
Theo dòng lưu chuyển chi tiêu và thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình (C), đầu tư của doanh nghiệp là (I), chi tiêu của chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ là G và xuất khẩu ròng (X-M) – dòng màu đỏ.
- Hộ gia đình nhận thu nhập từ doanh nghiệp (Y) – dòng màu xanh da trời.
- Tổng thu nhập (dòng màu xanh da trời) bằng tổng chi tiêu (dòng màu đỏ).
- Hộ gia đình dùng thu nhập để mua hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng (C), tiết kiệm (S), nộp thuế (NT).
Các doanh nghiệp vay để đầu tư, chính phủ và phần còn lại của thế giới (thị trường thế giới) vay để tài trợ cho thâm hụt hay cho vay phần thặng dư(dòng màu xanh lá cây).
Các doanh nghiệp thuê những yếu tố sản xuất từ các hộ gia đình. Do đó, đường màu xanh da trời ( Y) là tổng thu nhập của các hộ gia đình được doanh nghiệp trả.
Hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Đường màu đỏ (C) thể hiện chi tiêu của hộ gia đình. Tiết kiệm hộ gia đình (F) bằng thu nhập trừ đi mức thuế ròng (NT) và chi tiêu (C) và chảy vào thị trường tài chính, cụ thể: S= Y- (C + NT) ð Y = C + S + NT
Doanh nghiệp mượn tiết kiệm của hộ gia đình để dùng cho nhu cầu đầu tư và mua các hàng hóa tư bản từ các doanh nghiệp khác. Đường màu đỏ (I) thể hiện cho đầu tư của doanh nghiệp.
Chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ, được gọi là chi tiêu của Chính phủ (G). Chính phủ phải vay mượn nếu chi tiêu của Chính phủ vượt quá mức thuế (G > T) và trả nợ nếu G < T (T là mức thuế). Mức thuế ròng bằng mức thuế nộp cho chính phủ trừ đi các khoản chuyển nhượng. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ từ thị trường thế giới. Xuất khẩu (X) trừ đi nhập khẩu (M) bằng xuất khẩu ròng (X – M). Nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu thì khoản thâm hụt (M – X) là mượn của thị trường thế giới. Tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng bằng giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ đó (= GDP). Tổng chi tiêu = C + I + G + X – M
Tổng thu nhập từ sản xuất ra hàng hóa cuối cùng (Y) bằng tổng chi tiêu: Y = C + I + G + X – M
Thị trường tài chính tài trợ cho thâm hụt và đầu tư. Nếu chính phủ chi nhiều hơn tiền thuế thu được thì số tiền thâm hụt (G –NT) sẽ vay mượn từ thị trường tài chính. (Trường hợp NT > G thì số tiền thặng dư cũng sẽ đi vào thị trường tài chính). Thị trường thế giới thực hiện việc vay và cho vay thông qua thị trường tài chính.
Đầu tư được tài trợ từ ba nguồn: tiết kiệm cá nhân (S), thặng dư ngân sách (NT – T) và vay mượn từ thế giới (M – X). Điều này được minh họa bằng phương trình chi tiêu bằng thu nhập. Hay: Y = C + S + NT = C +I + G + (X – M) ð I = S + (NT – G) + (M – X)
Tiết kiệm cá nhân + Tiết kiệm chính phủ (NT – G) = Tiết kiệm quốc gia.
3.4. Lý thuyết về mô hình tổng cung – tổng cầu (AS – AD)
- Mô hình tổng cầu (AD)
Tổng cầu xây dựng trên hai thị trường hàng hóa và dịch vụ (IS) và thị trường tiền tệ (LM).
Tồn tại (Y,i) để thỏa mãn 2 phương trình trên với: Y = Y( G, T, Ms/P) và i = i(G, T, Ms/P)
Trong đó:
- i: Lãi suất trong nền kinh tế
- Y: Thu nhập (GDP)
- Ms: Mức cung tiền
- P: Mức giá trong nền kinh tế
- C: Tiêu dùng
- T: Thuế
- G: Chi tiêu chính phủ
Khi P tăng dẫn đến Ms/P giảm, i tăng, I giảm, Y giảm, tổng cầu (AD) giảm.
Khi P giảm dẫn đến Ms/P tăng, i giảm, I tăng, Y tăng, tổng cầu (AD) tăng.
Kết luận: Đường tổng cầu AD dốc xuống (dY/dP < 0).
- Hình 3.3. Sự Hình Thành Đường Tổng Cầu AD
Đường tổng cầu trong vĩ mô chịu ảnh hưởng bởi thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ. Khi giá giảm thì đường LM dịch chuyển xuống, Y tăng. Tương tự cho trường hợp P tăng. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Mô hình tổng cung (AS)
- Định lương WS : W = Pe.F(u,z)
- Định giá PS : W = P/(1 + µ)
- è P = Pe.(1+ µ).F(u,z)
- Với u = (L – N)/L = 1 – L/N
- Mà Y = N è u = 1 – Y/L
- è P = Pe.(1 + µ).F.(1 – Y/L,z)
Trong đó:
- u : tỉ lệ thất nghiệp
- z : biến khác (lợi ích thất nghiệp, lương tối thiểu)
- µ : mức bồi giá (trong thị trường độc quyền µ cao)
Tăng Y dẫn đến giảm thất nghiệp (u), tiền lương tăng (W), tăng chi phí sản xuất và tăng giá. Giảm Y dẫn đến tăng thất nghiệp (u), tiền lương giảm (W), giảm chi phí sản xuất và giảm giá.
Kết luận: Đường tổng cung dốc lên (dY/dP > 0)
- Hình 3.4. Sự Hình Thành Đường Tổng Cung AS
- Hình 3.5. Mô Hình AS – AD
- Hình 3.6. Tăng Tổng Cầu, Tăng Tổng Cung Để Ngăn Chặn Suy Giảm Kinh Tế.
Trong đó, SRAS là tổng cung trong ngắn hạn, LRAS là tổng cung trong dài hạn (đường thẳng đứng). Tăng tổng cầu AD làm giá tăng và tăng GDP. Tăng tổng cung làm giảm giá nhưng tăng GDP trong ngắn hạn.
3.5. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm kinh tế ở Việt Nam Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Từ cuối năm 2024 đến nay, nền kinh tế Việt Nam liên tục xuất hiện những dấu hiệu của suy thoái kinh tế. Trước hết là sự giảm sút kim ngạch xuất nhập khẩu, giảm nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, xu hướng tụt dốc của chứng khoán, những khó khăn của cán cân thanh toán quốc tế.. Nền kinh tế vừa mới thoát khỏi tình trạng lạm phát cao, chứa đựng trong nó nhiều bất ổn vĩ mô nay lại phải chống chọi với nguy cơ khủng hoảng kinh tế cận kề, đó là thách thức lớn với Việt Nam. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khó khăn hiện nay của nước ta là do tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến rất phức tạp. Cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra từ Mỹ, trung tâm tài chính hùng mạnh nhất thế giới đang tiếp tục lan rộng và ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều quốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài. Nhật, Mỹ và các nước EU đã lần lượt tuyên bố rơi vào suy thoái, dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới cũng như giá trị GDP của nhiều nước rất ảm đạm. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam đang cố gắng mở cửa nền kinh tế, hội nhập sâu và rộng, tham gia nhiều hơn vào thương mại quốc tế ( xuất khẩu chiếm 70% GDP, FDI và ODA chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xã hội). Vì thế, những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam là không nhỏ. Do kinh tế suy giảm dẫn đến nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của các nước là bạn hàng thường xuyên của Việt Nam giảm sút gây khó khăn cho các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu trong việc tìm đầu ra, từ đó ảnh hưởng đến cán cân thương mại của nước ta. Sản xuất trì trệ, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được làm nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất phải tạm ngừng sản xuất, sản xuất cầm chừng, giảm biên chế, sa thải công nhân và làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp. Hàng loạt các ngân hàng và công ty tài chính ở Mỹ sụp đổ trong một thời gian ngắn, kéo theo đó là tình trạng khan hiếm nguồn vốn và tín dụng ở rất nhiều các định chế tài chính ở nhiều quốc gia, các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản do sự rút vốn ồ ạt từ phía các nhà đầu tư đã làm lượng vốn FDI, FII vào Việt Nam giảm đi thấy rõ. Hệ thống tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu vào hệ thống tài chính toàn cầu nên mức độ chịu ảnh hưởng của cơn bão tài chính lần này không nhiều bằng các quốc gia có mức độ hội nhập sâu rộng khác. Tuy nhiên, do yếu tố tâm lý của cả nhà đầu tư và người tiêu dùng mà hệ thống tài chính nước ta cũng sẽ gặp trở ngại trong việc huy động vốn vay cho các cơ sở sản xuất, duy trì tỉ lệ dự trữ bắt buộc hay giữ cho tỉ giá hối đoái ở mức phù hợp với tình hình phức tạp hiện nay.
3.6. Lý luận về các chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính
Từ hai giả thuyết quan trọng của học thuyết Keynes về nguyên nhân của suy thoái kinh tế: (1) Suy thoái kinh tế bắt nguồn từ nền kinh tế có năng lực sản xuất dư thừa (các yếu tố đầu vào cho sản xuất không được sử dụng hết công suất, thất nghiệp trên thị trường lao động, máy móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp và hàng hóa ế thừa). Tình trạng dư cung làm cho giá của tất cả các mặt hàng trên thị trường giảm nhưng vẫn không khuyến khích được người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn. Cứ như vậy cầu càng ở xa dưới cung thực tế và nền kinh tế rơi vào suy thoái. (2) Chính phủ có khả năng chủ động chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình. Trong khi đó, các khu vực không phải chính phủ (hộ gia đình và khu vực tư nhân) thường chi tiêu ít hơn thu nhập (tâm lý để dành). Nguồn tiết kiệm từ khu vực ngoài chính phủ sẽ chuyển sang đầu tư ở khu vực doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thời kỳ suy thoái các doanh nghiệp không muốn đầu tư thêm vì đầu tư lúc này không có khả năng mang lại lợi nhuận. Theo (1), Keynes cho rằng nền kinh tế suy thoái tạm thời vì không có đủ cầu cho cung đang dư thừa. Bài toán cho suy thoái kinh tế gặp rắc rối ở việc thiếu cầu hiệu lực do đó nếu xuất hiện lượng cầu có hiệu lực đủ lớn thì bài toán sẽ tìm được lời giải. Hơn nữa, theo giả thuyết thứ (2) của học thuyết Keynes, chỉ có Chính phủ mới có khả năng mạnh tay chi tiêu (ngay cả khi nền kinh tế đang rơi vào suy thoái), khi mà cả khu vực tư nhân và hộ gia đình không muốn chi tiêu. Sự dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay Chính phủ để tăng cầu hiệu lực sẽ đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn do thiếu sức mua. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực xúc tiến nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế. Các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế bao gồm các nhóm chính sách kích cầu đó là: chính sách tiền tệ (monetary policy), chính sách tài khóa (fiscal policy) và chính sách tỷ giá hối đoái. Ngoài ra, do nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vẫn còn nhiều khiếm khuyết nên việc kết hợp các chính sách vi mô như việc xem xét các nhóm xã hội khác nhau và các loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế cũng có ý nghĩa thiết thực trong việc ngăn chặn suy thoái kinh tế.
- Chính sách tiền tệ (monetary policy)
Chính sách tiền tệ can thiệp vào thị trường tiền tệ bằng cách thay đổi cung tiền hoặc tỉ lệ lãi suất. Chính sách này sẽ tác động đến thị trường hàng hóa và dịch vụ (làm thay đổi tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ), từ đó ảnh hưởng đến GDP, lạm phát và thất nghiệp. Hay nói cách khác, nguyên tắc của chính sách tiền tệ nói rằng ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất để làm thay đổi các chỉ tiêu kinh tế. Chính phủ áp dụng chính sách cung tiền mục tiêu ( monetary target policy): ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất để thay đổi cầu tiền cho phù hợp với lượng cung tiền mục tiêu mà ngân hàng mong muốn. (Hình 3.7)
- Chính sách tài khóa (fiscal policy)
Để kích cầu nền kinh tế thì một trong những biện pháp cần thiết là tăng chi tiêu của chính phủ và giảm (giãn, miễn) thuế, đặc biệt là có những điều chỉnh thích hợp cho luật thuế thu nhập mới được ban hành gần đây. Tăng chi tiêu của chính phủ và khuyến khích chi tiêu trong khu vực dân cư thông qua các chính sách thuế
- Hình 3.7. Chính Sách Tiền Tệ Mở Rộng
Khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng thì chính sách tài khóa luôn là chính sách có tác động ngắn nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất, đặc biệt chính sách tài khóa còn có tác dụng điều chỉnh cầu của nền kinh tế theo cơ cấu mới. Chính sách tài khóa kết hợp với chính sách tiền tệ hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng loại dần những bất cập, những yếu kém của cơ cấu kinh tế cũ đưa đến một cơ cấu hoàn thiện hơn.
- Chính sách tỷ giá hối đoái Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Để chính sách kích cầu có hiệu lực thì cần phải có một chính sách tỷ giá hợp lý, nếu không vô tình chúng ta sẽ kích thích nhập khẩu do đồng Việt Nam mạnh lên so với đồng đô la. Sử dụng chính sách tỷ giá linh hoạt làm cho hàng hóa Việt Nam rẻ hơn hàng hóa của các nước khác, qua đó kích thích xuất khẩu ròng. Tận dụng ưu thế của hàng hóa Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường của các nước đang gặp khó khăn do suy giảm kinh tế. Bên cạnh việc tạo những điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu vì giá xuất khẩu của các hàng hóa tính bằng nội tệ sẽ tăng, tăng lợi nhuận và tăng lượng xuất khẩu ròng thì giảm giá đồng nội tệ sẽ kéo theo hiện tượng lạm phát.
Tóm lại, khi giảm giá đồng nội tệ sẽ làm tăng lượng xuất khẩu ròng, mà xuất khẩu ròng là một thành tố của tổng cầu hàng hóa và dịch vụ (AD), nên giảm giá đồng nội tệ sẽ dẫn đến tăng tổng cầu hàng hóa và dịch vụ (AD dịch sang phải). Chính sách này làm tăng tổng sản phẩm quốc dân GDP lên trong ngắn hạn nhưng lại có tác động phụ là làm giá cả hàng hóa tăng lên và gây ra lạm phát. Do đó, khi sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái để phát triển xuất khẩu, chính phủ cần phải phối hợp thực hiện các chính sách khác nhằm triệt tiêu mặt tiêu cực của chính sách này.
3.7. Phương pháp nghiên cứu
3.7.1. Phương pháp mô tả
Phương pháp mô tả trong nghiên cứu này được dùng để mô tả quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2002 đến nay, mô tả những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế, mô tả các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế của các nước trên thế giới và Việt Nam…
3.7.2. Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích dùng để phân tích các mô hình, phân tích những nguyên nhân, kết quả các chính sách vĩ mô trên cơ sở các lý luận về kinh tế vĩ mô. Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính


Pingback: Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính