Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11
1. Lịch sử hình thành và phát triển
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Sông Đà 11
- Địa chỉ: Km 10 Đường Trần Phú, Phường Văn Mỗ, Thị xã Hà Đông, Tỉnh Hà Tây
Công Ty Sông Đà 11 là doanh nghiệp Nhà Nước, thành viên của Tổng Công Ty Sông Đà, được thành lập theo quyết định số 137A/ BXDTCLĐ ngày 26 tháng 3 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Xây Dựng.
Tiền thân của Công ty là đội Điện nước thuộc Công Ty Thuỷ điện Thác Bà từ năm 1961, năm 1973 đội được nâng cấp thành Công trường Cơ điện. Nhưng năm 1976 khi Công ty tham gia vào quá trình hoạt động xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình đã được đổi tên thành Xí Nghiệp lắp máy điện nước . Tuy nhiên bước ngoặt lớn nhất của Công ty là năm 1989 với sự trưởng thành về quy mô hoạt động và hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh đơn vị đã được nâng cấp thành Công ty. Năm 1993 được thành lập lại theo Nghị định 388/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng và có tên là Công Ty Xây Lắp-Năng Lượng Sông Đà 11, nay có tên là Công Ty Sông Đà 11. Trải qua thời gian gần 40 năm phát triển và trưởng thành, qua nhiều lần đổi tên, bổ xung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu nghành nghề. Sản xuất kinh doanh của công ty ngày một phát triển và lớn mạnh, đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân viên ngày càng một nâng cao.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và sự thích nghi với nền kinh tế thị trường, thực hiện mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm cũng như hình thức kinh doanh. Công ty đã đề nghị với Tổng công ty bổ sung thêm một số lĩnh vực kinh doanh cho mình sau khi đã có sự chuẩn khá chu đáo và đầy đủ về con người cũng như máy móc trang thiết bị.
2. Cơ cấu bộ máy tổ chức
2.1 Tổ chức nhân sự
Cũng như mô hình của một số đơn vị thành viên khác, Công ty Sông Đà 11 luôn coi trọng vấn đề con người là ưu tiên hàng đầu cho kế hoạch phát triển kinh doanh của mình. Chính vì xác định ngay từ đầu nên công ty đã đưa ra các chính sách nhằm thu hút được chất xám của cán bộ công nhân viên trong công ty. Bên cạnh đó Công ty cũng chú trọng tới việc tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ công nhân viên trong Công ty nhằm tạo điều kiện cho họ trong tiếp thu được các khoa học kỹ thuật hiện đại. Nhằm tạo ra sự đồng bộ từ trên xuống dưới, điều này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2 Tổ chức các phòng ban Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy Quản lý của doanh nghiệp thì các bộ phận có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được phân cấp trách nhiệm và quyền hạn nhất định nhằm đảm bảo chức năng quản lý được linh hoạt thông suốt.
Ban Giám đốc:
- Giám đốc: Là người đứng đầu công ty do cấp trên bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Giám đốc công ty tổ chức điều hành và chỉ đạo mọi hoạt động của công ty theo chế độ thủ trưởng và đại diện cho cho mọi nghĩa vụ, quyền hạn của Công ty trước pháp luật và các cơ quan quản lý của nhà nước. Cụ thể:
- Chỉ đạo khâu tổ chức bộ máy quản lý của công ty, tổ chức đào tạo cán bộ
- Chỉ đạo các kế hoạch kinh doanh, tổng hợp tài chính tiền lương và xây dựng cơ bản
- Thực hiện ký kết các hợp đồng kinh tế
Phó giám đốc: Mỗi phó giám đốc có một chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng đều có chức năng là giúp việc cho giám đốc. Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi phó giám đốc được giao trong lĩnh vực mình quản lý:
- Phụ trách việc kinh doanh
- Phụ trách các vấn đề về an toàn lao động, kỹ thuật công trình
- Phụ trách việc cung ứng vật tư, xe máy thi công …cho công trình
- Các phòng ban
Phòng Tổ chức hành chính: Có chức năng giúp cho giám đốc về mô hình, cơ cấu bộ máy kinh doanh của công ty nhằm phát huy cao nhất năng lực của đơn vị (quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, mối quan hệ công tác …). Giúp cho giám đốc quản lý cán bộ công nhân viên về các vấn đề chủ trương, tiêu chuẩn nhận xét quy hoạch, điều động và tổ chức các chính sách của người lao động (nâng lương, khen thưởng, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, Bảo hiểm xã hội…). Xây dựng mức chi phí tiền lương của công ty và các đơn vị trực thuộc. Khuyến khích các định mức, thực hiện khoán có thưởng, nghiên cứu các hình thức lao động thích hợp. Thực hiện hướng dẫn công tác an toàn lao động và chăm lo phục vụ hành chính quản trị văn phòng tại công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Phòng Tài chính – Kế toán: Có nhiệm vụ và chức năng là ghi chép và phản ánh bằng con số, hàng hoá và thời gian lao động dưới hình thức giá trị và xử lý số liệu nhằm giúp cho giám đốc giám sát và quản lý, kiểm tra tình hình tài chính vốn, tài sản của công ty và hoạt động sản xuất kinh doanh. Qua đó Giám đốc có thể lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp với tổ chức sử dụng vốn. Tính toán và trích nộp phù hợp đầy đủ và kịp thời các khoản nộp ngân sách, nộp cấp trên và lập quỹ công ty, thanh toán đúng hạn các khoản công nợ phải thu phải trả. Lập báo cáo quyết toán của đơn vị theo định kỳ, hướng dẫn tổ chức kiểm tra các đơn vị thành viên về các chế độ, thể lệ tài chính kế toán và các quyết định về thông tin kế toán cho công ty.
