Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số bài học kinh nghiệm và gợi ý chính sách để phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM Ở VIỆT NAM
1. Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
Khi nghiên cứu hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở các nước trên thế giới, có thế thấy được hoạt động này có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia đó. Còn đối với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển, tình hình thực tế cho thấy nhu cầu cấp bách phát triển hình thức Đầu tư mạo hiểm để thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung, và phát triển khoa học công nghệ nói riêng. Xét tình hình thực tế Việt Nam hiện nay Đầu tư mạo hiểm có những vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, hoạt động Đầu tư mạo hiểm góp phần thúc đẩy phát triển một số ngành công nghệ cao cho nền kinh tế quốc dân. Trong khi ở Việt Nam, định hướng phát triển công nghệ cao là một trong những chiến lược phát triển CNH – HĐH của đất nước thì tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao trong nền kinh tế vẫn còn khá thấp. Ví dụ, Việt nam đã xây dựng định hướng phát triển công nghiệp phần mềm, trong đó xác định đây là một trong những ngành mũi nhọn trong 10 năm tới. Theo chiến lược, tốc độ phát triển của ngành sẽ đạt khoảng 20-25% hàng năm từ nay đến 2028. Đến năm 2028, ngành này sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 50.000 USD. So với tiềm năng hiện có về nguồn nhân lực, mục tiêu này hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Chính vì vậy, hình thành và phát triển Đầu tư mạo hiểm sẽ hỗ trợ đáng kể và giúp cho Việt nam đạt được những mục tiêu nêu ra trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao của mình.
Thứ hai, Đầu tư mạo hiểm làm đa dạng hóa nguồn vốn cho phát triển khoa học công nghệ, cũng như là kênh tài trợ cho những ý tưởng sáng tạo mới. Đầu tư cho khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay chủ yếu là đầu tư từ nhà nước, chiếm khoảng hơn 60%, năm 2018 lên đến 90%, nhưng giá trị đầu tư còn thấp chỉ chiếm 2% tổng chi ngân sách, khoảng 0,5 – 0,6% GDP. Đầu tư của khu vực doanh nghiệp và các nguồn khác cho phát triển Khoa học công nghệ là rất ít, chưa đến 0,1% GDP. Theo thống kê, ở các nước khác nguồn đầu tư của doanh nghiệp chiếm hơn 50%, có nước lên đến 70% tổng đầu tư cho Khoa học công nghệ. So sánh đầu tư cho KH&CN trên đầu người Việt Nam năm 2025 là khoảng 5 USD, ở Hàn Quốc là khoảng 50 USD, còn ở Trung Quốc năm 2022 là khoảng 20 USD. Tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc cho KH&CN từ ngân sách nhà nước so với khu vực ngoài nhà nước khoảng 1:3, còn ở Việt Nam thì ngược lại khoảng 5:1. Thêm nữa, vốn đầu tư cho Khoa học công nghệ ở nước ta cho những ý tưởng sáng tạo mới còn rất ít. Hàng năm, ngân sách nhà nước chủ yếu tài trợ cho các dự án nghiên cứu, mà các kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại trên giấy tờ, chưa có nguồn vốn để triển khai thực tế. Do đó, nếu thu hút được nguồn vốn Đầu tư mạo hiểm sẽ góp phần đưa những nghiên cứu này vào ứng dụng thực tế, phát triển những sản phẩm công nghệ mới. Ngoài ra, Đầu tư mạo hiểm có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là nguồn vốn nước ngoài tham gia đầu tư cho triển khai những ý tưởng sáng tạo mới. Như vậy, việc hình thành và phát triển Đầu tư mạo hiểm sẽ phù hợp với chủ trương sắp tới của Nhà nước về thương mại hoá các sản phẩm Khoa học công nghệ và khuyến khích phát triển KH&CN.
Thứ ba, Đầu tư mạo hiểm tạo ra nhiều công ty tư nhân vừa và nhỏ mới, sẽ thu hút số lượng nhân công tương đối lớn vào làm ở những công ty này, góp phần làm giảm áp lực thiếu việc làm cho nền kinh tế. Đồng thời, khi các doanh nghiệp này phát triển thì sẽ dùng vốn của doanh nghiệp tiến hành đầu tư phát triển các dự án khác.
2. Khái quát thực trạng hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Hình thức Đầu tư mạo hiểm xuất hiện đầu tiên ở Việt nam từ đầu những năm 2008, khi Việt Nam đang trong cao trào của chính sách mở cửa, dòng đầu tư nước ngoài chảy ồ ạt vào Việt nam. Đây cũng là lúc các nhà đầu tư mạo hiểm nước ngoài quan tâm đến thị trường Việt Nam và bắt đầu tiến hành hoạt động ở nước ta. Kể từ năm 2008 đến nay, Đầu tư mạo hiểm có thể nói đã có nhiều thay đổi thăng trầm. Căn cứ vào sự thăng trầm đó và những đặc điểm của Đầu tư mạo hiểm trong từng thời kỳ mà có thể chia quá trình hình thành và phát triển của Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam thành 2 giai đoạn: giai đoạn 2008-2020 và từ 2020 đến nay.
2.1 Giai đoạn 2008-2020
Từ năm 2008 đến năm 2010, Việt nam đã thu hút được 6 Quỹ Đầu tư mạo hiểm của các nhà đầu tư nước ngoài sang hoạt động. Các quỹ này có những đặc điểm chính như sau:
Về hình thức hoạt động: Trong thời gian này, do chưa có qui định luật pháp cho loại hình đầu tư này, nên các quỹ Đầu tư mạo hiểm này chỉ mở văn phòng đại diện ở Việt nam. Các quỹ này huy động vốn ở nước ngoài, niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Một số quỹ đầu tư hoàn toàn cho thị trường Việt nam, trong khi một số đầu tư cho cả một số nước trong khu vực châu Á, trong đó có Việt nam.
Về qui mô: Các quỹ này có qui mô vốn trung bình, dao động từ 20-80 triệu USD mỗi quỹ. Quy mô mỗi dự án các quỹ đầu tư cũng thường nhỏ, khoảng từ 0,5 đến 2 triệu USD một dự án.
Về đội ngũ cán bộ của Quỹ: những cán bộ quản lý chủ chốt là người nước ngoài. Đây là những người có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, đã hoạt động nhiều trong ngành tài chính nói chung và Đầu tư mạo hiểm nói riêng. Số nhân viên Việt Nam trong quỹ ít, chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ (xem Bảng 8). Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Về danh mục đầu tư: Danh mục đầu tư của Quỹ tương đối đa dạng, trong đó có Quỹ tập trung đầu tư cho doanh nghiệp qui mô lớn, có quỹ đầu tư cho doanh nghiệp qui mô nhỏ. Có quỹ chỉ tập trung đầu tư cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có quỹ đầu tư cả cho doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, trong danh mục đầu tư thực tế, các Quỹ đầu tư mạo hiểm này hầu hết chỉ tập trung vào các ngành sản xuất hàng hoá có khả năng cạnh tranh trên thị trường, không phải những ngành công nghệ cao. Các quỹ đầu tư này không xác định ngành đầu tư trọng tâm là công nghệ cao.
- Bảng 9: Một số thông tin về 4 quỹ Đầu tư mạo hiểm hoạt động tại Việt nam
Tuy nhiên, đến năm 2018, trong 6 Quỹ hoạt động trước đó thì 5 Quỹ đã rút vốn khỏi thị trường Việt nam, chỉ riêng Vietnam Enterprise Investment Ltd. vẫn còn hoạt động.
Cùng với xu hướng đầu tư và rút vốn khỏi thị trường Việt Nam nói trên của các Quỹ Đầu tư mạo hiểm, lượng vốn Đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam cũng tăng dần từ khoảng 10 triệu USD năm 2009 đến đỉnh cao là hơn 200 triệu vào những năm 2013-2017 và giảm dần trong những năm tiếp theo (xem biểu đồ 15).
- Biểu đồ 15 : Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 2009-2020
Theo nghiên cứu của MPDF, nhiều nguyên nhân dẫn đến sự rút vốn của các Quỹ như sau:
- Quản lý quỹ và chiến lược đầu tư của các quỹ chưa đảm bảo tính hiệu quả. Hầu hết các chuyên gia quản lý quỹ là người nước ngoài nên không am hiểu thị trường Việt Nam cũng như có những mối quan hệ rộng ở Việt nam. Thêm nữa, chiến lược đầu tư của các quỹ không tập trung, bị dàn trải ra nhiều ngành do đó bị thụ động và không có những chuyên gia giỏi. Ngoài ra, các quỹ cũng bị hạn chế trong việc tiến hành hoạt động đầu tư vào các doanh nghiệp của người Việt nam.
- Việt nam chưa có Thị trường chứng khoán dẫn đến việc các quỹ gặp khó khăn trong việc rút vốn đầu tư, vì Thị trường chứng khoán là kênh thoát vốn chủ yếu của các quỹ đầu tư.
- Môi trường kinh doanh trong giai đoạn này chưa khuyến khích khu vực tư nhân phát triển, chủ yếu ưu tiên, tạo điều kiện để phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Khu vực tư nhân kém phát triển làm hạn chế cơ hội đầu tư của các quỹ, vì đối tượng nhận đầu tư chủ yếu của các quỹ là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ khi khu vực này kém phát triển dẫn đến thiếu các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng, đủ điều kiện để nhận vốn đầu tư, đây là nguyên nhân dẫn đến các hoạt động đầu tư bị hạn chế. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
- Ngoài ra, sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á, các nước bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng trong khu vực đã thực hiện các chính sách cơ cấu lại do đó tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Như vậy, có thể nói 2008-2020 là giai đoạn bắt đầu hình thành loại hình Đầu tư mạo hiểm ở Việt nam. Tuy nhiên, những khoản đầu tư này mặc dù đầu tư vào những doanh nghiệp chưa niêm yết trên Thị trường chứng khoán nhưng đó không phải là những doanh nghiệp dựa vào công nghệ. Hay nói cách khác, đây không phải là những khoản đầu tư cho những dự án phát triển những ý tưởng công nghệ mới. Vì vậy, nếu hiểu theo định nghĩa hẹp về Đầu tư mạo hiểm như đã trình bày ở đầu bài viết thì những khoản đầu tư này chưa phải là Đầu tư mạo hiểm, hay nói cách khác là chúng ít có tác động đến phát triển công nghệ ở Việt nam.
- Bảng 10: Lĩnh vực đầu tư của một số quỹ Đầu tư mạo hiểm hoạt động ở Việt Nam (2008-2020)
2.2. Giai đoạn từ năm 2020 đến nay
Trong những năm đầu thế kỉ XXI, chứng kiến nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc, cả về quy mô cũng như tốc độ phát triển. Cùng với xu thế đó, hoạt động Đầu tư mạo hiểm bất đầu có những dấu hiệu khởi sắc tích cực hơn trước. Thêm vào đó là sự phát triển mạnh của Thị trường chứng khoán Việt Nam có tính thanh khoản cao đã thu hút sự quan tâm đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này đã hấp dẫn các nhà Đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư ở nước ta vì Thị trường chứng khoán là kênh thoát vốn chủ yếu của họ. Giai đoạn này hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau: Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Về hình thức hoạt động: Một số quỹ đã bắt đầu có những hoạt động đầu tư ở Việt Nam như Mekong Enterprise Fund và Vietnam Opportunity Fund. Nhiều quỹ khác cũng tỏ rõ dự định đầu tư vào Việt nam như Phan-xi-phăng (của các nhà đầu tư châu Âu và Đông Á), FMO (Thuỵ Sỹ), DEG (Đức) và một số quỹ của Hàn Quốc cũng đang chuẩn bị nghiên cứu thị trường để đầu tư vào Việt nam. Các quỹ này có hình thức hoạt động giống như các quỹ Đầu tư mạo hiểm trước đây, vẫn huy động nguồn vốn từ nước ngoài và niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Một số đầu tư hoàn toàn vào Việt nam, một số đầu tư chỉ một phần còn lại đầu tư vào các nước khác. Những quỹ này một số mang tính chất là quỹ Đầu tư mạo hiểm còn một số đầu tư cả vào các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, các quỹ được thành lập trong thời gian gần đây chủ yếu là các quỹ đầu tư chứng khoán, còn lại là các quỹ Đầu tư mạo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân, và đầu tư vào các sản phẩm, dịch vụ giải trí … Nguyên nhân là chủ yếu là thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển bùng nổ bắt đầu từ cuối năm 2023. (xem Phụ lục 1: Phân loại các quỹ hoạt động chủ yếu ở Việt Nam)
Về qui mô vốn: So với giai đoạn trước qui mô các quỹ Đầu tư mạo hiểm không có sự thay đổi nhiều, vốn giao động từ 50 – 100 USD, quy mô mỗi dự án đầu tư vẫn nhỏ, khoảng từ 0,5 – 2 triệu USD một dự án.
- Bảng 11: Tình hình Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Bảng 11 cho thấy lượng vốn được đầu tư trong tổng số vốn mà các quỹ nắm giữ tăng lên qua các năm nhưng vẫn chiếm một tỉ lệ rất thấp, nếu như năm 2020 tỉ lệ vốn mà các quỹ đầu tư được là 3 trong tổng số 114 triệu USD thì đến năm 2025 mới chỉ tăng lên 15 triệu USD trong tổng số 254 triệu USD, và nửa đầu năm 2026 con số này là 17 triệu USD trong tổng số là 268 triệu USD. Điều này cho thấy tỉ lệ vốn mạo hiểm được giải ngân là không đáng kể so với vốn điều lệ mà các quỹ Đầu tư mạo hiểm hiện có. Giải thích cho điều này, một cán bộ của quỹ Đầu tư mạo hiểm IDG Việt Nam cho rằng, nguyên nhân là hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn bắt đầu và nhà Đầu tư mạo hiểm chưa thật sự bị thuyết phục bởi các dự án của các doanh nghiệp trong nước. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
2.3 Thực trạng hoạt động đầu tư của các quỹ Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam hiện nay
Theo bảng thống kê của Mekong Capital (Phụ lục 1) thì các quỹ đầu tư ở Việt Nam đa phần được thành lập dưới hình thức tín thác do một công ty quản lý quỹ gọi vốn thành lập và quản lý, tất cả các quỹ này đều có sự tham gia của các nhà đầu tư hay các nhà quản lý người nước ngoài. Có thể thấy vai trò rất lớn của các công ty quản lý đầu tư trong thị trường đầu tư nói chung và Đầu tư mạo hiểm nói riêng ở Việt Nam. Ở Việt Nam có một số quỹ đầu tư khá lớn nhưng trong đó được biết đến nhiều nhất là Mekong Capital, Vina Capital, Dragon Capital và quỹ Đầu tư mạo hiểm IDG (IDGVF). Trong những quỹ vừa liệt kê thì, IDGVF là một quỹ dưới hình thức công ty cổ phần do tập đoàn dữ liệu quốc tế IDG thành lập vào Việt Nam từ năm 2022. Còn Mekong Capital, Vina Capital, Dragon Capital là những công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp (xem Phụ lục 2: Hoạt động đầu tư của một số công ty quản lý quỹ). Các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp thành lập nên một số quỹ con với những mục tiêu, chiến lược đầu tư khác nhau. Các quỹ dưới sự điều hành của các công ty quản lý có thể chỉ là một quỹ đầu tư thông thường, cũng có thể là quỹ đầu tư chứng khoán, một số rất ít là các quỹ Đầu tư mạo hiểm. Hay trong một quỹ đầu tư thông thường, có thể thực hiện một vài dự án đầu tư mang tính chất của Đầu tư mạo hiểm (xem Phụ lục 3: Các công ty nhận đầu tư của quỹ Mekong Capital). Các quỹ này vẫn chưa hẳn là một quỹ Đầu tư mạo hiểm ở chỗ, các quỹ này dù cũng đầu tư vào các doanh nghiệp mà không cần đạt cược, ký quỹ, và c̣ũng tham gia vào quá trình quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, danh mục các dự án đầu tư chưa thực sự nhằm vào các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao, các lĩnh vực mang tính rủi ro cao. Đa phần các quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp đã phát triển khá trên thị trường, có thể nắm được phần nhiều khả năng sinh lợi, mang lại hiệu quả tương đối và chắc chắn. Nhìn vào nước Mỹ, các nhà Đầu tư mạo hiểm, các quỹ Đầu tư mạo hiểm thực hiện đúng chức năng của họ, là đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Vì thế ngành công nghiệp cao của Mỹ mới phát triển vượt bậc như vậy. Những cái tên quen thuộc như Microsoft, Yahoo, google, IBM, Oracle, Intel … đều xuất phát từ những nguồn tài trợ đúng như bản chất từ tên gọi của hoạt động Đầu tư mạo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay chỉ có 2 quỹ chuyên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao là IDG VF và DFJ Vina Capital.
2.3.1 Hoạt động đầu tư của quỹ Đầu tư mạo hiểm IDG (IDGVF) Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Quá trình hình thành: Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Vietnam (IDGVF) được thành lập từ năm 2022 tại Việt Nam theo sáng kiến của ông Patrick McGovern, Chủ tịch tập đoàn IDG, nhằm góp vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) một trong những lĩnh vực mang lại lợi nhuận kinh tế cao, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng cho DN nói riêng và cả ngành công nghiệp Công nghệ thông tin nói chung. Với tổng vốn đầu tư ban đầu lên đến 100 triệu USD và dự kiến đầu tư trong vòng 5-7 năm. IDG dự định sẽ tăng vốn lên khoảng 300 triệu USD vào năm 2026 và IDG sẽ đánh giá lại toàn bộ quá trình đầu tư, con số này có thê lên đến 1 tỷ USD vào năm 2030 nếu hoạt động đầu tư vào Việt Nam thu được nhiều hiệu quả tích cực.
