Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế diễn ra ngày càng mạnh hơn với những động thái mới và sắc thái mới, xu hướng này đã có tác động tích cực đến hoạt động thương mại quốc tế của tất cả các quốc gia trên thế giới, từ đó mở ra cho Việt Nam cơ hội đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại, tạo đà cho phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới.
Để tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào, điều kiện đầu tiên bao giờ cũng là yếu tố vốn. Đặc biệt hoạt động xuất nhập khẩu là một hoạt động với khối lượng lớn, các mặt hàng đa dạng, diễn ra trên thị trường quốc tế phức tạp, nhiều rủi ro tiềm ẩn đòi hỏi phải có một quy mô vốn tương xứng. Trong khi đó thực lực về vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam còn thấp, thị trường chứng khoán chưa thực sự phát triển nên chưa thể đáp ứng việc huy động vốn của doanh nghiệp; bởi vậy mà nhu cầu được cấp tín dụng từ các ngân hàng là rất lớn.
Đứng trước tình hình đó, vai trò của các ngân hàng thương mại ngày càng được khẳng định và nâng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực tài trợ đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Với tư cách là một Ngân hàng thương mại cổ phần “sinh sau đẻ muộn”, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội có lợi thế trong việc học hỏi kinh nghiệm của các ngân hàng khác nhưng lại gặp phải khó khăn, bất lợi lớn về việc tạo uy tín và tầm ảnh hưởng trong nước cũng như trên thế giới. Hiện nay hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội còn đang có nhiều hạn chế và khó khăn trong việc phát triển. Thêm vào đó, Ngân hàng lại phải chịu nhiều sức ép từ các đối thủ cạnh tranh.
Xuất phát từ thực tiễn trên, và nhằm mục đích tìm hiểu các nguyên nhân làm cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu kém phát triển, đồng thời tìm giải pháp tháo gỡ cho thực trạng nói trên; đề tài “Giải pháp phát triển
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội” đã được chọn để nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 3 chương:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
- Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
- Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp được thành lập theo luật Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng mà chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để làm phương tiện thanh toán, để cho vay, để thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và các loại dịch vụ khác. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá nhưng nó lại tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này được diễn ra một cách trôi chảy, liên tục, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
Để thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại thực hiện đồng thời, tổng hợp nhiều hoạt động, trong đó có thể chia thành 3 hoạt động cơ bản, đó là:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động tín dụng, đầu tư
- Hoạt động trung gian
Huy động vốn là điều kiện cần thiết để bắt đầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại. Với lượng vốn huy động được, ngân hàng thương mại thực hiện cung ứng vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng và đầu tư. Đây là hoạt động đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Bên cạnh hoạt động huy động vốn và tín dụng, đầu tư, ngân hàng thương mại còn thực hiện các hoạt động trung gian, không những phát triển các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và của nền kinh tế.
Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau và tạo tiền đề cho nhau trong quá trình phát triển. Trong đó, hoạt động tín dụng là một hoạt động chính yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng khoảng 70% tổng tài sản có của ngân hàng và là hoạt động sinh lời chủ yếu.
Tín dụng ngân hàng theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong một khoảng thời gian nhất định giữa một bên là ngân hàng đóng vai trò người cho vay và một bên là các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và các cá nhân đóng vai trò người đi vay.
- Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về vốn trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
Sự chuyển dịch vốn giữa hai đối tác là sự chuyển dịch quyền sử dụng vốn tạm thời trên nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao vốn cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả nợ đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc này, ngân hàng phải xác định lãi suất cho vay thực dương tức là lãi suất danh nghĩa phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát.
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào thời hạn vay trả có thể chia thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay có thể chia thành tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản và tín dụng có bảo đảm bằng tài sản.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đã có sự phát triển vượt bậc cả về đối tượng, quy mô và ngày càng được mở rộng và đa dạng hoá. tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh, tiết kiệm chi phí lưu thông của toàn xã hội. Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy kinh tế được sử dụng thường xuyên và linh động nhất đối với mọi thành phần kinh tế.
Ngày nay, do sự phát triển không ngừng của các quan hệ trao đổi quốc tế, tín dụng ngân hàng càng trở nên cần thiết. Vai trò của tín dụng ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hoạt động kinh tế trong nước mà còn tích cực thúc đẩy sự nghiệp phát triển ngoại thương, mở rộng giao lưu quốc tế.
II. Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
1. Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu
Khái niệm tín dụng xuất nhập khẩu: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại là các hoạt động mang tính chất tài trợ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình giao dịch ngoại thương.
Quá trình giao dịch ngoại thương được hiểu là toàn bộ diễn biến của thương vụ xuất khẩu (đối với bên bán) và nhập khẩu (đối với bên mua).
Theo nghĩa hẹp, quá trình này là toàn bộ thương vụ xuất nhập khẩu, từ lúc tìm kiếm đối tác, thiết kế sản phẩm, chào hàng – đặt hàng, kết lập hợp đồng, đến khi giao hàng và hoàn thành hợp đồng ngoại thương.
Mở rộng đối tượng trong chừng mực nhất định, quá trình giao dịch ngoại thương có thể bao hàm cả các giao dịch kinh doanh trước và sau thương vụ xuất nhập khẩu, có tính chất gắn liền với thương vụ xuất nhập khẩu đó. Đối với bên xuất khẩu, đó là quá trình thu gom hàng xuất khẩu của thương nhân, mua vật tư nguyên vật liệu để chế xuất của nhà sản xuất, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ xuất khẩu… , hoặc giai đoạn bảo hành, bảo trì đối với các dự án xuất khẩu máy móc hay xây dựng xưởng ở nứơc ngoài. Đối với nhà nhập khẩu, đó là quá trình tiêu thụ hàng nhập dưới hình thức bán buôn hoặc tái xuất, quá trình tạm thời lưu kho chờ tiêu thụ.
Quá trình giao dịch ngoại thương thường ngắn hạn, nghĩa là không kéo dài quá một năm, nhưng cũng có khi kéo dài nhiều năm như đối với các dự án, công trình hoặc thương vụ giá trị lớn.
Đối tượng giao dịch trong các thương vụ yêu cầu tài trợ phải mang tính thương mại hoặc vì mục tiêu thương mại. Thông thường đối tượng này là hàng hoá, dịch vụ, hoặc các công trình dự án.
Mục đích tài trợ ngoại thương của ngân hàng là nhằm giúp doanh nghiệp vượt qua các trở ngại đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, hoàn thành thương vụ, có nguồn lực để tiếp tục ổn định và phát triển kinh doanh… Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Sự phát triển khách quan của tín dụng xuất nhập khẩu: Tín dụng xuất nhập khẩu thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng – bên đưa ra hỗ trợ, và một bên là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu – bên cần hỗ trợ. Tín dụng xuất nhập khẩu là quá trình ngân hàng cung cấp vốn dưới các hình thức khác nhau cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Sự ra đời và phát triển của tín dụng xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan gắn liền với các quan hệ thương mại quốc tế. Khi thương mại quốc tế càng phát triển thì kéo theo sự phát triển của tín dụng xuất nhập khẩu. Khác với trước đây, ngân hàng tham gia vào thương mại quốc tế chủ yếu ở khâu thanh toán. Ngày nay, mọi giai đoạn của hoạt động ngoại thương đều có thể cần tới sự hỗ trợ của ngân hàng.
Đừng về phía nhà xuất khẩu, từ lúc chưa ký kết được hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu đã cần có tài trợ từ ngân hàng dưới hình thức ngân hàng đứng ra bảo lãnh và giúp nhà xuất khẩu giành được hợp đồng. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, việc xuất hiện nhu cầu vốn là rất lớn và có khi vượt quá khả năng hiện có của nhà xuất khẩu đã làm nảy sinh nhu cầu được tài trợ vốn từ ngân hàng. Sau khi đã giao hàng nhưng còn phải chờ thanh toán từ phía nước ngoài với thời gian khá lâu (nếu hợp đồng ký theo phương thức thanh toán trả chậm) mà nhà xuất khẩu lại cần tiền ngay để tham gia vào một thương vụ khác, ngân hàng sẽ hộ trợ thông qua chiết khấu hối phiếu hay chiết khấu bộ chứng từ.
Về phía nhà nhập khẩu, khi ký hợp đồng, nếu nhà nhập khẩu không tin tưởng vào khả năng tài chính của mình hoặc tạm thời chưa đủ vốn, anh ta có thể nhờ vào uy tín của ngân hàng. Ngân hàng có thể phát hành một thư bảo lãnh thay cho việc nhà nhập khẩu phải đặt cọc để đảm bảo thanh toán giá trị hợp đồng hoặc ngân hàng đứng ra mở L/C, cam kết trả tiền hàng nhập, tạo ra niềm tin cho nhà xuất khẩu nước ngoài. Thông thường để được mua chịu hàng, tức thanh toán trả chậm, nhà nhập khẩu luôn phải có sự đảm bảo từ phía ngân hàng. Tới lúc phải thanh toán tiền hàng, nếu chưa đủ vốn, ngân hàng sẽ tài trợ bằng cách cho vay vốn hàng nhập. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Như vậy, dù là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu thì trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thực hiện hoạt động ngoại thương, đều có thể xuất hiện nhu cầu được tài trợ rất phong phú và đa dạng. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, khối lượng hàng hoá dịch vụ và cùng với nó là một khối lượng tiền tệ và dịch vụ tài chính khổng lồ đang di chuyển qua biên giới các quốc gia với quy mô ngày một tăng, nhu cầu về tín dụng xuất nhập khẩu sẽ ngày càng lớn mạnh. Với nguồn vốn, các nghiệp vụ cộng với uy tín cũng như quan hệ đối ngoại rộng rãi của mình, ngân hàng tham gia tín dụng xuất nhập khẩu giúp cho hoạt động này diễn ra thuận lợi, giảm bớt rủi ro và không ngừng phát triển. Đến lượt mình, sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu lại thúc đẩy hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng phát triển mạnh mẽ.
2. Đặc điểm của tín dụng xuất nhập khẩu
- Tín dụng xuất nhập khẩu gắn liền với thương mại quốc tế
Xuất phát từ việc hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động được thực hiện giữa các đối tác ở ít nhất hai quốc gia, nên trong việc cho vay để nhập khẩu hay xuất khẩu, các ngân hàng đều phải xem xét đến các khía cạnh mang tính quốc tế.
Quá trình luân chuyển bộ chứng từ hay hàng hoá bằng đường biển, đường sắt hay máy bay đều phải xét đến các đặc điểm của từng loại hàng hoá. Trong quá trình đó ngân hàng sẽ phải tính toán đến các yếu tố như: chi phí vận chuyển, rủi ro trong quá trình di chuyển hàng hoá (mất cắp, thiếu hụt…), sự phù hợp và kịp thời của bộ chứng từ với hàng hoá, hay giữa bộ chứng từ với L/C và đặc biệt là tập quán thương mại quốc tế ở mỗi quốc gia. Từ đó ngân hàng sẽ tư vấn cho khách hàng và cung cấp tín dụng vừa đảm bảo đáp ứng vốn kịp thời cho khách hàng đồng thời giảm thiểu được rủi ro.
- Tín dụng xuất nhập khẩu được kết hợp chặt chẽ với các phương thức thanh toán quốc tế
Đi đôi với mỗi phương thức thanh toán quốc tế đề có thể có một hình thức cấp tín dụng. Đây là quan hệ ràng buộc có tính chất tương đối lẫn nhau. Chẳng hạn với phương thức thanh toán TTR (phương thức thanh toán hàng nhập khẩu qua ngân hàng bằng điện chuyển tiền có yêu cầu xuất trình tờ khai Hải quan), các ngân hàng có thể cho khách hàng vay trực tiếp; với phương thức tín dụng chứng từ thì mở L/C là một cam kết trả nợ của ngân hàng đối với khách hàng… Mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy mạnh và đa dạng hoá các phương thức thanh toán có tác dụng đa dạng hoá được các loại hình tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế. Ngược lại, công tác tín dụng xuất nhập khẩu được đảm bảo cung ứng kịp thời nhu cầu vốn cho khách hàng sẽ thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế sôi động hơn, qua đó các ngân hàng thăng thu nhập từ hoạt động này.
- Tín dụng xuất nhập khẩu mang tính đa dạng Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Sự đa dạng về mặt giá cả: Một trong những khác biệt với hình thức tín dụng thông thường của tín dụng xuất nhập khẩu là giá cả. Sự phong phú, đa dạng trong việc cấp tín dụng: cho vay trực tiếp, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán… tương ứng là các loại giá cả: lãi suất cho vay, bảo lãnh, lãi suất chiết khấu, giá mua nợ… Các ngân hàng luôn cố gắng đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng, với mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập. Ngoài các nghiệp vụ đơn thuần và truyền thống, đa số các ngân hàng hiện nay đề có xu hướng phát triển các loại hình dịch vụ dưới nhiều hình thức, thậm chí có khi vượt ra khỏi lĩnh vực ngân hàng và cạnh tranh với các tổ chức kinh doanh khác trong nền kinh tế.
Đối tượng cho vay đa dạng và ở nhiều quốc gia khác nhau: Đây là đặc trưng riêng của tín dụng xuất nhập khẩu. Tuy nhiên ở đây sẽ phát sinh sự ràng buộc về mặt quy chế, luật lệ ở mỗi nước, các vấn đề về giá cả, lãi suất… và dẫn đến những vướng mắc trong nghiệp vụ. Thông thường các ngân hàng chỉ áp dụng trường hợp này cho các khách hàng có khả năng tài chính và uy tín trên thị trường quốc tế. Đối với những nước đang phát triển hoặc kém phát triển thì đặc điểm mày bị hạn chế, không rõ nét. Song nhờ sự xích lại gần nhau của nền kinh tế thế giới, việc gia nhập vào các liên minh kinh tế như EU, APEC, ASEAN… thì việc vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài càng trở nên dễ dàng.
3. Các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu thông dụng của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều hình thức khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những quy định của pháp luật mà các ngân hàng lựa chọn các hình thức cho phù hợp.
Dưới đây ta sẽ xem xét một số hình thức tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu thông dụng.
3.1 Các hình thức tín dụng xuất khẩu
3.1.1 Các hình thức cho vay
- Cho vay trực tiếp
Đây là hình thức cổ điển nhất và cũng là hình thức cơ sở cho các hình thức tín dụng khác ra đời và phát triển.
Cho vay trực tiếp là việc ngân hàng giao vốn cho khách hàng sử dụng trong một thời gian vói những điều kiện và nguyên tắc nhất định như: sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, có đảm bảo tiền vay… Trong hình thức này gồm có: cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm); cho vay trung hạn (từ một đến dưới 5 năm) và cho vay dài hạn (từ 5 năm trở lên).
Đối với nhà xuất khẩu, hình thức tín dụng này được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, các chi phí vận chuyển, thuế, bảo hiểm lô hàng xuất khẩu… Để khuyến khích xuất khẩu, các ngân hàng thường áp dụng các điều kiện ưu đãi như lãi suất ưu đãi, ưu đãi về các điều kiện tín dụng…
Hiện nay đang phát triển hình thức cho vay hợp vốn – một hình thức đồng tài trợ, trong đó hai hay nhiều ngân hàng cùng góp vốn cho vay đối với một dự án. Cho vay hợp vốn phát triển do ngày càng xuất hiện nhiều dự án quy mô lớn, nhu cầu vốn tăng cao mà khả năng cho vay một ngân hàng riêng lẻ không đáp ứng đủ hoặc do nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng mà cần tới sự tham gia góp vốn của nhiều ngân hàng khác nhau.
- Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền của người mua, căn cứ vào hối phiếu do người bán ký phát và bộ chứng từ gửi hàng kèm theo.
Với điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng để người mua đi nhận hàng. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng cho vay bằng cách ứng trước giá trị hối phiếu nhờ thu cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu giao hối phiếu chưa được chấp nhận cho ngân hàng. Hình thức tài trợ này cho phép nhà xuất khẩu mau chóng nhận được tiền đưa vào sản xuất kinh doanh thay vì phải chờ đến khi hối phiếu được nhà nhập khẩu nước ngoài tiếp nhận và thanh toán.
Mức tài trợ này của ngân hàng tuỳ thuộc vào mức độ an toàn trong giao dịch và thoả thuận với khách hàng, thông thường là 80 – 90% mệnh giá hối phiếu. Khi tài trợ theo phương thức này, ngân hàng tuy không được chuyển quyền sở hữu và thụ hưởng giá trị hối phiếu, song vẫn có quyền truy đòi nhà xuất khẩu bồi hoàn giá trị tài trợ nếu nhà nhập khẩu nước ngoài từ chối thanh toán.
Khi nhận được tiền thanh toán của nhà nhập khẩu từ ngân hàng thu hộ, ngân hàng tài trợ sẽ tính lãi cho vay theo thời hạn từ lúc mua hối phiếu đến khi nhận đc tiền thanh toán – toàn bộ nợ gốc lẫn lãi sẽ được khấu trừ ngày vào số tiền thu được hoặc ghi nợ vào tài khoản của nhà xuất khẩu. Xét về khía cạnh kỹ thuật tài trợ, nghiệp vụ này rất giống với dạng tài trợ cổ điển cho vay từng lần và thu lãi cuối kỳ.
- Cho vay trong phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng nước người nhập khẩu) theo yêu cầu của nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát trong phạm vi số tiền đó với điều kiện nhà xuất khẩu trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với yêu cầu đề ra trong thư tín dụng (L/C).
Căn cứ vào L/C mở cho nhà xuất khẩu hưởng lợi, ngân hàng nước người xuất khẩu có thể tiến hành thẩm định để cho vay.
Chỉ khi xuất hàng lập bộ chứng từ gửi hàng phù hợp với L/C nhà xuất khẩu mới nhận được thanh toán (nếu là L/C trả ngay) và có khi phải sau một thời gian (nếu là L/C trả chậm), trong khi nhà xuất khẩu lại cần vốn để sản xuất. Để giải quyết nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu có thể xin cấp tín dụng từ ngân hàng dựa trên cơ sở L/C mở cho anh ta hưởng. Khi có thông báo về L/C mở cho nhà xuất khẩu hưởng lợi nghĩa là anh ta đã được đảm bảo thanh toán từ một ngân hàng nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Nhà xuất khẩu sẽ dùng L/C như một công cụ đảm bảo xin vốn vay của ngân hàng. Hình thức tín dụng này bao hàm nhiều rủi ro đối với ngân hàng nên ngân hàng chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt và hoạt động xuất khẩu đều đặn. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
3.1.2 Các hình thức chiết khấu
- Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một dạng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng cho người thụ hưởng hối phiếu, theo đó người thụ hưởng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và phí. Loại tài trợ này giúp cho nhà xuất khẩu có điều kiện thu hồi vốn nhanh để đưa vào sản xuất kinh doanh thay vì phải chờ hối phiếu đến hạn thanh toán.
Tín dụng chiết khấu hối phiếu ngoại thương thường áp dụng cho các giao dịch xuất nhập khẩu thanh toán bằng phương thức ghi sổ. Trong đó nhà xuất khẩu cấp tín dụng thương mại (bán hàng trả chậm) cho nhà nhập khẩu nước ngoài dưới hình thức hối phiếu trả chậm do nhà xuất khẩu ký phát yêu cầu nhà nhập khẩu thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Để được ngân hàng xem xét tài trợ chiết khấu, hối phiếu trả chậm này phải được người mua ký chấp nhận lên bề mặt hối phiếu, thừa nhận món nợ phải trả cho người thụ hưởng khi hối phiếu đến hạn.
Kỹ thuật tài trợ chiết khấu khá đơn giản. Ngân hàng sẽ mua lại quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu. Số tiền mua lại (giá trị chiết khấu) được tính như sau: Md = M x [1- (Rd x t/360)] – C
Trong đó:
- Md: Giá trị chiết khấu
- M: Mệnh giá hối phiếu
- t: Thời hạn chiết khấu (Thời hạn còn lại của hối phiếu) (ngày)
- Rd: Lãi suất chiết khấu theo năm
- C: Lệ phí (Phí hoa hồng nghiệp vụ…)
Trong các yếu tố trên, lãi suất chiết khấu thường được quan tâm hơn. Nó phụ thuộc vào khả năng truy đòi khách hàng nhận tài trợ (nhà xuất khẩu), khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, thời hạn hiệu lực còn lại của hối phiếu, mệnh giá và đồng tiền của hối phiếu… Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Trong nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu, ngân hàng tài trợ luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro liên quan đến uy tín và khả năng thanh toán của con nợ chấp nhận hối phiếu. Chính vì vậy, ngân hàng thường áp dụng lãi suất chiết khấu ở mức cao và phòng chống rủi ro không thu hồi được tiền khi đáo hạn bằng cách bảo lưu “quyền truy đòi” đối với nhà xuất khẩu. Trong một số giao dịch thanh toán quốc tế, nhà nhập khẩu có khi yêu cầu ngân hàng của họ ký chấp nhận ghi nợ hối phiếu, nhờ vậy làm tăng uy tín thanh toán của hối phiếu. Trong trường hợp này, khi nhà xuất khẩu mang hối phiếu này đến ngân hàng yêu cầu được chiết khấu thì lãi suất chiết khấu áp dụng thường thấp và điều kiện tài trợ cũng hết sức ưu đãi cho nhà xuất khẩu; chẳng hạn như: mức tài trợ chiết khấu không tính vào hạn mức tín dụng của nhà xuất khẩu, chiết khấu với điều kiện miễn truy đòi…
- Chiết khấu bộ chứng từ hàng hoá
Đây là hình thức tín dụng của ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu trên cơ sở chiết khấu bộ chứng từ trước khi đến hạn thanh toán. Với hình thức này, ngân hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi được vốn nhanh tương tự như chiết khấu hối phiếu. Tỷ lệ chiết khấu phụ thuộc vào phương thức chiết khấu. Có hai hình thức chiết khấu:
Chiết khấu miễn truy đòi: là hình thức chiết khấu mà ngân hàng mua lại bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của người xuất khẩu. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu trong thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhập khẩu. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là nhà xuất khẩu đã bán bộ chứng từ cho ngân hàng và không có trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm đòi tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng, ngân hàng không có quyền truy đòi nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ không được thanh toán. Các ngân hàng Việt Nam ít sử dụng hình thức này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng và lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thường cao.
Chiết khấu có truy đòi: trường hợp này trách nhiệm của nhà xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng thu được tiền thanh toán từ nhà nhập khẩu. Ngân hàng sau khi thực hiện chiết khấu bộ chứng từ vẫn có quyền truy đòi nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ không được thanh toán. Lãi suất chiết khấu trong trường hợp này thấp hơn trường hợp chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro ngân hàng phải chịu sẽ thấp hơn. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Hiện nay đa số các ngân hàng thực hiện hình thức chiết khấu có truy đòi.
3.1.3 Các hình thức bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là một cam kết bằng văn bản của người phát hành bảo lãnh (ngân hàng thương mại) – gọi là người bảo lãnh với người thụ hưởng bảo lãnh đó. Trong đó người bảo lãnh cam kết sẽ bồi hoàn một khoản tiền cho người thụ hưởng trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm những nghĩa vụ của họ được quy định trong chứng thư bảo lãnh.
Một đặc điểm quan trọng của bảo lãnh là tính độc lập của nó, nghĩa là nếu các điều khoản và điều kiện của bảo lãnh được đáp ứng thì ngân hàng phải thanh toán cho bên thụ hưởng mà không viện dẫn những biện hộ phát sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán giữa bên thụ hưởng vào bên được bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng có vai trò ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động ngoại thương, đồng thời bù đắp những thiệt hại về mặt tài chính cho người thụ hưởng, giúp họ yên tâm hơn khi bước vào kinh doanh. Đối với người được bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng giúp nâng cao uy tín của họ trong kinh doanh.
Đối với tín dụng xuất khẩu, người được bảo lãnh là nhà xuất khẩu, người bảo lãnh là ngân hàng của nhà xuất khẩu và người thụ hưởng bảo lãnh là nhà nhập khẩu. Khi nhà nhập khẩu không tin cậy hoàn toàn vào khả năng thực hiện hợp đồng của nhà xuất khẩu, họ sẽ nhờ vào bảo lãnh ngân hàng.
Dưới đây là một số hình thức bảo lãnh ngân hàng thường gặp trong xuất khẩu.
- Bảo lãnh tiền ứng trước (Advance payment Guarantee)
Thông thường trong những hợp đồng thương mại có giá trị lớn, để giúp nhà xuất khẩu có vốn làm hàng và nhanh chóng giao hàng cho mình, nhà nhập khẩu có thể cung cấp một khoản tiền ứng trước cho nhà xuất khẩu. Để tránh rủi ro, nhà nhập khẩu cũng yêu cầu nhà xuất khẩu đề nghị ngân hàng của mình phát hành một bảo lãnh về khoản tiền đó, gọi là bảo lãnh tiền ứng trước. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Loại bảo lãnh này nhằm đảm bảo cho nhà nhập khẩu được nhận lại số tiền ứng trước (đôi khi kể cả tiền lãi) trong trường hợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như quy định trong hợp đồng.
Đối với những loại hàng hoá có thời gian sản xuất lâu như máy móc thiết bị, đòi hỏi giao hàng nhiều lần, nên quy định trong thư bảo lãnh là: sau mỗi lần giao hàng, trị giá thư bảo lãnh sẽ giảm theo tỷ lệ tương ứng của từng lần giao hàng. Để chứng minh hàng đã được giao, nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ giao hàng cho ngân hàng sau mỗi đợt giao hàng.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Guarantee)
Loại bảo lãnh này thường hay được sử dụng nhất. Trong bảo lãnh thực hiện hợp đồng, ngân hàng cam kết trả cho nhà nhập khẩu một số tiền nhất định, thường là 5-10% giá trị hợp đồng nếu nhà xuất khẩu không thực hiện, thực hiện không đúng, hoặc thực hiện chậm thời gian nghĩa vụ hợp đồng. Số tiền này nhằm bồi thường cho những chi phí nảy sinh đối với nhà nhập khẩu, ví dụ như chi phí tìm bạn hàng cung ứng mới, chi phí phát sinh do chậm có hàng sử dụng… Bảo lãnh thực hiện hợp đồng thường có hiệu lực cho tới khi nghĩa vụ hợp đồng được hoàn thành và có khi kéo dài tới khi hết thời hạn khiếu nại của hợp đồng.
- Bảo lãnh tiền giữ lại (Retention money Guarantee)
Để hạn chế rủi ro sau khi giao hàng, nhà nhập khẩu có thể thỏa thuận về số tiền được giữ lại sau mỗi lần thanh toán cho nhà xuất khẩu. Tổng số tiền người nhập khẩu giữ lại có thể lên tới 10% giá trị hợp đồng. Nếu nhà xuất khẩu muốn được thanh toán ngay toàn bộ tiền hàng thì cần xuất trình thư bảo lãnh của ngân hàng cho số tiền giữ lại đó.
Như vậy việc bảo lãnh tiền giữ lại cho phép người bán nhận được tổng số tiền của hợp đồng, còn người mua thay cho việc giữ lại tiền sẽ được ngân hàng phát hành bảo lãnh đảm bảo hoàn lại số tiền bảo lãnh trong trường hợp xảy ra rủi ro sau khi giao hàng.
- Bảo lãnh bảo hành (Maitainance Guarantee)
Bảo lãnh bảo hành thường đi kèm với các hợp đồng xây dựng hay hợp đồng dây chuyền thiết bị cho nhà máy. Mục đích bảo lãnh nhằm đảm bảo rằng nhà xuất khẩu vẫn chịu trách nhiệm về máy móc thiết bị mình cung ứng trong thời gian bảo hành. Thông thường các hợp đồng mua bán thiết bị từ nước ngoài bao giờ cũng có điều khoản về bảo hành nhưng có không ít trường hợp bên mua không có biện pháp buộc bên bán phải thực hiện hoàn chỉnh nghĩa vụ của mình do những điều kiện khách quan về khoảng cách địa lý giữa hai bên. Bảo lãnh bảo hành đảm bảo người mua sẽ không bị thiệt hại, nhất là khi đặt mua những thiết bị hiện đại, giá trị cao. Bảo lãnh này còn có thể thay thế cho bảo lãnh tiền giữ lại.
- Bảo lãnh sai sót bộ chứng từ nhờ thu (Discrepancy Guarantee)
Theo đề nghị của nhà xuất khẩu, ngân hàng cam kết với nhà nhập khẩu bù đắp những thiệt hại phát sinh trong khuôn khổ phương thức thanh toán nhờ thu do việc xuất trình chứng từ không phù hợp hoàn toàn với những điều khoản của hợp đồng mua bán và số lượng chứng từ thiếu không được gửi tiếp theo. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand-by Letter of Credit)
Thông thường ngân hàng nhà nhập khẩu mở L/C thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, nhưng có trường hợp nhà xuất khẩu nhận được L/C rồi nhưng không có khả năng giao hàng. Để đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu, ngân hàng của nhà xuất khẩu sẽ phát hành một thư tín dụng dự phòng, trong đó cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã mở.
Thư tín dụng dự phòng là một hình thức bảo lãnh vì nó thể hiện cam kết của ngân hàng phát hành bồi thường cho bên hưởng lợi khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
3.2 Các hình thức tín dụng nhập khẩu
Đây là các khoản mà ngân hàng cho nhà nhập khẩu vay với mục đích thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu. Tín dụng nhập khẩu bao gồm tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Điều này tuỳ thuộc vào đối tượng nhập khẩu. Nếu nhập khẩu hàng nguyên vật liệu hay hàng tín dụng thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng ngắn hạn; còn nếu nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng trung, dài hạn.
3.2.1 Các hình thức cho vay
- Cho vay trực tiếp
Khi nhà nhập khẩu có nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, nguyên vât liệu, máu móc thiết bị… mà không có đủ khả năng tài chính thì ngân hàng có thể căn cứ và hợp đồng ngoại thương và hợp đồng tiêu thụ hàng hóa để giải quyết cho nhà nhập khẩu vay vốn. Tùy thuộc vào khả năng tài chính của khách hàng để ngân hàng quy định mức vốn tự có tối thiểu của khách hàng tham gia vào phương án, dự án. Ngân hàng có thể cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán tiền hàng, chi trả cước phí bảo hiểm, thuế nhập khẩu hay cước phí vận chuyển…
Nếu như ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn, công nghệ… để thực hiện cho vay nhập khẩu hoặc muốn san sẻ bớt rủi ro cho các đối tượng khác hoặc theo yêu cầu của khách hàng thì ngân hàng có thể đứng ra làm tổ chức tín dụng đầu mối mời các ngân hàng khác cùng tham gia tài trợ nhập khẩu. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
- Cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng
Theo hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu phải lập phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ cho sản xuất kinh doanh; đồng thời doanh nghiệp phải lập kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán, xác định khoản thiếu hụt cần vay ngân hàng. Sau khi xem xét và phân tích kế hoạch, phương án của doanh nghiệp, ngân hàng ra quyết định cho vay và xác định mức cho vay.
Ngân hàng nhà nhập khẩu sẽ phát tiền vay trên cơ sở bộ chứng từ giao hàng được gửi từ ngân hàng nước ngoài theo phương thức thanh toán nhờ thu hay người bán gửi trực tiếp cho người nhập khẩu và thực hiện thanh toán theo phương thức chuyển tiền bằng điện.
- Cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán tiền hàng nhập khẩu
Về nội dung, hình thức này cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy nhiên tình trạng cho vay phát sinh khi doanh nghiệp nhập khẩu không đủ tiền thanh toán bộ chứng từ giao hàng hoặc khi đã nhập đủ hàng nhưng chưa thu được tiền bán hàng trong nước. Ngân hàng không có kế hoạch cho vay nhưng để thanh toán đúng hạn, ngân hàng sẽ cho vay đối với giá trị tiền hàng còn thiếu. Do ngân hàng không có kế hoạch cho vay nên thông thường doanh nghiệp phải chịu lãi suất cho vay cao và thời hạn cho vay không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, gâp áp lực thanh toán nợ vay rất lớn. Khoản vay này mang tính nhất thời, thường phát sinh do doanh nghiệp không tính toán chính xác kế hoạch tài chính hoặc gặp biến cố bất thường trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trong phương thức tín dụng chứng từ (Documentary credit)
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với những nội dung của L/C. L/C có tính chất quan trọng là nó được hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán nhưng sau khi được thiết lập, nó lại độc lập hoàn toàn với hoạt động mua bán.
Ngay việc mở L/C đã thể hiện việc cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu bởi vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng; trong khi đó, L/C lại là một đảm bảo thanh toán của ngân hàng từ là ngân hàng mở L/C phải chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc không muốn thanh toán khi L/C đến hạn trả tiền. Do vậy trước khi mở L/C, ngân hàng phải thẩm định tình hình kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp, khả năng tiêu thụ trong nước của mặt hàng nhập khẩu để có quyết định phù hợp về tỷ lệ ký quỹ, số tiền cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay sao cho đảm bảo an toàn vốn của ngân hàng.
Ký quỹ mở L/C là điều kiện cần thiết để hạn chế những rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi chấp nhận mở L/C cho khách hàng, nhất là đối với những L/C trả chậm, đồng thời để đảm bảo rằng khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc việc thanh toán. Khoản tiền ký quỹ sau đó sẽ bị phong toả tại ngân hàng, điều này có thể sẽ gây bất lợi cho nhà nhập khẩu vì vốn lưu động bị thu hẹp, đặc biệt khi ngân hàng yêu cầu ký quỹ 100% giá trị L/C. Trên thực tế, ngân hàng phân loại khách hàng theo khả năng thanh toán, theo quan hệ với ngân hàng để quyết định mức ký quỹ có thể thấp (10-20%) hoặc không phải ký quỹ. Mức ký quỹ thấp giúp các doanh nghiệp tự chủ hơn về vốn. Đây chính là sự hỗ trợ của ngân hàng đối với khách hàng, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Trong một số trường hợp, ngân hàng còn có thể cho khách hàng vay để ký quỹ mở L/C. Tất nhiên việc cho vay ký quỹ chỉ áp dụng đối với khách hàng thực hiện thanh toán tại ngân hàng đó. Cho vay ký quỹ vừa giúp nhà nhập khẩu giảm bớt sức ép về vốn lưu động, một mặt tăng tính an toàn và hiệu quả cho ngân hàng.
Cho vay để mở L/C và thanh toán L/C có ưu điểm là cung cấp tín dụng kịp thời cho hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên cũng có rủi ro cho ngân hàng và nhà nhập khẩu vì L/C chỉ được xử lý trên cơ sở chứng từ chứ không căn cứ trên hàng hoá. Nếu hàng hoá kém giá trị hay hư hỏng thì ngân hàng và nhà nhập khẩu dễ bị tổn thất.
3.2.2 Các hình thức bảo lãnh ngân hàng
Dưới đây là một số hình thức bảo lãnh ngân hàng thường gặp trong nhập khẩu:
- Bảo lãnh thanh toán (Payment Guarantee)
Bảo lãnh thanh toán là việc ngân hàng cam kết thanh toán giá trị hàng hoá đã được giao cho nhà nhập khẩu. Cụ thể hơn, bảo lãnh này nhằm tránh tổn thất cho nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu vì lý do nào đó không thanh toán hay thanh toán chậm tiền hàng.
Ví dụ như trong hợp đồng mua bán quy định giao hàng nhiều lần và người mua mỗi khi nhận được hoá đơn phải thanh toán cho nhà xuất khẩu. Nếu sau 30 kể từ ngày lập hoá đơn, nhà nhập khẩu không thực hiện đúng quy định này thì ngân hàng bảo lãnh sẽ thanh toán đầy đủ giá trị hoá đơn cho nhà xuất khẩu khi anh ta yêu cầu bằng việc xuất trình bản sao hoá đơn chưa thanh toán.
- Bảo lãnh vận đơn (Bill of Lading Guarantee)
Một số trường hợp hàng đã tới cảng nhưng nhà nhập khẩu vẫn chưa có vận đơn để đi nhận hàng. Người chuyên chở không thể giao hàng cho nhà nhập khẩu khi anh ta không xuất trình được vận đơn. Nhằm tránh ách tắc trong lưu chuyển ngoại thương, đồng thời tạo điều kiện cho nhà nhập khẩu nhận hàng, ngân hàng phát hành bảo lãnh vận đơn cho người chuyên chở hưởng lợi. Bảo lãnh sẽ được dùng đến nếu nhà chuyên chở có quyền đòi người nhập khẩu bồi thường. Bảo lãnh này có thể ở mức độ 100-150% giá trị hàng để bù đắp những thiệt hại phát sinh. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
- Bảo lãnh thuế quan (Custom Guarantee)
Đối với một số mặt hàng tạm nhập tái xuất, hàng dự hội chợ triển lãm hoặc các công cụ để lắp ráp máy móc thiết bị, người có hàng phải nộp thuế tại hải quan rồi khi mang hàng ra khỏi đất nước sẽ được hoàn thuế đã nộp. Nếu không muốn phải nộp thuế như trên, người nhập khẩu có thể yêu cầu ngân hàng cấp một bảo lãnh thuế quan trong đó ngân hàng cam kết sẽ nộp thuế nhập khẩu hoặc tiền phạt cho hải quan nếu quá thời hạn đăng ký mà hàng vẫn chưa được tái xuất.
- Bảo lãnh tín dụng (Credit Guarantee)
Ngân hàng có thể phát hành thư bảo lãnh vay vốn để khách hàng thực hiện vay vốn tại một tổ chức tín dụng khác để nhập khẩu. Thông thường nghiệp vụ này được thực hiện khi tổ chức tín dụng cho vay là ngân hàng nước ngoài và ngân hàng nước ngoài này cho các doanh nghiệp trong nước vay để nhập khẩu máy móc thiết bị được sản xuất tại nước họ với điều kiện vay vốn phải có bảo lãnh của một ngân hàng thương mại trong nước. Loại bảo lãnh này quy định người cho vay sẽ được hoàn trả toàn bộ số tiền cho vay cùng lãi và các chi phí ngay khi người hưởng lợi thông báo là khoản nợ còn lại vẫn chưa được thanh toán như thoả thuận và yêu cầu ngân hàng bảo lãnh đứng ra thanh toán.
Hình thức bảo lãnh này nói chung là phức tạp do khối lượng tiền hàng nhập khẩu đi vay thường lớn, rủi ro cho ngân hàng nhận bảo lãnh là rất cao. Nội dung bảo lãnh thường phải quy định rõ phạm vi bảo lãnh có bao gồm lãi và chi phí không, nếu có phải quy định những khoản này đã được xác định chưa hay còn phải tính toán tiếp và tính toán như thế nào.
- Phát hành L/C trả chậm
Đây là hình thức phổ biến đối với các doanh nghiệp trong nước và bản chất là một hình thức vay vốn, tranh thủ vốn nước ngoài đơn giản và dễ dàng được chấp nhận bằng cách mua chịu hàng hoá. Khi hàng hoá nhập khẩu về sau một thời gian nhất định, L/C mới đến hạn phải trả cho phía nước ngoài (bản chất chi phí lãi vay đã được tính trong giá thành hàng hoá). Doanh nghiệp sẽ có thời gian để tiêu thụ sản phẩm, thu xếp vốn để nộp vào ngân hàng và trả cho người bán.
- Bảo lãnh chấp nhận hối phiếu Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Thông thường trong giao dịch ngoại thương, nhà xuất khẩu ký phát hối phiếu và gửi cho nhà nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán. Nhưng có trường hợp nhà xuất khẩu chưa tin tưởng vào khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu, do vậy phải có sự đảm bảo từ phía ngân hàng. Khi đó ngân hàng có thể bảo lãnh cho nhà nhập khẩu bằng cách đứng ra ký chấp nhận hối phiếu.
Về bản chất, bảo lãnh thanh toán hối phiếu là một dạng tài trợ ngân hàng nhằm bảo lãnh uy tín thanh toán cho người nhập khẩu. Nếu người nhập khẩu không thanh toán hối phiếu khi đến hạn thì ngân hàng bảo lãnh hối phiếu có nghĩa vụ thanh toán thay.
Tiêu chuẩn để ngân hàng bảo lãnh thanh toán hối phiếu thường căn cứ vào:
- Uy tín và năng lực kinh doanh của nhà nhập khẩu,
- Tính hiệu quả và khả thi của giao dịch ngoại thương,
- Hạn mức tín dụng cấp cho nhà nhập khẩu,
- Bảo đảm tín dụng cần thiết.
Khi cấp tín dụng chấp nhận hối phiếu, trả tiền hối phiếu khi hối phiếu đó đến hạn, và sau đó ngân hàng đòi lại tiền từ phía nhà nhập khẩu. Do phải chịu mọi rủi ro và tổn thất xảy ra đối với hối phiếu nên ngân hàng thường thu phí chấp nhận cao. Nếu nhà nhập khẩu chuyển vốn đến cho ngân hàng để trả tiền thì anh ta chỉ phải trả thủ tục phí chấp nhận; còn nếu ngân hàng dùng vốn của mình trả tiền thì anh ta còn phải trả cả lãi vay vốn nữa. Tuỳ theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng có thể chấp nhận theo từng chuyến hàng riêng biệt hoặc cũng có thể chấp nhận bao, tức là chấp nhận một hạn ngạch nhất định. Đối với chấp nhận bao, nhà xuất khẩu ký phát hối phiếu trong hạn ngạch quy định là được ngân hàng thanh toán.
3.3. Một số hình thức tín dụng xuất nhập khẩu khác
- Cho vay thấu chi Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Đây là hình thức tín dụng ngân hàng dành cho các nhà xuất nhập khẩu có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng. Theo đó nhà xuất nhập khẩu có thể tự động rút tiền quá số dư trong tài khoản vãng lai của mình và tự động hoàn trả khi có doanh thu. Đặc điểm của loại cho vay này là khách hàng chỉ được rút tiền trong một hạn mức nhất định. Theo quan điểm của các nhà xuất nhập khẩu, cho vay thấu chi là khoản vay rẻ nhất vì họ chỉ phải trả cho những gì họ đã dùng với mức lãi suất thấp hợp lý chỉ tính trên số tiền đã sử dụng theo từng thời điểm khác nhau. Bên cạnh đó, họ có thể nộp tiền gửi vào tài khoản để giảm số dư nợ hay rút tiền ra bất cứ lúc nào miễn là không vượt quá hạn mức. Ngân hàng thường áp dụng nghiệp vụ này đối với những khách hàng có khả năng tài chính lành mạnh và có uy tín. Do tính linh hoạt và tiện lợi, cho vay thấu chi là một trong những hình thức tín dụng xuất nhập khẩu khá phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa.
- Bao thanh toán
Ngân hàng và các tổ chức tài chính sẽ mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán của nhà xuất khẩu với số tiền ít hơn khoản nợ đó, để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà nhập khẩu nước ngoài. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Thông thường mức phí dao động khoảng từ 1-2,5% khoản nợ. Khác với hoạt động mua lại chứng từ thanh toán, hoạt động bao thanh toán không sử dụng thư tín dụng cũng như các hối phiếu ngoại thương, vì bao thanh toán chỉ áp dụng cho các hoạt động xuất nhập khẩu thường xuyên theo định kỳ, theo hợp đồng dài hạn với đối tượng là những tổ hợp kinh tế vừa và lớn với doanh số hoạt động xuất nhập khẩu hàng năm lớn.
Như vậy, người bán vừa có thể thu hồi tiền nhanh để phục vụ sản xuất kinh doanh vừa chủ động xác định các kế hoạch tài chính nhờ các luồng tiền được dự tính chính xác. Đặc biệt, với dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi, rủi ro này của người bán sẽ được chuyển giao cho ngân hàng, và dịch vụ này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà xuất khẩu, do khoảng cách về địa lý giữa các quốc gia và sự thiếu thông tin về nhà nhập khẩu.
Khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán, các doanh nghiệp xuất khẩu có thể chào hàng với điều kiện thanh toán cạnh tranh hơn, cho phép người mua trả chậm, thường là 60-90 ngày, nhờ đó đẩy mạnh được hoạt động bán hàng và xuất khẩu ra nước ngoài.
Đối với nhà nhập khẩu hay người mua hàng, dịch vụ bao thanh toán tạo điều kiện cho họ có thể mua hàng với phương thức thanh toán trả chậm (ghi sổ), không cần phải sử dụng các nguồn tín dụng khác, do đó tránh được các thủ tục, chi phí xin vay, bảo lãnh hay ký quỹ mở L/C nếu thanh toán quốc tế. Ngoài ra, nhà nhập khẩu cũng có thể coi đơn vị bao thanh toán như một kênh thông tin tham khảo quan trọng về năng lực sản xuất, cung ứng hàng hoá của người xuất khẩu
4. Vai trò của tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Ngày nay, hoạt động xuất nhập khẩu đã trở thành một trong những yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, trở thành mũi nhọn quan trọng và năng động nhất của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Do vậy, ở hầu hết các nước, phát triển hoạt động xuất nhập khẩu đã trở thành một trong những bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế. Tuy nhiên, muốn mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu thì không thể không kể đến sự tài trợ của ngân hàng thương mại dưới hình thức cấp tín dụng với hoạt động này.
- Vai trò đối với ngân hàng
Thứ nhất, ngân hàng có thể tránh được rủi ro về thanh khoản.
Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu có kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ. Thời gian thực hiện thương vụ đối với người xuất khẩu là kể từ lúc gom hàng, xuất đi cho đến lúc nhận được tiền thanh toán của người mua. Đối với người nhập khẩu, thời gian này là kể từ lúc nhận hàng tại cảng đến khi bán hết hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợ thường ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động vốn của các ngân hàng thương mại, thường là dưới 1 năm.
Thứ hai, hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu còn nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý các nguồn thu thanh toán.
Đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền, người nhập khẩu nước ngoài đã chỉ định việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoảng của người xuất khẩu mở tại ngân hàng. Đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoản mở tại ngân hàng. Do vậy nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro.
Thứ ba, hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu mang lại nhiều lợi ích khác cho ngân hàng thông qua việc thu lãi vay, lãi chiết khấu chứng từ, thu phí dịch vụ… Ngoài ra, thông qua tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế.
- Vai trò đối với doanh nghiệp Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Thứ nhất, tín dụng xuất nhập khẩu là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Như đã trình bày ở trên, trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất, doanh nghiệp đều phát sinh nhu cầu vốn. Ngân hàng tài trợ thông qua cấp tín dụng trực tiếp cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động ngắn hạn, vốn đầu tư trung và dài hạn. Ngày nay, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, lợi thế về vốn là yếu tố quan trọng nhất giúp doanh nghiệp cạnh tranh được về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, marketing, về thời hạn giao hàng và đặc biệt là về giá. Hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển thì nhu cầu về vốn lại càng cao do những đặc trưng rất khác biệt của ngoại thương so với buôn bán trong nước.
Thứ hai, tín dụng xuất nhập khẩu góp phần giảm rủi ro cho các doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở lòng tin cho bạn hàng trong thương mại.
Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động diễn ra giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau, đối tượng buôn bán được di chuyển qua biên giới quốc gia. Vì vậy tất yếu quá trình này sẽ phát sinh nhiều rủi ro trong quá trình thanh toán, giao chuyển hàng hoá… Tín dụng xuất nhập khẩu sẽ giúp giảm thiểu phần nào các rủi ro này.
Một thương vụ xuất nhập khẩu được tài trợ qua ngân hàng thì cả ngân hàng của nhà xuất khẩu và ngân hàng của nhà nhập khẩu đều kiểm soát chặt chẽ các điều kiện thanh toán để cho nhà xuất khẩu giao hàng đúng như yêu cầu và khi xuất trình các chứng từ hợp lệ thì chắc chắn sẽ được thanh toán; còn nhà nhập khẩu sau khi nhận hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì phải thanh toán cho nhà nhập khẩu theo đúng hợp đồng.
Trong giao dịch ngoại thương, nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu nhiều khi không am hiểu về khả năng tài chính cũng như uy tín thanh toán của nhau. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Nhà xuất khẩu thường vấp phải vấn đề về uy tín trong kinh doanh khi đặt quan hệ thương mại với các đối tác nước ngoài, chẳng hạn như khả năng hoàn thành thương vụ, khả năng cung ứng hàng hoá hoặc công trình đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng sản phẩm… Còn nhà nhập khẩu lại gặp phải vấn đề uy tín trong thanh toán, khả năng tài chính…
Lúc này, họ sẽ tìm đến ngân hàng yêu cầu bảo lãnh. Với sự trợ giúp của ngân hàng, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu sẽ yên tâm và tin tưởng nhau hơn vì hạn chế được nhiều rủi ro trong khi giao dịch.
- Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân
Tín dụng xuất nhập khẩu đóng vai trò chất xúc tác, kích thích và thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, làm cho xuất nhập khẩu phát huy được vai trò của mình đối với nền kinh tế. Nhờ có tín dụng xuất nhập khẩu, mọi hoạt động ngoại thương đều diễn ra thuận lợi, trôi chảy. Nó không chỉ theo sau mà còn là nhân tố đi trước mở đường cho ngoại thương phát triển theo định hướng của nhà nước. Ví dụ ngân hàng sẽ đi trước thiết lập quan hệ tài chính với những thị trường mục tiêu, dọn sẵn tiền đề cho các nhà xuất nhập khẩu thâm nhập vào thị trường đó.
Tóm lại, với vai trò to lớn của mình, việc cấp tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng đang ngày càng phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phục vụ ngày một tốt hơn các nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, từ đó đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
1. Các nhân tố bên trong ngân hàng
1.1 Cơ chế, chính sách và chỉ đạo điều hành hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu
- Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu.
Khả năng mở rộng hay hạn chế tín dụng xuất nhập khẩu tuỳ thuộc vào việc hoạch định chiến lược tín dụng xuất nhập khẩu với các chính sách cụ thể: chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách cán bộ, chính sách khách hàng…
Tuỳ theo mục tiêu của chiến lược tín dụng xuất nhập khẩu mà ngân hàng cần xác định các chính sách cụ thể hướng vào ưu tiên các đối tượng khách hàng riêng, ngành nghề riêng, loại sản phẩm tín dụng xuất nhập khẩu riêng. Chính sách không cụ thể sẽ dẫn đến hạn chế việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu.
1.2 Trình độ cán bộ, tổ chức bộ máy và quy trình quản lý tín dụng
Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu rất phức tạp, nên cho vay xuất nhập khẩu không giống như cho vay các hoạt động thương mại thông thường khác và nó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do vậy để phát triển tín dụng xuất nhập khẩu, hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu phụ thuộc rất nhiều vào trình độ cán bộ, tổ chức bộ máy và quy trình quản lý tín dụng của ngân hàng.
Đội ngũ nhân viên ngân hàng phải nắm chắc nghiệp vụ, hiểu rõ về hoạt động xuất nhập khẩu để tránh những rủi ro có thể phát sinh. Một trong những lý do quan trọng khiến cho các ngân hàng chậm phát triển tín dụng xuất nhập khẩu là do thiếu một đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, yếu kém về nghiệp vụ và trình độ quản lý. Một cán bộ có năng lực thẩm định tín dụng xuất nhập khẩu phải có kiến thức về thanh toán quốc tế và kinh doanh xuất nhập khẩu, nắm bắt kịp thời các thông tin về kinh tế, chính trị, thị trường, pháp luật trong và ngoài nước. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý tín dụng xuất nhập khẩu phải quy định được quyền hạn, trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của các bộ phận trong quá trình thực hiện từ thẩm định đến khi thiết lập quan hệ tín dụng và thu hồi vốn tín dụng xuất nhập khẩu. Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý tín dụng phù hợp sẽ nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng xuất nhập khẩu, hạn chế tình trạng lựa chọn những khoản đầu tư không có hiệu quả và rủi ro đạo đức trong tín dụng xuất nhập khẩu.
Việc phân công cán bộ và mức độ chuyên môn hoá cán bộ trong tổ chức bộ máy quản lý tín dụng xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu. Quy trình quản lý tín dụng xuất nhập khẩu được bố trí khoa học, rõ về trách nhiệm, sẽ góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định, giảm các yếu tố sai lệch thông tin và là cơ sở quan trọng để phát triển tín dụng xuất nhập khẩu.
1.3 Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu là nền tảng, cơ sở để có thể phát triển tín dụng xuất nhập khẩu. Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu có tốt thì ngân hàng mới có cơ sở vững chắc để phát triển tín dụng xuất nhập khẩu và ngược lại, nếu chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu xấu, ngân hàng có xu hướng thu hẹp tín dụng xuất nhập khẩu để bảo toàn vốn của mình.
Năng lực thẩm định tín dụng xuất nhập khẩu là yếu tố đầu tiên đảm bảo chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu. Năng lực thẩm định cao sẽ loại trừ những sai lệch trong cung cấp thông tin của doanh nghiệp, đánh giá đúng năng lực vay vốn của doanh nghiệp. Việc dự đoán tương lai hoạt động, khả năng sinh lời và rủi ro càng chính xác, chất lượng tín dụng càng lớn.
Yếu tố thứ hai quyết định đến chất lượng tín dụng là năng lực giám sát tín dụng xuất nhập khẩu. Giám sát tín dụng xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu như ban đầu dự đoán, hạn chế xảy ra tình trạng rủi ro đạo đức trong quan hệ tín dụng. Theo dõi chặt chẽ tiền vay là biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo khoản tín dụng xuất nhập khẩu được sử dụng đúng mục đích, hoàn trả vốn vay đúng thời hạn, giám sát việc sử dụng và bảo quản tài sản đảm bảo nợ vay để xử lý kịp thời.
1.4 Hình thức tín dụng xuất nhập khẩu
Các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu. Nếu các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu đa dạng thì vốn tín dụng ngân hàng có thể xâm nhập đc vào nhiều khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều hình thức cho vay khác nhau, qua đó ngân hàng tận dụng được nguồn vốn của mình để sinh lợi. Tín dụng xuất nhập khẩu được đa dạng hoá sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng kế hoạch được quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, giúp cho ngân hàng lựa chọn được nhiều khách hàng, từ đó lựa chọn được các đối tượng cho vay hợp lý.
1.5 Công nghệ ngân hàng Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Công nghệ ngân hàng liên quan đến cơ sở vật chất và mạng lưới truyền thông, thanh toán.
Hệ thống mạng máy tính và các chương trình ứng dụng của nó liên quan chặt chẽ đến việc mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng. Một ngân hàng có công nghệ thanh toán hiện đại sẽ giúp cho các đơn vị thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng được thực hiện nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm chi phí. Việc nối mạng thông tin cũng giúp cho ngân hàng quảng bá sản phẩm và dịch vụ của mình tới khách hàng, thu hút thêm nhiều khách hàng đến vay vốn ngân hàng. Việc nối mạng và cập nhật thông tin tốt giúp cán bộ tín dụng có thể biết được thông tin về doanh nghiệp, thị trường, bạn hàng từ các cơ quan thông tin chuyên nghiệp, từ khách hàng, và qua tìm hiểu của cán bộ tín dụng. Việc khai thác thông tin càng chính xác, kịp thời và toàn diện bao nhiêu thì càng tăng khả năng phòng ngừa rủi ro bấy nhiêu.
Do đó công nghệ ngân hàng là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến việc mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng.
1.6 Uy tín và khả năng của ngân hàng về thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
Nếu một ngân hàng có uy tín, có bề dày kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực thanh toán quốc tế sẽ thu hút được lượng khách hàng lớn đến giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu. Với mạng lưới ngân hàng đại lý khắp nơi trên thế giới, ngân hàng sẽ được các doanh nghiệp nước ngoài biết đến và chỉ định làm ngân hàng thông báo L/C và thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu.
Thanh toán quốc tế phát triển sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tạo nguồn ngoại tệ dồi dào để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán và vay vốn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Theo dõi toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp từ khâu nhận tiền vay đến khâu giao nhận hàng và chuyển tiền thanh toán, sẽ giúp cho ngân hàng quản lý tín dụng xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả. Đây là cơ sở để ngân hàng mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu.
1.7 Nguồn vốn huy động
Vốn cho vay xuất nhập khẩu hiện nay hình thành từ một số nguồn chủ yếu sau:
- Vốn tự có của các ngân hàng thương mại,
- Vốn huy động của các tổ chức kinh tế và dân cư,
- Vốn vay nước ngoài.
Tuy nhiên, nguồn vốn chủ yếu để cho vay xuất nhập khẩu là từ nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền gửi dân cư. Mức độ biến động của tiền gửi quyết định kết cấu tài sản dự trữ, tín dụng dài hạn và ngắn hạn. Trong hoạt động về vốn chứa đựng hai loại rủi ro là rủi ro thanh toán và rủi ro lãi suất, vì vậy trong nguyên tắc quản trị tài chính có nguyên tắc cân bằng về thời hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Tức là vốn ngân hàng ngắn hạn dùng để cho vay ngắn hạn và vốn trung dài hạn dùng để cho vay trung dài hạn. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Phát triển tín dụng xuất nhập khẩu đòi hỏi phải có một lượng vốn rất lớn sẵn sàng đáp ứng cho mọi nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nguồn vốn này cũng phải đa dạng về kỳ hạn để sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tín dụng xuất nhập khẩu khác nhau. Nhiều ngân hàng có nhiều hình thức tín dụng xuất nhập khẩu nhưng nguồn vốn huy động được chủ yếu là vốn ngắn hạn, nên không thể cho khách hàng vay những lượng vốn lớn với thời hạn tín dụng trung và dài hạn để đầu tư xây dựng nhà xưởng và mua sắm máy móc thiết bị. Ngân hàng có thể cho vay với một tỷ lệ hạn chế của vốn huy động ngắn hạn, nhưng điều này lại dễ đẩy ngân hàng vào rủi ro thanh khoản, không có khả năng thanh toán cho khách hàng.
Nếu không chuẩn bị sẵn vốn để đáp ứng cho nhu cầu tín dụng lớn và đa dạng về kỳ hạn của khách hàng, ngân hàng có thể sẽ mất các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng.
2. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
2.1 Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước
Hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng nhất tác động tới việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng. Sự tác động này được thể hiện qua hai nhân tố sau:
Thứ nhất là nhu cầu kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Nó quyết định nhu cầu vay vốn tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng, nhu cầu này càng lớn thì ngân hàng càng có điều kiện phát triển tín dụng xuất nhập khẩu.
Thứ hai là khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện tín dụng xuất nhập khẩu, thể hiện ở những mặt sau:
Năng lực thị trường xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, bao gồm: khối lượng sản phẩm xuất nhập khẩu tiêu thụ với chất lượng sản phẩm như thế nào, có phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hay không; vị trí của doanh nghiệp trong ngành kinh tế đối với thị trường trong nước và quốc tế, tương lai của doanh nghiệp và ngành kinh tế đó; hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp, thể hiện ở: khối lượng vốn vay tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng; khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Năng lực quản lý của doanh nghiệp, thể hiện ở: bộ máy có năng lực quản lý; tổ chức hệ thống hạch toán kế toán và quản lý tài chính phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời nó giúp doanh nghiệp và ngân hàng trong việc cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp bảo đảm. Quyền sở hữu biểu hiện ở khả năng pháp lý doanh nghiệp được khai thác, thay đổi cơ cấu, đầu tư mới khối tài sản đó. Giá trị tài sản, chất lượng cơ cấu tài sản mà doanh nghiệp sở hữu quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh, nó đo lường giá trị doanh nghiệp và quyết định khối lượng tín dụng. Tài sản thực hiện đảm bảo càng có sự biến động giá trị thấp, chu kỳ sống càng dài, giá trị càng cao… thì doanh nghiệp càng có khả năng nhận được nhiều vốn tín dụng hơn.
2.2 Môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội trong nước
Một môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, thống nhất, và ổn định sẽ có tác dụng rất lớn tới việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu. Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, pháp luật đã trở thành bộ phận không thể thiếu. Khi cân nhắc mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu, ngân hàng không thể không quan tâm đến những quy định, văn bản pháp luật của Chính phủ và Ngân hàng Trung Ương về hoạt động của ngân hàng đối với các hoạt động xuất nhập khẩu.
Những thay đổi chính sách vĩ mô về quy định xuất nhập khẩu, thương mại, ngoại giao, quản lý tiền tệ, chính sách lãi suất, các chương trình kinh tế lớn của Nhà nước… sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp không thực hiện được nghĩa vụ cam kết với ngân hàng, và việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng bị hạn chế.
Các thay đổi về chính sách xuất nhập khẩu, thương mại, ngoại giao giữa các quốc gia có thể hạn chế, cấm doanh nghiệp nhận tín dụng xuất nhập khẩu cho các mặt hàng kinh doanh chủ lực của mình. Hay sự thay đổi những quy định về thuế, giá hàng xuất nhập khẩu… trong chính sách xuất nhập khẩu có thể làm cho doanh nghiệp nhận tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng phải hạn chế xuất nhập khẩu hay chịu thua lỗ. Những điều này dẫn đến việc loại hình tín dụng xuất nhập khẩu bị thu hẹp lại hoặc có chất lượng thấp, không hiệu quả cả đối với ngân hàng và doanh nghiệp được nhận vốn.
Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu ngoại hối trên thanh toán và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nên kinh tế quốc dân, trước hết là ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, đến nhu cầu ngoại tệ cho xuất nhập khẩu. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Chính sách lãi suất tác động đến lãi suất tín dụng của ngân hàng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu. Nếu mức lãi suất quy định quá cao thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu vay vốn khó tạo được mức sinh lời cao để bù đắp, các doanh nghiệp sẽ hạn chế sử dụng vốn tín dụng của ngân hàng, và do đó các nghiệp vụ này không hiệu quả và không có khả năng mở rộng thêm. Lãi suất tín dụng xuất nhập khẩu phải theo tín hiệu thị trường và mối quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thu hút tối đa nguồn vốn trong và ngoài nước phục vụ cho việc mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu.
Do đó, việc thống nhất các điều luật, thông tư, các quy định, các văn bản… liên quan đến xuất nhập khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như ngân hàng dễ dàng trong việc thực hiện, một mặt tránh được sự lợi dụng kẽ hở của các đối tượng làm ăn không chân chính, mặt khác để ngân hàng và doanh nghiệp đưa ra chính sách đầu tư trong một lĩnh vực nào đó mà không sợ mất vốn vì cơ chế chính sách thay đổi.
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế, chính trị và xã hội tác động lên hoạt động của doanh nghiệp xuất nhập khẩu và ngân hàng.
Một môi trường kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển cùng với mức thu nhập của người dân, lòng tin và sự ổn định đồng tiền trong nước, sức hút từ việc gửi tiền sẽ tăng lượng vốn huy động, và do đó tạo điều kiện cho việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu được thuận lợi hơn.
Môi trường chính trị, xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển tín dụng xuất nhập khẩu. Những bất ổn về kinh tế chính trị dẫn đến những khó khăn cho doanh nghiệp và ngân hàng trong việc tập trung đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí là duy trì mức độ phát triển như cũ. Đồng thời nó cũng dẫn tới sự mất lòng tin trong đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, ngh không huy động thêm vốn, trong khi có thể có xu hướng dân chúng rút tiền gửi khỏi ngân hàng để tự bảo quản.
2.3. Môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị, xã hội của các nước có quan hệ xuất nhập khẩu
Mọi sự biến động chính trị của các nước bạn hàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng và sự đáp ứng các cam kết thảo thuận giữa các bên. Sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng đến sự vận động tự do của thương mại, đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Những thay đổi về cơ chế, chính sách và chế độ chính trị của một quốc gia: quy định về dự trữ ngoại hối, về thuế, phí xuất nhập khẩu, quan điểm của các đảng phái, hoặc đơn giản là môi trường pháp lý, kinh tế của quốc gia chưa ổn định làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện cam kết của các đối tác, do vậy ảnh hưởng đến tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng.
IV. Kinh nghiệm thế giới về tín dụng xuất nhập khẩu Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
Chính sách tín dụng ưu đãi đã được các nước rất coi trọng. Nhiều nước đã thành lập những ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu, thông qua đó áp dụng những biện pháp đặc biệt để hỗ trợ xuất nhập khẩu, đặc biệt là hỗ trợ ngành xuất khẩu mũi nhọn. Sau đây là ví dụ về việc thực hiện thành công các chính sách ưu đãi về tín dụng của một số nước trên thế giới.
Nhật Bản: Trong những năm đầu của thời kì tăng trưởng nhanh, Nhật Bản đã áp dụng chính sách tín dụng đặc biệt đối với hàng xuất khẩu. Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản (JEXIM) ra đời vào năm 1950 có nhiệm vụ cấp tín dụng cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất nhập khẩu thuộc các ngành công nghiệp then chốt; JEXIM có 4 hình thức tài trợ chính là: tín dụng xuất khẩu, tín dụng nhập khẩu, tín dụng đầu tư ra nước ngoài và tín dụng không điều kiện (Untied Loans). Thông qua Ngân hàng này, Nhật Bản đã thực hiện cấp vốn với lãi suất thấp, ưu đãi dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của mình.
Mỹ: Nhằm hỗ trợ xuất khẩu, Mỹ đã thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi bằng cách thông qua Ngân hàng Xuất nhập khẩu (EXIM Bank) và Tập đoàn Đầu tư tư nhân nước ngoài (OPIC), tài trợ xuất khẩu song phương, tài trợ dự án, bảo lãnh nợ và bảo hiểm.
EXIM Bank tài trợ xuất khẩu hàng hoá của Mỹ bằng cách cung cấp tín dụng, bảo lãnh vốn lưu động (Working capital Guarantee) và tín dụng bảo hiểm xuất khẩu (Export credit insuarance). Trong khi đó, OPIC lại khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân Mỹ đầu tư vào các nước đang phát triển thông qua tài trợ vốn cho các dự án và bảo hiểm các rủi ro chính trị, trong đó có bảo hiểm trước rủi ro về tính không chuyển đổi của các bản tệ, quốc hữu hoá và biến động chính trị.
Đức: Tín dụng cho người đặt hàng được thực hiện ở Đức. Ngân hàng Đức ký kết hiệp định khung với các Ngân hàng và Chính phủ của nước ngoài cho phép các Ngân hàng và Chính phủ này sử dụng những khoản tín dụng riêng rẽ nhằm tài trợ cho việc nhập khẩu hàng hoá, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ từ Đức.
Ưu điểm của phương thức này:
Đối với người xuất khẩu: Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
- Tránh được những rủi ro làm ngưng trệ thanh toán về kinh tế, chính trị nằm ở nước ngoài.
- Tránh được khó khăn đối với thanh toán và giữa được khả năng tín dụng của mình.
- Cạnh tranh được với các đối thủ nước ngoài.
Đối với người nhập khẩu:
- Có thể thanh toán từng phần cho cả công trình, thiết bị đã nhập khẩu. Đồng thời có thể thanh toán từ lợi nhuận cho các sản phẩm làm ra từ các công trình, thiết bị đó. Do đó nhà nhập khẩu giữ được vốn và nội tệ của nước mình.
- Có thể tận dụng được lãi suất thuận lợi ở nước nhập khẩu.
Thành công và hạn chế của các quốc gia trong việc áp dụng chính sách ưu đãi tín dụng là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Trong từng thời điểm, giai đoạn khác nhau, tuỳ theo sự phát triển kinh tế của quốc gia, Chính phủ và Nhà Nước có thể xem xét để có những chính sách riêng nhằm hỗ trợ sự phát triển tín dụng xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, bên cạnh việc thành lập các ngân hàng hay tổ chức chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu để thông qua đó thực hiện tốt các chính sách đã được đề ra. Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB


Pingback: Khóa luận: Giải pháp hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB