Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Khái quát về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội được thành lập theo Quyết định số 0054/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 14/09/1994 và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 060297 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 30/09/1994. Số vốn điều lệ ban đầu của Ngân hàng là 20 tỷ đồng với định hướng hoạt động trong giai đoạn đầu là trung gian tài chính phục vụ các doanh nghiệp Quân đội tham gia phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Cổ đông sáng lập chủ yếu là các Tổng công ty, công ty và các nhà máy thuộc Bộ Quốc phòng.
Bắt đầu từ con số hết sức khiêm tốn: vốn điều lệ chỉ có hơn 20 tỷ đồng, với duy nhất một trụ sở chính tại 28A Điện Biên Phủ – Ba Đình – Hà Nội, số cán bộ nhân viên chỉ có 25 người; trải qua hơn 13 năm hoạt động, Ngân hàng Quân Đội đã không ngừng vươn lên, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ, đổi mới phương thức hoạt động gắn liền với ứng dụng công nghệ ngân hàng và kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn và dịch vụ cho khách hàng, tích cực góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
Vốn điều lệ của Ngân hàng liên tục tăng và đã đạt hơn 2018 tỷ đồng năm 2025. Lượng khách hàng ngày càng mở rộng gồm các doanh nghiệp quân đội, doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh và các khách hàng cá nhân. Lượng vốn hàng năm huy động một phần đáp ứng mục tiêu tăng trưởng, thực thi chính sách tiền tệ cũng như chính sách ngoại hối theo đúng định hướng của Nhà nước. Các cổ đông lớn của Ngân hàng gồm một số công ty lớn như: Tổng công ty Bay dịch vụ miền Bắc, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, Công ty Tân Cảng Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và trên 750 cổ đông pháp nhân và thể nhân khác.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển, Ngân hàng liên tục mở rộng mạng lưới hoạt động. Đến thời điểm 31/12/2023, mạng lưới của Ngân hàng đã phủ khắp các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, gồm:
- Hội sở chính và Sở giao dịch Hà Nội
- 04 chi nhánh cấp 1
- 17 chi nhánh cấp 2
- 03 phòng giao dịch
- Công ty trực thuộc: Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC), Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC), Công ty quản lý quỹ Hà Nội (HFN)
Cùng với việc mở rộng mạng lưới hoạt động của ngân hàng trong nước, Ngân hàng cũng rất chú trọng đến việc mở rộng quan hệ hợp tác và mạng lưới giao dịch với các ngân hàng trên thế giới. Mạng lưới các ngân hàng đại lý của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã mở rộng tới hơn 300 ngân hàng ở trên 56 quốc gia, đảm bảo thanh toán và giao dịch khắp châu lục.
Với nỗ lực bền bỉ của mình, Ngân hàng Quân Đội đã tự khẳng định được vị trí của mình trong khối Ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam: Liên tục được Ngân hàng Nhà nước xếp loại A; năm 2022 được trao “Giải thưởng thanh toán và quản lý tiền tệ trên thị trường quốc tế”; năm 2023 đoạt giải Ngân hàng xuất sắc trong “Dịch vụ thanh toán toàn cầu và quản lý vốn” do Ngân hàng HSBC New York trao tặng, đồng thời đoạt giải “Thương hiệu mạnh Việt Nam”; năm 2026, đoạt giải “Doanh nghiệp dịch vụ được hài lòng nhất”.
2. Cơ cấu tổ chức Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Với phương châm hoạt động “VỮNG VÀNG – TIN CẬY”, mục tiêu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội là trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu ở Việt Nam và trở thành ngân hàng quốc tế trong khu vực. Để thực hiện được mục tiêu này, Ngân hàng đã cam kết xây dựng một mô hình tổ chức tiên tiến theo các chuẩn mực quốc tế, đa dạng hoá hoạt động, đi đầu về ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại nhằm cung cấp những dịch vụ tài chính ngân hàng chất lượng cao cho mọi thành phần kinh tế.
Trong những năm qua, Ngân hàng Quân Đội đã có một cơ cấu tổ chức hợp lý, chặt chẽ và phát huy được tiềm lực của mình. Trong vòng từ năm 2023 đến năm 2025, gần 600 cán bộ, nhân viên đã được Ngân hàng tuyển dụng. Bởi vậy, hiện nay hơn 1000 cán bộ, nhân viên đang cống hiến và làm việc tại Ngân hàng với những chính sách, đãi ngộ thoả đáng. Dự kiến đến năm 2026, con số này sẽ tăng lên 50-60%.
- Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
3. Tình hình hoạt động kinh doanh từ năm 2023-2025
Ngân hàng Quân Đội trong những năm qua đã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra với mức tăng trưởng cao, có sự chuyển biến thực sự trong chiến lược đổi mới, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, năng lực quản lý, cơ sở vật chất và mạng lưới hoạt động. Ngân hàng Quân Đội đã xây dựng được vị thế chắc chắn với các đối tác khách hàng, mở ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về dịch vụ ngân hàng trong tương lai gần.
Với sự phát triển thuận lợi của nền kinh tế, cùng với nỗ lực không ngừng của mình, bám sát chiến lược đổi mới đã được Hội đồng Quản trị thông qua cho giai đoạn phát triển 2022-2026, Ngân hàng Quân Đội đã đạt được những thành công trên tất cả các lĩnh vực hoạt động.
- Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng Quân Đội luôn xác định tạo vốn là khâu mở đường, là cơ sở bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng phát triển, nên mặt bằng vốn vững chắc ngày càng tăng trưởng cả VNĐ và ngoại tệ. Bởi muốn cho vay phải có vốn, muốn có vốn phải huy động là chủ yếu. Như vậy huy động vốn là bước khởi đầu quan trọng nhất để có được các hoạt động tiếp theo trong quá trình hoạt động cho vay. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Trong những năm qua, Ngân hàng Quân Đội rất quan tâm đến công tác huy động vốn với phương châm “đi vay để cho vay”, đa dạng hoá nguồn vốn bằng việc đa dạng hoá các hình thức, biện pháp, các kênh huy động vốn từ mọi nguồn trong mọi thành phần kinh tế xã hội.
Nghiên cứu Bảng Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động sẽ cho ta thấy rõ hơn vấn đề này.
- Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Các số liệu trên bảng 2.1 cho thấy Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn nên hàng năm đều có tốc độ tăng trưởng rất cao.
Tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân năm đạt trên 80%/năm. Đặc biệt là trong năm 2025, nguồn vốn huy động của Ngân hàng Quân Đội có sự tăng trưởng vượt bậc đạt 23.136 tỷ đồng, tăng hơn so với năm 2024 là 109,6% và đạt 140,2% kế hoạch năm.
Có được điều đó là do Ngân hàng Quân Đội đã đa dạng hoá rất nhiều hình thức huy động như: Tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn (1,3,6,9,12,18,24,36 tháng…) với các hình thức: lãi trả trước, lãi trả sau, trả lãi định kỳ, tiết kiệm tích luỹ, chương trình tiết kiệm dự thưởng… nên đã khơi thông nguồn vốn huy động. Trong các nguồn vốn huy động thì tiền gửi của các Tổ chức kinh tế và tín dụng có tốc độ tăng trưởng cao (257,9% so với năm 2024) và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động. Đây là một lợi thế của Ngân hàng Quân Đội bởi lãi suất huy động loại tiền gửi này thường thấp hơn lãi suất gửi tiết kiệm do Ngân hàng Quân Đội thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Bộ Quốc phòng, các đơn vị có nguồn tiền gửi dồi dào để huy động tiền gửi.
Huy động tiết kiệm có sự tăng trưởng khá. Trong năm 2025 loại tiền gửi này tăng mạnh (82,88% so với năm 2024). Điều này có thể được lý giải bởi việc đa dạng hoá sản phẩm tiền gửi tạo nhiều tiện ích cho khách hàng với mức lãi suất hấp dẫn, tiết kiệm dự thưởng…; bên cạnh đó sự phát triển ổn định của Ngân hàng cũng là yếu tố tâm lý tác động đến người gửi tiền.
Những năm trước đây, trong cơ cấu nguồn vốn huy động, loại tiền gửi không kỳ hạn thường ít hơn so với tiền gửi có kỳ hạn. Lý do một phần là do nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, hoạt động đầu tư trở nên sôi động, nguồn vốn quay vòng cho đầu tư nhiều hơn, bên cạnh đó các tổ chức kinh tế, cá nhân kể cả trong ngắn hạn họ cũng gửi tiền có kỳ hạn bởi sự linh hoạt về cách tính lãi của Ngân hàng. Tuy nhiên từ năm 2022, tiền gửi không kỳ hạn đã tăng trở lại và đặc biệt là tăng mạnh vào năm 2025 (114,4% so với năm 2024). Nguyên nhân là do Ngân hàng Quân Đội đã triển khai nhiều biện pháp tích cực mà trong đó quan trọng là việc cho ra đời sản phẩm thẻ rút tiền tự động ATM, tạo ra một kênh huy động vốn không kỳ hạn rất hiệu quả. Bên cạnh đó Ngân hàng cũng đã tích cực hợp tác với các doanh nghiệp thực hiện trả lương qua tài khoản hay các sản phẩm cho vay ôtô trả góp, cho vay nhà trả góp… đã làm tăng số lượng tiền gửi thanh toán.
Là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng, vốn tự có của Ngân hàng Quân Đội đã góp phần đáng kể vào nguồn vốn huy động. Tính đến 31/12/2025, vốn điều lệ Ngân hàng đạt 2018 tỷ đồng, hoàn tất việc tăng vốn điều lệ năng 2025 đã được Đại hội đồng Cổ đông thông qua. Đồng thời hoàn tất phát hành hơn 1.000 cổ phiếu chuyển đổi. Tổng vốn chủ sở hữu tính đến 31/12/2025 đạt 3.549,9 tỷ đồng, tăng 2,57 lần so với đầu năm.
- Hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thì hai khâu quan trọng nhất là huy động vốn và cho vay. Xuất phát từ tình hình thực tế, với nhiệm vụ và mục tiêu của mình, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã không ngừng mở rộng hoạt động cho vay với tốc độ tăng trưởng cao.
- Tốc độ tăng trưởng cho vay bình quân năm (2023-2025) là gần 50%.
Đây là mức tăng trưởng cao so với mức bình quân chung của ngành ngân hàng. Điều này được thể hiện rõ hơn ở Bảng Tốc độ tăng trưởng cho vay của Ngân hàng Quân Đội trong 3 năm 2023-2025.
- Bảng 2.2. Tốc độ tăng trưởng cho vay
Bảng 2.2 cho thấy: Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khá cao, tổng dư nợ bình quân đạt 7.527 tỷ đồng trong 3 năm 2023-2025. Đó là do bên cạnh những sản phẩm cho vay truyền thống, Ngân hàng Quân Đội đã đưa ra một số sản phẩm cho vay mới, đặc biệt là các sản phẩm bán lẻ như: Cho vay đối với cán bộ công nhân viên làm việc tại doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá mua cổ phần, cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay mua ôtô trả góp, cho vay tiêu dùng… Đặc biệt là năm 2025, Ngân hàng có mức tăng trưởng vượt bậc. Tổng dư nợ tại thời điểm 31/12/2025 là 11.612,6 tỷ đồng, tăng 88,3% so với đầu năm, bằng 136,6% kế hoạch đề ra (kế hoạch đề ra là 8.500 tỷ đồng). Về cơ cấu cho vay theo thời hạn, cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng xấp xỉ 69,7%, cho vay trung dài hạn chiếm 30,3% tổng dư nợ.
Trong khi tổng dư nợ luôn giữ mức tăng trưởng khá, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ lại giảm. Điều đó cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng Quân Đội ngày càng an toàn hơn. Trong những năm gần đây, Ngân hàng luôn duy trì tỉ lệ nợ quá hạn ở mức dưới 4%. Đặc biệt năm 2025 là một năm thành công của Ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn là 1,09% (mức kế hoạch là dưới 2%). Có được điều này là do Ngân hàng Quân Đội đã áp dụng những biện pháp triệt để nhằm đẩy mạnh thu hồi nợ quá hạn, hạn chế nợ quá hạn phát sinh mới; đồng thời tăng cường công tác kiểm toán nội bộ nhằm đánh giá thực trạng và nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn, nợ tồn đọng để có biện pháp xử lý kịp thời các sai phạm.
- Bảng 2.3. Tình hình cho vay – thu nợ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Nhìn vào bảng 2.3, ta có thể thấy: Doanh số cho vay từ năm 2023-2025 tăng trưởng liên tục. Đặc biệt là năm 2025 với doanh số cho vay tăng mạnh lên tới 17.218 tỷ đồng, tăng 59,82% so với năm 2024. Sự tăng trưởng này một phần là do sự thay đổi trong chính sách cho vay của Ngân hàng. Năm 2023, Ngân hàng áp dụng chính sách thận trọng trong phát triển tín dụng, sàng lọc kỹ khách hàng để đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Khi các doanh nghiệp vay vốn ở Ngân hàng Quân Đội cần phải có thế chấp mới tiếp cận được nguồn vốn tín dụng và nó vẫn được đánh giá một cách dè dặt. Sự lệ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp đã là một mặt yếu trong khả năng hạn chế và đánh giá rủi ro của Ngân hàng, bên cạnh đó một hạn chế khác là thời gian dải ngân chậm. Nhưng đến năm 2024, đặc biệt 2025, các hạn chế này đã dần được khắc phục nhờ áp dụng những chính sách tín dụng linh hoạt với mức lãi suất cho vay luôn đảm bảo thấp hơn 3% so với mặt bằng chung của thị trường.
Doanh số thu nợ có tốc độ tăng trưởng tương đối lớn, tốc độ tăng trường bình quân hàng năm là trên 45%. Doanh số thu nợ năm 2025 là 15.312 tỷ đồng, tăng 77,26% so với năm 2024, và tăng 111,1% so với năm 2023. Đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy là nhờ Ngân hàng đã áp dụng nhiều biện pháp tốt cho công tác thu hồi nợ.
Về tổng thể, nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì tăng trưởng nguồn vốn so với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhìn chung là hợp lý. Song xét về số tăng tuyệt đối thì tình hình cho vay chậm hơn so với huy động vốn. Bởi vì trong chiến lược phát triển, Ngân hàng đã xác định phấn đấu trở thành một ngân hàng bán lẻ, tăng cường các hoạt động dịch vụ phi tín dụng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng. Ngoài ra, chính sách của Ngân hàng Nhà nước là cơ cấu và đánh giá lại nợ của các ngân hàng thương mại đã tác động và phản ánh một cách trung thực tình hình tín dụng của các ngân hàng thương mại.
- Một số hoạt động khác
Ngoài những nghiệp vụ truyền thống trước đây như nhận gửi và cho vay, hiện nay các ngân hàng thương mại đã không ngừng gia tăng các hoạt động dịch vụ ngân hàng với mức thu chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đó là xu hướng phát triển của ngân hàng hiện đại. Nắm được xu thế phát triển chung đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội đã từng bước ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại cùng với sự phát triển các loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú, đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế thị trường linh hoạt và năng động.
- Hoạt động trung gian thanh toán Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Nhờ việc ứng dụng công nghệ mới về thông tin, chất lượng thanh toán được tăng lên, thời gian thanh toán được rút ngắn, việc kiểm tra giám sát được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện đảm bảo an toàn, chính xác.
Thanh toán xuất nhập khẩu: Từ năm 2020, Ngân hàng Quân Đội đã chính thức tham gia hệ thông thanh toán điện tử liên ngân hàng, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, thu hút được nhiều tổ chức kinh tế và tư nhân đến mở tài khoản tiền gửi, giao dịch với Ngân hàng Quân Đội ngày càng tăng, đưa doanh số thanh toán tăng bình quân các năm là 24%, do đó tăng phí dịch vụ cho Ngân hàng. Đến nay Ngân hàng đã thiết lập được quan hệ đại lý với khoảng hơn 700 ngân hàng và chi nhánh trên toàn thế giới, đảm bảo hoạt động thanh toán và phát hành L/C được nhanh chóng và chính xác.
- Biểu 2.1. Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu
Theo dõi biểu đồ 2.1, ta có thể thấy doanh số xuất nhập khẩu luôn đạt mức tăng trưởng đều qua các năm, trong đó năm 2024 tăng 11% và năm 2025 con số này lên tới 119,3%.
- Biểu 2.2. Tốc độ tăng trưởng phát hành L/C
Biểu đồ 2.2 cho thấy thanh toán L/C có mức tăng trưởng khá trong 3 năm 2023 – 2025, với số lượng L/C phát hành năm 2023 là 1250 và năm 2025 con số này đã lên tới 2130. Thanh toán L/C luôn chiếm trên 50% tổng doanh số xuất nhập khẩu, với mức tăng trưởng trung bình trong hoạt động phát hành L/C trong 3 năm 2023-2025 là trên 22%.
Hoạt động kinh doanh thẻ: Năm 2022, Ngân hàng Quân Đội đã chính thức triển khai sản phẩm thẻ rút tiền tự động ATM. Đây thực sự là một kênh huy động vốn khá an toàn và hiệu quả. Ban đầu, hoạt động này chưa mang lại lợi nhuận do phải đầu tư nhiều vào tài sản (công nghệ, máy rút tiền…), song qua đó hình ảnh của Ngân hàng đã được nâng cao trong công chúng. Năm 2025, cùng với đề án phát triển thẻ MB, số lượng thẻ phát hành trong năm tăng lên 2 lần so với năm 2024. Như vậy đến 31/12/2025, Ngân hàng đã có gần 100.000 thẻ, 93 ATM và trên 400 POS.
- Hoạt động kinh doanh vốn và ngoại tệ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Hoạt động này đã có sự tăng trưởng tốt. Năm 2025, doanh thu mua bán nội bộ và hoạt động trên liên ngân hàng đều tăng trưởng gấp trên 2 lần so với năm 2024. Vì vậy đã tạo nguồn thu là 77,2 tỷ đồng, bằng 175% kế hoạch 2025. Mặc dù gặp phải nhiều khó khăn như tình trạng dư thừa đồng USD trên thị trường, hoạt động kinh doanh ngoại tệ vẫn mang lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng, đạt 21,1 tỷ đồng năm 2025, tăng gấp 3,2 lần so với năm 2024.
- Hoạt động của các công ty trực thuộc
Công ty chứng khoán Thăng Long: Bắt đầu đi vào hạch toán độc lập từ năm 2022, sau đó nhờ đẩy mạnh hoạt động tư vấn cổ phần hoá và đấu giá cho các doanh nghiệp, Công ty đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Trong năm 2024, Công ty đã nâng vốn điều lệ từ 50 tỷ đồng năm 2023 lên 120 tỷ đồng, đạt 43,6 tỷ đồng lợi nhuận, tăng gấp 5,7 lần so với cùng kỳ năm 2023 và đạt 198% kế hoạch năm. Đến năm 2025, Công ty đã tăng vốn điều lệ lên 300 tỷ đồng, hoàn thành chuyển đổi hình thức từ trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần; đồng thời thực hiện bổ sung nhân sự cho hầu hết các bộ phận, đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên; thành lập 2 phòng Giao dịch và mở Đại lý nhận lệnh tại Đà Nẵng; và triển khai các chương trình về thương hiệu, thiết kế logo, đầu tư cho hệ thống công nghệ thông tin. Nhờ vậy hoạt động kinh doanh năm 2025 đạt gần 104 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 2,38 lần so với đầu năm, vượt 30% kế hoạch điều chỉnh.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC): Năm 2024 là năm đầu tiên Công ty được lãnh đạo Ngân hàng giao kế hoạch sửa chữa nâng cấp trụ sở của toàn bộ các chi nhánh phòng giao dịch của Ngân hàng, đảm bảo ở mọi chi nhánh thống nhất về hình thức và ở đâu khách hàng cũng nhận được hình ảnh của Ngân hàng Quân Đội. Năm 2024 Công ty AMC đã thu đc 5,548 tỷ đồng nợ quá hạn và tính đến 31/12/2025 là 6,702 tỷ đồng. Đồng thời năm 2025, Công ty cũng tiến hành hoàn thành cải tạo sửa chữa chi nhánh, các kiot ATM toàn hệ thống, đáp ứng cho yêu cầu phát triển mạng lưới.
Công ty Quản lý Quỹ (HFM): Công ty được thành lập và đi vào hoạt động từ cuối năm 2024. Trong thời gian qua Công ty đã ổn định tổ chức, tuyển nhân sự, từng bước tạo dựng hình ảnh trên thị trường tài chính Việt Nam. Năm 2025 được đánh giá là một năm khá thành công đối với HFM trên các mặt hoạt động chủ yếu. Công ty đã đi vào ổn định, hạch toán độc lập và chuyển đổi mô hình sang công ty cổ phần. Trong năm, Công ty đã triển khai thành công Quỹ II Việt Nam Tiger Fund, xin giấy phép và triển khai thí điểm hoạt động quản lý danh mục đầu tư; lợi nhuận trước thuế đạt 41,9 tỷ đồng, gấp 4 lần so với kế hoạch.
Khách sạn quốc tế ASEAN: Năm 2024, các chỉ tiêu kinh doanh của Khách sạn đề có mức tăng trưởng, tỷ lệ sử dụng phòng đạt 74%; tổng doanh thu đạt 22,85 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 2,350 tỷ đồng, tăng hơn 20% so với năm Năm 2025, nhờ những thuận lợi trong hoạt động kinh doanh khách sạn, nên các chỉ tiêu về doanh thu, công suất phòng, các dịch vụ đi kèm đề có mức tăng trưởng khá. Cụ thể, tổng doanh thu đạt 25,16 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 3,9 tỷ đồng, tăng 66% so với cùng kỳ năm trước.
- Kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội là một trong những ngân hàng đã đạt được kết quả kinh doanh khá cao trong khối các ngân hàng thương mại cổ phần trong nhiều năm qua. Có được điều này là do những định hướng đúng đắn của Hội đồng Quản trị, Ban điều hành và nỗ lực của hơn 1000 cán bộ, công nhân viên của hệ thống Ngân hàng Quân Đội.
- Bảng 2.4. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Quân Đội
Tổng thu nhập của Ngân hàng Quân Đội luôn có sự chuyển biến gia tăng mạnh mẽ qua các năm.
Năm 2023, tổng thu nhập đạt 548 tỷ đồng, trong đó thu nhập từ tín dụng đạt 402 tỷ đồng chiếm 73% tổng thu nhập của Ngân hàng. Có thể nói năm 2023 là năm khó khăn đối với Ngân hàng về một số ngành nghề trong đó có lĩnh vực xây lắp. Tuy nhiên việc đạt được con số này là một điều hết sức đáng mừng và là nỗ lực của toàn thể công nhân viên của Ngân hàng Quân Đội.
Năm 2024 là một trong những năm được đánh giá là cuộc cạnh tranh khốc liệt về doanh thu và lợi nhuận của các ngân hàng, tuy nhiên Ngân hàng Quân Đội cũng đã đạt được những con số hết sức ấn tượng và tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên thị trường. Tổng thu nhập năm 2024 là 1.266 tỷ đồng, giúp cho Ngân hàng Quân Đội lọt vào Top những ngân hàng có mức thu nhập đạt được trên 1.000 tỷ đồng như ACB, Sacombank… Trong đó thu nhập từ tín dụng đạt 1.040 tỷ đồng chiếm 82% tổng thu nhập của Ngân hàng và tăng hơn so với năm 2023 là 638 tỷ đồng. Về dịch vụ thanh toán, năm 2024 Ngân hàng đạt 46 tỷ đồng chiếm 3,6% tổng thu nhập. Bên cạnh đó thu từ các hoạt động khác (thu lãi tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán…) đạt 180 tỷ đồng chiếm 14% tổng thu nhập của Ngân hàng.
Năm 2025 được đánh giá là một năm tiếp tục thành công của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội. Tổng thu nhập đạt 2.031 tỷ đồng, tăng 60,42% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức thu nhập được đánh giá là khá cao, nó giúp cho Ngân hàng Quân Đội tiếp tục khẳng định được vị thế của mình trong số các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Trong đó thu từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.732 tỷ đồng chiếm 85,2% tổng thu nhập. Thu từ hoạt động thanh toán, ngân quỹ tiếp tục có mức tăng trưởng khá, đạt 76 tỷ đồng chiếm 3,7% tổng thu nhập. Trong năm 2025, đóng góp một phần lớn trong tổng 609 tỷ đồng lợi nhuận của Ngân hàng là từ kết quả hoạt động đầu tư chứng khoán (208 tỷ đồng thu nhập/223 tỷ đồng của danh mục “các hoạt động khác”). Năm 2025, tổng danh mục đầu tư chứng khoán của Ngân hàng Quân Đội là 2.767 tỷ đồng, trong đó chứng khoán đầu tư là 2.476 tỷ đồng và chứng khoán kinh doanh là 291 tỷ đồng (chiếm 0,98% tổng tài sản và 10,5% tổng danh mục đầu tư chứng khoán). Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của doanh thu cũng đồng nghĩa với sự tăng lên của chi phí. Chính sự gia tăng của chi phí này quyết định một phần không nhỏ sự tăng trưởng về lợi nhuận của Ngân hàng. Chi phí năm 2024 là 1.024 tỷ đồng, tăng hơn so với năm 2023 là 156% trong đó chi phí về huy động vốn (chi trả lãi tiền gửi, lãi tiết kiệm, lãi tiền vay của các tổ chức tín dụng khác) là 729 tỷ đồng chiếm đến 69% tổng chi phí. Tuy nhiên mức tăng trưởng chi phí của năm 2025 lại giảm rõ rệt, chỉ còn 38,86% so với năm 2024 với con số là 1.422 tỷ đồng. Đây được coi là một thành công trong việc giảm các chi phí của Ngân hàng. Điều này đã dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về lợi nhuận của Ngân hàng. Nếu như tổng thu nhập năm 2024 đạt mức tăng trưởng rất cao là 131,02% thì mức tăng trưởng này của năm 2025 lại khiêm tốn hơn, là 60,42%. Tuy nhiên, nhờ sự giảm thiểu đáng kể về chi phí, mức tăng trưởng lợi nhuận của năm 2025 là 151,65%, vượt xa so với năm 2024 là 62,4%.
II. Thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
1. Khái quát chung
- Tình hình hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu nói chung
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của Ngân hàng Quân Đội thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận về tín dụng chiếm trên 70% tổng thu nhập của Ngân hàng. Trong đó doanh số cho vay xuất nhập khẩu chiếm khoảng 25-30% hoạt động tín dụng và tương ứng là tỷ lệ về thu lãi vay của tín dụng xuất nhập khẩu. Nhìn về công tác tín dụng thì điều đó là bình thường nhưng xét về khía cạnh thanh toán quốc tế thì công tác này chưa nổi bật, trong đó Ngân hàng còn chưa đa dạng các hình thức cho vay xuất nhập khẩu.
Điều này có thể giải thích là do thời gian hoạt động kinh doanh của Ngân hàng còn ngắn, bước khởi đầu chỉ tập trung cho thị trường sản xuất trong nước, hoạt động thanh toán quốc tế dù được quan tâm song những năm gần đây mới có sự phát triển đáng kể nhờ sự định hướng đúng đắn trong chiến lược phát triển của Ban lãnh đạo Ngân hàng, trong đó có sự quan tâm, hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng lớn và uy tín trên thế giới. Bên cạnh đó khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Quân Đội trước đây đa số là các doanh nghiệp Quân Đội có nguồn vốn ngân sách dồi dào nên trong các thanh toán ngoại thương ít có nhu cầu vốn từ ngân hàng. Một yếu tố nữa là sự cạnh tranh quyết liệt của các ngân hàng lớn mà thế mạnh là việc cho vay xuất nhập khẩu như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, hơn nữa do việc nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau nên hoạt động tín dụng nói chung cũng như tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng cũng gặp nhiều rủi ro. Song Ngân hàng Quân Đội đã từng bước tạo dựng được sự tín nhiệm của mình đối với khách hàng, hoạt động an toàn hiệu quả và luôn nỗ lực trong lĩnh vực tín dụng xuất nhập khẩu nhằm làm tăng uy tín của mình đối với thị trường ngoài nước. Tuy nhiên doanh số hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu vẫn chưa đạt được tương xứng với tiềm năng của Ngân hàng Quân Đội.
Thời gian gần đây, đặc biệt là năm 2025, công tác tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Quân Đội tiếp tục được củng cố và tăng cường. Hoạt động tín dụng được tập trung hơn tới các công ty lớn có tình hình tài chính mạnh, các dự án lớn thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng phát triển kinh tế. Bên cạnh việc chú trọng củng cố quan hệ với khách hàng truyền thống, ngân hàng Quân Đội cũng tích cực tìm kiếm và mở rộng các đối tượng khách hàng mới, đồng thời tiến hành áp dụng nhiều hình thức cho vay mới, vừa đảm bảo thuận tiện và linh hoạt đối với khách hàng, vừa đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
- Tình hình hoạt động cho vay xuất nhập khẩu
Trong hoạt động cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Quân Đội, Ngân hàng cho vay xuất khẩu bằng VNĐ, với mục đích xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết bị trong nước, chỉ trả chi phí xây lắp, góp vốn liên doanh sản xuất hàng xuất khẩu, gia công chế biến và thu mua các mặt hàng xuất khẩu như thu mua hàng nông sản. Bên cạnh đó Ngân hàng còn tham gia vào các dự án lớn như tham gia chương trình xuất khẩu gạo, hỗ trợ xuất khẩu theo phương thức hàng đổi hàng, chương trình cho vay trả nợ CHLB Nga… Nhiều khách hàng lớn được Ngân hàng tài trợ như: Công ty thực phẩm miền Bắc, Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, Công ty Xuất nhập khẩu Intimex, Công ty Xuất nhập khẩu Unimex…
Trong hoạt động cho vay nhập khẩu, Ngân hàng thường đứng ra cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu bằng ngoại tệ. Các khoản đầu tư lớn ở đây thường tập trung cho các doanh nghiệp quân đội nhập khẩu các mặt hàng quốc phòng hoặc một số mặt hàng thiết yếu như thiết bị viễn thông, linh kiện máy móc…
Hiện nay Ngân hàng Quân Đội đang phát triển kinh doanh theo hướng một ngân hàng bán lẻ, do vậy định hướng cho vay của Ngân hàng Quân Đội được mở rộng ra và tập trung nhiều hơn vào các thành phần kinh tế nhỏ và vừa. Điều này được thể hiện trong nghị quyết của Đại hội cổ đông, chiến lược phát triển của Hội đồng Quản trị và Ban lãnh đạo Ngân hàng. Với quy mô của Ngân hàng cũng như xu thế hiện nay thì chiến lược đó là phù hợp. Nó tạo vị thế và khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng, đồng thời phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường.
Từ đó cơ cấu cho vay nói chung và cơ cấu cho vay xuất nhập khẩu nói riêng của Ngân hàng Quân Đội có sự thay đổi với tỷ trọng lớn thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đặc biệt, sau việc một số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ, phá sản thì điều này càng rõ nét. Tuy vậy, đối với các khách hàng quốc doanh truyền thông kinh doanh có hiệu quả, các đơn vị doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng vẫn là những khách hàng tin cậy, do đó dư nợ cho vay đối với loại hình doanh nghiệp quốc doanh vẫn khá cao. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Cho vay ngoại tệ có ý nghĩa chiến lược quan trọng tới các hoạt động khác như đối ngoại, thanh toán quốc tế, chính sách khách hàng. Tuy nhiên, nhìn chung, tỷ lệ cho vay ngoại tệ có xu hướng giảm dần và cho vay VNĐ có xu hướng tăng trong tổng dư nợ tín dụng của Ngân hàng Quân Đội. Do biến động về tỷ giá ngoại tệ rất khó lường, khó phân tích vì vậy rủi ro về giá xảy ra đối với cho vay bằng ngoại tệ lớn. Bên cạnh đó lãi suất VNĐ có xu hướng tăng lên, đặc biệt là cuối năm 2022, đầu năm 2023, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất và lãi suất vay theo đó tăng lên. Để phát triển các hoạt động bằng ngoại tệ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, Ngân hàng Quân Đội áp dụng cho vay bằng VNĐ nhưng chuyển đổi sang ngoại tệ cho khách hàng để thanh toán.
Với mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng, lành mạnh hoá tình hình tài chính và giảm nợ quá hạn, Ngân hàng Quân Đội đã áp dụng phương châm an toàn và hiệu quả cho các hoạt động sử dụng vốn của mình. Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do biến động về thị trường và bị cạnh tranh gay gắt về giá cả. Đứng trước tình hình này, mặc dù đầu tư tín dụng xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế do nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, song dư nợ cho vay của xuất nhập khẩu của Ngân hàng Quân Đội vẫn tăng trưởng (đánh giá cả về quy mô và chất lượng).
- Bảng 2.5. Biến động của hoạt động cho vay xuất nhập khẩu
Hoạt động cho vay xuất nhập khẩu không phải là một thế mạnh của Ngân hàng Quân Đội, song với việc tìm kiếm các dự án lớn và phần nào đa dạng hóa được các hình thức đầu tư nên dư nợ các năm 2023-2025 tăng trưởng khá (năm 2024 đạt 2.297,10 tỷ đồng tăng 40,48% so với năm 2023, năm 2025 đạt 3.114,83 tỷ đồng tăng 35,59% so với năm 2024) trong đó tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng trung bình trên 70% tổng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu do vốn huy động của Ngân hàng trong ngắn hạn lớn, cách tính lãi cạnh tranh trong khi việc đầu tư trung, dài hạn chỉ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu quốc phòng. Sự tăng trưởng trên là kết quả của việc thực thi một số chính sách cho vay hiệu quả và đặc biệt, Ngân hàng Quân Đội đã xây dựng và áp dụng một số chiến lược Marketing phù hợp với điều kiện và tình hình sử dụng vốn vay của Ngân hàng.
Cho vay ngắn hạn: Nhìn chung, cho vay ngắn hạn là khoản mục cho vay có tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Quân Đội và luôn đạt mức tăng trưởng khá trong cả khoản vay nội tệ và ngoại tệ. Trong khi đó tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ lại có xu hướng giảm với tỷ lệ trung bình trong 3 năm 2023-2025 là dưới 2%, điều này chứng tỏ chất lượng tín dụng của Ngân hàng ngày càng được củng cố an toàn hơn. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
- Bảng 2.6. Biến động cho vay ngắn hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Cho vay ngắn hạn thường có những rủi ro tiềm ẩn do trong thời hạn ngắn, vòng quay vốn của nhiều doanh nghiệp chưa kịp với thời hạn trả nợ ngân hàng. Chính vì vậy có rất nhiều khoản nợ ngắn hạn các doanh nghiệp phải xin gia hạn nợ, có thể qua một kỳ hạn trả nợ tiếp theo hoặc tiếp tục với thời gian lâu hơn.
Luật công ty ra đời tạo đà cho sự phát triển mạnh của nhiều loại hình doanh nghiệp. Tồn tại trong cơ cấu cho vay ngắn hạn của Ngân hàng Quân Đội là sự chênh lệch khá lớn giữa dư nợ cho vay các doanh nghiệp quốc doanh và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo nên một khoảng trống lớn về cơ cấu cho vay của Ngân hàng, cũng như việc thiết lập một “sân chơi bình đẳng” đối với mọi thành phần kinh tế mặc dù có sự dịch chuyển trong những năm trở lại đây. Nghiên cứu bảng số liệu sau sẽ cho ta thấy rõ điều đó:
- Bảng 2.7. Cơ cấu cho vay ngắn hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Bảng 2.7 cho thấy khu vực kinh tế quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các loại hình cho vay, không loại trừ cho vay ngắn hạn. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm trung bình gần 70% trong tổng dư nợ ngắn hạn. Trong khi đó chênh lệch về tỷ trọng nợ quá hạn giữa hai khu vực không lớn, do vậy tỷ lệ nợ quá hạn khu vực ngoài quốc doanh thường cao hơn. Mặc dù vậy, tỷ trọng cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang tăng lên theo định hướng chung của Ngân hàng Quân Đội, nó phù hợp với quy mô và sự phát triển của Ngân hàng.
Cho vay trung và dài hạn: Đối với hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng, hoạt động cho vay trung và dài hạn thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn với cho vay ngắn hạn. Đây là tình hình chung của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh vì giới hạn của nguồn vốn ngắn hạn so với trung và dài hạn.
Thông thường cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Quân Đội để phục vụ nhập khẩu trang thiết bị quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở sản xuất chế biến hàng xuất khẩu, trang thiết bị cao cấp cho thuê…đối với ngoại tệ; mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, cho vay thương mại… đối với nội tệ.
- Bảng 2.8. Biến động cho vay trung dài hạn đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Mặc dù cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu, song dư nợ của loại hình này vẫn có tăng trưởng qua các năm (năm 2024 tăng 0,83% đạt 351,44 tỷ đồng và năm 2025 là 22,88% đạt 431,87%).
Đặc biệt, cho vay trung và dài hạn không xảy ra tình trạng nợ quá hạn trong thời gian nghiên cứu (2023-2025). Đây có thể nói là thành công của Ngân hàng Quân Đội trong việc phát triển, đánh giá chính xác các khoản vay, các dự án. Ngoài ra trong loại hình vay này, Ngân hàng tập trung nhiều vào đối tượng khách hàng truyền thống, kinh doanh hiệu quả, các đơn vị quốc phòng hoặc các dự án có vốn ngân sách Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng tín dụng trung, dài hạn cũng không che dấu được thay đối trong bảng cân đối tài chính của các ngân hàng thương mại theo hướng ưu tiên các phương án kinh doanh ngắn hạn nhằm đảm bảo tính thanh khoản. Điều đó càng được thể hiện rõ khi gần đây, Ngân hàng Quân Đội gia tăng các tài sản có tính lỏng cao trong kết cấu của bảng cân đối bằng cách mua lại công trái giáo dục hay chiết khấu trái phiếu Chính phủ.
Tỷ lệ tăng trưởng doanh số thu nợ cũng đạt mức tăng trưởng khá qua các năm ( năm 2024 là 2.141,48 tỷ đồng, tăng 31,4 lần so với năm 2023; năm 2025 mức tăng trưởng là 42,43% đạt 3.050,17 tỷ đồng). Tuy nhiên trong hoạt động cho vay trung dài hạn, năm 2024 lại có số tăng trưởng âm là -9,97, điều này được lý giải là do tính rủi ro cao của các dự án cho vay trung và dài hạn. Năm 2025, Ngân hàng đã thực hiện một số biện pháp nhằm chuẩn hóa các quy trình, quy chế, chính sách cho vay cũng như việc đảm bảo bằng các tài sản có tính khả mại cao nên năm 2025, tỷ lệ tăng trưởng thu nợ cho vay trung và dài hạn đã tăng trở lại, đạt 22,88% so với năm 2024.
Để hiểu rõ hơn về nghiệp vụ tín dụng xuất nhập khẩu của Ngân hàng Quân Đội, sau đây ta sẽ đi sâu nghiên cứu riêng về hình thức tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu tại Ngân hàng Quân Đội. Mặc dù thực tiễn hoạt động ngân hàng của các nước trên thế giới cho thấy có rất nhiều hình thức tín dụng xuất nhập khẩu phong phú, nhưng do còn hạn chế bởi những lý do chủ quan và khách quan, Ngân hàng Quân Đội chưa thể áp dụng tất cả các hình thức linh hoạt đó. Vì vậy người viết chỉ xin đề cập đến các hình thức cho tín dụng xuất nhập khẩu chủ yếu được thực hiện tại Ngân hàng Quân Đội. Trong đó tín dụng xuất khẩu bao gồm 2 hình thức chủ yếu là: cho vay xuất khẩu trực tiếp, chiếu khấu (hối phiếu và bộ chứng từ); tín dụng nhập khẩu bao gồm 3 hình thức chính là: cho vay nhập khẩu trực tiếp, cho vay thông qua phương thức tín dụng chứng từ và bảo lãnh.
2. Tín dụng xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
- Cho vay trực tiếp
Ngân hàng Quân Đội đã chủ động tìm kiếm khách hàng hoạt động kinh doanh xuất khẩu để mở rộng việc cho vay, đầu tư. Ngân hàng Quân Đội cho các doanh nghiệp xuất khẩu vay chủ yếu bằng VNĐ nhằm mục đích xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết bị trong nước, góp vốn liên doanh sản xuất hàng xuất khẩu, cho vay gia công chế biến và thu mua các mặt hàng xuất khẩu. Ngoài ra, Ngân hàng còn cho các doanh nghiệp này vay vốn để trang trải các chi phí vận chuyển, nộp thuế cho Nhà Nước, hay thanh toán phí bảo hiểm…
- Bảng 2.9. Cho vay xuất khẩu trực tiếp và tỷ trọng
Tình hình dư nợ cho vay xuất khẩu trực tiếp tăng (53,27% năm 2023 đến 55,73% năm 2025), cho thấy khả năng đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn đạt hiệu quả tương đối. Như đã trình bày ở trên, Ngân hàng Quân Ðội chủ yếu cho các doanh nghiệp vay xuất khẫu bằng VNÐ. Tuy nhiên, với tình trạng khát vốn nội tệ đang ngày một gia tăng theo chủ trương tăng mạnh về xuất khẫu thì Ngân hàng Quân Ðội mới chỉ đáp ứng được một phần nào nhu cầu của những thành phần kinh tế với quy mô cơ cấu nhỏ và vừa. Hơn nữa, bên cạnh xuất khẫu, các doanh nghiệp nhập khẫu lại ít có nhu cầu vay bằng ngoại tệ mà xin vay bằng VNÐ sau đó mua các ngoại tệ này đễ thanh toán, kễ cả việc ngân hàng bán ngoại tệ với tý giá cao, nhằm tránh rủi ro về tý giá về sau, hơn nữa Ngân hàng Quân Ðội cũng khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện theo cách này.
Mặc dù Nhà nước khuyến khích đẫy mạnh xuất khẫu song cho vay tài trợ xuất khẫu ở Ngân hàng Quân Ðội tăng không đáng kễ, bởi tình hình này còn phải phụ thuộc vào đối tượng, số lượng khách hàng xuất khẫu tại Ngân hàng.
- Bảng 2.10. Dư nợ cho vay xuất khẩu trực tiếp theo thời hạn
Nhìn vào số liệu ở bảng 2.10, ta thấy hơn 70% dư nợ cho vay xuất khẫu là vay ngắn hạn với mức tăng trưởng hàng năm là rất lớn (năm 2024 là 47,03% và 52,54% năm 2025); trong khi đó tăng trưởng dư nợ cho vay trung và dài hạn lại có sự giảm thiễu đáng kễ (năm 2025 chỉ có 19,89%). Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Thông thường, các doanh nghiệp, các đơn vị, cá thễ phần lớn đều tập trung vay những khoản vay ngắn hạn đễ thực hiện hoạt động xuất khẫu nhằm thanh toán các giao dịch với bạn hàng trong thời hạn thường dưới 1 năm. Chính vì vậy cùng với định hướng chính sách lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước nhằm tăng kim ngạch xuất khẫu thì nguồn vốn nội tệ ngắn hạn được đặt ra ở một vị trí mới: Vốn được đáp ứng trở thành nhu cầu cấp thiết và sử dụng hiệu quả. Ngân hàng Quân Ðội luôn đáp ứng đủ vốn nội tệ cho nền kinh tế, song do chính sách chung của Ngân hàng Nhà nước là cơ cấu lại nợ của các ngân hàng thương mại. Vì tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu trong bảng cân đối tài chính không được phản ánh một cách trung thực nên Ngân hàng Quân Ðội cũng chủ trương tăng dư nợ một cách có chọn lọc và tăng dư nợ có tài sản bảo đảm. Do đó Ngân hàng Quân Ðội là một trong những ngân hàng kinh doanh đạt hiệu quả cao và có nợ quá hạn thấp. Tý lệ nợ quá hạn giảm qua các năm và luôn ở dưới mức 2%.
- Chiết khấu hối phiếu và chiết khấu bé chúng tù
Về chiết khấu hối phiếu, trong các nghiệp vụ của Ngân hàng Quân Ðội, hối phiếu được chấp nhận chiết khấu theo quy định về chiết khấu những phiếu nói chung là không phổ biến ở nước ta, việc lưu thông hối phiếu chưa được đảm bảo, thanh toán chứng khoán chưa tạo thuận lợi cho mua bán hối phiếu. Ngân hàng Quân Ðội chỉ tiến hành chiết khấu đối với những hối phiếu đi kèm bộ chứng từ trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ hay thanh toán nhờ thu.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Quân Ðội chỉ áp dụng hình thức chiết khấu truy đòi, còn hình thức chiết khấu mien truy đòi hầu như không áp dụng. Ðối với các hình thức chiết khấu truy đòi, trong vòng 60 ngày kễ từ ngày gửi chứng từ đòi tiền mà không nhận được thông báo trả tiền của ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng sẽ tự động ghi nợ tài khoản của khách hàng. Nếu trên tài khoản của khách hàng không có tiền, trong vòng 07 ngày làm việc, Ngân hàng sẽ chuyễn số tiền đã chiết khấu sang nợ quá hạn và xử lý như đối với trường hợp cho vay quá hạn (khách hàng phải cam kết điều này trong đơn yêu cầu chiết khấu). Lãi suất sẽ được quy định trong bảng lãi suất cho vay của Ngân hàng Quân Ðội công bố trong từng thời kỳ.
Về chiết khấu bộ chứng từ, Ngân hàng căn cứ vào sự phù hợp của chứng từ và uy tín của khách hàng cũng như của Ngân hàng mở L/C mà có thễ chấp nhận chiết khấu tới 100% trị giá bộ chứng từ hoặc ít hơn hay từ chối chiết khấu. Trường hợp Ngân hàng chiết khấu 100% trị giá bộ chứng từ áp dụng khi bộ chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp với L/C, khách hàng có quan hệ tốt, Ngân hàng chắc chắn thu được tiền và thời gian thu tiền ngắn. Trong trường hợp chứng từ xuất trình có sai sót không nghiêm trọng so với điều khoản L/C, Ngân hàng căn cứ vào từng trường hợp cụ thễ xem xét quyết định chiết khấu truy đòi với giá trị chiết khấu tỏng trường hợp này không vượt quá 70% giá trị bộ chứng từ. Trên thực tế, Ngân hàng hầu như không áp dụng chiết khấu đối với bộ chứng từ nhờ thu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẫu Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong quan hệ thương mại với đối tác nước ngoài, nhiều khi ký các hợp đồng với những điều khoản bất lợi dan đến hậu quả là không thể lập được bộ chứng từ như yêu cầu của L/C hoặc nếu xuất trình bộ chứng từ tới Ngân hàng xin chiết khấu thì bộ chứng từ lại không hoàn hảo, rủi ro không được thanh toán là rất cao và Ngân hàng Quân Ðội không chấp nhận chiết khấu. Hơn nữa, hệ thống luật pháp chưa hoàn thiện nên Ngân hàng Quân Ðội rất ngại chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất vì sau đó nếu xảy ra tranh chấp sẽ không có luật điều chính quan hệ giữa Ngân hàng và nhà xuất khẫu. Trong trường hợp nhà xuất khẫu có nhu cầu được tài trợ, Ngân hàng Quân Ðội thay vì chiết khấu bộ chứng từ sẽ chuyễn sang hình thức cho vay hay tạm ứng đối với những khách hàng có L/C thông báo qua Ngân hàng Quân Ðội, thường khối lượng tài trợ dưới 70% trị giá bộ chứng từ.
- Bảng 2.11. Biến động cho vay bằng chiết khấu
Bảng 2.11 cho thấy, dư nợ cho vay bằng hình thức chiết khấu chỉ chiếm tý trọng nhỏ so với tý trọng dư nợ cho vay xuất khẫu trực tiếp tại Ngân hàng Quân Ðội. Ðến 31/12/2025, dư nợ là 113,09 tý đồng trong đó tại Hà Nội là 39,75 tý đồng, trong khi đó dư nợ tại chi nhánh TP Hồ Chí Minh đạt con số khả quan hơn là 75,8 tý đồng và không có nợ quá hạn. Nguyên nhân là do thị trường kinh doanh xuất nhập khẫu ở TP Hồ Chí Minh sôi động hơn và nhu cầu cho hình thức này cao hơn nhằm đáp ứng kịp thời vốn kinh doanh.
Trong tương lai, cùng với sự phát triễn của ngoại thương Việt Nam, kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp xuất khẫu được nâng cao, Ngân hàng Quân Ðội có thễ xem xét áp dụng các biện pháp hữu hiệu dễ tăng cường hình thức tín dụng này. Ngân hàng có thễ dựa trên lãi suất chiết khấu bộ chứng từ và tý giá mua bán ngoại tệ đễ cạnh tranh với các ngân hàng khác.
3. Tín dụng nhập khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
- Cho vay trực tiếp
Ngân hàng Quân Ðội chủ yếu cho các doanh nghiệp nhập khẫu vay trực tiếp bằng ngoại tệ, đa phần là đễ thanh toán tiền hàng nhập khẫu. Theo báo cáo tín dụng, Ngân hàng Quân Ðội cho vay ngoại tệ nhập khẫu các mặt hàng chủ yếu như linh kiện điện tử, các trang thiết bị thiết yếu cho quốc phòng, thuốc chữa bệnh, hóa chất… Ngoài ra Ngân hàng cũng chú trọng đến một số mặt hàng tiêu dùng khác phục vụ chủ yếu cho đời sống xã hội.
- Bảng 2.12. cho vay nhập khẩu trực tiếp và tỷ trọng
Mức tăng trưởng cho vay nhập khẫu trực tiếp bằng ngoại tệ có xu hướng giảm cùng với tý trọng dư nợ giảm một cách tương đối (từ 46,73% năm 2023 giảm còn 44,27% năm 2025) mặc dù có tăng về số tuyệt đối.
Ðiều này là do chủ trương hạn chế nhập khẫu những mặt hàng tiêu dùng trong nước đã sản xuất được nên nhu cầu vay ngoại tệ có giảm đi rõ rệt. Các mặt hàng nhập khẫu về trong nước có xu hướng ứ đọng, khó tiêu thụ vì vậy Ngân hàng Quân Ðội cũng hạn chế cho vay nhập khẫu một số mặt hàng như: đường ăn, giấy viết, giấy in các loại… Mặt khác biến động về mặt tý giá cũng là một nguyên nhân dan đến việc cho vay bằng ngoại tệ giảm.
Thực chất con số tương đối về tý trọng dư nợ cũng như doanh số cho vay có chiều hướng giảm một phần cũng là do Ngân hàng chưa làm tốt ở một số công tác Marketing, bên cạnh đó mức độ hiện đại hóa tin học Ngân hàng chưa cao, và ngoài ra cũng phải kễ đến chủ trương của Ngân hàng.
Tuy nhiên chất lượng các khoản vay lại được đảm bảo, doanh số thu nợ khá cao và tý lệ nợ quá hạn luôn ở mức dưới 2%, và chỉ xảy ra đối với một số trường hợp công ty ngoài quốc doanh.
- Cấp tín dụng thông qua phương thúc thanh toán tín dụng
Ngân hàng Quân Ðội chủ yếu cấp tín dụng nhập khẫu thông qua phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bằng cách cho vay đễ mở và thanh toán L/C đối với nhập khẫu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Tình hình tài trợ qua mở L/C nhập khẫu có thễ xem xét qua bảng số liệu sau:
- Bảng 2.13. Doanh số cam kết thanh toán L/c
Cùng với sự tăng trưởng của doanh số thanh toán nhập khẫu thì các cam kết thanh toán L/C cũng tăng lên với mức tăng trưởng trung bình 3 năm 2023-2025 là trên 20%. Phải nói rằng bằng cam kết thanh toán của mình, Ngân hàng Quân Ðội đã dần nâng cao được uy tín của mình đối với Nhà nước ngoài cũng như nhận được sự tin tưởng của các nhà xuất khẫu nước ngoài.
Trong các cam kết thanh toán L/C, cam kết L/C trả chậm rất ít (3,23 tý đồng năm 2025). Nguyên do là vì các đối tác nước ngoài không mặn mà với phương thức này, hơn nữa nó chỉ phù hợp với một số ít mặt hàng và thiện chí của nhà xuất khẫu. Ngoài một số đơn vị quốc doanh có nguồn vốn ngân sách được cấp kịp thời đễ thanh toán thì có khá nhiều doanh nghiệp phải vay đễ thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Ở nghiệp vụ này, Ngân hàng Quân Đội chưa gặp phải rủi ro nào, nghĩa là hình thức (tạm coi) cấp tín dụng trước khá an toàn và hiệu quả. Bởi bên cạnh việc buộc các khách hàng phải kỹ quỹ theo mức độ tín nhiệm dựa trên quy chế phân loại khách hàng của Ngân hàng Quân Đội thì Ngân hàng phân tích tài chính doanh nghiệp một cách kỹ lưỡng cũng như kiểm tra năng lực thực tế của khách hàng hoặc yêu cầu có tài sản bảo đảm khác, hoặc cầm cố bằng chính lô hàng nhập khẩu.
Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng dư nợ của cam kết thanh toán L/C đang có chiều hướng giảm do các Ngân hàng Quân Đội đang có xu hướng chuyển sang các phương thức thanh toán đơn giản hơn như TTR, T/T. Đó là do sự chuyển biến tích cực trong mỗi quan hệ với bạn hàng nước ngoài và những biến động về thị trường buôn bán. Mặt khác một số mặt hàng nhập khẩu trước đây nay đã có các tổng đại lý nên khách hàng chuyển sang mua nội địa, có mặt hàng bão hòa thị trường tiêu thụ hoặc do chính sách hạn chế nhập khẩu của Chính phủ.
Một tồn tại thực tế là do quy mô còn nhỏ hẹp, Ngân hàng Quân Đội chưa có khả năng mở các chi nhánh tại nước ngoài mà chỉ dừng lại ở quan hệ đại lý, vì vậy có nhiều trường hợp nhà xuất khẩu nước ngoài không tin tưởng và buộc nhà nhập khẩu Việt Nam muốn mở L/C qua Ngân hàng Quân Đội phải có được sự bảo lãnh của ngân hàng có tên tuổi trên thế giới. Đây cũng là tình hình chung của một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam, ngoại trừ một số ngân hàng quốc doanh lớn. Như vậy Ngân hàng Quân Đội phải chuyển toàn bộ hoặc một phần (thường là trên 70% giá trị của L/C) số tiền L/C để ký quỹ tại ngân hàng mà nhà xuất khẩu yêu cầu. Trong trường hợp này Ngân hàng Quân Đội không phải là ngân hàng bảo lãnh cho nhà nhập khẩu và tất nhiên uy tín của Ngân hàng cũng sẽ bị giảm sút vì L/C vẫn mở qua Ngân hàng nhưng ngân hàng nước ngoài là người sẽ đứng ra thanh toán L/C khi đến hạn. Vì vậy Ngân hàng đã tiến hành thỏa thuận hạn mức xác nhận L/C và tài trợ xuất nhập khẩu với một số ngân hàng nước ngoài như: Citibank là 1 triệu USD, Bank of Nova Scotia là 10 triệu USD cho hàng xăng dầu, HSH Nord Bank là 12 triệu USD cho hàng thiết bị viễn thông… và Ngân hàng cũng đang tiếp tục đàm phán để nâng cao hạn mức này.
- Bảo lãnh Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Hoạt động bảo lãnh Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của ngân hàng, đặc biệt là đối với khách hàng và ngân hàng nước ngoài. Nhận thức được điều này, Ngân hàng Quân Đội đã từng bước phát triển mọi mặt về hoạt động thanh toán, thực hiện tuyệt đối đói với các bảo lãnh mà mình cam kết, bên cạnh đó hiện đại hóa công nghệ tin học ngân hàng cũng được Ngân hàng chú trọng.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Quân Đội gặt hái được những thành công trong những năm qua đã nâng cao uy tín của Ngân hàng về cả dối nội lẫn đối ngoại. Do đó đã thu hút được khá nhiều khách hàng đến xin bảo lãnh thanh toán tại Ngân hàng. Tuy vậy, do quy mô hoạt động còn nhỏ, vì vậy dư nợ bảo lãnh thanh toán trong các thương vụ ngoại thương của Ngân hàng Quân Đội không lớn (so với bảo lãnh thanh toán trong nước). Trong đó hình thức bảo lãnh chủ yếu mà Ngân hàng Quân Đội thường thực hiện là bảo lãnh thanh toán nhập khẩu.
- Bảng 2.14. Biến động bảo lãnh thanh toán nhập khẩu
Nghiên cứu bảng 2.14 cho thấy, bảo lãnh thanh toán nhập khẩu thời kỳ này tăng trưởng khá, mặc dù tỷ trọng không lớn trong tổng dư nợ bảo lãnh. Hết năm 2025, doanh số phát hành bảo lãnh là 487,46 tỷ đồng tăng 40,6% so với năm 2024. Để đạt được những con số này, Ngân hàng Quân Đội đã tích cực xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu, chiếm lĩnh thị phần trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, doanh số bảo lãnh nhập khẩu cũng như tỷ trọng dư nợ bảo lãnh nhập khẩu tăng một phần nhờ vào sự hội nhập nhanh chóng của nên kinh tế, quan hệ tài chính của Việt Nam với nước ngoài được mở rộng, nhiều tổ chức tài chính và ngân hàng nước ngoài nhận thấy tiềm năng của thị trường Việt Nam và muốn đầu tư cho nền kinh tế. Đồng thời nhu cầu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam tăng cao, để tiếp cận được với nguồn vốn nước ngoài, các doanh nghiệp cần tới bảo lãnh ngân hàng. Sự gia tăng về doanh số bảo lãnh nhập khẩu đã chứng minh cho sự phát triển chung của ngành ngân hàng Việt Nam nói chung và uy tín của Ngân hàng Quân Đội nói riêng.
III. Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
1. Kết quả đạt được
Là một ngân hàng thương mại cổ phần ra đời trong thời kỳ đổi mới, Ngân hàng Quân Đội đã không ngừng vươn lên, nỗ lực đổi mới phương thức hoạt động, gắn liền với việc ứng dụng công nghệ ngân hàng và kiện toàn tổ chức bộ máy, đáp ứng tốt nhu cầu về vốn và dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Ngân hàng Quân Đội đã dần khẳng định được uy tín bằng việc tăng trưởng ổn định, vững chắc với tỷ lệ tăng trưởng về lợi nhuận luôn ở mức trên 50%. Trong đó những thành công trong kết quả hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu có thể ghi nhận qua những mặt sau:
Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Ngân hàng đều tăng trưởng qua các năm, đến 31/12/2025 con số này lên đến trên 2018 triệu USD; điều đó đi đôi với công tác tín dụng xuất nhập khẩu cũng sôi động, thể hiện ở doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tăng lên. Như vậy làm tốt công tác thanh toán quốc tế đã tạo nên điều kiện thu hút nhiều khách hàng giao dịch thanh toán quốc tế qua Ngân hàng, kéo theo cho vay xuất nhập khẩu đạt hiệu quả cao với các rủi ro được hạn chế. Mặt khác công tác tín dụng có tác động trở lại đối với công tác thanh toán, tạo đà cho việc mở rộng thị trường thanh toán ở nước ngoài.
Uy tín đối với các nhà xuất nhập khẩu và ngân hàng nước ngoài của Ngân hàng Quân Đội được nâng lên rõ rệt nhờ thực hiện tốt các quy trình, quy định, quy chế vê thanh toán; đồng thời với việc đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu vốn cho các khách hàng của Ngân hàng, nhiều ngân hàng nước ngoài mà địa điện là các chi nhánh ở Việt Nam như Deutsche Bank, BHF Bank… đã không ngần ngại đứng ra bảo lãnh thanh toán cho khách hàng với đối tác là khách hàng của Ngân hàng Quân Đội mà không cần một đảm bảo (khoản ký quỹ) từ phía Ngân hàng Quân Đội. Các nhà xuất nhập khẩu nước ngoài khi mua bán với các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tin tưởng khi lựa chọ khách hàng của Ngân hàng Quân Đội.
Nguồn vốn huy động của Ngân hàng Quân Đội tăng nhanh, trên cơ sở đó hỗ trợ cho việc mở rộng đầu tư tín dụng nói chung và tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng, đạt tốc độ tăng trưởng ở mức bình quân 31%/năm. Đảm bảo an toàn nguồn vốn huy động và an toàn thanh khoản luôn được Ngân hàng Quân Đội hết sức chú trọng. Cơ cấu nguồn vốn huy động cho vay lành mạnh, an toàn và có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Ngân hàng Quân Đội đã thiết lập được mối quan hệ với nhiều khách hàng lớn, giữ vững quan hệ với khách hàng truyền thống đặc biệt là các khách hàng quân đội, thị phần đầu tư cho vay của Ngân hàng được xác lập. Đạt được điều này là do Ngân hàng luôn lắng nghe ý kiến của khách hàng và thường xuyên đổi mới phong cách và chất lượng phục vụ nhằm thu hút và mở rộng cho vay theo hướng đa dạng hóa, đa phương thức, đa thành phần kinh tế, đồng thời chọn lọc khách hàng để đưa vào danh sách khách hàng truyền thống. Ngân hàng đã thực hiện tốt hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng gắn liền với hiệu quả kinh doanh của khách hàng, mới mục địch xây dựng chu trình luân chuyển vốn giữa Ngân hàng và khách hàng là một vòng tròn khép kín: tín dụng – thanh toán – tín dụng – thanh toán.
Với phương châm hoạt động là: “Xây dựng Ngân hàng vững mạnh toàn diện, hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững”, Ngân hàng Quân Đội luôn gắn việc mở rộng cho vay và đối tượng vay với đảm bảo an toàn tín dụng để mang lại hiệu quả và phát triển vững chắc. Tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng Quân Đội luôn duy trì ở mức dưới 2% trên tổng dư nợ, thể hiện chất lượng cho vay ngày càng được nâng lên. Trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại tổn thất khá lớn đối với các vụ lừa đảo của khách hàng, chứng tỏ chất lượng cho vay và chất lượng cán bộ của Ngân hàng Quân Đội khá tốt.
Với mục tiêu hướng tới cho vay đa thành phần kinh tế, dư nợ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang tăng lên cả số lượng và tỷ trọng; nhiều công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn… đã được Ngân hàng tài trợ vốn.
Chính sách cho vay của Ngân hàng Quân Đội linh hoạt, cạnh tranh và có tính định hướng rõ ràng là: ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có tình hình tài chính tốt, có phương án kinh doanh khả thi và thường xuyên sử dụng các dịch vụ Ngân hàng, có số dư tiền gửi bình quân lớn và có tải sản đảm bảo.
Với những kết quả tốt dẹp đạt được trong thời gian qua, Ngân hàng Quân Đội đã và đang khẳng định và một trong những ngân hàng thương mại Chính phủ kinh doanh có hiệu quả, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động do xung đột sắc tộc, chiến tranh chống khủng bố… đã ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế thế giới. Giá dầu thô, tỷ giá đồng USD và các ngoại tệ khác luôn có sự thay đổi đã có tác động lớn đến tình hình xuất nhập khẩu trong nước cũng như hoạt động ngân hàng. Dù vậy hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng trong lĩnh vực này tại Ngân hàng Quân Đội vẫn duy trì được tốc độ tăng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu, doanh số cho vay thanh toán hàng xuất nhập khẩu vẫn tăng qua các thời kỳ thực sự là những thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên hoạt động này vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc cần phải tháo gỡ và từng bước giải quyết kịp thời nhằm phát triển hơn nữa nghiệp vụ này tại Ngân hàng Quân Đội.
2.1 Các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu còn đơn điệu
Ngân hàng Quân Đội chủ yếu cho vay xuất nhập khẩu thông qua các hình thức về tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu đã nêu ở các phần trên mà trong đó chủ yếu mới chỉ tập trung vào cho vay thanh toán hàng xuất nhập khẩu, chưa mở rộng được các hình thức khác như cho vay chiết khấu hối phiếu kỳ hạn, cho vay thấu chi, bao thanh toán…
Sự tăng trưởng về doanh số thanh toán xuất nhập khẩu, công tác tín dụng đáp ứng đầy đủ, kịp thời sẽ có tác động trở lại đối với hoạt động thanh toán quốc tế. Song từ thực tế trên dẫn đến công tác thanh toán quốc tế chưa phong phú, do vậy thu phí từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu nhập của Ngân hàng. Xét trong sự phát triển của một ngân hàng hiện đại thì vấn đề này là một tồn tại lớn cần phải khắc phục.
2.2 Cơ cấu tài trợ bất hợp lý
- Cơ cấu cho vay tập trung và cho vay ngắn hạn
Hơn 80% dư nợ cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Quân Đội là cho vay ngắn hạn. Như vậy, việc đầu tư trung và dài hạn nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để làm hàng xuất khẩu, làm tăng năng lực sản xuất hàng hoá trong nước chưa được chú trọng
- Tỷ trọng dư nợ tín dụng xuất nhập khẩu so với tổng dư nợ của Ngân hàng Quân Đội còn khá thấp
Tỷ trọng này chỉ chiếm dưới 30% so với tổng dư nợ của Ngân hàng. Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Quân Đội trong lĩnh vực này so với các Ngân hàng thương mại khá đạt hiệu quả chưa cao.
- Nguồn vốn huy động chưa đáp ứng được nhu cầu Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động kinh doanh mua bán ngoại tệ về thanh toán quốc tế. Nếu hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu phát triển sẽ là cơ sở tăng thu ngoại tệ và mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế. Ngược lại, hoạt động thanh toán quốc tế phát triển sẽ góp phần tăng cường thu hút ngoại tệ, giữ khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, mở rộng tín dụng xuất nhập khẩu.
Theo báo cáo của Ban Thanh toán quốc tế Ngân hàng Quân Đội, khách hàng thanh toán nhập khẩu nhiều gấp 3 lần khách hàng thanh toán xuất khẩu. Đây là một lý do khiến Ngân hàng Quân Đội gặp khó khăn trong việc tạo nguồn ngoại tệ cho mình. Bên cạnh đó doanh số thanh toán xuất khẩu bằng hơn 80% doanh số cho vay xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là có khoảng gần 20% doanh số cho vay xuất khẩu tại Ngân hàng Quân Đội nhưng khi thanh toán lại qua ngân hàng khác. Đồng thời doanh số mua ngoại tệ chỉ bằng 70% doanh số thanh toán nhập khẩu nên không đáp ứng đủ ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu của khách hàng thanh toán với giá trị lớn qua Ngân hàng Quân Đội. Do vậy có hiện tượng một số khách hàng từ chối quan hệ tín dụng xuất nhập khẩu với Ngân hàng Quân Đội khi Ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ cho họ. Nguồn vốn huy động ngoại trung dài hạn lớn trong khi nhu cầu cho vay xuất nhập khẩu chủ yếu là ngắn hạn nên thường mất cân đối khi sử dụng, gây lãng phí do phải trả lãi suất huy động cao.
- Trình độ trang bị tin học Ngân hàng chưa cao
Phần mềm tin học của Ngân hàng Quân Đội hiện nay không đáp ứng được nhu cầu công việc. Các hoạt động kế toán, kho quỹ, thanh toán quốc tế, tín dụng gặp nhiều khó khăn như tốc độ xử lý chậm, chức năng quản lý yếu, trong khi đó khối lượng công việc ngày càng nhiều, gây một áp lực lớn, nặng nề lên người thực hiện.
Bên cạnh đó, Ngân hàng áp dụng hệ thống quản lý tập trung nên chưa gắn kết hết trách nhiệm của mỗi cán bộ nhất là cán bộ tín dụng. Trong cách quản lý này, công tác thu nợ, thu lãi vay (hoặc trả nợ, trả lãi đồng tài trợ cho các ngân hàng) lại thuộc bộ phận kế toán, vì vậy đa số cán bộ tín dụng không nắm bắt chính xác số dư của những khoản vay hay lãi thu (hoặc trả) là bao nhiều trong khi đó vai trò của kiểm soát nội bộ chưa thể phát huy được hết chức năng vốn có của mình.
- Hoạch định chiến lược kinh doanh chưa được chú trọng đúng mức
Một chiến lược kinh doanh cần phải được xây dựng trên sự đánh giá thực trạng của Ngân hàng về vốn, tài sản, nhân lực, công nghệ… so với mức độ phát triển hiện tại của hệ thống ngân hàng trên thế giới, khu vực và trong nước, dựa vào xu hướng phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó cần phải xây dựng hệ thống mục tiêu qua từng giai đoạn và các biện pháp khả thi để đạt được mục tiêu đó. Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Quân Đội đến năm 2030 là giải quyết được những vấn đề này.
Yếu tố cạnh tranh, yếu tố công nghệ, yếu tố nguồn lực… chưa được đề cập và chưa được chú trọng đúng mức. Các kế hoạch kinh doanh hàng năm chỉ có ý nghĩa như những nấc thang theo tiến trình vận động của con người leo dốc, chiến lược kinh doanh sẽ đánh giá dốc dài bao nhiêu, leo bằng cách nào, bao lâu thì tới và phải sử dụng như thế nào trong từng giai đoạn. Có thể thấy định hướng kinh doanh của Ngân hàng mới thấy “cây”mà chưa chú trọng đến “rừng”.
Chính sách cho vay xuất nhập khẩu của Ngân hàng Quân Đội chưa được xây dựng, tạo ra một Ngân hàng có cơ câu sản phẩm chưa đa dạng, với các sản phẩm chủ yếu theo lối truyền thống. Trong công tác cho vay, khách hàng của Ngân hàng phần lớn gồm các doanh nghiệp Nhà nước trong khi thị trường ngoài quốc doanh chưa được coi trọng đúng mức.
- Công tác tổ chức đào tạo cán bộ chưa khoa học, hợp lý và mang tính cạnh tranh chưa cao
Đội ngũ cán bộ là nhân tố căn bản làm nên thành công cho bất kỳ một tổ chức nào. Tuy nhiên công tác đào tạo, tuyển dụng không theo kịp với sự phát triển của Ngân hàng. Đòi hỏi của cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế buộc Ngân hàng Quân Đội phải nhanh chóng mở rộng thị trường, trong đó có sự phát triển hệ thống các điểm giao dịch hoạt động. Vấn đề này đi đôi với việc sắp xếp cán bộ. Ở thời điểm hiện tại Ngân hàng Quân Đội còn đang phải đối mặt với thực tế là thiếu cán bộ đảm đương các nhiệm vụ trọng yếu.
Đối với cán bộ làm công tác kinh doanh đối ngoại: Hiện tại còn nhiều cán bộ Ngân hàng làm công tác tín dụng và thanh toán quốc tế chưa được đào tạo, không đạt trình độ chuyên sâu về nghiệp vụ xuất khẩu, ngoại ngữ, luật quốc tế, vi tính căn bản… do vậy không đáp ứng được yêu cầu công việc, đặc biệt là cán bộ ở một số chi nhánh không phát hiện ra sai sót chứng từ, lúng túng và thiếu tự tin khi khách hàng xuất trình bộ chứng từ xuất khẩu, không đủ trình độ và kỹ năng tư vấn cho khách hàng hoạt động xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
3. Nguyên nhân
3.1 Nguyên nhân chủ quan
- Nghiệp vụ huy động vốn còn mang tính truyền thống, chưa đa dạng
Trong những năm qua, Ngân hàng Quân Đội đã rất cố gắng bám sát thị trường, nắm bắt nhu cầu, từ đó đáp ứng khá tốt các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên các hình thức huy động vốn vẫn xoay quanh các hình thức truyền thống, tuy đã có một số cải thiện nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả; chính sách lãi suất chưa theo kịp thị trường hoặc thường đi sau các ngân hàng khác gây ra một dòng chảy vốn tạm thời ra ngoài Ngân hàng.
Bên cạnh đó, sự phát triển của đất nước kéo theo trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, đây là chìa khóa, là thị trường ngỏ cho các ngân hàng triển khai những dịch vụ thanh toán tiện ích, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông. Tuy nhiên công tác thanh toán của Ngân hàng Quân Đội chưa được chuyên nghiệp hóa, hiện vẫn đang được xử lý ở bộ phận kế toán. Các sản phẩm, dịch vụ hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán quốc tế… vẫn chưa thực sự được triển khai hoàn thiện, trong khi đó một số ngân hàng khác như Ngân hàng ACB, Ngân hàng Đông Á… đã phát triển các sản phẩm dịch vụ này khá hiệu quả. Đây là một kênh huy động vốn quan trọng và tiện ích, vì vậy Ngân hàng Quân Đội cần phải quan tâm và mạnh dạn đầu tư kịp thời nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
- Chất lượng thẩm định và đánh giá phương án kinh doanh chưa được thống nhất và đồng bộ
Mặc dù đã có quy trình tín dụng nhưng chất lượng thẩm định của một số bộ phận trong Ngân hàng chưa cao và chưa được thống nhất. Chất lượng thông tin, năng lực chuyên môn của một số cán bộ tín dụng chưa cao và chưa sâu. Cán bộ tín dụng cũng không được trang bị những kiến thức thực tế về thanh toán quốc tế, vì vậy họ phải thường xuyên tiếp nhận những thông tin như quá trình mở L/C, quá trình lưu chuyển bộ chứng từ xuất nhập hàng, hối phiếu và các thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu…. từ bộ phận thanh toán quốc tế và cũng không nắm vững đc các quy định trong thanh toán quốc tế, đặc biệt là nội dung những văn bản mang tính quốc tế như UCP 600.
- Tỷ lệ cho vay không có tài sản đảm bảo vẫn ở mức cao Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Dù chủ trương hiện nay của Ngân hàng Quân Đội là tăng cường cho vay có tài sản đảm bảo, nhưng phần lớn khách hàng của Ngân hàng trước đây đa phần là các doanh nghiệp quân đội và các doanh nghiệp quốc doanh nên Ngân hàng thường cho vay tín chấp. Chính vì vậy, hiện nay với sự thay đổi trong quan điểm của Ngân hàng Nhà nước về “nợ” thì tỷ lệ nợ phải trích dự phòng của Ngân hàng đang có chiều hướng tăng lên, bởi nhiều khoản vay phải gia hạn đối với doanh nghiệp quốc doanh mà không có tài sản đảm bảo, ảnh hưởng đến thu nhập nói riêng cũng như hoạt động chung của Ngân hàng.
- Chính sách Marketing chưa có hiệu quả
Chính sách lãi suất, mức phí dịch vụ, chính sách đầu tư, quảng bá những sản phẩm và dịch vụ mới chưa được tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó, việc tham gia tổ chức các hội thảo, tài trợ… để tăng cường lưu truyền hình ảnh của Ngân hàng Quân Đội đến giới đầu tư và kinh doanh vẫn chưa được thực hiện thường xuyên.
Với định hướng mở rộng và cho vay, Ngân hàng Quân Đội đã thành lập phòng Marketing thực thuộc Hội sở với chức năng xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu Ngân hàng và một số công việc khác. Tuy vậy hoạt động của phòng Marketing chỉ mới ở dạng giúp đỡ các phòng ban quy chuẩn lại các biển hiệu, thông báo… mà chưa có kế hoạch dài hơi cụ thể như nghiên cứu thị trường (bao gồm nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh…), đánh giá dịch vụ ngân hàng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm ngân hàng cũng như mở rộng hoạt động của Ngân hàng Quân Đội.
- Năng lực của một số cán bộ tín dụng còn hạn chế
Cán bộ tín dụng của Ngân hàng Quân Đội có tới trên 90% trình độ đại học và trên đại học. Tuy nhiên số lượng còn thiếu, còn kiêm nhiệm vừa thực hiện hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa cho vay bán lẻ, phần lớn còn trẻ và chưa có kinh nghiệm nghề nghiệp cao nên không thể hoạt động một cách độc lập, chưa theo kịp cường độ công việc. Tư duy phục vụ khách hàng làm phương châm phục vụ của một số cán bộ còn chưa nhận thức được đầy đủ. Việc quy hoạch cán bộ chưa được chú trọng bố trí, sắp xếp. Bài học cho công tác tuyển chọn cán bộ tín dụng là: Nếu không có tài thì không thể mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay, nếu không có đức thì chất lượng cho vay sẽ kém.
Bảng 2.14. Điều tra trình độ cán bộ tín dụng xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế tại các chi nhánh Ngân hàng Quân Đội năm 2025
- Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và thống kê chưa được thực hiện đầy đủ
Việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ và thống kê chưa được thực hiện chặt chẽ. Năm 2021, Ngân hàng Quân Đội đã thành lập phòng kiểm tra và kiểm soát nội bộ nhưng hoạt động vẫn chưa thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác thống kê, phân loại nguyên nhân khách hàng nợ quá hạn chưa được thực hiện một cách thường xuyên và đầy đủ; đồng thời vẫn còn tình trạng chạy theo số lượng, chưa chú trọng việc phản ánh chính xác nợ vay của các bộ phận kinh doanh trong khi đó bộ phận kiểm soát nội bộ chưa đủ người để có thể đánh giá kịp thời. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
- Cơ sở vật chất và mạng lưới phục vụ hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế
Hệ thống Ngân hàng Quân Đội đã được kiện toàn song chưa phát triển mạng lưới ở các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế của đất nước như: Cần Thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu… nên không cung cấp được các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng ở các trung tâm kinh tế này. Hiện nay, Ngân hàng Quân Đội chủ yếu cung cấp dịch vụ ngân hàng mà mình có, chưa cung cấp đầy đủ các dịch vụ mà khách hàng cần (như cho vay thấu chi, Option…). Điều đó ảnh hưởng đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.
Hiệu quả hợp tác giữa Ngân hàng Quân Đội và các ngân hàng đại lý còn hạn chế, thể hiện ở việc nhiều thông báo L/C xuất khẩu không được thông báo qua Ngân hàng Quân Đội. Các quy định về tiêu chuẩn thiết lập quan hệ đại lý của Ngân hàng Quân Đội chưa được thực sự thông thoáng. Mặt khác, khách hàng nước ngoài phần nhiều chưa biến đến Ngân hàng Quân Đội hoặc chưa đặt niềm tin và việc xuất trình các thủ tục đòi tiền xuất khẩu qua Ngân hàng Quân Đội.
3.2 Nguyên nhân khách quan
Một là, hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng có nhiều bất cập. Các văn bản quy định về thủ tục xuất nhập khẩu như thuế quan, hải quan… còn chưa ổn định, thiếu tính đồng bộ. Nhiều chính sách ban hành chưa lâu đã thay đổi nên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hai là, môi trường kinh tế vĩ mô còn rất nhiều khó khăn, bất ổn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nền kinh tế còn trong tình trạng lạc hậu, thị trường lại nhỏ hẹp. Hơn 80% doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hầu hết đều gặp khó khăn trong sản xuất và kinh doanh do công nghệ lạc hậu, vốn tự có ít, chất lượng sản phẩm chưa cao, khó cạnh tranh được với hàng ngoại nhập… Các doanh nghiệp nước ngoài một số ít làm ăn lành mạnh và có hiệu quả, số còn lại làm ăn thua lỗ hoặc tìm cách để trốn thuế, trốn trách các nghiệp vụ bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
Ba là, vấn đề quy hoạch cấp phép đầu tư chưa tốt. Chính phủ chưa có chiến lược, giải pháp tổng thể hỗ trợ kịp thời đối với các doanh nghiệp xuất khẩu đặc biệt là khâu tiêu thụ sản phẩm. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
Bốn là, chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn nhiều bất cập.Việc xác định tỷ giá chưa phản ánh đúng thực tế, dẫn đến sự chênh lệch khá lớn giữa thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do dẫn đến sự thua thiệt cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thực hiện thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
Năm là, Pháp lệnh về kế toán thống kê chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng thông tin tín dụng. Về kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp chỉ mang tính hình thức trong khi các doanh nghiệp không chịu kiểm toán độc lập và chi phí cao, nhiều thông tin tài chính bị lộ tẩy… Vì vậy, tính minh bạch của báo cáo tài chính gửi lên ngân hàng xin tài trợ xuất nhập khẩu không được bảo đảm.
Sáu là, việc cung cấp thông tin về thị trường, về đối tác kinh doanh không được các ngân hàng thương mại Việt Nam, các cơ quan chức năng liên quan quan tâm đúng mức, làm cho các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu thường không hiểu rõ về thị trường, về đối tác, về luật pháp các nước trên thế giới… ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công của thương vụ. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng chưa thực sự phát huy hiệu quả, chưa có một quy chế đủ hiệu lực đưa các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn vào cùng một guồng máy để có sự hợp tác và tương trợ lẫn nhau trong việc đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác kịp thời. Hiện nay ở Việt Nam, ngoài Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước CIC thì cũng chưa có một công ty định mức tín dụng chuyên nghiệp nào cung cấp dịch vụ điều tra, phân tích thông tin tài chính, định mức tín nhiệm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế nhằm hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thẩm định khách hàng trước khi đưa ra quyết định cho vay. Chính việc thiếu nguồn thông tin một cách đa dạng, chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp đã khiến việc sử dụng vốn vay của Ngân hàng Quân Đội vẫn còn gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng.
Bảy là, năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực về vốn và quản lý điều hành của các doanh nghiệp còn thấp, thể hiện ở trình độ công nghệ sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm không cao, không có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
Tám là, khả năng tài trợ vốn cho các khách hàng này thấp do khó khăn trong việc tìm kiếm những phương án, dự án khả thi có hiệu quả, khả năng đáp ứng đủ các điều kiện tín dụng theo quy định của doanh nghiệp thấp.
Ngoài các nguyên nhân chính trên thì rủi ro đạo đức khách hàng cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng. Trên thực tế, Ngân hàng Quân Đội đã cố gắng hạn chế rủi ro này bằng cách sàng lọc và lựa chọn kỹ khách hàng, tuy nhiên rủi ro về đạo đức vẫn có khả năng xảy ra kể cả khi có sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoạt động tín dụng XNK tại Ngân hàng MB


Pingback: Khóa luận: Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu tại Ngân hàng MB