- Mục tiêu, quan điểm đầu tư của IDG:
Nhiều công ty công nghệ thông tin ở Việt Nam quá nhỏ đối với các nhà đầu tư vốn cổ phần tư nhân. Tuy nhiên thì IDGVF chỉ chuyên đầu tư vào các công ty công nghệ thông tin với một số vốn lớn. Bản thân các đại diện của IDG cũng cho biết rằng họ có nhận được các ý tưởng kinh doanh đột phá táo bạo và khả thi nhưng chưa nhiều như họ mong đợi. Các bản dự án cho thấy rằng khả năng về mọi mặt của doanh nghiệp rất đa dạng nhưng khâu quản lý và tiếp thị thị trường nước ngoài còn rất yếu và nhiều hạn chế. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của IDGVF vẫn kiên quyết theo đuổi kế hoạch đầu tư vào các ngành công nghệ cao. Thứ nhất là do tại thời điểm này thì Chính Phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách đối với quỹ đầu tư mạo hiểm nói riêng và các ngành đầu tư nói riêng ngày càng có hệ thống và ưu đãi. Quỹ sẽ vẫn dành 70% vốn đầu tư vào các lĩnh vực phát triển phần mềm, cơ sở hạ tầng viễn thông và dịch vụ internet. Hiện IDG đang lên chương trình thúc đẩy sự sáng tạo, tìm kiếm và bồi dưỡng tài năng đầu tư hiệu quả nhất. Thứ hai, IDG nhận thấy rằng ở Việt nam có rất nhiều cơ hội đầu tư song chưa có nhiều các nhà Đầu tư mạo hiểm. Trên sàn giao dich chứng khoán c̣ũng không có các công ty công nghệ thông tin. Trong khi đó, Việt Nam có nguồn nhân lực lớn cho phát triển công nghệ cao, nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học cũng như các sinh viên du học ở nước ngoài và tầng lớp Việt kiều hoạt động trong lĩnh vực này đang có xu hướng trở về nước có nền tảng vững chắc về công nghệ, kỹ thuật và internet…và quan trọng hơn cả là họ có hoài bão lớn với khát vọng làm giàu chân chính. Đó chính là lý do vì sao mà IDG quyết định thành lập một công ty Đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam để giúp đỡ những người trẻ tuổi có hoài bão, nắm vững công nghệ và can đảm chấp nhận rủi ro, chứ không phải chỉ là để thu lợi nhuận khổng lồ từ các dự án kinh doanh.
Với các nhà quản lý vốn của IDG, Đầu tư mạo hiểm không phải là năm nay bỏ ra một triệu USD đầu tư là năm sau thu về 2 triệu, mà là giúp các công ty mở rộng quy mô từ nhỏ thành lớn. Khi đó, công ty được niêm yết trên Thị trường chứng khoán như NASDAQ chẳng hạn, mọi người sẽ mua cổ phiếu của công ty và nhà đầu tư thu hồi vốn lẫn lãi. Nói cách khác, Đầu tư mạo hiểm là nguồn vốn tạo ra sản phẩm là các công ty chứ không phải là lợi tức. IDG thành lập và điều hành các công ty, rồi sau đó bán chúng đi và thu về rất nhiều tiền. Một tiến trình như thế sẽ kéo dài khoảng 3-5 năm hoặc có thể hơn tùy thuộc vào từng dự án cụ thể. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Đối tượng nhận đầu tư: Có 3 điều kiện để IDG xem xét khi đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó là:
- Thứ nhất, nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm của công ty có lớn hay không.
- Thứ hai, sản phẩm của công ty thuộc loại nào, dịch vụ hay sản phẩm công nghệ cao. Tức là độ bí mật và độc đáo của sản phẩm tới đâu, liệu các DN khác có sao chép được không.
- Thứ ba, điều kiện quan trọng nhất là phẩm chất của nhà doanh nghiệp, cụ thể là sự năng động, đam mê và tính đồng đội (team work), hay khả năng tổ chức và điều hành một đội ng̣ũ giàu sức cạnh tranh.
Cơ cấu doanh nghiệp nhận đầu tư: (xem Phụ lục 3: Các công ty nhận đầu tư của quỹ Đầu tư mạo hiểm IDG) Các lĩnh vực IDG quan tâm ưu tiên đầu tư là dịch vụ website (web service), bảo mật (security), và phần mềm (software). Có thể chia ra như sau phần mềm (software) 30%, phần cứng (hardware) 20%, đào tạo 15%, công nghệ sinh học (biotech) 15%, và 20% cho các lĩnh vực khác như tự động hóa… Mức đầu tư tối đa cho một công ty tiềm năng ở VN là 10 triệu USD. Ngoài ra IDG còn có khả năng kết hợp với các tập đoàn khác để cùng đầu tư vào một công ty.
2.3.2 Hoạt động đầu tư của quỹ Đầu tư mạo hiểm DFJV
Sự hình thành: Quỹ DFJ Vina Capital được chính thức khai trương vào ngày 18/10 năm 2024, trị giá 50 triệu USD, với hoạt động chính là đầu tư vào các công ty công nghệ thông tin và viễn thông nhà nước đã được cổ phần hoá. Ngay trước lễ khai trương, DFJ Vina Capital P đã đầu tư 2 triệu USD cho cổng Internet quan trọng của Việt Nam timnhanh.com (do Công ty Von, có trụ sở tại TP.HCM đầu tư).
Mục tiêu, quan điểm đầu tư của DFJ: DFJ VinaCapital P cho biết, sẽ xem xét các cơ hội đầu tư trong sự phát triển không ngừng của thị trường Internet và kết nối không dây ở Việt Nam, c̣ũng như các cơ hội hấp dẫn ở các công ty cổ phần hóa. DFJ VinaCapital L.P có chính sách ủng hộ phát triển Công nghệ thông tin, đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa các DN Nhà nước của Chính phủ VN và sự bùng phát các công ty Công nghệ thông tin trong thời gian gần đây cho thấy tương lai các dự án Công nghệ thông tin tại VN là rất khả quan. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Đối tượng đầu tư: Các doanh nghiệp DFJ nhắm tới có quy mô tương đối, có ý tưởng sáng tạo, có khả năng niêm yết trên Thị trường chứng khoán và nhất là có thể được các công ty khác mua lại, nghĩa là các công ty có tính thanh khoản. DFJ VinaCapital LP c̣ũng kỳ vọng được sở hữu cổ phiếu của hai đại gia viễn thông là Vinaphone và MobiFone, nhưng quỹ khá thẳng thắn thừa nhận rằng họ theo đuổi hai doanh nghiệp đã hai năm, mà vẫn “chưa đi đến đâu”. Việc định giá hai doanh nghiệp trên quá phức tạp. Hơn nữa, để có thể trở thành cổ đông phải chứng minh được khả năng hỗ trợ thị trường, công nghệ.
Trước sự xuất hiện của DFJ VinaCapital L.P, nhiều tín hiệu trên thị trường cho thấy cơ hội hấp dẫn của thị trường Công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam. Đó là sự ra đời và cạnh tranh ngoạn mục giữa các công ty viễn thông trong nước, cũng như xu hướng phát triển các công ty Công nghệ thông tin ở rất nhiều lĩnh vực, như phần mềm, thương mại điện tử, cổng thông tin điện tử… Hiện DFJ VinaCapital L.P đang thẩm định 20 dự án, trong đó khoảng 10 dự án là của Việt kiều Mỹ về nước làm ăn, với mức đầu tư dự kiến cho mỗi dự án từ 500.000 USD đến 10 triệu USD. Đáng chú ý là số lượng các Việt kiều chuyên về Công nghệ thông tin ở Mỹ về nước ngày càng tăng. Họ dự kiến làm riêng một khu công nghiệp để đón các Việt kiều chuẩn bị về nước đầu tư. Riêng một số thành viên Câu lạc bộ Việt kiều (OV Club) đã lập dự án xây dựng khu công nghệ cao OV Technology Complex tại Bà Rịa – Vũng Tàu dành riêng cho các dự án công nghệ cao, trong đó có Công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, đáng chú ý là đầu tư vào Công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam thời điểm hiện nay không mang tính chất mạo hiểm như ở các nước phát triển khác trên thế giới cách đây vài thập niên. Và sự phát triển của lĩnh vực Công nghệ thông tin, viễn thông, c̣ũng như của các công ty hoạt động trong lĩnh vực này cũng là quy luật tất yếu, giống như đã xảy ra ở Mỹ, Hàn Quốc hay gần đây nhất là Trung Quốc, và Ấn Độ. Có thể thấy với sự xuất hiện của DFJ-V góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam.
Nhận xét: Có thể thấy thực trạng hiện nay các quỹ Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam đa phần thực hiện các dự án đầu tư chứng khoán, hoặc các quỹ đầu tư thông thường, đầu tư vào các dự án có độ rủi ro thấp, hoặc các doanh nghiệp đã phát triển tương đối trên thị trường. Thứ nhất, vì các quỹ này chưa thực sự thành lập với mục đích Đầu tư mạo hiểm. Thứ hai, vì thị trường Việt Nam vẫn còn chưa hoàn thiện về mặt thể chế nên các nhà đầu tư chưa thực sự dám Đầu tư mạo hiểm. Lý do thứ ba quan trọng hơn cả vì các doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ cao chưa nhiều, hơn nữa lại quá nhỏ bé so với quy mô đầu tư của các quỹ, đồng thời c̣ũng ít các doanh nghiệp khởi nghiệp có ý tưởng kinh doanh đột phá, thu hút được sự quan tâm của các nhà Đầu tư mạo hiểm. Vì vậy các quỹ đầu tư vào Việt Nam là các quỹ Đầu tư mạo hiểm nhưng những gì mà các quỹ đã làm chưa thực sự là mạo hiểm nên chưa có vai trò tích cực đối với phát triển công nghệ cao ở Việt Nam.
3. Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Qua phân tích hơn 20 năm hình thành và phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, có thể thấy rằng hoạt động này chưa thực sự phát huy được vai trò đối với sự phát triển kinh tế đất nước nói chung và cho phát triển Khoa học công nghệ nói riêng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có sự quan tâm của các nhà Đầu tư mạo hiểm đối với thị trường, và của chính phủ đối với hoạt động Đầu tư mạo hiểm đây chính là dấu hiệu tốt cho loại hình đầu tư này phát triển. Mặt khác, quá trình hình thành và phát triển của hoạt động Đầu tư mạo hiểm trên thực tế liên quan đến rất nhiều khía cạnh và cần có những điều kiện nhất định. Dưới đây sẽ xem xét những thời cơ và thách thức trong việc mở rộng và phát triển loại hình đầu tư này ở Việt Nam.
3.1 Thời cơ
TTCK Việt Nam: Như đã phân tích ở trên, phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO) là kênh thoát vốn chủ yếu của hoạt động Đầu tư mạo hiểm, do đó việc xây dựng một Thị trường chứng khoán hoạt động có hiểu quả, ổn định có vai trò quan trọng đến thành công của các hoạt động Đầu tư mạo hiểm. Tại Việt Nam, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2018. Mặc dù Thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa đóng vai trò lớn trong việc huy động nguồn vốn trong nền kinh tế nhưng bước đầu đã hứa hẹn tạo ra một kênh rút vốn tiềm năng cho các quỹ Đầu tư mạo hiểm trong thời gian tới. Gần đây, Nhà nước cũng nới lỏng những qui định về sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trên Thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho các công ty nhỏ có thể niêm yết trên thị trường. Trong các năm 2023, 2024 chứng kiến sự bùng nổ của Thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ số VN-Index đã vượt ngưỡng 1000 điểm, cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, và hai quí đầu năm 2026 chứng kiến Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự suy giảm mạnh mẽ, một phần là do ảnh hưởng từ nền kinh tế vĩ mô, ngoài ra nó cũng thể hiện sự phát triển có tính chu kỳ của Thị trường chứng khoán cùng với tình hình kinh tế trong nước nói riêng và thế giới nói chung. Trong thời gian tới, hy vọng với những giải pháp của chính phủ sẽ giúp Thị trường chứng khoán phục hồi, ổn định tâm lý của nhà đầu tư, và đưa Thị trường chứng khoán phát triển khởi sắc hơn nữa.
Khu vực doanh nghiệp tư nhân và tinh thần kinh doanh được khuyến khích và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Một trong những dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2018, Luật đầu tư năm 2023 đã khơi thông những rào cản pháp lý đối với khu vực tư nhân, tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi, gia tăng số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm mới. Ngoài ra nhiều chủ trương, chính sách và các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển khu vực tư nhân đã thể hiện rõ ràng sự cam kết của Nhà nước trong việc phát triển khu vực này. Cũng từ đó khuyến khích tinh thần kinh doanh trong dân chúng và hứa hẹn những dự án hấp dẫn cho các nhà Đầu tư mạo hiểm. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Trong thời gian qua nhiều qui định của nhà nước đối với đầu tư có vốn nước ngoài cởi mở hơn như việc nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong các doanh nghiệp trong nước đã mở rộng hơn cơ hội đầu tư của các quỹ Đầu tư mạo hiểm. Những chính sách này có tác động đáng kể đến Đầu tư mạo hiểm bởi các quỹ Đầu tư mạo hiểm hiện nay đang hoạt động ở Việt Nam là những quỹ do người nước ngoài đầu tư.
Kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định trong khu vực, GDP tăng trung bình khoảng 7%. Nền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định hứa hẹn một thị trường tiềm năng cho các hoạt động kinh doanh.
3.2 Thách thức
Về hành lang pháp lý, Đầu tư mạo hiểm là loại hình đầu tư mới ở Việt Nam. Hiện nay, trong các văn bản pháp qui, chưa có văn bản nào đề cập trực tiếp đến hình thức Đầu tư mạo hiểm mà chỉ mới có một số qui định có liên quan đến hoạt động này như qui định về hoạt động của quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đầu tư. Như trên đã trình bày, một trong những hình thức hoạt động phù hợp đối với quỹ Đầu tư mạo hiểm là công ty hợp danh hữu hạn thì hiện nay Luật Doanh nghiệp đã có quy định về loại hình công ty này nhưng thành viên của công ty chỉ có thể là cá nhân. Trong khi đó, theo kinh nghiệm của các nước, các thành viên góp vốn phần lớn là các tổ chức như ngân hàng, quỹ hưu trí, các viện nghiên cứu, trường đại học… và thành viên hợp danh cũng có thể là các công ty quản lý quỹ. Chính vì vậy, chưa có qui định pháp lý phù hợp để quỹ Đầu tư mạo hiểm hoạt động ở Việt Nam dưới hình thức công ty hợp danh hữu hạn. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Những nhà Đầu tư mạo hiểm tiềm năng ở Việt Nam có thể là những nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư trong nước có thể kể đến như công ty bảo hiểm, ngân hàng, tổng công ty, các viện nghiên cứu, trường đại học và các cá nhân. Nguồn vốn tiềm năng cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trước mắt sẽ không nhiều. Bởi vì như ở các nước khác, nguồn vốn cho Đầu tư mạo hiểm chủ yếu từ quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, từ ngân hàng … ở Việt Nam, những thể chế tài chính này hiện đang quá trình chuyển đổi cơ chế hoạt động nên khó có thể huy động họ tham gia vào Đầu tư mạo hiểm. Như vậy, Việt nam có thể huy động nguồn vốn từ nhiều nguồn khác nhau như từ cá nhân, viện nghiên cứu, trường đại học, tổng công ty. Tuy nhiên, hiện nay, ngoài đầu tư của cá nhân, đầu tư của các tổ chức khó có thể thực hiện được do chưa có hành lang pháp lý cho phép các tổ chức này thực hiện hoạt động Đầu tư mạo hiểm.
Mức nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước còn thấp: đối với các quỹ Đầu tư mạo hiểm nước ngoài, một trong những qui định quan trọng, có ảnh hưởng đến hoạt động này là hạn chế cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, theo qui định Nhà nước chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 30% vốn của công ty trong nước. Qui định này hạn chế nhà Đầu tư mạo hiểm đầu tư nhiều hơn cho các dự án công nghệ và những ý tưởng sáng tạo, vì những dự án này có tính rủi ro cao nên các nhà Đầu tư mạo hiểm có xu hướng nắm giữ một số lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia vào quá trình điều hành, hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế ở Việt Nam, những người có ý tưởng sáng tạo khó có thể huy động được vốn từ các nguồn khác, nếu có nguồn vốn từ Đầu tư mạo hiểm chắc sẽ là nguồn vốn chính. Chính vì vậy, giới hạn 30% là tương đối thấp trong hoạt động Đầu tư mạo hiểm liên quan đến ý tưởng sáng tạo và công nghệ mới. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Quyền sở hữu trí tuệ: một trong những yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của những khoản đầu tư vào triển khai những ý tưởng sáng tạo mới là quyền sở hữu trí tuệ được đảm bảo. Quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ thì nhà đầu tư mới yên tâm bỏ vốn phát triển ý tưởng sáng tạo/dự án công nghệ mới. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt nam còn nhiều bất cập. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng giả hàng nhái còn tràn lan. Đặc biệt, đáng báo động nhất là trong lĩnh vực phần mềm, một trong những lĩnh vực có tiềm năng huy động được sự quan tâm của các nhà Đầu tư mạo hiểm.
Môi trường kinh doanh: môi trường kinh doanh ở Việt nam hiện nay còn chưa khuyến khích sự minh bạch trong hoạt động kinh doanh và mang tính “chụp giật”. Ví dụ, các quy định về thuế không rõ ràng và mức thuế thu nhập khá cao buộc nhiều doanh nghiệp trong nước có xu hướng thực hiện chế độ kế toán không minh bạch. Chính sự không minh bạch đó cũng là yếu tố làm các nhà đầu Đầu tư mạo hiểm e ngại đồng thời các doanh nghiệp cũng không muốn nhận khoản Đầu tư mạo hiểm vì họ không muốn sự can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các nhà Đầu tư mạo hiểm. Tính chụp giật thể hiện ở chỗ bản thân những người kinh doanh chưa có chiến lược đầu tư dài hạn mà đa phần chỉ nhìn vào ngắn hạn. Chính vì chủ yếu quan tâm đến lợi ích ngắn hạn nên đã làm trầm trọng thêm tính không minh bạch trong kinh doanh mặt khác không khuyến khích khu vực doanh nghiệp tham gia Đầu tư mạo hiểm.
Các ngành công nghệ cao của Việt Nam: như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ sạch … mới đang trong giai đoạn khởi đầu, nhất là so với các nước trong khu vực. Các ngành này hiện tại còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình cạnh tranh với các nước khác về nguồn nhân lực, về nắm bắt và tiếp cận các thị trường. Việt Nam hiện chưa có cơ chế phù hợp để biến tiềm năng về nguồn nhân lực đó trở thành cơ hội đầu tư cho các nhà Đầu tư mạo hiểm. Hiện nay, cơ chế quản lý các nhà nghiên cứu và phát triển công nghệ cũng như các tổ chức nghiên cứu và phát triển còn gò bó, còn mang tính bao cấp, chưa khuyến khích được các cá nhân và tổ chức phát huy tính chủ động sáng tạo của mình.
Nguồn nhân lực người Việt Nam phù hợp cho phát triển Đầu tư mạo hiểm đang rất thiếu. Đầu tư mạo hiểm là lĩnh vực rất mới ở Việt nam nên nguồn nhân lực hiểu biết và có những kỹ năng cần thiết cho loại hình kinh doanh này, đặc biệt là những kỹ năng quản lý đầu tư, lựa chọn những dự án có tính khả thi và tham gia tư vấn cho doanh nghiệp có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực Đầu tư mạo hiểm hầu như chưa có. Hiện nay, đa số nhân viên chính của các quỹ Đầu tư mạo hiểm là người nước ngoài, người Việt Nam chỉ đóng vai trò trợ giúp. Trong hệ thống tri thức trong trường đại học cũng chưa cung cấp kiến thức về loại hình đầu tư này.
II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ MẠO HIỂM Ở VIỆT NAM Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
1. Một số bài học kinh nghiệm để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
Chương II đã nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở một số khu vực trên thế giới. Mỗi khu vực lại có những điều kiện hoàn cảnh về kinh tế khác nhau. Do đó, bài học kinh nghiệm được rút ra phải được lựa chọn từ sự thành công cũng như thất bại của các nước và phải phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam hiện nay. Qua nghiên cứu quá trình hình hoạt động Đầu tư mạo hiểm trên thế giới và thực trạng Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm này như sau:
1.1. Cũng như các hoạt động đầu tư khác, Đầu tư mạo hiểm chỉ có thể phát huy vai trò của chúng đối với nền kinh tế khi được điều tiết theo cơ chế thị trường.
Hoạt động Đầu tư mạo hiểm là hoạt động tương đối mới mẻ ở Việt Nam, để phát triển tốt thì cần đặt nó dưới sự điều tiết của cơ chế thị trường, với những quy luật của thị trường như cạnh tranh, cung cầu sẽ phát huy hết những vai trò của nó đối với nền kinh tế, đặc biệt là phát triển khoa học công nghệ cao. Mặt khác, Đầu tư mạo hiểm thực chất là một hoạt động kinh doanh vốn. Do đó, cũng như các hoạt động kinh doanh khác, Đầu tư mạo hiểm chỉ có thể tác động tới các khía cạnh trong nền kinh tế như phát triển công nghệ, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, kích thích sự phát triển của thị trường vốn, v.v… khi nó thực sự dựa vào tín hiệu thị trường và nhận được sự chấp nhận của thị trường để hoạt động hiệu quả. Khi thị trường có nhiều dự án công nghệ cao có tiềm năng, có khả năng ứng dụng vào thực tế cao thì tất yếu sẽ có nguồn vốn Đầu tư mạo hiểm rót vào để phát triển dự án đưa sản phẩm, và ứng dụng khoa học vào đời sống vào thực tiễn. Đồng thời các nhà Đầu tư mạo hiểm cũng thu được khoản lợi nhuận không nhỏ khi dự án thành công. Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chúng ta đã ký những cam kết, và có lộ trình mở cửa thị trường, cho phép các công ty nước ngoài tiến hành các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, cung ứng sản phẩm dịch vụ … ở Việt Nam. Đồng thời cũng nỗ lực để các quốc gia trên thế giới công nhận nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường. Hy vọng trong thời gian tới với những biện pháp, chính sách của chính phủ nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả và năng động sẽ thu hút nhiều hơn vốn mạo hiểm đầu tư ở Việt Nam.
1.2. Lĩnh vực mà các quỹ Đầu tư mạo hiểm hướng đến trong giai đoạn đầu là các lĩnh vực công nghệ cao Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Qua phân tích quá trình hình thành và phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở các nước trên thế giới thì Đầu tư mạo hiểm ở các nước đều gắn liền với mục tiêu phát triển các lĩnh vực công nghệ cao, các công nghệ mới và tiên tiến. Đây cũng chính là đặc điểm phân biệt hoạt động Đầu tư mạo hiểm với những hoạt động đầu tư thông thường khác. Với thực tế Việt Nam hiện nay, Đầu tư mạo hiểm gắn liền với phát triển công nghệ cần thiết phải nhận được sự quan tâm đúng mực của nhà nước và nằm trong mục tiêu của các quỹ Đầu tư mạo hiểm. Trong giai đoạn đầu chính phủ có thể có những biện pháp hướng các quỹ Đầu tư mạo hiểm đầu tư vào công nghệ cao, đặc biệt là công nghiệp phần mềm sẽ là lĩnh vực trọng tâm nhằm phát huy lợi thế về tiềm năng trí tuệ Việt Nam. Đây là lĩnh vực không đòi hỏi nhiều vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đồng thời cũng tạo ra nhiều việc làm và mang đến tiềm năng xuất khẩu lớn. Ngoài ra, việc tập trung đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao sẽ góp phần xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo xu hướng tiến tới nền kinh tế trí thức.
1.3. Khu vực kinh tế tư nhân, lớp doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng chính của các quỹ Đầu tư mạo hiểm
Như chúng ta đã biết mục tiêu của hoạt động Đầu tư mạo hiểm là phát triển công nghệ cao, công nghệ mới và tiên tiến. Chính vì thế việc đưa những ứng dụng công nghệ cao vào đời sống mất khá nhiều thời gian, cũng như là kế hoạch thực hiện trong dài hạn. Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy, các doanh nghiệp lớn khi tiến hành hoạt động R&D thành công thì họ có tiềm lực tài chính mạnh (cũng như có được sự hỗ trợ và tin tưởng từ các định chế tài chính khác như ngân hàng, hay tổ chức đầu tư khác) để tiến hành đưa sản phẩm, công nghệ ra thị trường. Do đó đối tượng các quỹ Đầu tư mạo hiểm hướng tới là các công ty tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, đang thiếu vốn cũng như kinh nghiệm quản lý từ nhà Đầu tư mạo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động chiếm phần lớn cả về quy mô cũng như số lượng, và có rất nhiều các công nghệ mới do các cá nhân nghiên cứu, sáng tạo ra họ thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khi việc đưa vào thực tế rất khó khăn vì họ thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức, điều hành hoạt động kinh doanh, cũng như nguồn vốn cho việc phát triển hoạt động kinh doanh. Do đó, cần có sự hỗ trợ của các quỹ Đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp này cả về vốn, kinh nghiệm quản lý, điều hành, cũng như những mối quan hệ của các quỹ Đầu tư mạo hiểm để phát triển doanh nghiệp, phát triển sản phẩm công nghệ cao.
1.4. Mô hình tổ chức quỹ Đầu tư mạo hiểm được coi là phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là mô hình quỹ – công ty cổ phần. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Qua kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy mô hình quỹ Đầu tư mạo hiểm dưới hình thức hợp danh hữu hạn là phổ biến nhất. Tuy nhiên ở Việt Nam theo luật doanh nghiệp năm 2023 quy định các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh hữu hạn phải là các cá nhân. Nếu chọn mô hình này thì những quy định hiện có của pháp luật không đủ để vận dụng.
Mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn so với các mô hình khác ít được sử dụng và không phát triển nhiều. Nhưng đối với Việt Nam việc tiếp cận mô hình này có phần thuận lợi hơn do dễ hiểu, và có kinh nghiệm tổ chức từ thực tiễn của nền kinh tế trong nước. Với những quy định mở rộng hơn của Luật Doanh nghiệp 2023 thì việc các tổ chức tài chính thành lập quỹ Đầu tư mạo hiểm dưới hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn là hoàn toàn có thể chấp nhận được. Bên cạnh đó, mô hình này cũng dễ dàng hơn cho việc thành lập các Quỹ liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài.
Tuy nhiên, xét trong điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay thì mô hình quỹ – công ty cổ phần là phù hợp nhất, đây là một tổ chức tài chính cổ phần, có tư cách pháp nhân hoàn chỉnh, thể hiện được bản chất xã hội hoá nguồn vốn đầu tư dài hạn, với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế xã hội, vừa có thể được điều hành một cách chuyên nghiệp bởi một công ty được thuê quản lý quỹ. Mặt khác, các nhà đầu tư – cổ đông quỹ vẫn có thể kiểm soát dễ dàng bởi không có sự tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Như vậy, trong các mô hình hoạt động của quỹ Đầu tư mạo hiểm thì mô hình quỹ – công ty cổ phần được coi là mô hình phù hợp nhất với các điều kiện của Việt Nam hiện nay.
1.5. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của Đầu tư mạo hiểm
Nhà nước có thể trực tiếp tham gia vào hoạt động Đầu tư mạo hiểm với vai trò là nhà đầu tư. Tuy nhiên, nhà nước chỉ nên tham gia khi muốn cung cấp tín hiệu an toàn, nhất là đối với những nước trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm. Khi có sự tham gia của nhà nước sẽ khuyến khích các nhà đầu tư đang tiến hành đầu tư và các nhà đầu tư còn đang e ngại, trần trừ. Đặc biệt đối với 3 trong 5 giai đoạn đầu của quá trình Đầu tư mạo hiểm (vì khu vực tư nhân thường có xu hướng đầu tư vào 2 giai đoạn cuối trong 5 giai đoạn của Đầu tư mạo hiểm do tính rủi ro ít hơn). Sự tham gia của Nhà nước phải rất thận trọng bởi vì nếu nhà nước can thiệp quá nhiều có thể gây nên sự “bóp méo thị trường” và làm yếu đi sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, chúng ta cũng nên rút kinh nghiệm từ bài học của Ấn Độ khi các chính sách của chính phủ thay vì tạo ra một tác động tích cực thì lại gây lãng phí, không hiệu quả trong khi làm các nhà đầu tư tư nhân thoái lui. Nhà nước chỉ nên thực hiện trực tiếp Đầu tư mạo hiểm trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm khởi xướng hoạt động Đầu tư mạo hiểm và phát tín hiệu an toàn cho khu vực tư nhân tham gia hoạt động này. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Nhà nước có thể tác động gián tiếp đến hoạt động Đầu tư mạo hiểm thông qua việc tạo ra một môi trường kinh doanh vĩ mô ổn định, xây dựng chiến lược/kế hoạch phát triển Đầu tư mạo hiểm, thiết lập các khuôn khổ pháp lý điều tiết quá trình Đầu tư mạo hiểm, đồng thời ban hành các chính sách tác động đến các chủ thể tham gia như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, tín dụng … Có thể thấy bài học từ quá trình điều hành hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Mỹ, chính phủ Mỹ đã ban hành những quy định, chính sách để khuyến khích các tổ chức đầu tư vào cổ phần tư nhân và thức đẩy sự tăng trưởng thị trường vốn mạo hiểm như bộ Luật ERISA (cho phép các quỹ lương hưu phân bổ một phần nguồn lực của mình vào Đầu tư mạo hiểm), Luật hiện đại hóa tài chính (quy định khung pháp lý cho ngành dịch vụ tài chính), xây dựng các chương trình cổ phần (SBIC), hay các biện pháp miễn, cắt giảm thuế được thực hiện trong những năm 90, đã có tác động không nhỏ thúc đẩy hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Mỹ phát triển như ngày nay.
1.6. Phát triển Đầu tư mạo hiểm là cả một quá trình, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của nền kinh tế
Quá phát triển của Đầu tư mạo hiểm liên quan tới nhiều lĩnh vực trong nến kinh tế như sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của hệ thống khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ trong lĩnh vực Đầu tư mạo hiểm. Chính vì vậy, một mặt, khi thiết kế những chính sách liên quan tới phát triển Đầu tư mạo hiểm phải chú trọng sao cho mức độ phát triển của Đầu tư mạo hiểm phải phù hợp với sự phát triển của các lĩnh vực khác, mặt khác, muốn phát triển Đầu tư mạo hiểm cũng cần có sự kết hợp đồng bộ với các chính sách thuộc các lĩnh vực có liên quan. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Thị trường tài chính tiền tệ ổn định và phát triển, trong đó sự phát triển của Thị trường chứng khoán là yếu tố quan trọng cho việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm. Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, các quỹ Đầu tư mạo hiểm thúc đẩy sự phát hành cổ phiếu ra công chúng bởi các quỹ Đầu tư mạo hiểm đều tập trung đầu tư vốn lớn cho những công ty theo danh mục đầu tư và thoát vốn chủ yếu thông qua thị trường chứng khoán và mục đích cuối cùng là giúp các công ty này niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do đó, việc phát triển thị trường sơ cấp nên được chú trọng bởi vì có thể nói rằng hoạt động Đầu tư mạo hiểm sẽ không thực hiện được nếu không có sự ra đời của thị trường chứng khoán. Hiện nay, Thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn non trẻ và kinh nghiệm điều hành của UBCKNN còn thiếu và yếu đã không kịp thời hạn chế được những biến động không tốt của thị trường trong thời gian vừa Tuy nhiên, Thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm một phần là do ảnh hưởng từ sự suy thoái của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng trong thời gian vừa qua. Do vậy, việc ổn định Thị trường chứng khoán, phát triển thị trường sơ cấp là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi vì đây là một trong những kênh thoát vốn chủ yếu của hoạt động Đầu tư mạo hiểm.
- Cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và phát triển bao gồm: các khu công nghệ, các trường đại học, các cơ sở R&D …
- Đội ngũ lao động tri thức có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp. Đội ngũ này bao gồm: các chuyên gia quản lý quỹ, các doanh nhân đối tác của quỹ, lao động có trình độ kỹ thuật cao, các chuyên gia tư vấn. Có thể nói đây là yếu tố then chốt và là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của thị trường vốn mạo hiểm.
ĐTMH là một loại hình phức tạp, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như ý tưởng về khoa học công nghệ, yếu tố về vốn, nguồn nhân lực, Thị trường chứng khoán, bảo hiểm, v.v…Vì Đầu tư mạo hiểm là một loại hình kinh doanh còn mới mẻ ở Việt Nam nên việc học hỏi kinh nghiệm thành công cũng như rút ra bài học về sự thất bại ở các nước là điều cần thiết và quan trọng để điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của nước ta trong thời điểm hiện nay.
2. Một số gợi ý chính sách để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Qua quá trình phân tích trên, bài luận văn xin được đưa ra một số gợi ý chính sách để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam.
2.1. Các giải pháp, chính sách mang tính vĩ mô:
Đối với bất kỳ quốc gia nào, chính phủ luôn đóng vai trò quan trọng để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm, ngoài việc đưa ra những chính sách, biện pháp để ổn định kinh tế vĩ mô góp phần thúc đẩy hoạt động Đầu tư mạo hiểm phát triển nói riêng, và nền kinh tế nói chung. Chính phủ còn là cầu nối để gắn kết các chủ thể tham gia vào hoạt động Đầu tư mạo hiểm là các nhà đầu tư, nhà quản lý vốn mạo hiểm, và các doanh nhân khởi nghiệp, đưa hoạt động Đầu tư mạo hiểm ngày càng phát triển, và hiệu quả. Vậy nhà nước cần đưa ra một số chính sách sau:
2.1.1 Nhà nước cần tạo lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm
Vốn Đầu tư mạo hiểm là nguồn vốn chủ yếu dành cho quá trình đổi mới công nghệ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao tiềm năng. Chính vì thế nhà nước cần tạo lập khuôn khổ pháp lý nhằm mục đích:
- Khuyến khích vốn Đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới.
- Bảo vệ quyền và tài sản của cổ đông, những thành viên góp vốn vào quỹ Đầu tư mạo hiểm.
- Bảo vệ quyền và tài sản của quỹ Đầu tư mạo hiểm trong các đối tác mà quỹ Đầu tư mạo hiểm tài trợ.
- Nhà nước cần phải kiểm soát hoạt động của các quỹ Đầu tư mạo hiểm.
Thực tế Việt Nam hiện nay, các quỹ Đầu tư mạo hiểm chưa thực sự làm đúng với chức năng của nó là phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ mới do đó nhà nước cần đưa ra những quan điểm rõ ràng và cụ thể về loại hình đầu tư này. Một số quan điểm đáng chú ý như sau: Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
- Quy định phạm vi Đầu tư mạo hiểm, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao.
- Mức vốn tối thiểu quỹ phải huy động trong một thời gian nhất định.
- Giới hạn mức vốn góp tối thiểu và tối đa mà quỹ năm giữ trong các đối tác tài trợ.
- Quy định về thời gian năm giữ cổ phần/rút vốn của các thành viên trong quỹ Đầu tư mạo hiểm và trong các đối tác tài trợ.
Trong thời gian qua chính phủ đã xúc tiến việc thành lập quỹ Đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam, và coi đây là một trong những biện pháp quan trọng cho phát triển thị trường công nghệ. Đây chính là dấu hiệu tốt cho hoạt động này trong thời gian tới, thêm nữa tại kỳ họp quốc hội vừa qua, quốc hội đã đưa ra thảo luận dự thảo Luật công nghệ có những điều khoản liên quan đến hoạt động Đầu tư mạo hiểm, trong thời gian tới luật này sẽ sớm được thông qua và ban hành.
2.1.2 Xây dựng cơ sở pháp lý và thể chế thực thi có hiệu quả chính sách cạnh tranh và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Thực hiện chính sách này, nhà nước phải đảm bảo mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng như nhau trong việc tiếp cận các cơ hội đầu tư mà pháp luật không hạn chế. Nếu một khu vực kinh tế tư nhân bị chèn ép và bị đánh bật khỏi thị trường nội địa bởi khu vực kinh tế nhà nước hoạt động bằng lợi thế độc quyền, dù cho nhà nước có đầu tư lớn vào hệ thống khoa học công nghệ, thì vẫn không cải thiện được năng lực đổi mới của quốc gia. Do đó, cần thực thi mạnh mẽ các chính sách nhằm hạn chế tình trạng độc quyền từ các doanh nghiệp nhà nước, đẩy nhanh việc thực hiện cổ phần hóa và các hình thức mua, bán, khoán cho thuê doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực tư nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án đầu tư đổi mới công nghệ.
Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trong quá trình đổi mới công nghệ. Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò then chốt và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quyết định tài trợ của nhà đầu tư vốn mạo hiểm. Một dự án đề nghị tài trợ dù mang ý tưởng sáng tạo và có tính khả thi, nhưng dễ bị sao chép và thiếu sự bảo hộ của nhà nước đối với những người có quyền sở hữu nó, thì cũng khó dẫn đến việc hình thành một doanh vụ đầu tư hấp dẫn. Do đó nhà nước cần tiến hành cải cách cơ chế quản lý và thủ tục đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với các hiệp ước quốc tế. Bên cạnh đó nhà nước cần thực thi chính sách xử phạt thích đáng đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo môi trường đầu tư lành mạnh khuyến khích đẩy mạnh quá trình nghiên cứu và phát minh các sản phẩm công nghệ mới trên thị trường. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
2.1.3 Tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi để phát triển thị trường tài chính nói chung và Thị trường chứng khoán nói riêng
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong đó thị trường vốn có mối quan hệ mật thiết đến sự phát triển Đầu tư mạo hiểm. Nếu thị trường vốn phát triển mạnh mẽ sẽ làm tăng khả năng cung vốn và giải quyết bài toán tiền tệ, ngoài ra nó còn góp phần gia tăng việc cấp vốn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ , tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, và quỹ Đầu tư mạo hiểm tiến hành hoạt động đầu tư của mình. Theo đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2028 và định hướng tới năm 2040 của Bộ tài chính đã đưa ra mục tiêu là phấn đấu đến năm 2028 sẽ hoàn thành cơ bản cấu trúc thị trường vốn và đến năm 2040 sẽ phát triển tương đương với thị trường các nước trong khu vực. Năm 2028, giá trị vốn hóa thị trường bằng 50% GDP, huy động vốn cho đầu tư phát triển thông qua thị trường vốn đạt khoảng 16%; tỉ lệ tương ứng vào năm 2040 sẽ là 70%, và 30%. Để đạt được những mục tiêu đề ra chính phủ cần có những biện pháp khuyến khích các thành phần kinh tế hơn nữa, nhất là đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với Thị trường chứng khoán Việt Nam, những tháng cuối năm 2025 và đầu năm 2026 chứng kiến thị trường có sự suy giảm mạnh mẽ, một phần là do ảnh hưởng từ nền kinh tế vĩ mô trong nước và tình hình kinh tế thế giới, ngoài ra nó cũng thể hiện sự phát triển có tính chu kỳ của Thị trường chứng khoán. Trong thời gian tới, chính phủ cần tiếp tục thực hiện những chính sách mạnh mẽ nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi, mang lại niềm tin cho công chúng và các nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường như giám sát chặt chẽ hoạt động của các công ty niêm yết, kiểm soát những hành vi gian lận trong quá trình giao dịch chứng khoán … Sự phát triển của Thị trường chứng khoán sẽ tạo nên một sân chơi nhằm thu hút vốn cổ phần từ những nhà đầu tư cá nhân hoặc các nhà đầu tư có tổ chức ưa thích rủi ro và có tinh thần mạo hiểm trong các lĩnh vực công nghệ mới.
2.1.4 Cần đưa ra những biện pháp khuyến khích về tài chính đối với các nhà Đầu tư mạo hiểm
Có thể nói các biện pháp khuyến khích về tài chính như trợ cấp, tín dụng Đầu tư mạo hiểm, ưu đãi về thuế sẽ góp phần không nhỏ khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các dự án công nghệ, nhất là các dự án công nghệ cao có rủi ro thất bại lớn. Cụ thể: Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Trợ cấp: Thứ nhất, bù đắp một phần rủi ro. Khi tỉ lệ thiệt hại của nhà đầu tư cao đến một mức nhất định thì nhà nước có thể bù đắp cho các doanh vụ thua thiệt của họ. Tuy nhiên, trong tình hình nước ta hiện nay khi đầu tư vào cổ phần chưa trở thành một tập quán quen thuộc trong kinh doanh thì nhà nước cần xem xét riêng vấn đề trợ cấp có ý nghĩa quan trọng cho Đầu tư mạo hiểm để phát triển công nghệ cao. Thứ hai, tài trợ cho các hoạt động đánh giá dự án công nghệ cao bằng cách hỗ trợ một phần chi phí phát triển hệ thống trợ giúp để giảm các chi phí đánh giá, phát triển cơ sở dữ liệu cho các chuyên gia đánh giá, các hệ thống phát hiện sai sót dựa trên máy tính, hay các hoạt động thẩm định công nghệ của các định chế tài chính, nhà đầu tư …
Tín dụng Đầu tư mạo hiểm: Nhà nước có biện pháp cho doanh nhân vay bằng nguồn tín dụng ưu đãi để mua lại cổ phần đã chuyển nhượng cho nhà Đầu tư mạo hiểm (để nắm quyền kiểm soát, điều hành doanh nghiệp). Ngoài ra, có thể cho các quỹ Đầu tư mạo hiểm vay vốn để thành lập quỹ mới hoặc tăng vốn đầu tư.
Ưu đãi thuế: Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Mỹ cho thấy chính sách thuế của nước này đã rất thành công, với hai đòn bẩy là tỷ lệ tính thuế đối với lãi thấp, và khuyến khích thuế mục tiêu đã có tác động đến toàn bộ hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Mỹ. Tuy nhiên, kinh nghiệm của một số nước châu Âu đã đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của các kế hoạch đó về mặt chi phí từ ngân sách nhà nước, lợi nhuận đối với các nhà đầu tư và mục đính của các khoản đầu tư. Người ta cũng đang thảo luận ưu đãi về thuế chỉ áp dụng cho Đầu tư mạo hiểm trực tiếp vào vốn cổ phần hay cho cả hành vi đầu tư gián tiếp thông qua hình thức quỹ mạo hiểm. Ưu đãi về thuế có thể dẫn đến sự thay đổi về mặt quan niệm và ứng xử trong hoạt động đầu tư. Các biện pháp liên quan đến thuế có thể làm đảo lộn về mặt nguyên tắc, về mặt kiểm toán chi phí và cả về mặt cơ cấu của chúng trong khung thuế. Do đó, chính phủ cần nghiên cứu kỹ các vấn đề then chốt trong việc soạn thảo chính sách ưu đãi về thuế đối với các dự án đổi mới và phát triền công nghệ của doanh nghiệp trong đó bao gồm:
- Các trường hợp miễn, giảm thuế;
- Diện miễn, giảm;
- Loại hình đầu tư ưu đãi;
- Mục đích ưu đãi;
- Mức độ miễn, giảm, ưu đãi;
- Cơ cấu thời gian ưu đãi.
Cần đưa ra những chính sách nhằm xúc tiến hoạt động đầu tư: như xây dựng và phát triển các mô hình vườn ươm công nghệ, tại các quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ … chính phủ đều có những chính sách và hành động cụ thể để phát triển các mô hình này và trên thực tế hầu hết các nhà Đầu tư mạo hiểm đều tập trung phần lớn vốn của mình về các vườn ươm công nghệ. Ngoài ra, cần hình thành hiệp hội các nhà Đầu tư mạo hiểm trong nước, để các nhà đầu tư có thể trao đổi kinh nghiệm cũng như là hợp tác cùng đầu tư vào các dự án có tiềm năng tăng trưởng và thành công cao. Chính phủ cũng cần tiến hành xây dựng Website chung về hoạt động Đầu tư mạo hiểm để đưa thông tin cập nhật về tình hình các dự án cần được tài trợ, các điều kiện, thủ tục để một dự án có thể nhận được vốn Đầu tư mạo hiểm… để hỗ trợ các nhà Đầu tư mạo hiểm tìm kiếm dự án tiềm năng cũng như những doanh nhân có dự án tốt đang thiếu vốn. Thêm vào đó chính phủ cần có những kế hoạch kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường vốn mạo hiểm ở Việt Nam. Vai trò của bộ kế hoạch và đầu tư, bộ khoa học, công nghệ và môi trường, phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam là rất quan trọng trong việc xúc tiến, kêu gọi các nguồn vốn Đầu tư mạo hiểm của nước ngoài tham gia vào thị trường vốn mạo hiểm, góp phần phát triển các lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam trong thời gian tới. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Cần nâng cao năng lực của các tổ chức khoa học công nghệ. Nguồn vốn Đầu tư mạo hiểm sẽ được sử dụng hiệu quả khi có nhiều những dự án khoa học công nghệ tiềm năng, mà để có được những dự án này cần phải có sự nghiên cứu và phát triển của các nhà khoa học trong các tổ chức khoa học công nghệ. Chính vì thế việc nâng cao năng lực của các tổ chức, xây dựng đội ngũ các nhà khoa học nghiên cứu trình độ cao là một trong những vấn đề mà chính phủ cần phải làm trong thời gian tới.
2.2. Các giải pháp, chính sách mang tính vi mô:
Các giải pháp vĩ mô của chính phủ có vai trò hết sức quan trọng đến sự thu hút vốn mạo hiểm, và phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, những chính sách vĩ mô không phải thực hiện trong một thời gian ngắn mà phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trướng khi thực hiện do sự thay đổi của một chính sách nào đó có thể ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác. Vì vậy, bài khóa luận xin đưa ra một số giải pháp, gợi ý chính sách mang tính chất vi mô, áp dụng đối với các doanh nghiệp nhận đầu tư và các nhà Đầu tư mạo hiểm, là những chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình Đầu tư mạo hiểm.
Đối với quỹ đầu tư, và nhà quản lý vốn mạo hiểm: Thực tế hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều quỹ Đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao hoạt động (mới chỉ có hai quỹ và đều là các quỹ đầu tư nước ngoài là quỹ IDG, và quỹ DFJ), và trong các quỹ này đa số nhân viên chính cũng như nhà quản lý là người nước ngoài nên không tránh khỏi những hạn chế về sự am hiểu tập quán thị trường, về luật pháp…Vì vậy cần có những biện pháp khuyến khích, xây dựng, hỗ trợ các nhà Đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư:
- Xây dựng kênh liên kết giữa các nhà Đầu tư mạo hiểm với chính phủ, các bộ ngành, trường đại học để giúp họ am hiểu về nhu cầu, tiềm năng, tập quán của thị trường tiến hành đầu tư, cũng như về luật pháp, các quy định liên quan đến lĩnh vực đầu tư. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
- Đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng.
- Có những biện pháp hỗ trợ, khuyến khích cho các quỹ Đầu tư mạo hiểm tiến hành đầu tư như nâng mức cổ phần nắm giữ trong các doanh nghiệp công nghệ cao nhận đầu tư, các biện pháp khuyến khích tài chính như miễn giảm thuế, trợ cấp …
Đối với các doanh nghiệp: Cần có những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp, những biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp như thủ tục pháp lý thành lập doanh nghiệp, hay ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp công nghệ cao mới thành lập …nhằm khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các công nghệ mới. Đặc biệt, cần phải nâng cao năng lực quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp, thực trạng ở Việt Nam hiện nay, lãnh đạo các doanh nghiệp là những người rất am hiểu về công nghệ, chuyên môn kỹ thuật nhưng lại thiếu và yếu về khả năng quản lý, hoạch định kế hoạch kinh doanh … trong khi đó đây lại là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến việc nhà Đầu tư mạo hiểm có đầu tư vào doanh nghiệp hay không.
Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm trong các doanh nghiệp và các trường đại học: Để có những ý tưởng sáng tạo, những dự án có tính khả thi cao, và đưa được sản phẩm công nghệ vào thực tế thì yếu tố con người, nguồn nhân lực có vai trò quyết định đến toàn bộ quá trình đó. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm nói riêng, và cho nền kinh tế nói chung phải được đặt lên hàng đầu, vấn đề này không chỉ đặt ra cho chính phủ mà đối với mọi cá nhân, doanh nghiệp trong nền kinh tế. Thực trạng Việt Nam hiện nay, để nâng cao hiệu quả và thu hút vốn mạo hiểm, cần có một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực như sau:
- Đổi mới cơ chế hoạt động, đào tạo tại các trường đại học cho phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế, và cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm.
- Phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực quản lý (như quản trị kinh doanh, tài chính) và công nghệ cao (như Công nghệ thông tin, công nghệ sạch, công nghệ sinh học …) theo tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu và môi trường làm việc quốc tế.
- Phát triển đội ngũ các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh công nghệ cao, làm cầu nối cho sự phát triển công nghệ quốc gia với các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Khuyến khích và hỗ trợ về mặt tài chính cho các nhà nghiên cứu, các nhân có ý tưởng mới và có tính khả thi để họ có thể phát huy tinh thần khởi nghiệp, chuyên tâm theo đuổi nghiên cứu sản phẩm công nghệ mới và thực hiện ý tưởng của mình. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Phát triển mạng lưới trung gian hỗ trợ hoạt động Đầu tư mạo hiểm: Cần nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của các công ty trung gian hỗ trợ cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm như công ty kế toán, kiểm toán, công ty luật, tổ chức đánh giá kỹ thuật, đặc biệt là các nhà tư vấn. Tại các nước có nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm phát triển, quá trình gia tăng giá trị tài sản của nhà đầu tư trong các đối tác được tài trợ không thể thiếu vai trò của các nhà tư vấn. Hơn nữa hoạt động tư vấn phát triển sẽ tạo ra mạng lưới thông tin hiệu quả giúp các nhà Đầu tư mạo hiểm hạn chế được rủi ro và có thể dự báo hợp lý về xu hướng phát triển của các lĩnh vực công nghệ mới. Để hoạt động tư vấn phát triển và góp phần hỗ trợ cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm, nhà nước cần ưu đãi về thuế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động tư vấn phát triển, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin về luật pháp, công nghệ, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia và sử dụng các dịch vụ trên thị trường tư vấn.
Đẩy mạnh sự liên kế giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: Trong thời gian tới, các tổ chức tài chính ở Việt Nam cần đẩy mạnh việc liên doanh với các quỹ Đầu tư mạo hiểm nước ngoài lập nên các quỹ mới với mục tiêu hoạt động theo định hướng, và giai đoạn cụ thể. Sự liên kết này sẽ phát huy tối đa vốn và kinh nghiệm của các nhà đầu tư nước ngoài kết với sự am hiểu về thị trường, tập quán kinh doanh, và pháp lý từ phía Việt Đồng thời, thông qua quá trình hợp tác chúng ta sẽ tham gia sâu vào các hoạt động Đầu tư mạo hiểm, nắm được các nghiệp vụ, quy trình, cách thức tiến hành đầu tư, và các biện pháp hỗ trợ khi đầu tư vào một dự án.
Chương Ba đã đề cập đến những bài học kinh nghiệm và một số gợi ý chính sách để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm Việt Nam. Qua đó thấy được rằng nhà nước cần tạo môi trường thể chế thuận lợi cho hình thức đầu tư vốn mạo hiểm phát triển trong nền kinh tế thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, môi trường định chế công, các thể chế tài chính… Để tạo nhiều cơ hội hấp dẫn cho hoạt động Đầu tư mạo hiểm nhà nước cần thực hiện các chính sách nhằm nâng cao năng lực đổi mới công nghệ quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng, thủ tục đầu tư, hỗ trợ hoạt động R&D, nâng cao năng lực của các tổ chức Khoa học công nghệ. Bên cạnh đó việc phát triển hệ thống thông tin tri thức và nguồn nhân lực có chất lượng cao sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hình thức đầu tư mạo hiểm phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Đi đôi với với các chính sách hỗ trợ gián tiếp đó thì việc sử dụng những đòn bẩy khuyến khích về thuế, tín dụng, hình thành các công ty Đầu tư mạo hiểm thuộc sở hữu nhà nước sẽ trở nên rất cần thiết cho giai đoạn sơ khai của thị trường vốn mạo hiểm hiện nay tại Việt Nam.
KẾT LUẬN Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
Qua ba chương, bài khóa luận đã làm rõ được những đặc điểm và cơ chế hoạt động của Đầu tư mạo hiểm, tổng hợp hoạt động Đầu tư mạo hiểm trên thế giới, phân tích thực trạng của Việt Nam và nêu lên một số bài học kinh nghiệm cũng như đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nghiên cứu hoạt động Đầu tư mạo hiểm trên thế giới đã cho thấy được vai trò quan trọng của loại hình đầu tư này đối với phát triển nền kinh tế các nước nói chung, và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng. Đối với Việt Nam, cùng với sự phát triển của Thị trường chứng khoán trong những năm vừa qua, thì hoạt động Đầu tư mạo hiểm đã thu hút được khá nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, vì Thị trường chứng khoán là kênh thoát vốn chủ yếu của các nhà đầu tư vốn mạo hiểm. Đầu tư mạo hiểm là một dạng kinh doanh vốn và phù hợp với nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án công nghệ mới và công nghệ cao. Đây là loại hình đầu tư có những đặc điểm khác biệt so với các loại hình đầu tư khác nên cần có những quy định hành lang pháp lý nhất định điều tiết hoạt động này. Trong thời gian tới, để phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam cần có sự quyết tâm và nỗ lực lớn của nhà nước để loại hình đầu tư mang lại nhiều hiệu quả hơn nữa, đẩy mạnh quá trình đổi mới công nghệ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ cao, và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đây là một đề tài rộng, liên quan đến nhiều vấn đề và để nắm bắt được đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu, phân tích với những góc độ khác nhau. Do đó, trong quá trình phân tích khó có thể tránh được những sai xót cũng như những lập luận chưa thật sự chặt chẽ. Mặt khác, do thời gian và trình độ có hạn, khóa luận này không thể nghiên cứu sâu vào từng vấn đề cụ thể liên quan đến phát triển hoạt động Đầu tư mạo hiểm mà chỉ hy vọng cung cấp một bức tranh tổng quát về hoạt động Đầu tư mạo hiểm trên thế giới. Một lần nữa em xin trân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS. Phạm Thị Mai Khanh và các Thầy cô giáo trong trường đại học Ngoại Thương đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này. Trong quá trình chấm đề tài, em rất mong các Thầy cô sẽ châm chước, hướng dẫn, và chỉ bảo đối với những quan điểm chưa thực sự chính xác trong bài luận văn. Khóa luận: Chính sách phát triển hoạt động đầu tư mạo hiểm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:


Pingback: Khóa luận: Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm trên thế giới