Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã chuyển sang ảnh hưởng đến kinh tế thực. Những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam đang diễn biến rất phức tạp, lan rộng đến nhiều khu vực và thành phần của nền kinh tế. Trong chương này, luận văn sẽ tập trung mô tả cụ thể những tác động của khủng hoảng đến nước ta, thảo luận về những chính sách mà Chính phủ đang thực thi nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế, trên cơ sở đó phân tích và đưa ra những giải pháp thích hợp cho tình hình hiện nay.
4.1. Những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến Việt Nam
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã để lại nhiều hậu quả tai hại cho nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là những nước tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài như Việt Nam.
Việt Nam là một nước có nền kinh tế mở. Năm 2024, giá trị thương mại hàng hóa chiếm hơn 160% GDP; FDI đóng góp gần 30% tổng đầu tư xã hội; các nhà đầu tư nước ngoài (vào đầu tháng 9/2024) đã chiếm tới 25% mức vốn hóa thị trường cổ phiếu và khoảng trên 1/3 tổng giá trị trái phiếu. Chính vì vậy, nền kinh tế và cả hệ thống tài chính Việt Nam không thể tránh khỏi những “chấn động” trong cơn bão khủng hoảng tài chính và sự suy thoái kinh tế toàn cầu.
4.1.1. Thương mại
Trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam đã rơi vào tình trạng thâm hụt thương mại trong nhiều năm, đặc biệt là trong hai năm 2023 và 2024. Nguyên nhân của thâm hụt thương mại là do hoạt động đầu tư sôi động trong hai năm qua cộng với sự tăng giá các mặt hàng nhập khẩu đã góp phần làm tăng mạnh giá trị nhập khẩu. Trong cơ cấu các loại hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam, nhóm hàng hóa có sự gia tăng mạnh là máy móc thiết bị và phụ tùng, xăng dầu và các đầu vào phục vụ cho sản xuất khác.
- Hình 4.1 Thâm Hụt Thương Mại Hàng Hóa Việt Nam từ năm 2016
Trong khi đó năm 2024 lại là năm mà giá xăng dầu và năng lượng trên thế giới tăng cao đột biến. Nhìn vào cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam (bảng 4.1) có thể dễ dàng nhận thấy nước ta chủ yếu nhập khẩu các hàng hóa có giá trị cao, đòi hỏi công nghệ sản xuất tiên tiến mà với trình độ kỹ thuật hiện nay Việt Nam chưa thể sản xuất được. Nền kinh tế càng ngày càng phát triển, công nghiệp sản suất phát triển mạnh làm nhu cầu năng lượng cho sản xuất tăng nhanh thể hiện qua giá trị nhập khẩu xăng dầu tăng nhanh qua các năm. Kinh tế đất nước khởi sắc thì đời sống nhân dân cũng được nâng cao, nhu cầu sử dụng các loại máy móc, thiết bị điện tử, xe ô tô tăng mạnh trong những năm gần đây. Giá trị nhập khẩu máy móc thiết bị, nhóm hàng chiếm đến 17% tổng giá trị nhập khẩu, đã tăng 35% trong 11 tháng đầu năm 2024. Nhập khẩu thép tăng 46% về mặt giá trị và 9 % về mặt khối lượng, khiến các nhà nhập khẩu thép phải tìm cách tái xuất vì dự báo cầu về sắt thép trong năm 2025 sẽ giảm. Nhập khẩu ô tô cũng đã chậm lại kể từ cuối năm, một phần do thuế nhập khẩu cao. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu ô tô vẫn tiếp tục tăng, với mức tăng lên đến 95% so với cùng kỳ năm trước. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Giá trị nhập khẩu tăng mạnh còn do một nguyên nhân khác đó là giá các mặt hàng nhập khẩu tăng cao. Giá nhập khẩu xăng dầu, sắt thép, phân bón và lúa mỳ trong 9 tháng đầu năm 2024 tăng lên đã làm tăng tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam thêm 2,3 tỷ đô la. Năm 2024 mức giá của nhóm hàng này cũng tăng mạnh hơn nhiều so với năm 2023 nên mức thâm hụt thương mại năm 2024 cao hơn năm 2023. (hình 4.2)
- Bảng 4.1 Cơ Cấu và Tăng Trưởng Nhập Khẩu
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12/2024 ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với tháng trước do một số mặt hàng nhập khẩu tháng này tăng mạnh là: Máy móc thiết bị tăng 272 triệu USD; xăng dầu tăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53 triệu USD; sắt, thép tăng 182 triệu USD. So với tháng 12/2023, kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm nay giảm 25%. Tính chung cả năm 2024, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2023, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2024, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2023 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng 21,4% so với năm 2023.
- Hình 4.2 Giá Nhập Khẩu Trung Bình Một Số Mặt Hàng
Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2023. Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xu hướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đang tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước. Nhập khẩu ô tô năm 2024 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đương 380 triệu USD). Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và máy tính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 2023. Nhập khẩu xăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm trước, tương ứng với kim ngạch 10,9 tỷ USD, tăng 41,2%. Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5%. Vải và nguyên phụ liệu dệt may là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu vẫn đạt kim ngạch cao với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2023. Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm trước, đây là nhóm hàng không chỉ gắn với tiêu dùng trong nước mà còn liên quan tới gia công, lắp ráp để xuất khẩu. Trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2024, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu từ khu vực ASEAN, ước tính 19,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2023; Trung Quốc 15,4 tỷ USD, tăng 23,2%; thị trường EU 5,2 tỷ USD, tăng 1,7%; Đài Loan 8,4 tỷ USD, tăng 21,8 %; Nhật Bản 8,3 tỷ USD, tăng 37,7%. Nhập siêu năm 2024 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2023, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm 2024 vẫn khá cao, trong đó châu Á có mức nhập siêu lớn nhất, đứng đầu là thị trường Trung Quốc với 10,8 tỷ USD, cao hơn 1,7 tỷ USD so với năm 2023.
Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là dầu thô, may mặc, giày da, các mặt hàng nông lâm, thủy hải sản. Trong đó, dầu thô chiếm tới 17,5%, hàng may mặc chiếm 16%, da giày chiếm 8.23% trong tổng giá trị hàng xuất khẩu. Vì các mặt hàng nằm trong danh mục hàng xuất khẩu chỉ là những loại nguyên liệu thô, sản phẩm từ nông nghiệp mới chỉ qua sơ chế nên giá trị hàng xuất khẩu không cao. Đây là nguyên nhân chính khiến cán cân thương mại của nước ta thâm hụt trong một thời gian dài. Trên chặng đường phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã chọn mục tiêu tăng trưởng nhờ xuất khẩu nên trong những năm gần đây chất lượng các mặt hàng xuất khẩu đã được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện cho nhà sản xuất cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị hàng Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới.
- Bảng 4.2 Cơ Cấu và Tăng Trưởng Xuất Khẩu Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Do làn sóng đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam trong năm 2024, hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu được tăng cường, mở rộng quy mô sản xuất nên các giá trị các mặt hàng xuất khẩu của nước ta cũng tăng trưởng mạnh trong năm này. Kết quả xuất khẩu năm 2024 vẫn đáng khích lệ mặc dù nền kinh tế toàn cầu khá ảm đạm. Kim ngạch xuất khẩu tăng đến 34%, trong đó xuất khẩu ngoài dầu thô tăng 35%. Tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa so với GDP tăng cả về tổng số lẫn xuất khẩu ngoài dầu thô. Cho dù có những hạn chế về năng lực khai thác, kim ngạch xuất khẩu dầu thô vẫn rất cao. Tính đến tháng 11, khối lượng dầu thô xuất khẩu giảm 10% so với năm trước, nhưng doanh thu từ xuất khẩu dầu lại tăng 31%. Đáng chú ý là kim ngạch xuất khẩu dầu thô tăng lên trong 2 năm gần đây hầu như đều do tăng giá chứ không phải tăng sản lượng. Doanh thu từ dầu thô tiếp tục là một phần quan trọng trong ngân sách nhà nước và ước tính đóng góp đến 21% vào tổng nguồn thu ngân sách năm 2024.
Việt Nam cũng được lợi từ giá các loại nông sản tăng cao, trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu gạo trong 11 tháng đầu năm 2024 tăng 89%, mặc dù Chính phủ đã có những điều chỉnh xuất khẩu gạo hồi tháng 4 do những lo lắng về tình hình an ninh lương thực và nỗ lực bình ổn giá cả trong nước. Giá xuất khẩu hàng nông sản tăng đã giúp duy trì giá trị hàng xuất khẩu các mặt hàng này tăng trong năm 2024. Giá trị xuất khẩu cà phê tăng 6,6% trong 11 tháng đầu năm, cao su tăng 25% và hạt điều tăng 47%. Giá xuất khẩu cao cũng góp phần bù đắp lại khối lượng xuất khẩu suy giảm của những mặt hàng đó. Tuy nhiên, bước sang năm 2025 giá quốc tế của nhiều mặt hàng dự kiến sẽ giảm mạnh. Điều này làm cho tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam giảm và thâm hụt thương mại gia tăng (hình 4.3).
- Hình 4.3 Giá Hàng Hóa Quốc Tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, một khi khủng hoảng tài chính bùng nổ thì những ảnh hưởng từ nó sẽ có sức lan tỏa rất lớn, trong đó ngoại thương là yếu tố chịu tác động mạnh nhất. Khủng hoảng tài chính lần này bắt đầu nổ ra từ Hoa Kỳ, trung tâm tài chính hùng mạnh của thế giới cho nên những hệ lụy đi kèm với khủng hoảng là không thể tránh khỏi đối với nhiều quốc gia có mối liên hệ kinh tế với Hoa Kỳ. Trong những năm qua, ngoài Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hoa kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn tiếp tục gia tăng, thị trường Hoa Kỳ tiếp nhận hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu ngoài dầu thô của Việt Nam.
Hình 4.4 Các Thị Trường Xuất Khẩu Chính của Việt Nam
- (Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu ngoài dầu thô)
Nước ta vẫn đang từng bước cố gắng tăng thị phần xuất khẩu sang Hoa Kỳ so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Băng La Đét. (hình 4.5) Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Dệt may và giày dép vẫn là những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Xuất khẩu hàng dệt may trong 11 tháng đầu năm 2024 tăng 19%, trong đó thị trường lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam là Hoa Kỳ chiếm đến 57% tổng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Với việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, Mỹ đã bãi bỏ hạn ngạch áp đặt cho xuất khẩu hàng dệt may. Tuy nhiên, hạn ngạch đó đã được thay thế bằng một cơ chế giám sát mới dành cho một số hàng “nhạy cảm”.
- Hình 4.5 Mở Rộng Thị Phần Xuất Khẩu của Việt Nam
Các nhà sản xuất hàng dệt may lo ngại rằng cơ chế giám sát này có thể được dùng để hạn chế xuất khẩu cho dù bản thân cơ chế này không có nghĩa là báo trước các vụ kiện bán phá giá sắp xảy ra nhưng quả thực việc giám sát đó đã có những tác động làm hạn chế các đơn đặt hàng.
- Hình 4.6 Xuất Khẩu Dệt May và Giày Dép
Xuất khẩu giày dép trong 11 tháng đầu năm đã tăng 18%, bất chấp vụ kiện bán phá giá của EU, nơi nhập khẩu gần một nửa tổng khối lượng giày dép của Việt Nam. Đáng lưu ý là xuất khẩu giày dép sang EU và Mỹ đã lần lượt tăng là 16% và 14%, tức là tốc độ tăng cao hơn so với năm 2023.
Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2024 ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2% so với tháng trước chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo xuất khẩu đã tăng trở lại. Tính chung cả năm 2024, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2023, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%. Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2024, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%. Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm 2024 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2023, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng. Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 13,9 triệu tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tuy giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 23,1% về kim ngạch so với năm trước do giá dầu tăng cao trong những tháng giữa năm. Hàng dệt may đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm 2023; trong đó Hoa Kỳ vẫn là bạn hàng lớn nhất về hàng dệt may với 5,1 tỷ USD, tăng 14,2% so với năm 2023; tiếp đến là EU 1,7 tỷ USD, tăng 13,8%; Nhật Bản 810 triệu USD, tăng 15,9%. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Kim ngạch xuất khẩu giày dép năm 2024 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm trước, trong đó hai thị trường EU và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng trên 74% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép. Thủy sản ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm 2023. Thị trường EU vẫn là thị trường chính nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm 2023; tiếp theo là Nhật Bản đạt 850 triệu USD, tăng 12,8%; Hoa Kỳ 760 triệu USD, tăng 4,3%; Hàn Quốc 310 triệu USD, tăng 12,7%. Xuất khẩu gạo năm 2024 ước tính đạt 4,7 triệu tấn, đạt 2,9 tỷ USD, tuy chỉ tăng 3,6% về lượng nhưng tăng 94,8% về kim ngạch so với năm trước, do có mức tăng kỷ lục về giá xuất khẩu trong năm qua.
Năm 2024 có 8 nhóm hàng/mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2023 là gạo và cà phê. Tuy kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2024 tăng khá cao so với năm 2023 nhưng nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5%.
Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2024, Hoa Kỳ là đối tác lớn nhất, ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2023 với 5 mặt hàng chủ yếu (chiếm tỷ trọng 76% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này) gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép, thủy sản. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2023 với các mặt hàng chính là: Dầu thô, gạo, thủy sản, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền thống như: Hàng dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản. Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2023, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô, giày dép, thủy sản, máy tính và linh kiện, dây và cáp điện. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Cùng với xuất, nhập khẩu hàng hoá, năm 2024 còn đẩy mạnh xuất, nhập khẩu dịch vụ. Tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ năm 2024 ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2023, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4 tỷ USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,7%; dịch vụ vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%. Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2024 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 10,3% so với năm 2023, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu USD, tăng 20%.
Nhìn chung trong năm 2024, với những nỗ lực của Chính phủ trong các chính sách kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả và đẩy mạnh xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn tăng dù tốc độ xuất khẩu đã có xu hướng chững lại từ tháng 8/2024. Cùng thời gian này, đã có nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia.. đã bắt đầu gánh chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính thể hiện qua sự giảm sút của tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của các nước này. Sở dĩ xảy ra tình trạng này là do thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam và các quốc gia này là Mỹ, Nhật, EU. Trong khi những nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật EU đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng tài chính đã lần lượt tuyên bố suy thoái và Chính phủ các nước này đang nỗ lực cứu lấy nền kinh tế, niềm tin của người tiêu dùng suy giảm, nhiều hệ thống ngân hàng, các định chế tài chính sụp đổ làm cạn kiệt nguồn tín dụng thì việc cắt giảm chi tiêu cũng là điều dễ hiểu.
Bước sang năm 2025, tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã thể hiện rõ nét hơn đối với hoạt động thương mại của Việt Nam. Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01/2025 ước tính đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2024 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sự giảm giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng cũng như nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam của một số thị trường quan trọng giảm sút như: Mỹ, EU, Nhật Bản. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 1,7 tỷ USD, giảm 21,9% so với tháng 01/2024; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 13,7%.
Kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng trong tháng Một của năm 2025 đều giảm so với cùng kỳ năm 2024, trong đó hàng dệt, may đạt 550 triệu USD, giảm 33,2%; dầu thô đạt 424 triệu USD, tương đương 1,4 triệu tấn, tuy tăng 12,4% về lượng nhưng giảm 52,4% về kim ngạch do giá xuất khẩu dầu thô giảm 57,7%; giày dép đạt 350 triệu USD, giảm 26%; thủy sản đạt 250 triệu USD, giảm 18,6%; cà phê đạt 217 triệu USD, giảm 30,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 200 triệu USD, giảm 31,8%. Bên cạnh những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu gạo đạt 130 triệu USD, gấp 2,5 lần tháng 01/2024 (lượng gấp 2,3 lần).
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01/2025 ước tính đạt 4,1 tỷ USD, giảm 27,6% so với tháng trước và giảm 44,8% so với cùng kỳ năm 2024, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 2,8 tỷ USD, giảm 46,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,3 tỷ USD, giảm 41,1%. Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước của tháng Một năm 2025 nhìn chung đều giảm so với cùng kỳ năm 2024, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1 tỷ USD, giảm 19,5%; xăng dầu đạt 244 triệu USD, giảm 75,2%; vải đạt 230 triệu USD, giảm 20,6%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 200 triệu USD, giảm 45,1%; sắt thép đạt 155 triệu USD, giảm 82,3%; chất dẻo đạt 130 triệu USD, giảm 53%; nguyên phụ liệu dệt, may, da đạt 110 triệu USD, giảm 35,9%.
Nguyên nhân chủ yếu tác động đến kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng Một năm nay giảm là do giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2024, trong đó giá xăng dầu giảm 56,2%; giá chất dẻo giảm 33,7%; sợi dệt giảm 29,2%; sắt thép giảm 9,4%. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng mạnh đến kim ngạch hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu tháng Một của năm 2025. Do tốc độ giảm của kim ngạch hàng hoá nhập khẩu nhanh hơn tốc độ giảm của kim ngạch hàng hoá xuất khẩu nên mức nhập siêu tháng 01/2025 đã giảm nhiều, ước tính 300 triệu USD, bằng 7,9% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với mức nhập siêu 2,4 tỷ USD của cùng kỳ năm trước (bằng 48,3% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu).
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 02/2025 ước tính đạt 4,3 tỷ USD, tăng 15,6% so với tháng trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2025 ước tính đạt 8 tỷ USD, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,2 tỷ USD, tăng 20,6%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 3,8 tỷ USD, giảm 23,4%.
Trong 2 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như: Giá thế giới giảm, một số doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong khâu thanh toán, nhu cầu tiêu thụ tại một số thị trường giảm sút. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 2 tháng đầu năm 2025 đạt 1,3 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2024; dầu thô đạt 958 triệu USD, giảm 42,4% (tăng 26,7% về lượng); giày dép đạt 658 triệu USD, giảm 7,3%; thủy sản đạt 461 triệu USD, giảm 5,8%; cà phê đạt 440 triệu USD, giảm 9,6% (tăng 10,8% về lượng); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 327 triệu USD, giảm 26,3%; hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt 307 triệu USD, giảm 13,7%. Riêng xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm đạt tốc độ tăng cao cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, trong đó lượng đạt 919 nghìn tấn, tăng 103,6%; kim ngạch đạt 399 triệu USD, tăng 113,2%. Nếu 8 mặt hàng (Hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, than đá, dầu thô, cao su) được tính theo giá bình quân 2 tháng đầu năm 2024 thì kim ngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2025 tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 02/2025 ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng 32,1% so với tháng trước và giảm 28,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2025, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 7,7 tỷ USD, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 4,9 tỷ USD, giảm 48,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,8 tỷ USD, giảm 29,8%. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm nay đều giảm về lượng, bên cạnh đó giá thế giới giảm mạnh dẫn đến kim ngạch hàng hoá nhập khẩu giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 1,8 tỷ USD, giảm 24%; xăng dầu đạt 753 triệu USD, giảm 60% (giảm 26,2% về lượng và giá giảm 46%); vải đạt 494 triệu USD, giảm 4,4%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 420 triệu USD, giảm 30,1%; sắt thép đạt 412 triệu USD, giảm 74,2% (giảm 69,7% về lượng và giá giảm 20%); chất dẻo đạt 312 triệu USD, giảm 34,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 219 triệu USD, giảm 27,1%; hóa chất đạt 174 triệu USD, giảm 41,6%; phân bón đạt 169 triệu USD, giảm 22,3% về lượng và giảm 33,7% về kim ngạch; số lượng ô tô nguyên chiếc giảm 75,3%. Nếu các mặt hàng chủ yếu được tính theo giá bình quân 2 tháng đầu năm 2024 thì kim ngạch nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2025 chỉ giảm 9% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 01/2025 là tháng đầu tiên xuất siêu kể từ tháng 01/2022 với mức xuất siêu đạt 390 triệu USD, tháng 02/2025 nhập siêu ước tính 100 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2025, xuất siêu 290 triệu USD, bằng 3,6% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 đạt 4,7 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,479 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2024 (trong 35 nhóm hàng hóa được thống kê chỉ có 9 nhóm có giá trị xuất khẩu tăng). Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2025 tăng nhẹ là do có sự đóng góp tăng kỷ lục của nhóm đá quý và kim loại quý. Kim ngạch tháng 3/2025 của hai loại hàng hoá này đạt 850 triệu USD, tăng tới 49 lần so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Tính trong 3 tháng đầu năm, nhóm hàng này đã đạt kim ngạch 2,287 tỷ USD, tăng 48 lần so với cùng kỳ năm ngoái (sự tăng đột biến này là do việc tái xuất vàng). Còn lại, kim ngạch xuất khẩu của đa số các hàng hóa khác đều chững lại hoặc giảm. Đáng lo ngại nhất là trong 13 nhóm hàng hóa chủ lực thuộc câu lạc bộ xuất khẩu tỷ USD thì kim ngạch xuất khẩu của 12 mặt hàng đều giảm từ 10- 20%, như điện tử và linh kiện máy tính, giày dép, than đá, thủy sản, cà phê, nhân hạt điều, sản phẩm chất dẻo…Trong đó, so với cùng kỳ năm 2024, dầu thô giảm mạnh nhất với mức giảm 48,6%, kế đến là dây điện và cáp điện giảm 47,3%, cao su giảm 43,9%. Nhóm hàng dệt may vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu cả nước thì trong tháng 3, kim ngạch đã giảm 4,2%. Chỉ có duy nhất mặt hàng gạo trong nhóm các mặt hàng chủ lực là có kim ngạch xuất khẩu tăng, trong tháng 3 kim ngạch xuất khẩu gạo tăng 23,5%, tính chung 3 tháng đầu năm xuất khẩu gạo tăng 76,4% so với cùng kỳ năm 2024.
Kim ngạch nhập khẩu vẫn tiếp tục giảm mạnh, kim ngạch nhập khẩu tháng 3 đạt 4,3 tỷ USD, giảm tới 47% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 3 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 11,832 tỷ USD, giảm 45% so với cùng kỳ. Nguyên nhân khiến kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam giảm mạnh trong tháng 3 vẫn là do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu làm hoạt động sản xuất trong nước trì trệ, sức mua giảm, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được. Các doanh nghiệp, nhà sản xuất khó có thể tiếp cận nguồn vốn đầu tư cho sản xuất trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nguy cơ suy thoái như hiện nay cũng là lý do làm kim ngạch hàng nhập khẩu làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước giảm mạnh.
Như vậy, trong tháng 3 năm 2025 Việt Nam đã xuất siêu 400 triệu USD và ước tính 3 tháng đầu năm nay nước ta đã xuất siêu tới 1,647 tỷ USD. Đây là một con số kỷ lục trong cán cân thương mại Việt Nam từ trước tới nay vì cả năm 2008, năm duy nhất Việt Nam xuất siêu thì con số này chỉ có 40 triệu USD. Trong điều kiện bình thường thì việc lần đầu tiên xuất siêu với con số lớn như vậy là một bước tiến đáng khích lệ của Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế đất nước và kinh tế thế giới u ám như hiện tại, việc nước ta xuất siêu chỉ khẳng định rõ ràng thêm mức độ ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đến Việt Nam. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Tháng 4, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,5 tỷ USD, giảm 14,4% so với tháng 4/2024, tương đương với 759 triệu USD và giảm 15,3% so với tháng 3, trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,21 tỷ USD, giảm 21,2%, doanh nghiệp trong nước đạt 2,29 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ. So với tháng 3, tháng 4 giảm do xuất khẩu vàng giảm mạnh. Nếu trừ yếu tố xuất khẩu vàng trong tháng 3 thì kim ngạch xuất khẩu tăng 6,6%, tương đương 277 triệu USD. Nhóm mặt hàng nông lâm thuỷ sản, trừ mặt hàng cà phê và nhân điều giảm, còn lại các mặt hàng khác tăng nhẹ. Nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến có sự phục hồi của một số mặt hàng xuất khẩu như: túi xách, va li, ô dù tăng 16,1%, hàng điện tử và linh kiện tăng 15,4%, hàng thuỷ tinh và sản phẩm từ thuỷ tinh tăng 10,53%, giầy dép các loại tăng 7,53%, thuỷ sản tăng 5,8%,…Tính theo thị trường xuất khẩu, 4 tháng, xuất khẩu sang các nước Châu Á giảm 13,2% chủ yếu do trị giá xuất khẩu dầu thô và các mặt hàng công nghiệp chế biến giảm. Tuy nhiên xuất khẩu gạo và hàng dệt may sang thị trường này vẫn có tốc độ tăng trưởng tốt; Xuất khẩu sang Châu Âu tăng 64,3% do xuất khẩu nhóm hàng đá quý và kim loại quý sang thị trường Thụy Sỹ tăng, còn lại hầu hết mặt hàng chủ lực sang thị trường này đều giảm; Xuất khẩu sang thị trường Châu Mỹ tăng 1,8%; Xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm gần 5%. Đây là kết quả đáng mừng trong điều kiện khủng hoảng kinh tế như hiện nay.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 4 ước đạt 5,2 tỷ USD, giảm 38,2% so với tháng 4/2024, tăng 3,1% so với tháng 3. So với tháng 3, kim ngạch nhập khẩu của một số mặt hàng là nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu ngành dệt may, giầy dép, đồ gỗ… tăng cho thấy các ngành này đang có dấu hiệu phục hồi. Nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng trở lại cao hơn các doanh nghiệp trong nước. Kim ngạch nhập khẩu tính chung 4 tháng ước đạt 17,83 tỷ USD, giảm 41% so với cùng kỳ, trong đó, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,33 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 35,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, giảm 36% so với cùng kỳ, các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 11,5 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 64,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, giảm 43,4% so với cùng kỳ. Nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng đều giảm cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do nhu cầu giảm, giá nhập khẩu giảm, thậm chí một số mặt hàng giảm đến hơn 50% như dầu mỡ động thực vật, thép các loại, ôtô nguyên chiếc, xăng dầu. Tháng 4, cán cân thương mại đã chuyển sang trạng thái nhập siêu sau 3 tháng liên tiếp xuất siêu, ước khoảng 700 triệu USD. Tính chung 4 tháng vẫn xuất siêu khoảng 801 triệu USD do yếu tố xuất khẩu đột biến của vàng trong 2 tháng (2 và 3). Nếu loại trừ yếu tố này, 4 tháng nhập siêu khoảng 1,74 tỷ USD.
Xuất nhập khẩu hàng hoá tháng 4 đã có dấu hiệu tăng trưởng, thể hiện ở sự gia tăng xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp chế biến và nhập khẩu của nhóm hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Dấu hiệu gia tăng xuất nhập khẩu của khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần nào thể hiện tín hiệu tốt từ nền kinh tế thế giới. Dự báo trong những tháng tới, tình hình xuất nhập khẩu sẽ dần được cải thiện hơn tuy còn nhiều khó khăn. (Nguồn Bộ Công Thương).
4.1.2. Tình hình đầu tư Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
- Hình 4.7 Vốn FDI Đăng Ký 10 Năm Gần Đây (tỷ USD)
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay phụ thuộc nhiều vào những nhân tố kích thích từ bên ngoài. Mặc dù trong những năm gần đây chúng ta đã nỗ lực rất nhiều để thúc đẩy tiêu dùng ở thị trường nội địa nhưng hoạt động ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là hai đầu tàu chính của nền kinh tế, trong đó yếu tố vốn đầu tư đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đến 57%. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2020 đến nay đều vượt mốc 40% (năm 2020: 40,7%, năm 2021: 40,9%, năm 2022: 41%, năm 2023: 40,4%). Năm 2023, với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng (đạt 8,5%), vị thế đất nước trên trường quốc tế được nâng cao, tình hình an ninh- chính trị ổn định, Việt Nam trở thành điểm đầu tư hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2023 đạt mức kỷ lục 20,3 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay. Vốn đầu tư thực hiện năm 2023 đạt 5,1 tỷ USD, tăng 1,2 tỷ USD (30,7%) so với năm 2022.
FDI cam kết ước tính khoảng hơn 60 tỷ USD trong năm 2024. Lượng giải ngân kể cả của các nhà đầu tư trong nước, tăng 38% một năm tính đến cuối tháng 10 năm 2024, chiếm khoảng 14%. Lĩnh vực đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam là các ngành công nghiệp nặng, bất động sản, công nghiệp nhẹ, xây dựng. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhà đầu tư không chỉ coi việc là thành viên của WTO của nước ta là cơ hội để đầu tư mà còn quan tâm nhiều đến những cam kết, những tiên liệu về một tương lai tươi sáng. Chính vì vậy, cam kết thực hiện FDI của Việt Nam tăng mạnh trong thời gian này.
- Hình 4.8 Nguồn Vốn FDI
Theo các số liệu từ báo cáo của TCTK, lượng giải ngân không chậm lại một cách rõ rệt kể từ khi khủng hoảng toàn cầu bắt đầu bùng nổ. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu và những hệ lụy từ khủng hoảng đã khiến các nhà đầu tư buộc phải sắp xếp lại vốn, xem xét lại danh mục đầu tư thể hiện qua tình trạng các nhà đầu tư liên tục bán ròng trong thời gian qua. Động thái này của nhiều nhà đầu tư đã làm giảm lượng FDI thực hiện và số dự án mới được đăng ký trong năm 2025 cũng giảm đi rõ rệt. Hầu hết các dự án được cấp phép đều có quy mô nhỏ, trung bình chỉ đạt gần 3 triệu USD/ dự án. Trong tháng 1 năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 185 triệu USD, bằng 11% so với cùng kỳ năm 2024. Theo báo cáo của cục đầu tư nước ngoài, tổng số vốn đầu tư thực hiện trong tháng 1/ 2025 giảm khá mạnh, đạt gần 300 triệu USD, chỉ bằng 78,9% con số tương ứng cùng kì tháng 1/2024 và kém rất xa con số 1,45 tỷ USD của tháng 12/2024. Cùng với diễn biến ngày càng phức tạp của khủng hoảng, các nhà đầu tư càng ngày càng thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư của mình. Nhất là khi phần lớn các đối tác đầu tư vào nước là những nước chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính lần này như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Singapore… Hơn nữa, không phải số vốn FDI đăng ký thực hiện đều là tài sản hiện có của các nhà đầu tư mà phần nhiều trong số đó là vốn đi vay từ các ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái như hiện nay, những rắc rối bên trong hệ thống tài chính của các nước làm cho việc tiếp cận nguồn vốn của các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn thì việc lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam suy giảm trong năm 2025 là điều không thể tránh khỏi. Thống kê cho thấy, qua 4 tháng đầu năm 2025, tổng lượng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm ở Việt Nam chỉ đạt 6, 357 tỷ USD, giảm rất nhiều so với cùng kỳ năm 2024 (40%).
Trong 5 tháng đầu năm 2025, các nhà đầu tư vốn nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 256 dự án mới và xin bổ sung tăng vốn cho 40 dự án với tổng số vốn là 6,68 tỷ USD, gần bằng tổng số vốn cam kết của cả năm 2021. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2024, số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã giảm đi tới 76,3%; trong đó chủ yếu là vốn đăng ký tăng thêm, lượng vốn cấp mới chỉ đạt 2,7 tỷ USD, chỉ bằng 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Cục Đầu Tư nước ngoài đánh giá, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống. Điều này cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang suy giảm đi rất nhiều, những nỗ lực của Chính Phủ Việt Nam nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế chưa phát huy được tác dụng. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
4.1.3. Chu chuyển vốn và thị trường tài chính
Thị trường tài chính Việt Nam vẫn chưa gia nhập sâu vào hệ thống tài chính thế giới cho nên những tác động của khủng hoảng tài chính lần này không ảnh hưởng nhiều đến hệ thống tài chính của ta. Tuy không phải gánh chịu hậu quả trực tiếp như nhiều nền kinh tế khác có độ gia nhập sâu hơn vào hệ thống tài chính toàn cầu nhưng khủng hoảng tài chính Mỹ vẫn gây ra những tác động gián tiếp đến thị trường tài chính Việt Nam thông qua thị trường tài chính tiền tệ, các hoạt động ngân hàng và thị trường chứng khoán.
Đầu năm 2024, để đối mặt với tình trạng lạm phát cao trong nước Chính phủ ta quyết định thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ. Kết quả là chúng ta đã thành công trong việc phá vỡ bong bóng của thị trường bất động sản và làm giảm tỷ lệ lạm phát. Tuy nhiên, chính sách này cũng đồng thời làm giảm tính thanh khoản và làm các hoạt động kinh tế chậm lại. Tình trạng khó khăn thanh khoản của các ngân hàng từ cuối năm 2023 đã buộc các ngân hàng thương mại chạy đua lãi suất huy động và làm giảm lãi tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng cũng như khan hiếm tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt khác, Chính phủ còn quy định trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản. Quy định này đã khiến cho tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng bị thu hẹp giữa mức trần và lãi suất tiền gửi cộng thêm với chi phí giao dịch và quản lý thì các ngân hàng hoàn toàn không có lãi. Những khó khăn của các ngân hàng cũng làm cho các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tiếp cận với nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất. Khi khủng hoảng tài chính Mỹ chính thức lan rộng ra toàn cầu, lãi suất LIBOR, SIBOR tăng cao làm cho các ngân hàng trong nước lại gặp thêm khó khăn trong việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Những thay đổi bất ngờ từ hệ thống tài chính thế giới buộc các ngân hàng trong nước phải nới lỏng chính sách tiền tệ đã thực hiện từ đầu năm, kéo theo lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm mạnh. Cụ thể lãi suất cho vay giảm từ 21%/năm xuống chỉ còn 14%/năm, đặc biệt tại các ngân hàng quốc doanh lãi suất giảm xuống chỉ còn 10%/năm. Thị trường vàng và ngoại tệ có nhiều diễn biến phức tạp trước những biến động của thị trường thế giới. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính mà lượng kiều hối vào Việt Nam giảm rõ rệt, nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu cũng giảm sút dẫn đến tình trạng thiếu USD cục bộ trong khi nhu cầu về ngoại tệ tăng cao đã đẩy giá USD tăng tương đối so với VNĐ.
Hoạt động tín dụng của các NHTM cũng đang diễn ra theo chiều hướng không tích cực, tín dụng tăng trưởng chậm lại và nợ xấu phát sinh là 2 biểu hiện rõ nét nhất. Tín dụng tăng trưởng chậm một mặt do các NH thận trọng hơn khi cho vay vì thị trường biến động mạnh, mặt khác chính bản thân các doanh nghiệp cũng đã và đang hạn chế mở rộng sản xuất kinh doanh do khó khăn thị trường và khó khăn trong khâu tiêu thụ. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
- Bảng 4.3 Các Mức Lãi Suất Chủ Yếu của NHNN năm 2024
Những khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp đã làm tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế chậm lại, dẫn đến khả năng thanh toán bị hạn chế, một số doanh nghiệp bị ứ đọng hàng hóa (đặc biệt là các doanh nghiệp ngành nhựa, kinh doanh sắt thép và lương thực..), do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản tín dụng có liên quan. Bên cạnh đó, tín dụng bất động sản luân chuyển chậm do thị trường bất động sản giảm nhiệt mạnh, giá bất động sản giảm và khó bán khiến nhiều nhà đầu tư ngần ngại không vay tiền đầu tư vào lĩnh vực này.
Đối với thị trường chứng khoán: Mức vốn hóa của thị trường của 2 sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ( HaSTC) tăng mạnh từ tháng 2 năm 2021 đến tháng 3 năm 2023 với mức vốn hóa thị trường so với GDP tương ứng là 2% và 43%. Tuy nhiên chỉ số thị trường đã giảm mạnh kể từ tháng 10/ 2023. Lo ngại về khả năng của một nền kinh tế bong bóng, Chính phủ đã ấn định cho các ngân hàng mức trần cho vay để kinh doanh chứng khoán, lúc đầu là 3% dư nợ vốn vay, sau đó là 20% vốn điều lệ. Từ tháng 3 năm 2024, tính thanh khoản của thị trường này bị hạn chế nhằm hạ nhiệt thị trường và kiểm soát tình hình lạm phát cao trong nước. Khủng hoảng kinh tế thế giới bất ngờ bộc phát và lan nhanh trên diện rộng đã ảnh hưởng nhanh chóng đến chứng khoán Việt Nam. Bắt đầu từ tháng 8 và rõ hơn vào tháng 10, các nhà đầu tư nước ngoài đã tích cực bán ròng để chuyển vốn về nước.
- Hình 4.9 Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Nguyên nhân cơ bản khiến các nhà đầu tư ngoại liên tục bán ròng là do các tổ chức tài chính, chi nhánh công ty đang hoạt động tại Việt Nam rút vốn về nước nhằm cứu nguy hay đảm bảo an toàn cho công ty mẹ và tâm lý muốn bảo toàn vốn, thích nắm giữ tiền mặt hơn là cổ phiếu của hầu hết các nhà đầu tư trước những diễn biến xấu của khủng hoảng tài chính. Tâm lý của các nhà đầu tư trong nước thường hay quan sát động thái của các nhà đầu tư nước ngoài để ra quyết định cũng hoảng sợ và vội vàng bán lại trái phiếu của mình. Hệ quả của những động thái này đã góp phần kéo VN- Index lùi gần 70% giá trị. Tình trạng mua ít, bán nhiều khiến cho giá trị giao dịch mua khối ngoại tính đến tháng 12/2024 chỉ đạt 41,076 tỷ đồng, sụt 38,5% so với 2023. Kịch bản thoái vốn cũng được khối các nhà đầu tư ngoại áp dụng với công cụ đầu tư ít rủi ro nhất là trái phiếu khi mức bán ra lên đến hàng triệu một phiên, cá biệt có phiên chênh lệch mua bán lên tới 1000 lần. Ngoài sự sụt giảm chung của Thị trường chứng khoán toàn cầu, sở dĩ thị trường chứng khoán Việt Nam có sự sụt giảm mạnh như vậy là do tác động của những yếu tố nội tại như sự giảm tốc kinh tế, chính sách của chính phủ, cũng như sai lầm của các doanh nghiệp đầu tư tay trái dẫn đến thua lỗ đậm. Sự lao dốc của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng kéo theo sự suy sụp niềm tin của các nhà đầu tư trong nước.
Ngoài ra, khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng đã làm cho các hoạt động đầu tư, liên kết góp vốn mua cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược vào hệ thống ngân hàng trong nước giảm và hạn chế hơn. Tác động gián tiếp này chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tăng vốn điều lệ của một số NHTMCP, qua đó ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ, phát triển dịch vụ cũng như tiếp cận và học tập kinh nghiệm quản trị, quản lý ngân hàng hiện đại của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.
4.1.4. Thất nghiệp và hậu quả của khủng hoảng kinh tế đối với xã hội Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến cho rất nhiều người lao động trên thế giới phải mất việc, trong đó có cả những lao động Việt Nam đang làm ăn ở nước ngoài. Một số lao động làm việc ở nước ngoài dưới hình thức xuất khẩu lao động đã phải trở về nước. Tình hình trong nước cũng không mấy khả quan do sự trì trệ trong sản xuất và tiêu thụ mà rất nhiều các doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng, sa thải bớt công nhân đặc biệt tình trạng này phổ biến ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Tính đến cuối tháng 2/2025, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến ước tính tăng 67% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thép tồn kho gấp 2.6 lần, sắt tròn đường kính 10 mm trở lên gấp 2,1 lần, gạch lát tăng 55%, quần áo may sẵn tăng 76%. Nhiều doanh nghiệp ở các tỉnh và thành phố trọng điểm phải cắt giảm khoảng 15% lao động thường xuyên và thực hiện chế độ làm việc luân phiên không thường xuyên như Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng, Vĩnh Phúc…
Nền kinh tế Việt Nam vốn dĩ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức từ cuối năm 2023- đầu năm 2024, đặc biệt từ khi NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nghiêm ngặt khiến sản xuất đã có nguy cơ đình đốn thì nay lại càng khó khăn hơn khi thị trường bị thu hẹp, nguồn vốn nước ngoài bị hạn chế. GDP của Việt Nam đang có xu hướng giảm mạnh do những tác động tiêu cực từ các nhân tố tiêu dùng, sản xuất, xuất khẩu và đầu tư. Quý 1 năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 3,1%, trong đó công nghiệp chỉ tăng trưởng có 1,5%, nông nghiệp là 0,4%, dịch vụ hơn 5%. Những con số trên cho thấy rõ ràng tăng trưởng GDP của nước ta đang giảm đi nhanh chóng so với các năm trước. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại cho nền kinh tế.
- Hình 4.10 Mối Tương Quan Giữa Tốc Độ Tăng Trưởng GDP và Tỷ Lệ Thất Nghiệp
Theo số liệu của TCTK thì GDP suy giảm 1% sẽ làm tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 0,35%, cứ tiếp tục với tình hình tăng trưởng GDP như thế này thì tăng trưởng GDP trong năm 2025 chỉ đạt khoảng 4,5% (so với kế hoạch 6,5%) và Việt Nam sẽ có thêm 300 000 người thất nghiệp trong năm nay. Nếu những chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng của Chính phủ không mang lại thêm nhiều việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên đến 7% tương ứng với 3,4 triệu lao động không có việc làm. Khi người lao động không có việc làm trong xã hội tăng lên đồng nghĩa với việc niềm tin của người tiêu dùng sụt giảm. Mất việc khiến thu nhập của người dân giảm đáng kể cộng với sự suy giảm niềm tin, thái độ bất an trước sự phát triển không ổn định của nền kinh tế sẽ làm cho người tiêu dùng tiết kiệm nhiều hơn. Các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vốn gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính làm thị trường xuất khẩu giảm nhu cầu, việc tiếp cận nguồn vốn bị hạn chế nay lại gặp trở ngại trong việc mở rộng thị trường nội địa. Tình trạng lẩn quẩn này sẽ làm cho nước ta rất vất vả để vực dậy nền kinh tế trong cơn chấn động của khủng hoảng như hiện nay.
4.2. Những giải pháp ngăn chặn suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Trước những diễn biến ngày càng xấu của nền kinh tế dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng thực thi nhiều giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.
Thứ nhất là tiếp tục giảm lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn. NHNN phải có biện pháp cụ thể để tạo điều kiện tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu, doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm như tiếp tục xem xét giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đồng thời các NH phải nghiên cứu, hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay theo các mức lãi suất thỏa thuận trong đó ưu tiên cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tiếp cận vốn phát triển sản xuất. Các NHTM thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các biện pháp xử lý nợ vốn vay ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật đối với các hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Điều hành chính sách tiền tệ, linh hoạt, hiệu quả; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá hối đoái theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô phấn đấu điều hành cán cân thanh toán quốc tế theo hướng không để thâm hụt. NHNN chỉ đạo các NHTM xem xét điều chỉnh lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng xuống phù hợp theo mức lãi suất hiện hành, không phạt do quá hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn. Ngoài ra, Chính phủ còn giao cho Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm.
Thứ hai là giảm, giãn thuế cho nhiều đối tượng. Chính phủ chỉ đạo Bộ tài chính tập trung triển khai ngay việc giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của quý 4/2024 và số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2025 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 9 tháng đối với số thuế phải nộp năm 2025 của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (70% số thuế còn lại sau khi giảm) và của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thủy sản, dệt may, giày da và linh kiện điện tử. Tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với một số loại tài nguyên, khoáng sản và trình Chính phủ sửa đổi thuế suất thuế tài nguyên theo hướng hạn chế xuất khẩu, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm hàng là nguyên liệu đầu vào của sản xuất nhưng trong nước chưa sản xuất hoặc có sản xuất nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh. Điều chỉnh tăng thuế trong khuôn khổ cam kết WTO, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất trong nước, kiềm chế nhập siêu.
Giãn thời gian ân hạn nộp thuế đối với một số ngành hàng phù hợp với chu kỳ sản xuất và tiêu thụ (đóng tàu, sản xuất cơ khí…). Thực hiện tốt chính sách về ân hạn thời hạn nộp thuế nhập khẩu (275 ngày) đối với các vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu, rút ngắn thời gian thông qua hàng hóa, đơn giản thủ tục hoàn thuế, quyết toán thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu.
Quy định rõ và phù hợp tỷ lệ phế phẩm, phế liệu thu được trong quá trình nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu không phải chịu thuế nhập khẩu.
Trong tháng 12/2024, Bộ trưởng bộ tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình ủy ban Quốc hội luật Thuế thu nhập cá nhân theo hướng hỗ trợ khó khăn cho các đối tượng nộp thuế, lùi thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân đến 01/07/2025 mới thực hiện.
Thứ ba là tập trung kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Đối với kích cầu đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư, xây dựng để kịp thời điều chỉnh những bất cập làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư; khẩn trương xây dựng luật sửa đổi, bổ sung các luật về đầu tư, xây dựng. Đối với các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cho phép tiếp tục giải ngân số vốn còn lại của năm 2024 đến hết tháng 6/2025. Đối với các dự án, công trình quan trọng, cấp bách nhưng chưa bố trí được nguồn vốn, trong đó có dự án tái định cư các khu kinh tế, các bộ ngành và địa phương chỉ đạo các chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục đầu tư và chủ động làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xử lý nguồn vốn, kể cả việc tạm ứng ngân sách nhà nước để thực hiện. Đồng thời tạm hoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch năm 2025, trừ các khoản đã tạm ứng năm 2025 để hoàn thành trong năm 2024. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng chính phủ ngay trong tháng 12 danh mục các dự án và mức vốn được hoãn thu hồi. Đối với các dự án, công trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ, cho phép điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với các dự án đã có trong danh mục được Ủy ban thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao; trên cơ sở đó thực hiện việc điều hòa vốn giữa các dự án, công trình và được thanh toán theo đúng tiến độ. Đồng thời cho phép tiếp tục giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ còn lại của năm 2024 trong năm 2025. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan hoàn thành phương án phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ năm 2025; bổ sung các dự án cấp bách khác trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục để triển khai thực hiện. Các công trình danh mục trái phiếu đường nông thôn, trường học, bệnh xá cho phép đầu tư hoàn thành đúng tiến độ kéo dài chỉ tiêu Chính phủ làm tiếp trong năm, hạ lãi suất ngân hàng xuống dưới 10%. Tạm ứng từ nguồn trái phiếu Chính phủ khoảng 1.500 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi, nâng cao năng lực phòng chống lụt bão vùng đồng bằng sông Hồng… Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì ban hành các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn FDI và ODA, nhất là các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao, có giá trị xuất khẩu lớn, những dự án giải quyết việc làm; phấn đấu năm 2025 thực hiện giải ngân các nguồn vốn trên không thấp hơn mức thực hiện trong năm 2024. Giao Bộ Kế hoạch đầu tư cho phép cấp quyết định đầu tư được chỉ định thầu các dự án có mức vốn tối đa không quá 5 tỷ đồng/ dự án tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời chịu trách nhiệm các quyết định của mình. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án, công trình có quy mô lớn được tạo điều kiện tối đa về đất đai, tiếp cận nguồn vốn, giải phóng mặt bằng, lãi suất. Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chủ động tham gia các dự án, công trình đầu tư hạ tầng quan trọng như cảng biển, điện, đường cao tốc, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế để góp phần đẩy nhanh tiến độ và kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội của đất nước. Bộ xây dựng nhanh chóng thực hiện đề án xây dựng quỹ nhà ở xã hội giai đoạn 2025-2015; Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành cơ chế phù hợp để đảm bảo khuyến khích đầu tư xây dựng nhà ở công nhân tại các khu công nghiệp. Thực hiện các biện pháp thúc đẩy đầu tư xây dựng nhà giá rẻ cho người thu nhập thấp, các đối tượng chính sách, nhà ở cho người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung, nhà ở cho học sinh, sinh viên.
Đối với kích cầu tiêu dùng, Chính phủ xác định: tiếp tục điều hành giá theo cơ chế thị trường đối với các mặt hàng điện, than, nước sạch, cước vận chuyển xe buýt v.v.. Đồng thời tiếp tục phát triển hệ thống phân phối các mặt hàng thiết yếu, trong đó tập trung các mặt hàng lương thực, xăng dầu, phân bón, sắt thép, xi măng và thuốc chữa bệnh; chống gian lận, đầu cơ, gây mất ổn định thị trường. Phát triển mạng lưới phân phối, hệ thống bán lẻ, nhất là ở vùng sâu vùng xa để cung cấp vật tư và hàng tiêu dùng thiết yếu. Các bộ ngành liên quan tăng cường các biện pháp quản lý thị trường, giá cả, chất lượng hàng hóa; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là kinh doanh trái phép, trốn thuế, liên kết độc quyền… Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức các đợt hạ giá bán hàng để kích thích tiêu dùng.
Ngoài ra, Chính phủ cũng sẽ quan tâm thực hiện hai nhóm giải pháp cuối là đảm bảo an sinh xã hội và tổ chức điều hành, trong đó coi trọng công tác dự báo, phân tích, thông tin tuyên truyền nhằm tránh tâm lý hoang mang trong dân chúng. Đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường chăm lo cho đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng thiên tai, lũ lụt không để bị thiếu đói (bảo hiểm thất nghiệp, triển khai hỗ trợ 61 huyện nghèo và các vùng bị thiên tai).
4.3. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Cơn bão khủng hoảng tài chính đang hiện hữu và để lại những ảnh hưởng nặng nề đối với nền kinh tế Việt Nam mặc dù nước ta chịu tác động từ khủng hoảng sau nhiều nước phát triển khác trên thế giới. Xuất phát từ những đặc điểm riêng có của kinh tế Việt Nam, chúng ta cần phải có những chính sách hợp lý để ngăn chặn ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, điều chỉnh lại cấu trúc nền kinh tế theo hướng ổn định nhằm phát triển bền vững hơn trong tương lai. Chúng ta cần phải nắm bắt chính xác tình hình diễn biến của nền kinh tế để có thể đưa ra những chính sách can thiệp phù hợp và nhanh chóng mang lại kết quả hơn.
Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi đang phát triển và hội nhập với thế giới có độ mở của nền kinh tế cao, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhiều năm liên tục. Nhưng chúng ta lại gặp phải liên tiếp các khó khăn, cuối năm 2023 và năm 2024 tình hình lạm phát trong nước rất cao, đến cuối năm 2024 và đầu năm 2025 khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế thế giới lại tác động mạnh đến nước ta. Trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn như thế, bản thân nền kinh tế cũng bộc lộ nhiều điểm yếu kém trong các khâu quản lý vĩ mô và thực hiện các chính sách tăng trưởng kinh tế. Nước ta tận dụng lợi thế đất nước vốn có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào và rẻ để tập trung đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh hướng tới xuất khẩu đặc biệt chú trọng đến các ngành hàng gia công thâm dụng nhiều lao động là một hướng đi đúng. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của nước ta chủ yếu là các mặt hàng gia công, nguyên liệu thô, các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật thấp nên giá trị xuất khẩu chưa cao. Trong khi đó, để sản xuất hàng xuất khẩu chúng ta lại phải nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài, phần lớn các hàng hóa, máy móc thiết bị hiện đại, ta đều phải nhập khẩu từ các nước khác với giá khá cao. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư cho các công trình, dự án trọng điểm trong nước. Nhưng việc sử dụng các nguồn vốn nước ngoài, giải ngân nguồn vốn, thực hiện các dự án chưa thật sự hiệu quả. Những bất cập trong xu hướng phát triển kinh tế của chúng ta do hậu quả của sự lệch lạc về cấu trúc của nền kinh tế, do hậu quả tích tụ từ những chính sách kinh tế trước đây. Mới đây những ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu làm sụt giảm cầu xuất khẩu, suy giảm cầu đầu tư của khu vực doanh nghiệp tiếp tục làm nền kinh tế rơi vào tình trạng nguy hiểm. Với những khó khăn hiện tại của nền kinh tế, Chính phủ nên thông qua những chính sách can thiệp phù hợp vừa ngăn chặn suy giảm kinh tế vừa điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế, phát huy những thế mạnh của nền kinh tế đồng thời tìm cách khắc phục những yếu kém trong bản thân nền kinh tế.
Trước hết, trong điều kiện suy giảm kinh tế và những bất ổn tài chính đang gây ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cần phải thực hiện đồng bộ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong khu vực dân cư và của cả Chính phủ, đồng thời thực hiện chính sách linh hoạt về tỷ giá nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm và kích thích nền kinh tế phát triển. Trong đó, việc sử dụng gói giải pháp kích cầu là biện pháp quan trọng nhất hiện nay. Vấn đề đặt ra là nguồn vốn dành cho gói kích cầu phải lấy từ nguồn nào, liều lượng bao nhiêu là đủ, nên kích cầu vào những khu vực nào của nền kinh tế, cách thức thực thi gói kích cầu cụ thể như thế nào để hiệu quả mang lại là cao nhất. Vì thực tế cho thấy, bất kỳ một chính sách can thiệp nào khi tác động vào nền kinh tế cũng đều có những tác động phụ đi kèm với những mặt tích cực mà chính sách đó mang lại. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
4.3.1. Chính sách tiền tệ mở rộng
Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền) được thực hiện nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước thông qua nhiều kênh khác nhau như giảm lãi suất cho vay, bù lãi suất, đảo nợ dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Vì những khó khăn hiện nay của nền kinh tế xuất phát từ tình trạng sản lượng của nền kinh tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng. Hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được do vướng phải những bất lợi từ thị trường thế giới đã khiến cho nhiều doanh nghiệp của nước ta khó có thể duy trì được sản xuất. Đã có không ít những nhà máy, xí nghiệp chuyên gia công làm hàng xuất khẩu phải cắt giảm sản lượng, công nhân phải nghỉ bớt giờ làm thậm chí là mất việc. Không bán được hàng, khối lượng hàng tồn kho ngày càng lớn khiến các doanh nghiệp không có vốn để đầu tư cho sản xuất tiếp.
Khi các NHTM thực hiện việc giảm lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giúp các loại hình doanh nghiệp này có thể tiếp cận vốn để đầu tư cho sản xuất. Tuy nhiên, chính sách này tập trung ưu tiên cho một nhóm đối tượng chứ không dành cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất. Điều này gây trở ngại cho các doanh nghiệp vì phải chứng minh với các NH rằng doanh nghiệp mình thuộc đúng đối tượng được ưu tiên. Thêm vào đó, không phải tất cả các doanh nghiệp thuộc đối tượng ưu tiên đều có khả năng sản xuất và kinh doanh hiệu quả, có một số doanh nghiệp lợi dụng sự ưu tiên của Chính phủ để vay vốn nhưng không đầu tư cho sản xuất mà làm việc khác hoặc không thể nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của công ty mình. Từ đó, dẫn đến thua lỗ, phá sản và không trả được nợ cho Ngân hàng, trong điều kiện kinh tế toàn cầu suy thoái, nhu cầu tiêu dùng giảm nhiều thì kịch bản trên vẫn thường xảy ra.
Sau 2 tháng thực hiện kể từ khi Chính phủ giao cho các NHTM thực hiện việc điều chỉnh lãi suất theo hướng ưu tiên việc cho các đối tượng là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất gia công hàng may mặc, da giày, các cơ sở sản xuất và chế biến hàng nông lâm sản xuất khẩu( kể từ tháng 12/2024), số doanh nghiệp được vay vốn không nhiều. Ngoài những khó khăn do thủ tục vay vốn rườm rà nêu trên còn một khó khăn nữa xuất phát từ bản thân các doanh nghiệp vì hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng thời gian cho vay giảm lãi suất của các Ngân hàng chỉ có 8 tháng, không đủ thời gian để các doanh nghiệp có thể đầu tư cải tiến sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường cho sản phẩm của mình thì làm sao doanh nghiệp có thể bán được hàng, giải quyết được lượng hàng tồn trong kho và như vậy doanh nghiệp khó có thể thu hồi vốn để trả nợ cho Ngân hàng và có lãi. Tâm lý lo ngại trên đã khiến không ít các doanh nghiệp chần chừ không vay vốn mà tìm cách khác để vực dậy doanh nghiệp vượt qua cơn khủng hoảng. Vì vậy, để chính sách tiền tệ mở rộng thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn ngành Ngân hàng cần tìm hiểu thêm về đặc điểm sản xuất của các doanh nghiệp để có sự điều chỉnh chính sách ưu đãi về lãi suất thật hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước ta dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Đồng thời NHNN cũng phải có những quan tâm kiểm soát cho được tổng phương tiện thanh toán hiện nay của NHTM, dư nợ tín dụng ở các khu vực đầu tư: sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, bất động sản, chứng khoán..để thực hiện công cụ thị trường trong việc hỗ trợ vốn cho các NHTM gặp khó khăn trong thanh khoản, quy định cho các ngân hàng một tỷ lệ DTBB hợp lý, đẩy mạnh việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc, ngân hàng, công ty nhằm thu hút tiền thừa trong dân cư cho các chính sách kích cầu nền kinh tế, bên cạnh đó NHNN phải kiểm soát chặt chẽ mức lãi suất trên thị trường. Có như vậy, hiệu quả từ chính sách kích cầu đầu tư cho khu vực doanh nghiệp mới mang lại kết quả tốt đẹp và nền kinh tế mới phục hồi nhanh được. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Bên cạnh những tác động tích cực của chính sách tiền tệ mở rộng đối với việc kích cầu đầu tư và sản xuất trong nước, khi thực thi chính sách này chúng ta có thể gặp phải những hệ quả sau. Việc kích thích đầu tư và tiêu dùng chắc chắn sẽ kéo theo sự gia tăng mạnh nhập khẩu các mặt hàng nguyên vât liệu, máy móc, hàng tiêu dùng…từ đó sẽ làm tăng cầu về ngoại tệ. Mặt khác việc tài trợ cho gói kích cầu thông qua NHNN đã làm tăng cung nội tệ trong nước. Lúc đó, để duy trì tỷ giá hối đoái NHNN buộc phải can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách bán ngoại tệ ra thị trường, gây sức ép về tính thanh khoản đối với hệ thống các NHTM, làm thâm thủng dự trữ ngoại hối, phá giá đồng nội tệ và cuối cùng là gây ra lạm phát.
- Hình 4.11 Tăng Tổng Cầu Làm Tăng Giá và Sản Lượng GDP.
Ngoài ra, theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế để chính sách tiền tệ mở rộng phát huy được mặt tích cực trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định hệ thống tài chính, Chính phủ cần phải có những quy định yêu cầu hệ thống ngân hàng có những chính sách hướng đến các lĩnh vực ưu tiên, tăng cường việc mua bán, sáp nhập các thể chế tài chính nhằm đảm bảo tính an toàn lớn mạnh của hệ thống tài chính, đồng thời phải tăng cường các hoạt động nâng cao trình độ công nghệ và kiểm soát các loại hình đầu tư rủi ro của hệ thống ngân hàng trên thị trường vốn đảm bảo không để xảy ra tình trạng bong bóng dẫn đến nguy cơ khủng hoảng tài chính.
4.3.2. Chính sách tài khóa mở rộng: Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Trong bối cảnh nền kinh tế lâm vào suy thoái, để vực dậy nền kinh tế rất nhiều nước đã chọn giải pháp tăng chi tiêu và đầu tư công. Thực tế cho thấy đây là giải pháp đem lại ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực nhất đối với một nền kinh tế đang bị tổn thương, đồng thời qua việc thực thi chính sách tài khóa mở rộng chúng ta còn có thể điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế theo hướng hợp lý, đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững sau này. Tuy nhiên, việc thực thi chính sách tài khóa mở rộng như thế nào để mang lại hiệu quả mong muốn lại là một vấn đề cần phải xem xét thật kỹ lưỡng. k thôn lên thành phố làm việc phải quay trở về quê do không có việc làm. Để tạo thêm nhiều việc làm cho khu vực nông thôn, Chính phủ nên có những chính sách ưu đãi về lãi suất cho nông dân vay mua thiết bị vật tư nông nghiệp, cải tiến và phát triển sản xuất. Tại các thành phố, Chính phủ nên đầu tư xây dựng các khu nhà ở giá rẻ cho công nhân và những người có thu nhập thấp xung quanh các khu công nghiệp. Đồng thời, mở các cơ sở dạy nghề với phí hỗ trợ giúp lao động tìm được việc làm phù hợp thay thế công việc cũ, tăng thu nhập của người dân thì tiêu dùng cũng tăng theo khi đó các chính sách kích cầu mới thực sự hiệu quả. Chính phủ cũng nên có những chính sách ưu đãi về thuế với những dự án đầu tư xây dựng cơ bản nhà ở dành cho sinh viên, học viên các cơ sở đào tạo. Đầu tư Nhà nước cần hướng vào phát triển con người, đầu tư mạnh vào giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thông qua đó người lao động có việc làm, có thu nhập thì mới có thể phát triển bền vững thị trường trong nước. Nhà nước chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mà khu vực ngoài nhà nước không muốn đầu tư, không được phép đầu tư hay không đủ tiềm lực để đầu tư. Đối với đầu tư Nhà nước vào các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nhà nước cần phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, tránh tình trạng đầu tư ồ ạt, tràn lan, kém hiệu quả, rủi ro cao và tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thiếu bình đẳng.
Các chính sách kích cầu cần ưu tiên cho những doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để sản xuất ra các sản phẩm không chỉ hướng đến xuất khẩu mà còn có khả năng phát triển thị trường tiêu thụ nội địa nhằm tạo cho doanh nghiệp thế chủ động nhất là trong bối cảnh thị trường thế giới khó khăn do suy giảm kinh tế. Chính phủ cũng nên điều chỉnh lại mô hình kinh tế định hướng xuất khẩu, chúng ta không nên tăng cường xuất khẩu bằng mọi giá, xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô, nông thủy sản sơ chế có giá trị thấp, phụ thuộc quá nhiều vào thị trường quốc tế. Cần phải mạnh dạn cơ cấu lại xuất khẩu, các mặt hàng và thị trường xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu Việt Nam, chú ý nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới.
Chính phủ chi tiêu nhiều hơn cho các gói giải pháp kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát triển là một giải cấp bách cần thực hiện để cứu lấy nền kinh tế, nhưng mức độ tác động của gói chính sách này tới đâu và những hệ quả của chính sách đối với sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế vẫn chưa biết chắc chắn được. Nguồn vốn để thực hiện các gói kích cầu có thể được tài trợ từ NSNN, phát hành trái phiếu, miễn giảm thuế, quỹ dự phòng hoặc quỹ dự trữ ngoại hối…Dù lấy từ nguồn nào thì quy mô chi ngân sách của nước ta hiện nay cũng đã nhiều hơn rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới (Bảng 4.4). Nhất là trong tình hình khủng hoảng kinh tế đã làm nguồn thu ngân sách của chúng ta giảm đáng kể thì việc Chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn sẽ làm ảnh hưởng đến sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế trong tương lai. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
- Bảng 4.4 So Sánh Quốc Tế: Quy Mô Chi Ngân Sách (%GDP)
Theo nhiều dự báo mới nhất, tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta năm 2025 chỉ đạt khoảng 5-6% (giảm từ 0,5%-1,5% so với mức Quốc hội thông qua. Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp giảm, giá trị các mặt hàng nông sản giảm mạnh (cà phê 50%, cao su 55%, gạo 60%…), sản lượng ô tô tiêu thụ cũng giảm tới 34% đã làm lượng thuế thu được giảm rõ rệt. Xuất khẩu dầu thô vốn là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn (hơn 20%) trong tổng thu ngân sách nhà nước (Hình 4.12)nhưng dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu dầu thô đã liên tục rớt giá từ 140USD/ thùng xuống chỉ còn 40-50 USD/ thùng (giảm khoảng 20% so với giá dự toán) dự tính sẽ làm giảm đi 6% tổng thu ngân sách. Hơn nữa, thuế là nguồn thu chính của nhà nước cũng giảm đi đáng kể thông qua việc thực thi các chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp để kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Tất cả những nguyên nhân trên sẽ khiến nguồn thu ngân sách của chúng ta năm 2025 phải hao hụt một lượng lớn. Những năm qua để đối phó với những biến cố của nền kinh tế, nước ta liên tục phải chi một khoản lớn từ NSNN cho đầu tư và phát triển, giải quyết hậu quả của thiên tai, dịch bệnh xảy ra trong nước…Theo dự toán của Bộ tài chính, bội chi ngân sách của Việt Nam qua các năm 2023, 2024 khoảng chừng 5% GDP và thường được bù đắp bởi các khoản vay từ nước ngoài hay vay nợ trong nước.
- Hình 4.12 Cơ Cấu Nguồn Thu Ngân Sách (%GDP), 2014-2024
Năm nay, tình hình kinh tế thế giới khó khăn, hơn nữa Nhật lại tạm ngừng cấp vốn ODA cho nước ta nên việc bù đắp bội chi ngân sách bằng vay nợ nước ngoài là khó thực hiện được. Điều này đồng nghĩa với thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong năm nay sẽ rất cao nếu như chúng ta không tìm ra giải pháp bù lại khoản vốn khổng lồ cho các gói kích cầu trong nước. Thâm hụt ngân sách nhiều sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế và song hành cùng với thâm hụt ngân sách luôn là suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy còn bất đồng về con số chính xác song nhiều nhà kinh tế trên thế giới đã thống nhất rằng mức chi tiêu Chính phủ tối ưu với tăng trưởng kinh tế là khoảng 15-25% giá trị GDP. Rõ ràng quy mô chi tiêu của Chính phủ ta trong gói kích cầu lần này ( khoảng 30% GDP) là một khoản chi khá lớn. Cái giá phải trả để phục hồi nền kinh tế vẫn chưa lường trước được. Chính phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan cần phải cắt giảm đi những khoản chi tiêu không cần thiết, sử dụng thật hợp lý và hiệu quả nguồn vốn kích cầu nhằm làm giảm những tác động phụ của chính sách tới sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế.
- Hình 4.13 Thâm Hụt Ngân Sách và Tăng Trưởng Kinh Tế năm 2014-2024.
Như đã nói ở phần trên, việc giảm, giãn hoặc miễn thuế cho một số đối tượng cũng nằm trong gói giải pháp kích cầu thông qua việc mở rộng tiền tệ qua thuế. Quá trình thực thi chính sách này cũng gặp khó khăn do việc xác định đúng đối tượng thụ hưởng ưu đãi từ chính sách rất nhiều thủ tục, mất thời gian, dễ gây sự bất đồng, thiếu niềm tin vào sự công tâm của của các cơ quan đại diện thực thi chính sách của Chính phủ. Hơn nữa, tổng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta hiện nay không nhiều chỉ khoảng 100 tỷ đồng, do vậy lượng thuế mà các doanh nghiệp được miễn, giảm hay trả chậm sẽ không nhiều. Chính sách giãn thuế thu nhập đến nửa đầu năm 2025 là thích hợp trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên để chính sách này mang lại hiệu quả tích cực rõ ràng hơn, Chính phủ nên miễn thuế thu nhập thay vì giãn thuế cho đến hết năm 2025. Mặc dù, chính sách ưu đãi về thuế có thể thúc đẩy người tiêu dùng và các doanh nghiệp chi tiêu nhiều hơn, tăng cường đầu tư trong nước nhưng trong tình hình bội chi ngân sách như hiện nay, việc thực thi các chính sách ưu đãi về thuế cũng sẽ ảnh hưởng đến các khoản chi ngân sách khác và làm hạn chế tác động của gói kích cầu.
4.3.3. Chính sách tỷ giá linh hoạt Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Việt Nam là một nền kinh tế khá trẻ trong khu vực và thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài và xuất khẩu. Chính vì đặc điểm này mà quá trình điều hành các chính sách liên quan đến tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế của nước ta. Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng, giá hàng hóa trên thế giới có xu hướng giảm dần, thị trường tiêu thụ hạn chế thì việc lựa chọn một tỷ giá hối đoái đúng đắn sẽ góp một phần không nhỏ trong việc hỗ trợ cho các chính sách kích cầu khác vực dậy nhanh nền kinh tế. Từ trước đến nay, NHNN luôn giữ cho VND yếu hơn các đồng ngoại tệ mạnh khác để tạo ra sức cạnh tranh về giá cho hàng xuất khẩu của nước ta so với hàng hóa của các nước khác. Và kết quả mang lại từ chính sách này đã giúp cho tổng giá trị hàng xuất khẩu của ta tăng lên nhiều, đóng góp một phần lớn cho tổng giá trị GDP của nước ta.
Suy giảm kinh tế hiện nay tại Việt Nam là do những tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho dòng vốn FDI vào nước ta giảm, thị trường hàng hóa xuất khẩu ế ẩm, không có nhiều đơn đặt hàng để các doanh nghiệp duy trì sản xuất, dòng kiều hối từ các quốc gia khác cũng giảm nhiều, kéo theo đó là sự trì trệ trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế như sự đóng băng thị trường bất động sản, các hoạt động của thị trường chứng khoán ì ạch không còn sôi động như thời gian trước đó nữa. Đây là tình trạng chung mà nhiều nước theo đuổi chính sách tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài đang phải gánh chịu. Tại Mỹ, trung tâm của cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng bất ổn của hệ thống tài chính và thâm hụt thương mại gia tăng mạnh trong mấy năm gần đây đã làm đồng đô la suy yếu nhiều. Trong bối cảnh thị trường thế giới như thế thì chính sách neo giá VNĐ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu không còn phù hợp nữa. Thứ nhất, khi các nước nhập khẩu hàng Việt Nam rơi vào suy thoái thì giải pháp hữu hiệu mà Chính phủ các nước này thường làm để ngăn chặn suy giảm kinh tế là kích cầu nội địa bằng nhiều chính sách ưu đãi về thuế, lãi suất, các chính sách khuyến khích dùng hàng trong nước. Khi đó, dù cho hàng xuất khẩu Việt Nam có rẻ hơn đi nữa thì nhu cầu tiêu dùng hàng Việt cũng không tăng bao nhiêu. Thứ hai, sự mất giá của USD đồng nghĩa với việc giá thành các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu cho sản xuất trong nước tăng lên, việc sản xuất trong nước đã gặp khó khăn do không có thị trường tiêu thụ mà giá nguyên liệu đầu vào còn tăng lên đương nhiên sẽ làm các doanh nghiệp không muốn tiếp tục đầu tư cho sản xuất nữa. Thứ ba, trong quý 1/ 2025 vừa qua lần đầu tiên sau nhiều năm chúng ta xuất siêu do giá trị nhập khẩu giảm đi rất nhiều so với tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Tình trạng này cho thấy nền kinh tế đã suy giảm nặng nề, vì sản xuất trong nước của ta thường phải nhập khẩu một lượng lớn các nguyên liệu đầu vào như nguyên phụ liệu, xăng dầu, xi măng, sắt thép, máy móc…mà nhập khẩu giảm chứng tỏ đã có sự sụt giảm mạnh đầu tư và tiêu dùng trong nước. Như vậy, để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, kích thích nền kinh tế, NHNN nên để VND lên giá. Nếu để VND mạnh lên so với USD thì sẽ làm giá nhập khẩu đầu vào cho sản xuất rẻ hơn. Kết hợp cùng những chính sách ưu đãi về thuế xuất, nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp và tỉ lệ lãi suất vay nợ ưu tiên chắc chắn sẽ có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư và sản xuất. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Khi có chính sách tỷ giá phù hợp sẽ tạo ra một tác động tương hỗ làm các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đạt hiệu quả cao hơn. NHNN nên nới rộng biên độ dao động của VND và cho phép VND tăng giá hơn nữa so với USD. Để VND lên giá cũng là một điều phù hợp với tình hình hiện nay khi mà nguồn vốn đầu tư nước ngoài và dòng kiều hối đổ vào Việt Nam sụt giảm mạnh do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. NNHN không cần phải mua lại lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam mà để cho cơ chế thị trường tự điều tiết. Tăng giá VND sẽ làm giảm giá nguyên vật liệu nhập khẩu từ đó sẽ khuyến khích nhập khẩu, khuyến khích tăng cung hàng hóa, giá hàng hóa trong nước cũng sẽ rẻ hơn. Và như thế, tăng giá VND sẽ kích cầu tiêu dùng nội địa.
VND lên giá sẽ làm giảm lãi suất của đồng nội tệ, điều này kết hợp với các chính sách tiền tệ mở rộng sẽ khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn vay vốn đầu tư cho sản xuất hơn. Hơn nữa, tăng giá VND tạo thêm lòng tin của người dân và các nhà đầu tư vào khả năng tăng vị thế của VND so với các ngoại tệ khác. Tăng giá VND còn có tác dụng kìm hãm hiện tượng đô la hóa và vàng hóa đang phát triển mạnh ở Việt Nam thời gian qua.
Tuy nhiên, VND tăng giá cũng đồng nghĩa với việc giá xuất khẩu hàng Việt Nam sẽ tăng, xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng sẽ làm gia tăng thâm hụt thương mại. Việc nâng giá tương đối VND so với USD cũng sẽ làm tăng cầu về ngoại tệ rất lớn, đòi hỏi phải sử dụng một lượng dự trữ ngoại tệ lớn để điều tiết và lúc đó nếu VND được nâng giá quá cao sẽ gây ra áp lực phá giá đồng nội tệ. Theo thông tin từ các ngân hàng thương mại trong nước, lượng ngoại tệ đang được lưu thông ở nước ta hiện nay khá lớn khi cần Nhà nước có thể huy động nguồn ngoại tệ này để điều tiết tỷ giá VND hợp lý. Do đó, chúng ta không cần phải băn khoăn nhiều khi quyết định nâng giá VND trong bối cảnh hiện nay. Trong ngắn hạn, chúng ta tạm thời chấp nhận thâm hụt thương mại để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt Nam đồng thời khuyến khích tiêu dùng nội địa. Sau khi khủng hoảng kinh tế được ngăn chặn, nền kinh tế thế giới phục hồi trở lại chúng ta đã có một cơ cấu kinh tế vững chãi, nền sản xuất tiên tiến, khi đó thị trường thế giới sẽ thuận lợi hơn và việc giảm thâm hụt thương mại là việc không quá khó đối với nước ta. VND vốn yếu hơn nhiều ngoại tệ khác cho dù chúng ta có tăng giá VND lên thì hàng xuất khẩu của ta vẫn rẻ so với các quốc gia cũng sản suất hàng xuất khẩu khác. Hơn nữa, hàng xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là nông- thủy sản, hàng may mặc, sản phẩm thô có hàm lượng chế biến thấp, đây là những loại hàng hóa có độ co giãn cầu theo giá ít cho nên phá giá VND nhằm giảm giá xuất khẩu chưa hẳn đã làm tăng cầu. Những chính sách ưu đãi về thuế xuất khẩu, những ưu tiên dành cho các doanh nghiệp chuyên gia công làm hàng xuất khẩu sẽ tạo ra một hiệu ứng mạnh góp phần thúc đẩy xuất khẩu nước ta vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay. Ngoài ra, các chính sách kích cầu nên ưu tiên tập trung vào những ngành hàng không phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, có khả năng giải quyết vấn đề công ăn việc làm nhanh chóng. Cụ thể, Chính phủ nên có những chính sách ưu đãi về thuế, về lãi suất cho các doanh nghiệp dân doanh vừa và nhỏ sản xuất các mặt hàng có nguồn nguyên liệu nội địa như mây tre, đồ mỹ nghệ, các sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp; đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này xây dựng thương hiệu để có thể đảm bảo thị trường tiêu thụ nội địa và cả xuất khẩu ra nước ngoài.
Để các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế mang lại hiệu quả thiết thực thì ngoài việc phải thực hiện đồng bộ, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh trước những diễn biến của kinh tế thế giới và của bản thân nền kinh tế Việt Nam; Nhà nước còn phải mau chóng cải cách các thủ tục hành chính đơn giản, gọn nhẹ hơn. Kiểm soát hệ thống thông tin trước khi thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đảm bảo sự minh bạch, chính xác và củng cố niềm tin của người dân.
Thực tế nhiều chính sách ban hành ra với mục đích tạo những điều kiện hấp dẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sự đầu tư của các doanh nghiệp trong nước nhưng vì thủ tục nhiêu khê, mất nhiều thời gian và những khó khăn trong việc xác định đối tượng hưởng ưu tiên đã làm cho các chính sách này mất đi tác dụng ban đầu. Trong bối cảnh tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sụt giảm mạnh như hiện nay thì cải cách thủ tục hành chính, tạo một môi trường đầu tư an toàn, hấp dẫn là điều cần kíp để chúng ta vượt qua cơn sóng gió và phát triển vững mạnh về sau.
Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng dẫn đến sự sụt giảm đầu tư đó là sự suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và của người tiêu dùng trước những dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế. Do lo sợ viễn cảnh không mấy tươi sáng của kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam sẽ làm hao hụt đi tài sản của mình mà không ít nhà đầu tư đã tạm ngưng hoặc trì hoãn thực hiện các dự án đầu tư vào Việt Nam; người tiêu dùng thì tiết kiệm nhiều hơn thay vì chi tiêu thoải mái như trước đây. Chính điều này đã khiến cho tổng cầu giảm nhanh, thị trường xuất khẩu và tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Nhất là trong bối cảnh mà các chuyên gia và tổ chức kinh tế uy tín trên thế giới như IMF, WB.. liên tục đưa ra những dự báo bi quan cho tình hình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trước tình hình đó, Chính phủ cần phải có những can thiệp cần thiết cùng với các cơ quan thông tin, báo chí tuyên truyền cho người dân hiểu rõ hiện nay khủng hoảng kinh tế đang tác động vào Việt Nam ở mức độ nào, công bố rộng rãi những chính sách cấp bách đang được thực hiện để tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhằm lấy lại niềm tin cho nhà đầu tư và người tiêu dùng trong nước vào năng lực điều hành và những phản ứng chính sách tích cực, kịp thời của Chính phủ.
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Nền kinh tế Việt Nam vừa mới thoát khỏi tình trạng lạm phát cao bắt nguồn từ những bất ổn vĩ mô ẩn chứa bên trong nền kinh tế nay lại rơi vào tình thế khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên tất cả những khó khăn đó không hẳn chỉ mang lại thách thức mới cho nền kinh tế còn non trẻ như Việt Nam mà còn đem đến cơ hội tốt để Việt Nam chấn chỉnh lại cơ cấu kinh tế, định hướng và phát triển nền kinh tế ổn định và bền vững trong tương lai.
5.1. Kết luận
Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu và rộng với kinh tế thế giới. Khủng hoảng tài chính toàn cầu và những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng đã khiến bức tranh kinh tế thế giới thêm phần ảm đạm, nhiều nền kinh tế lớn lần lượt rơi vào suy thoái. Dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, những dấu hiệu suy giảm kinh tế ở Việt Nam đang thể hiện ngày một rõ nét.
Từ cuối năm 2024, cán cân thương mại nước ta đã có biểu hiện sụt giảm giá trị xuất khẩu, liên tục trong những tháng cuối năm giá trị xuất khẩu giảm mạnh, đến tháng 11 đã xuống tới ngưỡng dưới 5 tỷ USD/tháng. Vì vậy, thâm hụt thương mại gia tăng nhanh. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhu cầu tiêu dùng giảm nên hàng hóa sản xuất ra không tìm được thị trường tiêu thụ, sản xuất trong nước đình đốn. Thêm vào đó, những rắc rối của hệ thống tài chính toàn cầu đã làm nguồn vốn tín dụng bị hạn chế, niềm tin của người tiêu dùng và của các nhà đầu tư sụt giảm nghiêm trọng thể hiện qua việc đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp vào nước ta giảm rõ rệt. Chỉ số VN-Index trên thị trường chứng khoán tiếp tục tụt dốc nhanh có lúc xuống tới gần ngưỡng 400 điểm. Các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách bán ròng để thu hồi vốn đầu tư vào lĩnh vực khác an toàn hơn làm nguồn vốn tín dụng trong nước bị thu hẹp. Tốc độ giải ngân các dự án rất chậm, một số dự án đầu tư phải tạm ngừng hoặc hoãn lại. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước khó có thể tiếp cận nguồn vốn để duy trì sản xuất trong khi hàng hóa sản suất ra không bán được, lượng hàng tồn kho tăng lên nhanh chóng khiến các nhà sản xuất buộc phải cắt giảm giờ làm và sa thải bớt công nhân. Tình trạng này xảy ra nhiều ở các tỉnh và thành phố có các khu công nghiệp lớn, các doanh nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu làm tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam tăng cao, đi kèm với nó là sự phức tạp của an sinh xã hội đã là vấn đề cấp bách đối với Chính phủ hiện nay.
Diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại nhiều quốc gia trên thế giới vì những tác động gián tiếp và trực tiếp từ cuộc khủng hoảng lần này đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia không loại trừ Việt Nam. Quý 1/2025, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt 3,1 %, giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước do các thành tố cấu thành GDP như tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu ròng đều giảm. Giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu, giá dầu thô giảm mạnh khiến nguy cơ thâm hụt thương mại thêm gia tăng. Nỗi lo về sự mất cân đối của nền kinh tế đang đè nặng lên vai của Chính phủ và các nhà làm chính sách Việt Nam trước những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và chính xác là sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Để kịp thời ngăn chặn đà suy thoái do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng thực thi các chính sách kích cầu để kích thích kinh tế thông qua chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng. Trong đó, Chính phủ ta cố gắng thông qua các gói kích cầu để cơ cấu lại cấu trúc nền kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quan tâm đến việc giải quyết việc làm cho người lao động bị mất việc, khôi phục lại niềm tin của các nhà đầu tư và người tiêu dùng, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh để đón đầu cơ hội sau cơn khủng hoảng. Bên cạnh việc thực hiện nhanh chóng và đồng bộ các chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng để các chính sách này hỗ trợ lẫn nhau và tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh; NHNN cũng cần phải có một chính sách tỷ giá linh hoạt, nới rộng biên độ dao động và để VND mạnh lên đồng thời có những can thiệp cần thiết để kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng nước ngoài.
5.2. Kiến nghị
Đề tài chỉ tập trung phân tích, nghiên cứu những tác động của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam qua một số các nhân tố của nền kinh tế như tình hình xuất nhập khẩu, đầu tư, thị trường tài chính và tỷ lệ thất nghiệp mà chưa đi sâu phân tích được hết toàn bộ những tác động của khủng hoảng đến nước ta. Khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn đang tiếp diễn và để lại nhiều hậu quả đối với các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Vì đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn khi mà khủng hoảng tài chính toàn cầu mới thực sự tác động đến ta mới chỉ trong vài tháng cuối năm 2024 và đầu năm 2025 nên những phân tích thảo luận về các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế do khủng hoảng phần lớn là dựa vào những suy luận từ thực trạng nền kinh tế và dự báo những ảnh hưởng tiếp theo. Đề tài cũng chưa có đủ thông tin để có thể kết luận giải pháp nào là hữu hiệu nhất để ngăn chặn ảnh hưởng khủng hoảng tài chính lúc này vì diễn tiến của khủng hoảng vẫn còn lan rộng với những biến chuyển mới. Mong rằng những hạn chế của đề tài sẽ được giải quyết trong những nghiên cứu tiếp theo. Khóa luận: KQNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính


Pingback: Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính