Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Với vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam là đầu mối giao thương trong khu vực, cộng với điều kiện tự nhiên ưu đãi, đường bờ biển dài, nhiều cảng biển tự nhiên, do vậy giao thông vận tải, giao lưu buôn bán có điều kiện phát triển. Song song với việc chuyên chở hàng hóa thì vấn đề giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng đóng vai trò quan trọng. Nó thúc đẩy quá trình dịch chuyển hàng hóa từ người bán đến người mua diễn ra nhanh chóng, thuận tiện hơn, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện có hiệu quả các hợp đồng mua bán ngoại thương. Cho nên hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.
Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, ngành dịch vụ giao nhận đã phát triển mạnh cả về số lượng, quy mô hoạt động cũng như phạm vi thị trường. Đây là một loại hình kinh doanh dịch vụ không cần đầu tư nhiều vốn nhưng lợi nhuận tương đối cao. Việc phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận ở nước ta đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực.
Tuy nhiên sắp tới các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận của Việt Nam sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn khi Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ này cho nước ngoài. Trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng ta đã cam kết cho nước ngoài được thiết lập ngay các doanh nghiệp liên doanh với tỷ lệ góp vốn 49-51%, để thực hiện kinh doanh các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi…Ba năm sau tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài sẽ tăng lên và họ có thể thiết lập các công ty 100% vốn sau 5-7 năm. Thêm vào đó, khi hội nhập Nhà nước sẽ không thể can thiệp để trợ giúp doanh nghiệp như lâu nay, vì vậy tồn tại và phát triển được hay không tùy thuộc gần như hoàn toàn vào năng lực cạnh tranh của từng đơn vị. Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam nhìn chung là yếu toàn diện khi so sánh với các doanh nghiệp nước ngoài cùng kinh doanh loại hình dịch vụ này. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam là việc làm hết sức cần thiết.
Trên cơ sở nhận thức như vậy em đã chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình là “ Cạnh tranh và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Làm rõ cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và về hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận Việt Nam hiện nay để thấy được những thành tựu đã đạt được, những mặt còn hạn chế, cũng như những cơ hội và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp trong thời gian tới.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận, nhằm làm cho các doanh nghiệp này có khả năng đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên thị trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê – dự báo, nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu tình hình thực tế.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần chính bao gồm 3 chương:
- Chương I: Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
- Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận.
- Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận.
Do thời gian nghiên cứu, tìm tài liệu không dài và do kiến thức còn hạn chế, những vấn đề liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận tương đối rộng nên khoá luận không tránh khỏi còn những thiếu sót, có thể giải quyết chưa sâu sắc, triệt để một số vấn đề. Vì vậy em mong nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện hơn đề tài này. Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường, các cơ quan đã giúp em trong quá trình nghiên cứu tài liệu và đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – PGS – TS Nguyễn Như Tiến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em hoàn thành khóa luận này.
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1. KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH
1.1. Khái niệm cạnh tranh Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh được để cập đến rất nhiều song trong giới học giả vẫn có những quan điểm khác nhau mà chưa có sự thống nhất tuyệt đối, sự chưa thống nhất này bắt nguồn từ sự nhìn nhận khách quan về cạnh tranh còn dưới những góc độ khác nhau.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Quan niệm này đã định rõ các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của họ là nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, và thị trường có lợi nhất.
Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh-Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là sự đối nghịch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất”. Quan điểm này khẳng định cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận; đồng thời cũng chỉ ra hai phương thức cạnh tranh là hạ giá bán sản phẩm hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Quan niệm này tương đối trực diện và rõ ràng nhưng phạm vi cũng hẹp hơn quan niệm đầu tiên về cạnh tranh.
Còn theo C. Mác thì : “Cạnh tranh là sự cạnh ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lại được lợi nhuận tối đa”. Trên quan điểm kinh tế chính trị thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa những chủ thể tham gia sản xuất-kinh doanh với nhau, nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của các chủ thể tham gia cạnh tranh. Như vậy có nhiều cách hiểu khác nhau về cạnh tranh nhưng đa phần các quan điểm đều thể hiện rõ tính chất và mục đích của cạnh tranh. Theo đó Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất kinh doanh có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất-kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như là một sự lựa chọn duy nhất.
- Cạnh tranh trong kinh tế có những đặc trưng cơ bản: Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể. Nếu chỉ có một chủ thể thì không có cạnh tranh, nhưng nếu có nhiều chủ thể mà không cùng một mục tiêu thì cạnh tranh, sức ép cạnh tranh cũng giảm xuống. Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh. Các doanh nghiệp cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thông qua duy trì và gia tăng thị phần, phát triển thị trường. Còn người tiêu dùng thì có mục tiêu chung là tối đa hóa mức độ thỏa mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm.
Các chủ thể cạnh tranh đều phải tuân thủ những ràng buộc chung được quy định thành văn bản hoặc quy định bất thành văn. Những ràng buộc này có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; các thông lệ và tập quán kinh doanh trên thị trường, đặc điểm nhu cầu và thị hiếu của khách hàng….Những quy định của Nhà nước thường nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia.
Phương pháp cạnh tranh rất đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc bán giá thấp, nâng cao chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp còn có thể cạnh tranh bằng cách đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, sử dụng công cụ xúc tiến bán hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng hoàn hảo hơn…
1.2. Các loại hình cạnh tranh Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại:
1.2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
Cạnh tranh được chia thành 3 loại:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán:
Người bán muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên.
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau:
Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa họ cần.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:
Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn.
1.2.2. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành 2 loại:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa dịch vụ. Kết quả cả cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển.
- Cạnh tranh giữa các ngành: Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là việc hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
1.2.3. Căn cứ vào loại thị trường mà trong đó cạnh tranh diễn ra
Cạnh tranh được phân thành:
- Cạnh tranh trên các thị trường đầu vào nhằm giành các nguồn lực sản xuất có chất lượng tốt và chi phí thấp nhất.
- Cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần, giành khách hàng.
Ngoài ra còn có thể phân loại cạnh tranh theo cấp độ cạnh tranh. Theo đó có cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành, giữa các doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm. Giữa các cấp độ cạnh tranh đó có mối quan hệ tương hỗ và có thể nói suy cho cùng là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà các chủ thể là doanh nghiệp, ngành, quốc gia mong giành thắng lợi trong cạnh tranh, đạt được mục tiêu của mình.
1.3. Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Cội nguồn của sự cạnh tranh là sự tự do trong sản xuất kinh doanh, đa dạng kiểu dáng, nhiều thành phần kinh tế, nhiều người hoạt động sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích. Chạy đua về mặt kinh tế phải luôn luôn ở phía trước để tránh những trận đòn của người chạy phía sau, và không phải chỉ để thắng một trận tuyến giữa các đối thủ mà là để thắng trên hai trận tuyến. Đó là cạnh tranh giữa những người mua với người bán và cạnh tranh giữa những người bán với nhau. Do vậy, cạnh tranh không chỉ có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường mà còn có ý nghĩa to lớn đối với người tiêu dùng, nền kinh tế và toàn xã hội.
- Đối với nền kinh tế nói chung:
Cạnh tranh là môi trường là một động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền bất hợp lý, xóa bỏ những bất bình đẳng trong kinh doanh. Cạnh tranh đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng tỷ mỉ và chi tiết. Ngoài ra còn làm tăng tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo cho các nhà doanh nghiệp, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi, chân chính. Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hóa của sản phẩm, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền văn minh nhân loại. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cạnh tranh là động lực giúp cho các doanh nghiệp không ngừng cải thiện công nghệ kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, chất lượng phục vụ khách hàng. Cạnh tranh làm tăng tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo cho các nhà doanh nghiệp. Do vậy, cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Cạnh tranh thắng lợi sẽ tăng cường vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiêụ quả, góp phần tăng tích luỹ và cải thiện đời sống của người lao động.
- Đối với người tiêu dùng:
Nhờ có cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng có thể lựa chọn được các loại hàng hoá và dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú với chất lượng cao hơn, phù hợp với khả năng mua sắm của họ.
Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh sẽ gây những hậu quả tiêu cực. Cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng “ Cá lớn nuốt cá bé”, làm gia tăng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh như làm hàng giả, trốn lậu thuế, ăn cắp bản quyền, mua chuộc, hối lộ, lừa đảo, tung tin thất thiệt phá hoại uy tín của đối thủ, vi phạm pháp luật, làm xấu đi các quan hệ xã hội…..Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng sẽ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, gây bất ổn định về kinh tế, gia tăng sự phân hóa giàu nghèo và những bất công trong xã hội.
Vấn đề đặt ra không phải là thủ tiêu cạnh tranh mà phải để cạnh tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng và minh bạch của các chủ thể cạnh tranh, phát huy những mặt tích cực và hạn chế đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực của cạnh tranh. Đó là trách nhiệm của nhà nước (thông qua luật pháp và các công cụ điều tiết vĩ mô) và của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhà chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp doanh nghiệp.
Có quan niệm cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Quan điểm này tương đối trực diện vì nó lấy khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận làm thước đo của năng lực cạnh tranh. Mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cao là mục tiêu của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Quan niệm khác cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình. Quan niệm này đã gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, thể hiện thực lực và những lợi thế của nó so với các đối thủ. Như vậy, nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải trong tương quan so sánh doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh. Quan niệm này cũng chỉ rõ nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng cần phải tính đến và trên cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng mà doanh nghiệp thu được lợi ích ngày càng lớn.
OECD đưa ra định nghĩa sau: Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Quan điểm này nhắm xét tới khả năng tạo ra thu nhập của doanh nghiệp trên cơ sở sử dụng tốt các yếu tố sản xuất sẵn có nhằm thiết lập vị thế bền vững của mình trên thị trường.
Từ đó có thể rút ra: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng ( so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Nếu doanh nghiệp có khả năng duy trì và sáng tạo liên tục các lợi thế cạnh tranh của mình, nó sẽ luôn đi trước các đối thủ và giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh để đạt mục đích duy trì và mở rộng thị trường, gia tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh là doanh nghiệp có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh bền vững. Nếu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên những yếu tố dễ sao chép và không được đổi mới, sáng tạo thì lợi thế đó sẽ nhanh chóng mất đi trước áp lực cạnh tranh gay gắt.
2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta dựa vào nhiều tiêu chí:
- Tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh:
Tiêu chí đơn giản nhất đo lường hiệu quả là lượng đầu vào cần thiết để sản xuất một mức đầu ra nhất định. Điều đó dẫn đến tính toán năng suất theo công thức tổng quát Doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả, năng suất càng cao thì càng cần ít đầu vào để sản xuất một mức đầu ra cho trước, do đó chi phí càng thấp.
Từ đó cho thấy doanh nghiệp có lợi thế về chi phí thấp so với đối thủ cạnh tranh.
- Khả năng duy trì và mở rộng thị phần.
Thị phần của doanh nghiệp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp ấy. Nó cho biết khả năng chấp nhận của thị trường với sản phẩm doanh nghiệp cung cấp. Thị phần sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp lớn hơn chứng tỏ nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn so với đối thủ. Phải xem xét thị phần của doanh nghiệp trong các thời kỳ khác nhau, phải nghiên cứu sự biến đổi tăng giảm của thị phần qua các giai đoạn để hiểu rõ hơn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ
Chất lượng sản phẩm dịch vụ có vai trò ngày càng lớn trong việc khẳng định vị thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên thương trường. Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng hình ảnh, uy tín, danh tiếng của sản phẩm đó, tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng. Thêm vào đó chất lượng của các quá trình trong nội bộ doanh nghiệp như thu mua đầu vào, sản xuất, marketing…được nâng cao sẽ làm tăng hiệu quả, giảm chi phí. Các thước đo kỹ thuật phản ánh độ tin cậy của chất lượng sản phẩm đồng thời các hệ thống quản trị chất lượng như ISO, TQM, HACCP…mà doanh nghiệp áp dụng sẽ càng khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Khả năng đổi mới của doanh nghiệp
Đổi mới bao gồm sự cải tiến hoặc sáng tạo mới các sản phẩm, quá trình sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh, các chiến lược mà doanh nghiệp xây dựng và thực hiện. Do vậy đổi mới thể hiện tính linh hoạt và năng động của doanh nghiệp thích ứng với các điều kiện của môi trường kinh doanh.
Khả năng đổi mới của doanh nghiệp có thể coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Nếu đổi mới thành công doanh nghiệp sẽ tạo ra những điểm độc đáo mà các doanh nghiệp khác không có. Chính điểm độc đáo ấy sẽ tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm và doanh nghiệp có thể định giá bán cao hơn. Hay sự đổi mới trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giúp bộ máy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, giúp cắt giảm chi phí hoạt động.
Các chỉ tiêu như tốc độ đổi mới sản phẩm, thời gian nghiên cứu và phát triển sản phẩm, số lượng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến quy trình thủ tục…và khả năng áp dụng chúng vào thực tiễn…có thể được xem xét nhằm làm rõ hơn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Muốn có khả năng cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp cần phải xác định và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
Khả năng cung cấp cho khách hàng đúng hàng hóa, dịch vụ mà họ cần, vào đúng thời điểm mà họ muốn. Cung cấp cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao hơn, tính năng ưu việt hơn so với các sản phẩm hiện có trên thị trường với mức giá chấp nhận được có thể coi là phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng. Do đó có thể nói rằng nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tốc độ đổi mới là yếu tố không thể thiếu được để phục vụ khách hàng tốt hơn.
Phạm vi danh mục sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Tức là doanh nghiệp cung cấp được nhiều loại và chủng loại sản phẩm dịch vụ sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng và do đó có khả năng cạnh tranh cao hơn. Tuy nhiên nếu danh mục sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp quá rộng và trong mỗi loại lại có nhiều chủng loại khác nhau thì các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị dàn trải và sử dụng kém hiệu quả. Cần phải xem xét doanh nghiệp kinh doanh nhằm phục vụ đối tượng khách hàng nào, nhu cầu của họ là gì để cấu thành nên phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp cho thích hợp.
Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng. Điều này tùy thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp và nói chung thời gian này càng được rút ngắn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng được nâng cao.
Sự hoàn hảo của các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng đang ngày càng trở thành nhân tố quan trọng thu hút sự trở lại của khách hàng, tăng uy tín cho doanh nghiệp, nuôi dưỡng sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp và doanh nghiệp. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ quá trình kinh doanh.
Khả năng tiếp cận và xử lý các nguồn thông tin hữu ích phục vụ quá trình ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, các doanh nghiệp cần ứng dụng tốt các công nghệ thông tin hiện đại, phát triển các ứng dụng thương mại điện tử phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao hơn và tiếp cận với nhiều thị trường rộng lớn hơn.
Khả năng thu hút và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, chuyên sâu vào từng hoạt động chuyên môn. Hoạt động tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao, năng suất lao động…Đó là những yếu tố có thể giúp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng tiếp cận và sử dụng với hiệu suất cao các nguồn lực vật chất cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy động các nguồn tài chính bên trong và bên ngoài doanh nghiệp phục vụ mục tiêu kinh doanh, khả năng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh…cũng được sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Khả năng liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan trong môi trường kinh doanh. Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh. Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh đó một cách hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra. Khả năng liên kết và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thương trường.
- Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp với đối tác kinh doanh bao gồm người cung ứng, khách hàng, đối tác liên minh…cũng là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chữ “tín” ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong kinh doanh, vì nó giúp giảm thiểu các chi phí trong giao dịch, nuôi dưỡng mối quan hệ bền vững của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh. Một vấn đề rất quan trọng liên quan đến uy tín doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp phát triển thành công các thương hiệu mạnh. Nếu sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó thị phần của doanh nghiệp tăng. Đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng các thương hiệu mạnh doanh nghiệp đang nắm giữ mà còn ở khả năng phát triển các thương hiệu của doanh nghiệp. Điều này sẽ cho thấy sự thành công tiềm tàng của doanh nghiệp trong tương lai.
Những tiêu chí trên tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn với các đối thủ cạnh tranh. Các chỉ tiêu chứng tỏ sức mạnh của doanh nghiệp trên thị trường khi đem so sánh với các đối thủ.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Quan điểm tổng thể phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong trạng thái động. Theo quan điểm này, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được phân tích trong mối quan hệ hữu cơ với môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động trong đó. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu sự tác động của các yếu tố từ môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
2.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp
2.3.1.1 Các yếu tố môi trường vĩ mô:
- Nhân tố kinh tế Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư…nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thuộc ngành đó. Ví dụ đánh thuế vào nguyên vật liệu nhập khẩu sẽ đẩy giá thành sản phẩm xuất khẩu lên cao, làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó. Do đó không khuyến khích xuất khẩu sản phẩm đó. Để hạn chế nhập khẩu, các nước dựng nên các hàng rào phi thuế quan như hàng rào kỹ thuật với các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật ngặt nghèo mà sản phẩm ở một số nước với trình độ sản xuất, công nghệ lạc hậu khó lòng đáp ứng được…
Thêm vào đó, tình hình phát triển kinh tế của quốc gia có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế phát triển ổn định, nền tài chính quốc gia ổn định, lạm phát ở mức kiểm soát được, quá trình tích tụ và tập trung tư bản nhanh giúp tăng nguồn vốn đầu tư phát triển. Đồng thời sự phát triển kinh tế kéo theo khả mức sống của người dân tăng, nhu cầu có khả năng thanh toán tăng lên. Đây là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. Ngược lại một nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, nền tài chính quốc gia không ổn định, đồng tiền mất giá, tỷ lệ lạm phát cao, sức mua giảm sút. Trong điều kiện như vậy doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức để đứng vững được trên thị trường.
- Nhân tố môi trường chính trị, pháp lý
Hệ thống chính sách pháp luật trong nước và nước ngoài cũng như các quy định do các tổ chức quốc tế ban hành đều có tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Hệ thống pháp luật và chính sách là cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường. Nó tạo khuôn khổ hoạt động cho doanh nghiệp, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng. Vì vậy tính ổn định và chặt chẽ của nó có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Môi trường pháp lý lành mạnh một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hòa lợi ích của các doanh nghiệp khác trong xã hội và trên thương trường quốc tế, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp của nước mình với nhau và giữa doanh nghiệp của mình với các doanh nghiệp nước khác. Môi trường pháp lý sẽ tạo ra những thuận lợi cho một số doanh nghiệp này nhưng có thể tạo ra những bất lợi cho một số doanh nghiệp khác. Việc nắm bắt kịp thời những thay đổi của các chính sách để có những điều chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện mới là một yếu tố để doanh nghiệp thành công.
- Các xu hướng phát triển trên thế giới có ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:
Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa tác động đến tất cả các lĩnh vực của các nước trên thế giới. Nó vừa thúc đẩy sự phát triển nhưng cũng đem lại nhiều thách thức và sức ép cạnh tranh cho các doanh nghiệp.
Xu hướng tự do hóa thương mại sẽ thúc đẩy cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng mạnh mẽ hơn. Xu hướng này làm cho thị trường có nhiều biến động dẫn đến nhiều sự thay đổi trong tổ chức quản lý, cơ cấu đầu tư…
Xu hướng phát triển khoa học công nghệ trên thế giới cũng như trong khuôn khổ quốc gia đều ảnh hưởng mạnh tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hoạt động trong những ngành có tốc độ phát triển về công nghệ cao thì công nghệ chính là nguồn lực tạo ra sức mạnh cạnh tranh, là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có khả năng nắm bắt và đón đầu được sự phát triển khoa học công nghệ, phải đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt đông nhằm tăng khả năng cạnh tranh. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Nhân tố văn hóa xã hội
Các quan niệm về chất lượng cuộc sống, các trào lưu xã hội, sự ảnh hưởng của các nền văn hóa cũng tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân qua đó tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
2.3.1.2 Các yếu tố môi trường vi mô
- Đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là yếu tố tác động trực tiếp nhất đến khả năng duy trì vị thế của doanh nghiệp. Đó là lực lượng đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Mỗi quyết định hành động của đối thủ đều có những tác động nhất định đến hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp luôn phải dự đoán hành động của đối thủ để chủ động có những chiến lược, sách lược đối phó nhằm củng cố và nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Thêm vào đó các đối thủ cạnh tranh tiềm năng cũng là một trong các yếu tố doanh nghiệp phải lưu tâm để có các biện pháp đối phó kịp thời nhằm giữ vững địa vị của mình.
- Sản phẩm thay thế
Với trình độ kỹ thuật cao, con người đã tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có thể thay thế cho nhau. Hiện tượng này đã, đang và sẽ gây trở ngại cho việc tiêu thụ các sản phẩm của các doanh nghiệp, làm cho môi trường cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Đây là đối thủ bất ngờ và rất khó đối phó mà doanh nghiệp phải lường trước. Để giữ vững vị thế của mình không còn cách nào khác là doanh nghiệp phải cải tiến, đổi mới công nghệ để tạo được sản phẩm có tính khác biệt cao về chất lượng, kiểu dáng, giá cả…
2.3.2 Nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp:
- Khả năng tài chính Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh được trước hết phải có đủ năng lực về tài chính. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh. Vốn là một trong những điều kiện cần để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động của mình. Do vậy khả năng huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm cho năng lực tài chính của doanh nghiệp mạnh lên. Tuy nhiên khả năng tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở quy mô vốn kinh doanh. Có những doanh nghiệp quy mô vốn lớn nhưng không mạnh đó là do cơ cấu tài sản nguồn vốn chưa hợp lý. Ngược lại có những doanh nghiệp quy mô nhỏ nhưng vẫn được đánh giá là mạnh vì doanh nghiệp duy trì tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất kinh doanh những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh tốt phục vụ thị trường mục tiêu. Vì vậy vấn đề không nằm ở chỗ quy mô vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu mà là doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả như thế nào để phục vụ tốt nhu cầu của đối tượng khách hàng mục tiêu trong phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp.
- Năng lực sản xuất kinh doanh
Khả năng tạo ra sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, giá thành rẻ và quy mô sản xuất đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Chỉ có như vậy mới tạo ra sức cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp.
Yếu tố công nghệ ngày càng có ảnh hưởng lớn tới năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công nghệ trên thế giới hiện đang trải qua quá trình phát triển nhanh chóng. Việc lựa chọn công nghệ nào cho doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ được lựa chọn phải phù hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và trong tương lai nó phải được phát huy hiệu quả nhằm làm cho doanh nghiệp có ưu thế hơn đối thủ.
- Nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn rất quan trọng vì nó sáng tạo ra các nguồn khác. Từ xưa đến nay con người luôn là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trình độ của nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ bán được nhiều hơn, với giá cao hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nhờ uy tín và danh tiếng đó mà doanh nghiệp có điều kiện phát triển thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình.
- Tổ chức quản lý doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Trình độ tổ chức quản lý là yếu tố quan trọng hàng đầu. Có tổ chức tốt doanh nghiệp sẽ làm tốt mọi việc. Nếu các yếu tố khác tốt mà tổ chức quản lý không tốt thì hoạt động của doanh nghiệp chắc chắn không đạt hiệu quả. Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở phương pháp quản lý và tính hiệu quả của phương pháp đó, hệ thống tổ chức, văn hóa doanh nghiệp…Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôi chảy, có năng suất. Ngược lại, một cơ cấu chồng chéo, quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém.
Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp thì cơ cấu Ban lãnh đạo, phẩm chất và tài năng của họ có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Bất cứ doanh nghiệp nào, với quy mô nào, kết quả và hiệu quả hoạt động đều phụ thuộc vào đức và tài của đội ngũ lãnh đạo cũng như cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý, vào việc xác định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân và việc thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận đó.
Cơ cấu tổ chức không phải là bộ khung cứng nhắc, nó cũng phải thay đổi tùy thuộc vào môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ứng với từng thời kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Một phương pháp quản lý hiện đại, hệ thống tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt dễ thích ứng khi môi trường kinh doanh thay đổi cộng với văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ giúp củng cố vững chắc vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
- Chính sách, chiến lược của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến việc tạo dựng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một mặt chiến lược được xây dựng dựa trên các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, phát huy yếu tố sở trường của doanh nghiệp nhằm cạnh tranh với đối thủ. Mặt khác, thông qua chiến lược doanh nghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh mới, và do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Chính sách và chiến lược vạch phương hướng và mục tiêu hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro, vượt qua khó khăn thử thách để đi tới thành công. Chính sách và chiến lược gồm nhiều loại: chính sách nhân sự, chính sách sản phẩm mới, chính sách thị trường, chính sách khách hàng…Vạch ra được chính sách và chiến lược đúng là điều cơ bản để doanh nghiệp đạt thắng lợi trong cạnh tranh.
Nói tóm lại, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của muôn loài. Đặc biệt là ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập kinh tế thế giới của nước ta thì cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế lại diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để tồn tại và phát triển bền vững doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được quyết định bởi nhiều yếu tố. Mỗi yếu tố có thể trở thành lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp biết cách đầu tư, xây dựng và phát triển nó trong bối cảnh cụ thể của thị trường và cạnh tranh. Hơn nữa, muốn có được năng lực cạnh tranh mạnh, doanh nghiệp phải qua một quá trình xây dựng bộ máy tổ chức, lãnh đạo, xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh, tạo dựng được môi trường bên trong và bên ngoài tốt để làm cơ sở vững chắc cho hoạt động của mình. Doanh nghiệp là một tế bào kinh tế – xã hội, nó tồn tại và hoạt động trong môi trường có hàng loạt các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của nó. Doanh nghiệp cần thấy rõ ảnh hưởng của các yếu tố này để có biện pháp tích cực nhằm hạn chế hoặc loại trừ các ảnh hưởng tiêu cực, phát huy các ảnh hưởng tích cực để tạo dựng năng lực cạnh tranh của mình ngày một cao hơn. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp


Pingback: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp