Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển nguyên container tại Công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải quốc tế Khai Ánh Sáng Vina giai đoạn 2023-2025 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài.

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại Thế Giới (WTO), Việt Nam đã có nhiều cơ hội để mở rộng các mối quan hệ kinh doanh quốc tế. Trước hết là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến vận tải, giao nhận, kho vận. Nếu hoạt động này không tốt sẽ gây trở ngại cho hoạt động kinh doanh, đầu tư cũng như cả nền kinh tế. Ngược lại, nếu các hoạt động này tốt sẽ giúp cho hoạt động nói trên đạt hiệu quả cao.

Cùng với việc gia nhập WTO, chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết đã thoả thuận, trong đó có việc mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ. Theo cam kết này, các doanh nghiệp nước ngoài được phép đầu tư thành lập các đơn vị kinh doanh dịch vụ logistics trong đó có dịch vụ giao nhận hàng hoá. Điều này làm cho sự cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt.

Khai Ánh Sáng Vina là một doanh nghiệp hoạt động lâu năm và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hoá. Tuy nhiên, như thực tế cho thấy Khai Ánh Sáng Vina cần phải tiếp tục cải tiến, đổi mới và đa dạng hoá dịch vụ thì mới có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh.

Việc nghiên cứu hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu nguyên Container góp phần cải tiến dịch vụ giao nhận hàng hoá của Công ty, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng khả năng hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế Thế Giới.

Trước thực tế đó, trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Khai Ánh Sáng Vina em đã mạnh dạn chọn đề tài: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN HÀNG FCL NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN NGUYÊN CONTAINER TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN VẬN TẢI QUỐC TẾ KHAI ÁNH SÁNG VINA GIAI ĐOẠN 2023-2025” để làm luận án tốt nghiệp.

1.2 Mục đích nghiên cứu. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động giao nhận hàng hoá nói chung và hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu nguyên Container nói riêng, tổng quan các khái niệm về hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu nguyên Container, các tiêu thức phân loại, vị trí, vai trò của hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu nguyên Container trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta nói riêng.

Nghiên cứu và đánh giá việc tổ chức thực hiện hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu nguyên Container ở Công ty TNHH Vận tải Quốc tế Khai Ánh Sáng Vina, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với hoạt động giao nhận hàng hoá tại đây.

Đề xuất phương hướng phát triển hoạt động giao nhậ hàng hoá nhập khẩu nguyên Container trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ của Khai Ánh Sáng Vina. Định hướng các giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao để phát triển hoạt động giao nhận hàng hoá nhập khẩu nguyên Container của Công ty TNHH Khai Ánh Sáng Vina.

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu về quy trình thực hiện nghiệp vụ giao nhận hàng nhập khẩu nguyên Container ở Công ty TNHH Khai Ánh Sáng Vina, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện nghiệp vụ giao nhận hàng nhập khẩu nguyên Container tại Công ty TNHH Khai Ánh Sáng Vina.

Đưa ra các giải pháp mang tính thiết thực nhằm góp phần hoàn thiện nghệp vụ giao nhận hàng hoá nhập khẩu nguyên Container tại Khai Ánh Sáng Vina từ thực trạng đang tồn tại trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Đóng góp những kiến nghị đối với nhà nước thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận của các công ty Việt Nam.

1.4 Kết cấu của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 5 chương:

  • Chương 1: Phần mở đầu.
  • Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động nhập khẩu.
  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
  • Chương 4: Thực trạng về hoạt động giao nhận hàng nhập khẩu nguyên container tại công ty TNHH Vận tải Quốc Tế Khai Ánh Sáng Vina.
  • Chương 5: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu bằng đường biển tại Công ty TNHH Vận tải Quốc Tế Khai Ánh Sáng Vina.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG NHẬP KHẨU.

2.1 Khái niệm chung về hoạt động giao nhận hàng hoá.

2.1.1 Khái niệm về hoạt động giao nhận.

Hoạt động buôn bán quốc tế là những hoạt động được thực hiện giữa người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau. Sự khác nhau về quốc tịch giữa các chủ thể trong thương mại quốc tế đã dẫn đến việc hàng hóa xuất nhập khẩu phải được chuyên chở qua biên giới của ít nhất một nước. Do đó, để hàng hoá đến tay người mua, phải trải qua hàng loạt các quá trình như: đóng gói, bao bì, lưu kho, thông quan xuất nhập khẩu, chuẩn bị giấy tờ, thuê phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng lên phương tiện, chuyên tải hàng hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận. Tất cả những công việc được nêu trên gọi là nghiệp vụ giao nhận. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Giao nhận là tập hợp các nghiệp vụ liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc đưa hàng hoá từ nơi gửi đến nơi nhận hàng. Thực chất giao nhận là quá trình tổ chức chuyên chở và giải quyết các thủ tục liên quan đến quá trình đó. Giao nhận gắn liền với vận tải nhưng không phải là vận tải.

Trước đây, khi sản xuất hàng hoá và lưu thông chưa phát triển thì giao nhận là một khâu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Việc giao nhận có thể do người gửi hàng (nhà sản xuất), người nhận hàng (nhà nhập khẩu) hay do người chuyên chở đảm nhiệm. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của hoạt động buôn bán quốc tế, quy mô sản xuất cũng như chuyên môn hoá ngày càng cao khiến cho nhu cầu vận chuyển hàng hoá tăng dần, thì giao nhận cũng dần dần được chuyên môn hoá, được các tổ chức giao nhận chuyên nghiệp tiến hành và giao nhận đã tách riêng thành một nghề mới. Hiện nay, giao nhận đã trở thành nghành kinh doanh dịch vụ rất phát triển, đánh dấu cho sự ra đời của các tổ chức và các điều ước quốc tế về giao nhận như: IATA. FIATA, IMO…

Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding Service), theo Quy rắc mẫu của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (FIATA) về dịch vụ giao nhận là: “Bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hoá cũng như dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá.”

Dịch vụ giao nhận theo điều 163, Luật Thương mại Việt Nam là: “Những hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)”.

Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận vận chuyển hàng hoá phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên nghành về vận tải.

Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của nhiều hình thức vận tải mới. Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá đóng vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế. Những dịch vụ mà người giao nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ, đóng hàng, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá.

2.1.2 Khái niệm về người giao nhận. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay còn gọi là người giao nhận (Forwarder/Freight Forwarder/Forwarding Agent). Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá.

Theo Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận FIATA: “Người giao nhận là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng uỷ thác và hành động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá…”

Theo uỷ ban Kinh tế Xã Hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): “Người giao nhận là đại lý uỷ thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện nhiệm vụ đơn giản như thu cước, làm thủ tục Hải Quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng”. Định nghĩa này nhắm vào chức năng chính của người giao nhận là sử dụng hợp lý mạng lưới vận tải và các loại hình vận tải để đưa hàng đến đúng địa điểm.

Theo Luật thương mại 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên theo Luật thương mại Việt Nam điều 164 năm 1997 thì quy định cụ thể hơn về người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá.

Người giao nhận phải có các nghiệp vụ chuyên môn như:

  • Có thể kết hợp nhiều phương thức vận tải khác
  • Thông qua dịch vụ gom hàng hoá mà vận dụng được tối đa dung tích và trọng tải của các công cụ vận tải.
  • Biết kết hợp giữa vận tải, giao nhận, xuất nhập khẩu và liên hệ tốt với các tổ chức liên quan đến vận chuyển như: hải quan, đại lý hãng tàu, bảo hiểm, ga, cảng…
  • Người giao nhận còn tạo điều kiện cho người kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động có hiệu quả nhờ vào dịch vụ giao nhận của mình.
  • Nhà xuất nhập khẩu có thể sử dụng kho bãi của người giao nhận hay của người giao nhận đi thuê từ đó giảm được chi phí kho bãi.
  • Nhà xuất nhập khẩu giảm được chi phí quản lý hành chính, bộ mặt tổ chức đơn giản, có điều kiện tập trung vào kinh doanh xuất nhập khẩu. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Trước đây người giao nhận thường chỉ làm đại lý (Agent) thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu (XNK) uỷ thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa, thủ tục thanh toán tiền hàng.

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật trong nghành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn. Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế. Người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá. Ở các nước khác nhau, người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi tên khác nhau: Đại lý hải quan (Customs House Agent), Môi giới hải quan (Customs Broker), Đại lý thanh toán (Clearing Agent), Đại lý gửi hàng và giao nhận (Shipping and Forwarding Agent), Người chuyên chở chính (Principal Carier).

Hoạt động giao nhận vận tải là một khâu không thể thiếu trong quy trình xuất nhập khẩu hàng hoá. Nó đảm trách một phần công việc trong quá trình lưu thông của hàng hoá, chuyên chở và thực hiện một số nghiệp vụ khác để đưa hàng hoá từ nơi người gửi hàng đến nơi người nhận hàng. Vì thế, hoạt động giao nhận vận tải là chiếc cầu nối quan trọng giữa người gửi hàng và người nhận hàng.

Bằng việc thuê hay uỷ thác cho một người thứ ba có chuyên môn về hoạt động giao nhận, người gửi hàng không những giảm bớt một số công việc, chia sẻ về mặt trách nhiệm và rủi ro mà còn tiết kiệm thời gian và giảm các chi phí, do không phải đầu tư vào một số điều kiện cơ sở hạ tầng cơ bản phục vụ cho hoạt động giao nhận.

Bên cạnh đó, với sự áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong lĩnh vực giao nhận hàng hoá, hoạt động giao nhận đưa hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng với tốc độ ngày càng nhanh hơn, an toàn hơn và đảm bảo chất lượng của hàng hoá hơn. Cùng với sự áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực này cũng tác động làm nâng cao hiệu quả dịch vụ và giảm chi phí của hoạt động giao nhận để nhằm phục vụ khách hàng ở mức tốt nhất. Qua đó mà hoạt động giao nhận sẽ góp phần làm giảm giá thành của sản phẩm và thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế.

Do vậy, hoạt động giao nhận đang ngày càng đóng vai trò quan trọng thiết yếu trong hoạt động thương mại quốc tế, kéo theo đó là vai trò và trách nhiệm của người giao nhận ngày càng lớn trong mối quan hệ với người gửi hàng và người nhận hàng.

2.1.3 Phạm vi hoạt động. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Khi mà khái niệm “dịch vụ giao nhận” được hiểu theo một nghĩa rộng hơn thì phạm vi hoạt động của người giao nhận cũng được mở rộng. Tuỳ theo sự uỷ nhiệm của người gửi hàng (hay người nhận hàng), người giao nhận có thể tham gia nhiều tác nghiệp trong quy trình thực hiện hợp đồng. Thông thường, người giao nhận có thể trực tiếp hoàn thành các công việc đó hoặc cũng có thể uỷ thác cho người thứ ba hay đại lý thực hiện. Trong những năm gần đây, người giao nhận còn cung cấp cả dịch vụ vận tải đa phương thức, họ đóng vai trò là MTO (Multimodal Transport Operator) và phát hành chứng từ vận tải đa phương thức.

Những dịch vụ mà người giao nhận thường đảm nhận là:

  • a) Thay mặt người xuất khẩu.

Theo yêu cầu của khách hàng, người giao nhận sẽ:

  • Chọn lộ trình, phương thức vận tải và hãng vận chuyển thích hợp.
  • Lưu cước với người chuyên chở đã chọn.
  • Nhận hàng và cấp những chứng từ có liên quan đến việc nhận hàng.
  • Kiểm tra những điều khoản của thư tín dụng và những quy định của chính phủ áp dụng cho lô hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, nước quá cảnh và chuẩn bị những chứng từ cần thiết.
  • Đón hàng.
  • Lưu kho hàng hoá nếu cần.
  • Mua bảo hiểm hàng hoá nếu chủ hàng yêu cầu.
  • Vận chuyển hàng hoá đến cảng, làm thủ tục hải quan, các giấy tờ cần thiết có liên quan và giao cho chủ tàu.
  • Theo dõi quá trình chuyên chở hàng hoá thông qua liên lạc với người chuyên chở và đại lý giao nhận của mình ở nước ngoài. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

b) Thay mặt người nhập khẩu.

  • Theo dõi quá trình chuyên chở hàng hoá khi hàng hoá nằm dưới quyền định đoạt của người nhận hàng.
  • Nhận và kiểm tra toàn bộ chứng từ có liên quan đến việc chuyên chở hàng hoá.
  • Nhận hàng từ người chuyên chở và trả cước phí nếu cần.
  • Làm thủ tục hải quan và trả thuế, phí, lệ phí cho các thủ tục có liên
  • Lưu kho quá cảnh hàng hoá nếu cần.
  • Giao hàng cho người nhận hàng.
  • Giúp người nhận hàng giải quyết những khiếu nại nếu có.

Ngoài những dịch vụ trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, người giao nhận sẽ cung ứng các dịch vụ giao nhận đặc biệt như: dịch vụ gom hàng, hàng đi triển lãm, tư vấn cho khách hàng về thị trường tiềm năng, tình hình cạnh tranh…

  • c) Những dịch vụ khác.

Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng, người giao nhận có thể làm những dịch vụ khác. Trong quá trình chuyên chở, cả những dịch vụ đặc biệt như: gom hàng (tập hợp những lô hàng lẻ), hàng công trình, cung cấp thiết bị, xưởng… sẵn sàng vận hành.

Người giao nhận cũng có thể cung cấp cho khách hàng của mình về nhu cầu tiêu dùng, thị trường mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, cung cấp những điều khoản thích hợp cần đưa vào hợp đồng mua bán ngoại thương.

2.1.4 Vai trò và trách nhiệm của người giao nhận.

  • Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế.

Ngày nay do sự phát triển vận tải của container, vận tải đa phương thức, người giao nhận không chỉ làm đại lý, người nhận uỷ thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng vai trò như một bên chính (Principal) – người chuyên chở (Carrier). Người giao nhận đã làm chức năng và công việc của những người sau đây:

  • Môi giới hải quan (Customs Broker).

Ban đầu người giao nhận chỉ hoạt động trong nước. Nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu và giành chỗ chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự uỷ thác của người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán. Trên cơ sở Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như một môi giới hải quan.

  • Đại lý (Agent) Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Trước đây người giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở và chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như là một đại lý của người chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau như nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho… trên cơ sở hợp đồng uỷ thác.

  • Người gom hàng (Cargo Consolidator).

Ở Châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hoá bằng container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức chở của container và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chở hoặc đại lý. Ngày nay, dịch vụ gom hàng đã phổ biến rộng khắp trên cả đường hàng không, đường bộ và đặc biệt là đường biển.

  • Người chuyên chở (Carrier).

Ngày nay trong nhiều trường hợp người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier) khi ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở.

Nếu người giao nhận trực tiếp chuyên chở thì người đó là người chuyên chở thực tế (Performing Carrier).

Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi là vận tải từ cửa đến cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò như là người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO). Khi đó MTO cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hoá.

Người giao nhận còn gọi làm”kiến trúc sư của vận tải” (Arrchitect of Transport) vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất, tiết kiệm nhất.

  • b) Trách nhiệm của người giao nhận trong giao nhận quốc tế.

Người giao nhận là người tiến hàng các nghiệp vụ liên quan đến vận chuyển hàng hoá nhằm giao nhận hàng hóa theo sự uỷ thác của khách hàng.

Người giao nhận dù hoạt động với danh nghĩa là đại lý hay với tư cách là người chuyên chở đều phải chịu trách nhiệm về những hành vi sơ suất của mình. Khi hoạt động với tư cách là người chuyên chở, người gom hàng hay người kinh doanh vận tải đa phương thức, người giao nhận không những phải chịu trách nhiệm về hành vi, thiếu sót của mình mà còn phải chịu trách nhiệm về những sơ suất hay lỗi lầm của người làm công cho mình hay người mà sử dụng dịch vụ.

Do đó với mọi tư cách, đảm nhận mọi vai trò, người giao nhận sẽ chịu các trách nhiệm sau đây:

  • Trách nhiệm của người giao nhận khi đóng vai trò là đại lý

Khi đóng vai trò người đại lý, người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với các bên sau đây:

  • Trách nhiệm đối với khách hàng Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, người giao nhận hoặc người làm công của anh ta có thể phạm sai sót hoặc nhầm lẫn không phải do cố ý hay coi thường nhưng gây ra thiệt hại về tài chính cho người uỷ thác hoặc gây nên tổn thất đối với hàng hoá thì người giao nhận đều phải chịu trách nhiệm.

Những lỗi lầm hay sai sót này bao gồm:

  • Giao hàng khác với chỉ dẫn của khách hàng như đã thoả thuận trong hợp đồng, chở hàng đến sai địa điểm quy định.
  • Không mua bảo hiểm cho hàng theo chỉ dẫn của khách hàng, sai sót trong quá trình làm thủ tục hải quan làm cho hàng hoá thông quan chậm hoặc gây thiệt hại cho khách hàng.
  • Không thông báo cho người nhận hàng.
  • Không thực hiện sự cần mẫn hợp lý khi thay mặt khách hàng lựa chọn người chuyên chở, thủ kho hay các đại lý khác.
  • Giao hàng không lấy vận đơn, các chứng từ liên quan đến hàng hoá.
  • Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết để xin hoàn thuế.
  • Giao hàng không thu tiền từ người nhận hàng, giao hàng không đúng chủ.

Trách nhiệm làm thủ tục hải quan:

Người giao nhận khi được uỷ thác thực hiện khai báo hải quan phải chịu trách nhiệm trước cơ quan hải quan về sự tuân thủ các quy định hải quan đảm bảo khai đúng tên hàng, giá trị, số lượng. Vi phạm những quy định này người giao nhận phải chịu phạt mà tiền phạt đó không thu lại được từ khách hàng. Chi phí phát sinh do sơ suất của người giao nhận trong quá trình làm thủ tục sẽ do người giao nhận gánh chịu. Ngoài ra người giao nhận còn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình đối với hải quan. Người giao nhận thực hiện tránh nhiệm của người khai hải quan theo quy định của Luật Hải quan 2005, Nghị định số 08/2024/NĐ-CP, thông tư số 38/2024/TT-BTC, thông tư số 120/2024/TT-BTC ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về mẫu, chế độ in, phát hành, quản lý và sử dụng tờ khai Hải quan dùng cho người xuất, nhập cảnh và thông tư số 42/2024/TT-BTC ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan đối với phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Ngoài ra, người giao nhận còn phải thực hiện:

  • Cập nhật các quy định pháp luật hiện hành, thông báo và giải thích cho chủ hàng những quy định về chính sách quản lý đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
  • Yêu cầu chủ hàng cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hoá và không chấp nhận vận chuyển hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, ngừng xuất khẩu, ngừng nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định.
  • Chia nhóm hàng hoá theo quy định.
  • Nộp thuế, lệ phí hải quan, các khoản thu khác theo quy định.
  • Chủ động phối hợp với cơ quan hải quan xử lý hàng hoá không phát được cho người nhận. Trường hợp hàng hoá đã thông quan, đã nộp thuế xuất khẩu hoặc thuế nhập khẩu (nếu có) nhưng không chuyển phát được cho người nhận theo địa chỉ trên vận đơn, doanh nghiệp chuyển phát nhanh nộp hồ sơ hoàn thuế và thực hiện hoàn thuế theo quy định tại mục 4 Chương VII Thông tư số 38/2024/TT-BTC.
  • Đảm bảo xe chuyên dụng, bao bì chuyên dụng đáp ứng điều kiện niêm phong hải phòng.
  • Cung cấp thông tin trước về Bản lược khai hàng hoá nhập khẩu cho cơ quan hải quan theo quy định tại Điều 18 và Điều 20 Thông tư số 42/2024/TT-BTC.
  • Cung cấp Bản lược khai hàng hoá nhập khẩu (bản giấy) cho cơ quan hải quan đối với trường hợp chưa kết nối với hệ thống.
  • Kết nối hệ thống quản lý mã vạch hàng hoá (nếu có) với bộ phận giám sát hải quan để quản lý, giám sát đối với hàng hóa đưa ra, đưa vào khu vực giám sát của cơ quan hải
  • Đăng ký trước với cơ quan hải quan về thời gian làm thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 4 Điều 23 của Luật Hải quan đối với trường hợp thực hiện thủ tục hải quan ngoài giờ làm việc hành chính.

Trách nhiệm đối với bên thứ 3. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Thông thường, những người giao nhận chỉ là những người làm dịch vụ thuần tuý. Trừ một số công ty giao nhận lớn có các phương tiện trong tay, đại đa số người giao nhận đều phải thuê các công ty khác làm các công đoạn khác nhau của quá trình giao nhận như: vận tải đường bộ, bốc xếp, kho hàng, cơ quan cảng… Người giao nhận căn cứ vào yêu cầu cụ thể của công việc ký hợp đồng với bên thứ 3 để cung cấp các dịch vụ liên quan đến quá trình vận chuyển. Tuy nhiên, người giao nhận dễ bị bên thứ ba là người có quan hệ đến hàng hoá trong quá trình chuyên chở khiếu nại. Các khiếu nại này thường rơi vào hai loại:

  • Tổn thất vật chất về tài sản của bên thứ ba và hậu quả của tổn thất đó.
  • Người của bên thứ ba bị chết, bị thương, ốm đau và hậu quả của việc đó.

Bên cạnh đó có nhiều loại chi phí mà người giao nhận phải gánh chịu trong quá trình điều tra khiếu nại để bảo vệ quyền lợi cho mình và hạn chế tổn thất. Ví dụ như phí giám định, chi phí pháp lý và phí lưu kho… Trong một số trường hợp, chi phí trên rất tốn kém, thậm chí nếu bản thân người giao nhận không phải chịu trách nhiệm thì cũng không thể được phía bên kia bồi hoàn lại những chi phí mà người giao nhận đã bỏ ra.

  • Trách nhiệm của người giao nhận khi đóng vai trò là người chuyên chở chính.

Khi là người chuyên chở chính, người giao nhận đóng vai trò là một nhà thầu độc lập, trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ một nơi này đến một nơi khác.

Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở trong trường hợp tự vận chuyển hàng hoá bằng phương tiện của chính mình hay bằng việc phát hành chứng từ vận tải của mình, cam kết đảm nhận trách nhiệm của người chuyên chở. Khi người cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối thì người giao nhận sẽ chịu trách nhiệm như người chuyên chở nếu thực hiện các dịch vụ trên bằng phương tiện và người của mình; hoặc đã cam kết một cách rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như người chuyên chở.

Khi đóng vai trò là người chuyên chở, người giao nhận phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên chở, của người giao nhận khác, mà người giao nhận thuê để thực hiện hợp đồng vận tải như thể là hành vi và thiếu sót của mình. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận là do luật lệ của các phương tiện vận tải liên quan quy định.

Tuy nhiên, theo Điều 237 và Điều 294 Luật thương mại Việt Nam 2005, do tính chất đa dạng trong giao nhận, người giao nhận sẽ không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hoá phát sinh từ những trường hợp sau đây:

  • Lỗi là do của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ thác.
  • Khách hàng đóng gói và ghi kỹ mã hiệu không phù hợp.
  • Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hoá.
  • Do các trường hợp bất khả kháng như: chiến tranh, đình công…
  • Ngoài ra, người giao nhận cũng không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ khách hàng được hưởng, về sự chậm trễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình.

2.2 Khái niệm về giao nhận hàng hoá bằng đường biển. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

2.2.1 Khái niệm chung.

Giống như phương thức giao nhận bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không… thì giao nhận hàng hoá bằng đường biển cũng mang những đặc điểm chung cơ bản của giao nhận hàng hoá nói chung. Từ định nghĩa giao nhận ở trên ta có thể hiểu giao nhận hàng hoá bằng đường biển là tập hợp các nghiệp vụ liên quan đến vận tải đường biển nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi gửi hàng hoá đến nơi nhận hàng.

Nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Hay nhập khẩu là việc mua hàng hoá từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng.

2.2.2 Đặc điểm của giao nhận bằng đường biển.

Thị trường nhập khẩu rất đa dạng: Hàng hoá và dịch vụ có thể được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau. Dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng, thu hẹp hay thay đổi thị trường nhập khẩu của mình.

Đầu vào (nguồn cung ứng trong đó có nguồn nhập khẩu), đầu ra (khách hàng) của doanh nghiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Nguồn cung ứng đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như biến động của nguồn cung ứng.

Phương thức thanh toán: Trong kinh doanh nhập khẩu các bên sử dụng nhiều phương thức thanh toán, việc sử dụng phương thức thanh toán nào là do hai bên tự thoả thuận được quy định trong điều khoản của hợp đồng và trong kih doanh nhập khẩu thường sử dụng các ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh toán. Vì vậy mà thanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền nội tệ (VND) và ngoại tệ. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp, thủ tục. Hoạt động nhập khẩu có sự tham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi các hệ thống luật pháp và các thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau.

Việc trao đổi thông tin với đối tác phải được tiến hành nhanh chóng thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại hơn như Telex, Fax. Đặc biệt trong thời đại thông tin hiện nay giao dịch qua thư điện tử, qua hệ thống mạng internet hiện đại là công cụ phục vụ đắc lực cho kinh doanh.

Về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khẩu liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoài, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe trọng tải lớn. Do đó hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

2.2.3 Phạm vi của dịch vụ giao nhận bằng đường biển.

  • Đại diện cho người xuất khẩu.

Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ gúp khách hàng của mình (người xuất khẩu) những công việc sau:

  • Lựa chọn tuyến đường vận tải.
  • Đặt/ thuê địa điểm để đóng hàng theo yêu cầu của người vận tải.
  • Giao hàng hoá và cấp các chứng từ liên

Nghiên cứu các điều kiện của thư tín dụng (L/C) và các văn bản luật pháp của chính phủ kiên quan đến vận chuyển hàng hoá các nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, kể cả các quốc gia chuyển tải hàng hoá, cũng như chuẩn bị các chứng từ cần thiết.

  • Đóng gói hàng hoá.
  • Chuẩn bị kho bảo quản hàng hoá, cân đo hàng hoá.
  • Vận chuyển hàng hoá đến cảng, thực hiện các thủ tục về lệ phí ở khu vực giám sát hải quan, cảng vụ, và giao hàng hoá cho người vận tải. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.
  • Nhận B/L từ người vận tải, sau đó giao cho người xuất khẩu.
  • Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá đến cảng đích bằng cách liên hện với người vận tải hoặc đại lý của người giao nhận ở nước ngoài.
  • Ghi chú về những mất mát, tổn thất đối với hàng hoá (nếu có).
  • Giúp người xuất khẩu trong việc khiếu nại đối với những hư hỏng, mất mát hay tổn thất của hàng hoá.

Đại diện cho người nhập khẩu.

Người giao nhận với những thoả thuận cụ thể sẽ giúp khách hàng của mình (người nhập khẩu) những công việc sau:

  • Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hoá trong trường hợp người nhập khẩu chịu trách nhiệm về chi phí vận chuyển.
  • Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hoá.
  • Nhận hàng từ người vận tải.
  • Chuẩn bị các chứng từ và nộp các lệ phí giám sát hải quan, cũng như các lệ phí khác liên quan.
  • Chuẩn bị kho hàng chuyển tải (nếu cần thiết).
  • Giao hàng hoá cho người nhập khẩu.
  • Giúp người nhập khẩu trong việc khiếu nại đối với những tổn thất, mất mát của hàng hoá.

Ngoài các dịch vụ kể trên, người giao nhận còn cung cấp các dịch vụ khác theo yêu cầu của khách hàng như dịch vụ gom hàng, tư vấn cho khách hàng về thị trường mới, tình huống cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, các điều kiện giao hàng phù hợp.

2.2.4 Vai trò của hoạt động giao nhận hàng hoá bằng đường biển.

Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên. Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển. Nhìn chung năng lực chuyên chở của công cụ vận tải đường biển (tàu biển) không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức vận tải khác. Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành thấp.

2.3 Cơ hội phát triển giao nhận hàng hoá bằng đường biển tại Việt Nam. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Với chính sách mở cửa của nền kinh tế quốc dân, hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, nhu cầu trao đổi hàng hoá với Thế Giới ngày càng lớn làm cho khối lượng hàng lưu chuyển tăng lên không ngừng. Mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực cũng như với các nước khác trên Thế Giới không ngừng được mở rộng đã tạo điều kiện cho buôn bán hai chiều phát triển. Điều này cho thấy triển vọng phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế ở Việt Nam trong những năm tới là rất lớn.

Sự tăng lên về nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận bằng đường biển. Việt Nam là một nước đông dân trong khu vực cũng như trên Thế Giới, bình quân hàng năm tăng hơn một triệu người, với tốc độ tăng trưởng trên thì dự báo vào năm 2019 dân số sẽ đạt xấp xỉ 94679 người, dân số càng tăng làm tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ nói chung và dịch vụ giao nhận nói riêng.

Bên cạnh đó nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm tăng, thu nhập người dân ngày càng cao, đời sống vật chất ngày càng được cải thiện rõ rệt, mức thu nhập bình quân đầu người tăng 10% so với năm trước, khi đó người dân có cơ hội tiếp cận dịch vụ giao nhận hàng hoá nhiều hơn.

Ngoài ra, khách hàng sử dụng dịch vụ vận chuyển bằng đường biển chủ yếu là các doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động vận chuyển trong kinh doanh. Các khách hàng của doanh nghiệp cũng phải tham gia vào cuộc cạnh tranh trong nghành, đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ nhiều phía, nhất là sau khi mở cửa hội nhập. Cạnh tranh về chi phí là hướng cạnh tranh gay gắt nhất. Do đó càng ngày họ càng có nhu cầu cao hơn về dịch vụ vận chuyển bằng đường biển để làm giảm bớt chi phí.

Chính sách kinh tế được điều chỉnh thông thoáng hơn sau khi hội nhập giúp hoạt động kinh doanh giao thương được dễ dàng hơn, các doanh nghiệp vận tải bằng đường biển giảm được các chi phí hành chính dẫn đến giảm chi phí vận tải và giảm được thời gian thực hiện các thủ tục kiểm soát tại các cảng quốc tế, có môi trường rộng mở hơn và thuận lợi hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

2.4 Cơ sở pháp lý về hoạt động giao nhận hàng hoá bằng đường biển.

2.4.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động giao nhận tại Việt Nam.

Cơ sở pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ và giải quyết các vấn đề có liên quan đến giao nhận hàng hoá bằng đường biển ở Việt Nam là các quy phạm pháp luật quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam về giao nhận vận tải, các loại hợp đồng và L/C.

2.4.2 Luật quốc tế.

Bên cạnh nguồn luật quốc gia, nguồn luật quốc tế cũng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động giao nhận hàng xuất nhập khẩu bằng đường biển. Vì người giao nhận không chỉ giao dịch với đối tác người nước ngoài mà còn chuyên chở và giao nhận hàng hoá trên lãnh thổ của nước khác hoặc lãnh thổ quốc tế. Cho nên, nguồn luật quốc tế sẽ rất quan trọng khi có tranh chấp xảy ra.

  • Liên quan đến buôn bán quốc tế.

Giao nhận và ngoại thương có mối quan hệ khăng khít chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Hàng hoá xuất nhập khẩu càng nhiều, hoạt động giao nhận càng sôi động. Ngược lại giao nhận càng phát triển, tốc độ giao nhận nhanh, sẽ càng làm tăng khối lượng giao nhận.

Do vậy, nhắc đến cơ sở pháp lý của hoạt động giao nhận, không thể không nhắc đến Công ước Liên hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc và các điều kiện thương mại quốc tế Incoterms (International Commercial Terms).

Công ước Viên (ký kết ngày 11/4/1980) là điều ước quốc tế đa phương về mua bán quốc tế được nhiều nước quan tâm nhất, trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán quốc tế. Trong khi đó, việc tiến hành giao nhận lại không thể không căn cứ vào các điều kiện của hợp đồng. Hơn nữa, giao nhận hàng hoá bằng đường biển có nhiều khác biệt về địa điểm giao hàng, di chuyển rủi ro và quyền sở hữu hàng hoá. Cho nên, hiểu và dựa vào Incoterms sẽ giúp các bên chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Như vậy, Công ước Viên và Incoterms là hai cơ sở pháp lý quan trọng liên quan đến buôn bán quốc tế mà người giao nhận cần nghiên cứu để vươn tới thành công.

  • Liên quan đến vận tải.

Giao nhận và vận tải là hai hoạt động gắn liền với nhau và chúng là hai khâu quan trọng trong quá trình lưu thông, phân phối, nối sản xuất với tiêu thụ. Vì vậy, các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh các mối quan hệ trong vận tải ít nhiều đều có liên quan đến giao nhận. Cụ thể bao gồm:

  • Công ước của Liên Hợp Quốc về chuyên chở hàng hoá bằng vận tải đa phương thức quốc tế, 1980.
  • Quy tắc của UNCTAD và ICC về chứng từ vận tải đa phương thức, số phát hàng 481, có hiệu lực từ 1/1/1992.

Các văn bản trên đây quy định những vấn đề cơ bản trong vận tải đa phương thức; đặc biệt là trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức cũng như việc giao nhận hàng hoá trong phương thức vận tải mới mẻ này.

Các Công ước Quốc tế về vận đơn đường biển, cho đến nay gồm:

  • Công ước Quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, ký kết tại Brussels, ngày 25/4/1924 (The International Convention for Reunificaiton of Certain Rules relating to Bill of Lading), gọi tắt là Công ước Brussels, 1924, hay còn gọi là quy tắc Hague, có hiệu lực 1931.
  • Nghị định thư Visby 1968, có hiệu lực từ ngày 23/6/1977, sửa đổi Công ước Brussels thành quy tắc Hague-Visby.
  • Công ước của Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hoá bằng đường biển, ký kết tại Hamburg, có hiệu lực từ 1/1/1992.

Cả ba Quy tắc trên đều quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến vận đơn và vận tải biển. Đặc biệt, hai quy tắc sau còn điều chỉnh cả việc chuyên chở hàng hoá đóng trong Container. Riêng quy tắc Hamburg cho phép sử dụng một chứng từ không phải là vận đơn đường biển làm bằng chứng của việc ký kết hợp đồng vận tải của việc nhận hàng để chở. Người giao nhận có thể lấy các quy tắc này làm cơ sở pháp lý cũng như tài liệu tham khảo cho hoạt động của mình.

  • Liên quan đến thanh toán. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

Ngày nay, phần lớn việc thanh toán được thực hiện bằng phương thức tín dụng chứng từ (Letter of Credit – L/C). Do đó, để đảm bảo quyền được thanh toán của mình, chủ hàng, người giao nhận và người chuyên chở cần có kiến thức nhất định về lĩnh vực này. Trước hết là những am hiểu về UCP 500, 1993, ICC (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits), hiện đang được 160 quốc gia sử dụng, với những điều khoản liên quan đến tín dụng chứng từ. Bên cạnh đó, các bên cũng có thể tham khảo Luật thống nhất về Hối phiếu (ULB 1930) hay Đạo luật Hối phiếu của Anh 1882 (BEA 1882).

Ngoài ra, những quy phạm pháp luật quốc tế về Bảo hiểm, Hải quan… cũng là cơ sở pháp lý cho hoạt động giao nhận mà các bên tham gia nói chung, người giao nhận nói riêng, cần tìm hiểu và áp dụng cho phù hợp, nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho cả nền kinh tế quốc dân.

2.4.3 Luật quốc gia.

Nhà nước Việt Nam ban hành nhiều luật có liên quan đến giao nhận, vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu như: Bộ Luật Hàng Hải Việt Nam (1990), Luật Dân sự, Luật Hải quan (2001), đặc biệt Luật Thương mại Việt Nam 1997, chương II mục 10 quy định khá chi tiết về dịch vụ giao nhận cùng các văn bản quy phạm khác.

2.4.4 Hợp đồng.

Một trong những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng, trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, được các bên thoả thuận và hoàn toàn nhất trí, chính là các loại hợp đồng. Cụ thể hơn, có thể dẫn chiếu đến hợp đồng uỷ thác giao nhận, hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm… Trong đó, hợp đồng mua bán là hợp đồng có trước, mọi hợp đồng phát sinh đều phải căn cứ vào các điều khoản quy định trong hợp đồng mua bán: loại hàng, số lượng, chất lượng, bao bì, cảng đi, cảng đến, thời hạn giao hàng… Chính vì mối quan hệ khăng khít giữa các hợp đồng, đòi hỏi các bên tham gia phải phối hợp nhịp nhàng, đảm bảo cho quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra trôi chảy, tốt đẹp.

Vậy có thể khẳng định rằng, luật quốc tế, luật quốc gia và các loại hợp đồng chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động giao nhận nói chung và giao nhận hàng hoá đường biển nói riêng. Nắm vững và áp dụng khéo léo, phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu của các quy phạm đó là cả một nghệ thuật của người giao nhận.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Bài nghiên cứu có sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp dữ liệu.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu.

Số liệu sơ cấp: Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

  • Quan sát: thực hiện việc tiếp cận, tìm hiểu và quan sát thực tế về công ty trong quá trình nghiên cứu.
  • Điều tra: phỏng vấn trực tiếp nhân viên trong công ty.

Số liệu thứ cấp:

  • Các báo cáo, tài liệu về hoạt động kinh doanh của công ty.
  • Tham khảo các tài liệu liên quan tới lĩnh vực hoạt động kinh doanh logistics của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.2. Phương pháp phân tích thống kê, so sánh và tổng hợp dữ liệu:

Phương pháp so sánh được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh doanh của công ty thông qua việc so sánh doanh thu của công ty qua các năm. Từ đó nhận thấy xu hướng biến động về tình hình kinh doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu của công ty là tốt hay xấu, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp trong kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo.

Phương pháp tỷ lệ: được kết hợp với phương pháp so sánh trong quá trình phân tích nhằm thấy được sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong quá trình kinh doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, giúp chúng ta dễ dàng nhận thấy hiệu quả từng nội dung nghiên cứu. Phương pháp tư duy: áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và tư duy logic trong phân tích quy trình ở chương 2 cũng như đưa ra định hướng và đề xuất ra giải pháp. Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng giao nhận hàng nhập khẩu nguyên container

One thought on “Khóa luận: Nâng cao nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp nghiệp vụ giao nhận hàng FCL nhập khẩu

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537