Phòng Thị trường: Có thể thấy vai trò khá quan trọng của phòng này vì đây sẽ là nơi các văn bản, hợp đồng kinh tế của các đối tác hay từ phía công ty tới bạn hàng. Nhiệm vụ của phòng là luôn tạo được mối quan tâm của khánh hàng với hình thức kinh doanh của công ty và tạo ra mối làm ăn với công ty. Nó sẽ tạo ra những hợp đồng trong công ty, kinh doanh, tiếp thị cho sản phẩm của công ty, phòng này đưa ra các chức năng nghiên cứu và dự báo về đầu tư nhằm giúp cho giám đốc đưa ra các quyết định về đầu tư hay ký kết.
Phòng Kinh tế hoạch toán: Phòng này có chức năng nhiệm vụ đưa ra các dự báo kế hoạch về việc thay thế hay đầu tư xây dựng cơ bản trong công ty tạo ra sự ăn khớp trong cả quá trình hoạt động của công ty .
Phòng Quản lý kỹ thuật: Có trách nhiệm quan trọng trong việc chịu tránh nhiệm trực tiếp trước các công trình của công ty hay sửa chữa trong doanh nghiệp. Nó có chức năng kiểm tra và tư vấn cho giám đốc trong việc đưa ra các quyết định nhiệm thu công trình hay ký kết các hợp đồng kinh tế.
Phòng Cơ giới: Có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý và công ứng xe máy cho công trường đảm bảo đúng tiến độ thi công. Nó giúp cho giám đốc đưa ra quyết định trong việc sử dụng hợp lý lượng sẵn có trong công ty, để đưa ra quyết định đầu tư một công trình mới.
2.3 Các xí nghiệp trực thuộc
Bên cạnh đó Công ty còn có 11 Xí nghiệp thành viên được đặt tại một số địa điểm trong nước như:
- Xí nghiệp sông Đà 11-1:
- Trụ sở đặt tại Xã Thiện Hưng, Lộc Ninh, Bình Phước
- Xí nghiệp Sông Đà 11-2:
- Trụ Sở đặt tại Công trường thuỷ điện Sê San3 huyện Chưpah, Tỉnh Gia Lai
- Xí nghiệp Sông Đà 11-3:
- Trụ Sở đặt tại Tổng công Ty Km 10 Văn Mỗ , Hà Đông , Hà Tây
- Xí nghiệp Sông Đà 114:
- Trụ sở đặt tại Phường Hà Khánh, TP Hạ Long, Quảng Ninh
- Xí nghiệp Sông Đà 11-5:
- Trụ sở đạt tại Thị trấn Đinh Văn, Lâm Hà, Lâm Đồng
- Xí nghiệp Sông Đà 11-6:
- Trụ sở đạt tại Xã IaKrai, Huyện iaGrai, Tỉnh Gia Lai
- Trung tâm thí nghiệm Điện
- Trụ sở đặt tại Km10, Văn Mỗ, Hà Đông, Hà Tây
- Ban dự án Nước Nha Trang
- Trụ sở đặt tại TP Nha Trang, Tỉnh khánh Hoà
- Nhà Máy Cơ Khí
- Trụ sở đạt tại Phường Hữu Nghị, TX Hoà Bình, Hoà Bình
- Nhà Máy thuỷ Điện Ry Ninh 2
- Trụ sở đạt tại YaLy, Chưpah, Gia Lai
- Nhà máy Thuỷ điện Nà Lơi
- Trụ sở đặt tại Xã Thanh Minh, TX Điện Biên Phủ, Lai Châu
3. Hoạt động kinh doanh Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
3.1 Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Là một đơn vị mà hoạt động kinh doanh của công ty chủ yếu là trong lĩnh vực xây dựng và quản lý các công trình về điện nước …Đây là một lĩnh vực còn rất nhiều tiềm năng vì nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền công nghiệp, các kế hoạch về xây dựng cơ sở hạ tầng đang được triển khai. Chính vì vậy mà thị trường của công ty là rất rộng lớn và nhiều tiềm năng. Để đạt được hiệu quả cũng như khai thác có hiệu quả các tiềm năng này đòi hỏi công ty phải đưa ra được các biện pháp cũng như phương pháp kinh doanh hợp lý nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
Được sự chấp thuận của Tổng công ty, Công ty Sông Đà 11 đã được bổ sung thêm một số lĩnh vực kinh doanh, hiện nay Công ty đã được bổ sung thêm một số chức năng như:
- Xây lắp đường dây tải điện và trạm biến áp
- Xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện
- Xây dựng các công trình giao thông, bưu điện
- Xây dựng hệ thống cấp thoát nước khu vực công nghiệp, và đô thị
- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, nhà ở, và cơ sở hạ tầng cơ sở
- Luyện kim loại và đúc các sản phẩm cơ khí
- Gia công cơ khí và chế tạo thiết bị, sản suất phụ tùng phụ kiện kim loại
- Lắp đặt thiết bị máy móc và các dây truyền công nghệ công nghiệp, các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ có công suất đến 150 MW
- Lắp đặt hệ thống thông tin liên lạc
- Trùng tu các phương tiện vận tải, máy xây dựng, thiết bị thi công
- Thí nghiệm điều chỉnh các thiết bị đến cấp điện áp 35KV
- Chuyên chở vật tư hàng hoá, vật liệu trong thi công xây dựng và phục vụ xây dựng
- Xuất nhập khẩu, kinh doanh vật tư, trang thiết bị phụ tùng cơ giới và công nghệ xây dựng
- Quản lý và vận hành nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ, nhà máy nước khu công nghiệp và đô thị
3.2 Đặc điểm về sản phẩm kinh doanh
Hoạt động của công ty chủ yếu về lĩnh vực xây dựng và quản lý các công trình về điện nước, nên các sản phẩm của công ty có những đặc điểm sau:
Có nơi tiêu thụ cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, chất lượng, giá cả, chi phí xây dựng, sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu. Khi thay đổi nơi sản xuất thì lực lượng sản xuất (lao động, thiết bị thi công, phục vụ thi công, vật tư kỹ thuật…) cũng phải di động theo. Do đó để dự toán vốn xây dựng chính xác, Công ty luôn phải chú trọng công tác đánh giá, chuẩn bị đầu tư và xây dựng cho từng công trình cụ thể.
Sản phẩm thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp. Các công trình xây dựng hay xây lắp đều có thời gian xây dựng dài, dễ gây ứ đọng vốn lưu động, mặt khác nếu dự toán thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian thi công, gây lãng phí các nguồn lực. Đây là một lý do vô cùng quan trọng để Công ty phải làm tốt công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư nói chung và vốn lưu động nói riêng.
Sản phẩm của Công ty có tính đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi công trình đều có thiết kế riêng, có yêu cầu riêng về công nghệ, tiện nghi, mỹ quan, về an toàn….
4. Cơ chế quản lý tài chính Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Phòng Tài chính – Kế toán của Công ty chịu trách nhiệm chính và trực tiếp trước Giám đốc Công ty về công tác quản lý tài chính. Cơ cấu phòng Tài chính – Kế toán của Công ty gồm Kế toán trưởng, 1 phó phòng tài chính kế toán và 7 nhân viên phụ trách các mảng khác nhau trong hoạt động tài chính, kế toán của Công ty.
4.1 Công tác quản lý vốn và tài sản
Công ty được Tổng công ty cấp vốn điều lệ ban đầu khi thành lập phù hợp với mức vốn pháp định cho ngành nghề kinh doanh của mình. Công ty có nghĩa vụ nhận, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn và các nguồn lực được Tổng công ty giao, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn.
Trong quá trình kinh doanh, khi cần thiết, Tổng công ty có thể xem xét đầu tư bổ sung vốn cho Công ty. Tổng giám đốc công ty giao vốn cho Công ty theo phương án đã được Hội đồng quản trị phê duyệt:
- Người giao vốn là Tổng giám đốc Tổng công ty
- Người nhận vốn là Giám đốc Công ty
Ngoài vốn điều lệ, Công ty được tự huy động vốn để phát triển kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về việc huy động vốn. Khi cần thiết, Công ty được Tổng công ty bảo lãnh vay vốn trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật hiện hành và theo điều kiện của Tổng công ty. Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về dân sự đối với hoạt động kinh doanh trước pháp luật trong phạm vi vốn của Công ty, trong đó có phần vốn nhà nước giao.
Về quản lý tài sản, Công ty có quyền sử dụng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, nhượng bán tài sản thuộc quyền quản lý của Công ty để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn; tuân thủ các quy định theo quy chế của Tổng công ty và Nhà nước. Các hình thức đầu tư ra ngoài của Công ty bao gồm:
- Mua trái phiếu, cổ phiếu
- Liên doanh, góp vốn cổ phần với doanh nghiệp khác
- Các hình thức đầu tư khác theo quy định pháp luật
Công ty thực hiện việc đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau:
- Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu
- Dùng tài sản để góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần (đem góp tài sản và khi nhận lại tài sản)
Khi bị tổn thất về tài sản, Công ty phải xác định giá trị tổn thất; nguyên nhân, trách nhiệm. Đối với những vụ tổn thất có giá trị từ 20 triệu đồng trở xuống, Giám đốc có quyền và trách nhiệm quyết định bồi thường, những vụ tổn thất có giá trị trên 20 triệu đồng, Công ty phải báo cáo lên Tổng công ty xử lý. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
4.2 Công tác quản lý doanh thu, lợi nhuận và vốn kinh doanh
Doanh thu của Công ty bao gồm doanh thu của các đơn vị trực thuộc và doanh thu thu được từ hoạt động sản xuất – kinh doanh trực tiếp của Công ty. Các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đem tặng, biếu, cho hoặc tiêu dùng ngay trong nội bộ đơn vị cũng phải được hạch toán để xác định doanh thu.
Chi phí trong hoạt động của Công ty được phản ánh theo đúng chế độ, định mức kinh tế, kỹ thuật, định mức lao động, định mức chi phí gián tiếp, đơn giá tiền lương do Công ty tự xây dựng và quyết định ban hành (trừ các sản phẩm chủ yếu phải trình lên Tổng công ty phê duyệt). Các chi phí phát sinh phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ.
Về hạch toán lợi nhuận, lợi nhuận của Công ty bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý có liên quan đến thu nhập chịu thuế của hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Lợi nhuận phát sinh còn bao gồm lợi nhuận năm trước phát hiện trong năm và được trừ đi khoản lỗ của các năm trước đó (nếu có) đã xác định được trong quyết toán thuế, thời gian chuyển lỗ không quá năm năm.
4.3 Công tác kế hoạch hóa tài chính
Đây là một công tác quan trọng được quan tâm cao trong Công ty. Công ty đã phân công một nhân viên trong phòng Tài chính – Kế toán chuyên phụ trách việc lập các báo cáo, kế hoạch tổng hợp và theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch trong toàn Công ty.
Hàng năm, phòng Kinh tế – Kế hoạch sẽ phối hợp với các phòng ban khác xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở bản kế hoạch đó, phòng Tài chính – Kế toán xây dựng kế hoạch tài chính (ngắn hạn). Bản kế hoạch sản xuất và kế hoạch tài chính sẽ được trình để nhận sự phê duyệt của Tổng công ty, định kỳ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tài chính theo tháng, quý, năm cho Tổng công ty. Kế hoạch tài chính dài hạn được ban giám đốc công ty xây dựng xác định chiến lược trong thời gian 5 năm được Tổng công ty phê duyệt và hàng năm Công ty cũng tiến hành tổng kết, đánh giá về tiến trình thực hiện kế hoạch và có những điều chỉnh và bổ sung kịp thời .
II. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11 Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
1. Tình hình chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Để phân tích chi tiết về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11, ta cần có một cái nhìn khái quát về tình hình hoạt động của Công ty trong những năm gần đây.
1.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm
- Biểu đồ 2.1. Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận
Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh của Công ty luôn là tiêu chí hàng đầu trong việc đánh giá hiệu quả nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng.
Thông qua “Bảng báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm” (Bảng 2.1) và biểu đồ “Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận” (Biểu đồ 2.1) ta có thể thấy rõ ràng tốc độ tăng trưởng của Công ty qua các năm. Theo biểu đồ, tốc độ tăng trưởng của công ty trong ba năm gần đây có xu hướng tăng cao và chắc chắn. Doanh thu của Công ty tăng từ hơn 219 tỷ đồng trong năm 2022, lên đến hơn 241 tỷ đồng trong năm 2023 và đạt được mức 322 tỷ đồng trong năm 2024, tăng hơn 81 tỷ đồng so với 2023 (tương đương tăng 33.6%). Lợi nhuận sau thuế của Công ty cũng có sự thay đổi đáng kể: từ 8 tỷ đồng năm 2022 lên đến 10 tỷ đồng trong năm 2023 và đến năm 2024 đã tăng gấp 2 lần so với năm 2023 đạt mức 20 tỷ đồng. Sở dĩ có sự tăng mạnh như vậy vào năm 2024 là do các dự án đầu tư theo kế hoạch đã được thực hiện thành công mang lại cả doanh thu và lợi nhuận cao cho Công ty. Trong năm 2024, Công ty đã hoàn thành các mục tiêu, tiến độ tại các công trình trọng điểm như: Thủy điện Sơn La, Nậm Chiến, Bản Vẽ, các công trình đường dây và trạm biến áp từ 110kv đến 500kv, các công trình cấp thoát nước… Chất lượng xây lắp các công trình được đảm bảo, đáp ứng với yêu cầu thiết kế và các tiêu chuẩn của chủ đầu tư. Kết quả này phần nào ghi nhận những nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty, phản ánh hiệu quả quản lý cũng như phản ánh hướng đi đúng đắn mà công ty đã và đang lựa chọn.
1.2 Cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn
Nhìn vào tổng thể kết quả kinh doanh của Công ty, ta có thể thấy được hiệu quả hoạt động, xu hướng phát triển theo các giai đoạn thời gian, tuy nhiên để có cái nhìn sâu hơn về tình hình tài chính của Công ty, ta không thể không xét đến cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn của Công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Về quy mô tài sản, nhìn vào “Bảng cân đối kế toán” của công ty qua 3 năm gần đây (Bảng 2.2) và biểu đồ “ Cơ cấu và tăng trưởng tài sản” (Biểu đồ 2.2) dưới đây ta dễ dàng thấy rằng Công ty có tổng tài sản tương đối lớn và có sự tăng trưởng nhanh trong những năm vừa qua. Trong cơ cấu tổng tài sản của Công ty, tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn (trên 60%) tổng tài sản và có xu hướng tăng theo các năm. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn cũng có sự thay đổi tăng lên đáng kể qua các năm từ hơn 102 tỷ đồng vào năm 2022, lên đến 112 tỷ đồng vào năm 2023 và đạt mức hơn 132 tỷ đồng vào năm 2024, tăng lên 36.33% so với năm 2023.
Về nguồn vốn, nhìn vào “Bảng cơ cấu và tăng trưởng nguồn vốn” (Bảng 2.3) ta nhận thấy vốn chủ sở hữu của công ty vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (cao nhất đạt 31.9% trong năm 2022 và thấp nhất là 28.49% trong năm 2023). Ta cũng dễ dàng nhìn thấy sự tăng trưởng đều đặn trong nguồn vốn chủ sở hữu qua các năm, tuy nhiên lượng tăng đó vẫn rất nhỏ và không ổn định. Có một điều rằng nguồn vốn nợ ngắn hạn của công ty chiếm tỷ trọng lớn (thường là trên 50%), và hiện nay công ty đang có sự điều chỉnh trong cơ cấu nguồn vốn bằng cách gia tăng vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn.
Vốn lưu động ròng của Công ty (Net Working Capital – NWC) = Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động – Tổng nợ ngắn hạn) qua các năm đều >0, thể hiện công ty đã dùng một phần vốn dài hạn để tài trợ cho hoạt động của tài sản lưu động. Điều này cho thấy tài sản của Công ty được tài trợ một cách vững chắc, có khả năng thanh toán tốt và tình hình tài chính lành mạnh.
- Bảng 2.2. BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
- Biểu đồ 2.2. Cơ cấu và tăng trưởng tài sản
- Biểu đồ 2.3. Cơ cấu và tăng trưởng nguồn vốn
Tài sản lưu động của Công ty tăng lên rõ rệt trong giai đoạn 2022 – 2023, tuy nhiên lại có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn 2023 – 2024. Ta nhận thấy trong phần tài sản lưu động, hàng tồn kho và các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong Tổng tài sản. Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn phù hợp với đặc điểm hoạt động của Công ty, do nhận thầu các công trình lớn, thời gian kéo dài nên vào thời điểm cuối năm hàng tồn kho có giá trị khá lớn, phản ánh giá trị sản xuất kinh doanh dở dang. Tuy nhiên, các khoản phải thu có tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng là một dấu hiệu cho thấy công ty bị chiếm dụng vốn khá nhiều và cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu các khoản phải thu đến mức thấp nhất nhằm nâng cao vòng quay vốn.
Thông qua việc phân tích kết quả kinh doanh và cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 chúng ta có thể thấy được trạng thái hoạt động của Công ty là tương đối tốt. Công ty đang nỗ lực mở rộng quy mô, năng lực hoạt động, điều này tương ứng tạo ra sự tăng trưởng phù hợp trong kết quả doanh thu và lợi nhuận đạt được trong những năm gần đây. Cơ cấu tài sản của Công ty phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp, tuy nhiên chúng ta vẫn nhận thấy rằng vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn còn có tỷ trọng nhỏ, và rõ ràng là phải cần một sự cải thiện đáng kể trong khoản mục này. Mặc dù vậy, Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước, lại được sự đảm bảo của Tổng công ty Sông Đà nên vẫn được các đối tác đánh giá cao và giành được sự tín nhiệm.
2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
2.1 Nguồn hình thành vốn lưu động
Căn cứ vào “Bảng cân đối kế toán” qua các năm, ta nhận thấy vốn lưu động của Công ty chủ yếu hình thành từ nguồn nợ ngắn hạn, và bên cạnh đó được bổ sung từ nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn). Trong nguồn vốn ngắn hạn, nguồn tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn và nguồn vốn hình thành từ tiền ứng trước của người mua và tín dụng thương mại từ người bán cũng chiếm tỷ trọng tương đối lớn.
- Biểu đồ 2.4. Cơ cấu nợ ngắn hạn
Căn cứ vào Biểu đồ 2.4 “ Cơ cấu nợ ngắn hạn” của Công ty, ta thấy rằng nợ ngắn hạn của Công ty có xu hướng tăng mạnh ở giai đoạn 2022 – 2023 và tăng nhẹ trong giai đoạn 2023 -2024. Điều này phản ánh nhu cầu tăng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng nhằm phục vụ cho công cuộc mở rộng sản xuất và đổi mới sản xuất trong giai đoạn 2022 – 2023. Trong giai đoạn này, Công ty đã dành khoản vốn đầu tư rất lớn vào việc mở rộng sản xuất cũng như đổi mới để nâng cao được chất lượng dây chuyền sản xuất. Còn ở giai đoạn 2023 – 2024, do việc sản xuất đã đi vào quỹ đạo, hiệu quả gia tăng nên Công ty đã giảm dần tốc độ của khoản nợ ngắn hạn. Năm 2024, tổng nợ ngắn hạn của Công ty là hơn 180 tỷ đồng, chiếm đến 49.52 % tổng nguồn vốn, chỉ còn tăng 1.24% so với năm 2023, trong khi đó tốc độ tăng của tổng nợ ngắn hạn năm 2023 so với năm 2022 là 8.3%. Trong đó vay ngắn hạn là hơn 52 tỷ đồng (tương đương giảm đi 22.25 % so với năm 2023), nợ người bán là hơn 81 tỷ đồng (tương đương chiếm 22.33% tổng nguồn vốn), người mua ứng trước tiền là hơn 43 tỷ đồng (tương đương 11.89% tổng nguồn vốn). Như vậy Công ty đã tận dụng khá tốt nguồn vốn từ người bán, từ khách hàng để bổ trợ cho nguồn tín dụng vay từ các Ngân hàng thương mại. Đây là một sự kết hợp đúng đắn của Công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
2.2 Cơ cấu vốn lưu động
- Bảng 2.3. Bảng cơ cấu vốn lưu động
- Biểu đồ 2.5. Cơ cấu vốn lưu động
- Bảng 2.4. Bảng phân tích chi tiết kết cấu vốn lưu động
Cơ cấu vốn lưu động được phân tích theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất, nhằm xem xét đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong từng khâu của quá trình chu chuyển vốn lưu động. Nhận thức rõ vai trò, tình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu, nhà quản lý sẽ có biện pháp phân bổ, điều chỉnh hợp lý giá trị vốn lưu động tại mỗi khâu nhằm đảm bảo nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao vòng quay của vốn lưu động
Thông qua Biểu đồ 2.5 “Cơ cấu vốn lưu động”, xét về tổng thể ta thấy vốn lưu động bình quân của Công ty tăng lên trong giai đoạn 2022 – 2023 nhưng lại có xu hướng giảm nhẹ trong thời kỳ 2023-2024. Trong cơ cấu vốn lưu động, vốn lưu động trong lưu thông luôn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 là vốn lưu động trong sản xuất. Kết cấu vốn lưu động của Công ty được duy trì tương đối ổn định qua các năm, điều này phản ánh sự nhịp nhàng và tăng trưởng ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Một bộ phận lớn vốn lưu động nằm trong khâu lưu thông, qua Bảng 2.4 “Bảng phân tích chi tiết kết cấu vốn lưu động”, ta thấy giá trị các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn trong bộ phận này. Năm 2022 (tại ngày 31/12), vốn lưu động trong khâu lưu thông là 134,8 tỷ đồng, tương đương 64.16% tổng vốn lưu động, trong đó các khoản phải thu là 97 tỷ đồng, tương đương 46.27% tổng vốn lưu động trong năm. Năm 2023, vốn lưu động trong khâu lưu thông tăng lên gần 12 tỷ đồng, tương đương tăng 8.46% so với năm 2022, chiếm 59.55% tổng vốn lưu động trong đó các khoản phải thu là 102 tỷ đồng, chiếm 41.58% tổng vốn lưu động. Theo số liệu tính đến 31/12/2024, vốn lưu động trong khâu lưu thông giảm đi hơn 21 tỷ đồng, tương đương giảm 16.62 % so với năm 2023, chiếm 52.63% tổng nguồn vốn lưu động, trong đó khoản mục phải thu chỉ còn 90 tỷ đồng, chiếm 38.87% tổng vốn lưu động đạt được (tương đương giảm 11.81% so với số phải thu trong năm 2023).
Nghiên cứu các thành phần của các khoản phải thu, ta thấy khoản mục phải thu của khách hàng luôn chiếm tỷ trọng lớn. Điều này phản ánh rằng một lượng vốn lưu động không nhỏ của Công ty đang bị khách hàng chiếm dụng. Mặc dù có nhiều lý do để biện minh cho sự gia tăng của các khoản phải thu về mặt giá trị nhưng Công ty cần thận trọng xem xét khi có sự gia tăng về tỷ trọng các khoản phải thu trong tổng vốn lưu động nhằm tránh tình trạng ứ đọng vốn trong khâu lưu thông, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn.
Chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong bộ phận vốn lưu động là bộ phận vốn lưu động trong sản xuất. Rõ ràng có thể thấy, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là phần chiếm tỷ trọng lớn nhất (gần như tuyệt đối) của bộ phận vốn lưu động trong sản xuất. Điều này phù hợp với đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty: xây lắp các công trình có giá trị lớn, thời gian kéo dài. Sự tăng trưởng vốn lưu động trong sản xuất phản ánh sự gia tăng về quy mô hoạt động. Trong 3 năm nghiên cứu, vốn lưu động trong sản xuất của Công ty có sự tăng trưởng đều đặn, đánh dấu sự phát triển bền vững trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
Vốn lưu động trong khâu dự trữ chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tổng giá trị vốn lưu động. Vốn lưu động trong khâu dự trữ chủ yếu là nguyên, vật liệu tồn kho (xi măng, thép, đá, cát, dây…) phục vụ trực tiếp cho các công trình của Công ty. Tỷ trọng vốn lưu động trong dự trữ được Công ty duy trì ở mức thấp nhưng vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, theo kịp tiến độ.
2.3 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty
2.3.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Bảng 2.5. Bảng tính tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Nhìn vào kết quả tính toán các chỉ tiêu tài chính phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11, ta có những nhận xét như sau. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
2.3.1.1 Vòng quay vốn lưu động
Theo tính toán ở Bảng 2.5 “Bảng tính tốc độ luân chuyển vốn lưu động” ta thấy Công ty có vòng quay vốn lưu động thuộc loại trung bình. Trong năm 2022, vòng quay vốn lưu động luân chuyển được 1.04 vòng, sang năm 2023 số lần luân chuyển giảm xuống còn 0.98 vòng (tương đương giảm 5.67% so với năm 2022). Đến năm 2024, vòng quay vốn lưu động có sự dịch chuyển tăng lên, luân chuyển được 1.39 vòng, tăng 41.83% so với năm 2023. Mặc dù vòng quay vốn lưu động có tăng lên một chút, song thực tế này vẫn phản ánh sự thiếu hiệu quả trong sử dụng vốn lưu động của Công ty. Giải thích cho hiện tượng này có thể thấy các lý do như sau:
Do đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công Do thực hiện các công trình xây lắp, như công trình thủy điện, công trình điện, nước ngầm…, thêm vào đó Công ty lại đang có xu hướng mở rộng ngành nghề sản xuất, tiếp cận được với các gói thầu xây lắp đường dây và trạm (đây là công việc chuyên môn của các Cty lớn ngành điện thường làm), mở rộng hoạt động ra lĩnh vực BĐS như xây dựng nhà cao tầng và khu biệt thự tại khu đô thị mới Nhơn Trạch – Đồng Nai; tham gia các gói thầu xây dựng bê tông tại thủy điện Nậm Na 2, làm tổng thầu EPC dự án thủy điện Tu Trên (Lào Cai)…là những công trình có giá trị lớn, thời gian kéo dài, do vậy công ty cần có một lượng lớn vốn lưu động bình quân để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, nhịp nhàng.
Trong hoạt động xây lắp, Công ty phải hoàn thành các hạng mục công trình nhất định rồi mới có thể hạch toán doanh thu,vì vậy một phần gây kéo dài thời gian luân chuyển vốn lưu động, làm giảm vòng quay vốn.
Phân tích xu hướng của tốc độ luân chuyển vốn lưu động ta thấy nguyên nhân là do tốc độ tăng của doanh thu thuần. Mặc dù vốn lưu động bình quân tăng trong giai đoạn 2022 – 1007, từ 210 tỷ đồng năm 2022 đến 245 tỷ đồng năm 2023 nhưng lại giảm xuống còn 231 tỷ đồng vào năm 2024, nhưng doanh thu thuần của Công ty lại tăng lên qua các năm, năm 2023 tăng 22 tỷ đồng (tương đương tăng 10.2%) so với năm 2022, năm 2024 tăng 80 tỷ đồng (tương đương tăng 33.24%) so với năm 2023. Do đó, vòng quay vốn lưu động có xu hướng giảm trong giai đoạn x2022 – 2023 nhưng lại tăng lên một cách đáng kể trong giai đoạn 2023 – 2024, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động đã gia tăng sau khi mở rộng quy mô sản xuất của Công ty.
- Biểu đồ 2.6. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
2.3.1.2 Thời gian luân chuyển vốn lưu động Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Theo Biểu đồ 2.6 “Tốc độ luân chuyển vốn lưu động” của Công ty, vào năm 2023 tới tận 354.35 ngày vốn lưu động mới luân chuyển được một vòng. Kết quả này phản ánh 2 mặt: lượng vốn lưu động bị tồn đọng quá lớn trong các khâu sản xuất và lưu thông, đến 70% – 80% lượng vốn lưu động nằm ở chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và khoản mục phải thu; mặt khác nó cũng phản ánh hiệu quả sản xuất không cao, doanh thu thuần đạt được chưa tương xứng với lượng vốn đầu tư. Tuy nhiên, thời gian luân chuyển vốn lưu động của Công ty đã giảm xuống chỉ còn 258.92 ngày vào năm 2024. Điều này thể hiện sự cải thiện đáng kể trong hiệu quả sử dụng vốn lưu động mà Công ty đạt được vào năm 2024.
Là một chỉ tiêu ngược với số vòng quay của vốn lưu động, thời gian luân chuyển vốn lưu động có xu hướng giảm xuống, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn gia tăng như phân tích ở trên. Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh tự do, Công ty cần phải nỗ lực hơn nữa để nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả hoạt động, chỉ có như thế mới đảm bảo được một chỗ đứng vững chắc và một sự phát triển lâu dài của Công ty.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu rất quan trọng và tổng hợp, đánh giá cơ bản hiệu quả sử dụng vốn lưu động của một doanh nghiệp. Để có cái nhìn chi tiết hơn trong đánh giá, ta đi sâu vào tính tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong từng khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông. Như đã trình bày trong chương I, để có thể tính được tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong từng khâu ta cần có dữ liệu về vốn lưu động bình quân trong từng khâu luân chuyển và mức luân chuyển vốn lưu động trong từng khâu. Dựa vào đặc điểm của mỗi khâu, ta có cách tính mức luân chuyển vốn lưu động như sau:
Đối với khâu dự trữ: Khi nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ được đưa vào phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, ta coi như vốn lưu động đã hoàn tất giai đoạn tuần hoàn của nó trong khâu này. Ta có thể ước lượng mức luân chuyển vốn lưu động trong khâu dự trữ bằng cách lấy giá trị phát sinh Có của tài khoản 152 (Tài khoản nguyên liệu, vật liệu) và tài khoản 153 (Tài khoản công cụ dụng cụ) trong năm nghiên cứu. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Đối với khâu sản xuất: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luân chuyển bộ phận vốn lưu động sản xuất là tổng giá thành thực tế sản xuất sản phẩm (thành phẩm), đó là giá vốn hàng bán (đối với sản phẩm đem tiêu thụ), giá trị thành phẩm tồn kho (thành phẩm nhập kho), giá trị hàng gửi bán (thành phẩm gửi bán).
Đối với khâu lưu thông: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luân chuyển bộ phận vốn lưu động trong lưu thông là tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ sẽ bằng giá vốn cộng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Bảng 2.6. Bảng tính toán tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở các khâu
Qua bảng tính toán, ta có thể thấy vốn lưu động của Công ty luân chuyển tương đối nhanh trong khâu dự trữ và luân chuyển chậm, hay bị ứ đọng ở khâu sản xuất và lưu thông. Tương ứng với sự gia tăng của tốc độ luân chuyển của tổng vốn lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở từng khâu được cải thiện và tăng nhanh qua các năm.
Nhìn vào Bảng 2.6 ta thấy được rằng, số vòng luân chuyển vốn lưu động ở khâu dự trữ tăng lên qua các năm và thời gian luân chuyển vốn lưu động ở khâu này thì giảm đi khá nhanh, chứng tỏ việc sử dụng hiệu quả vốn lưu động trong khâu dự trữ. Ngược lại, số vòng luân chuyển vốn lưu động ở khâu sản xuất và lưu thông có sự giảm đi qua các năm. Năm 2022, số vòng luân chuyển trong khâu sản xuất là 3.19, giảm xuống còn 2.88 vòng vào năm 2023 và còn 2.87 vòng vào năm 2024. Trong khâu lưu thông ta nhận thấy có 2 xu hướng của số vòng luân chuyển vốn lưu động, từ 2.43 vòng năm 2022 giảm xuống một chút còn 2.42 vòng vào năm 2023 nhưng đến năm 2024, số vòng luân chuyển lại tăng lên đến 3.19. Điều này chứng tỏ Công ty đã có những sự điều chỉnh kịp thời và những cải thiện đáng kể trong hiệu quả hoạt động của khâu này nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói chung.
2.3.2 Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, Công ty đã đạt được các mức tiết kiệm vốn nhất định.
- Bảng 2.7. Bảng tính mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm tuyệt đối (Vtktđ ) của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 được tính theo công thức sau:
- Cụ thể, Vtktđ năm 2024 so với 2023 được tính như sau:
- Mức tiết kiệm tương đối (Vtktgđ) được xác định như sau:
Trong đó K0, K1 lần lượt là thời gian luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo và năm kế hoạch. Doanh thu thuần, vốn lưu động bình quân, K1, K0 được xác định từ bảng tính tốc độ luân chuyển vốn lưu động (Bảng 2.5) ở trên.
- Ví dụ, so với năm 2024 so với năm 2023, mức tiết kiệm vốn lưu động tương đối của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 là:
Kết quả tính toán mức tiết kiệm vốn lưu động cho thấy do Công ty đang mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh khiến cho quy mô vốn lưu động tất yếu tăng lên, điều này được phản ánh trong chỉ tiêu mức tiết kiệm tuyệt đối. Ở đây, chỉ tiêu mức tiết kiệm tuyệt đối không phản ánh bản chất quy mô tiết kiệm tuyệt đối về vốn mà mức tiết kiệm về vốn được phản ánh ở chỉ tiêu mức tiết kiệm tương đối. Có thể thấy, do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên Công ty đã tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn lưu động (doanh thu thuần). Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Năm 2024, Công ty đã tiết kiệm tương đối được 85,4 tỷ đồng vốn lưu động so với năm 2023. Kết quả này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 đang được nâng cao rõ rệt.
2.3.3 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
- Bảng 2.8. Bảng tính hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
- Biểu đồ 2.7. Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Từ bảng tính hệ số đảm nhiệm vốn lưu động, ta có biểu đồ như sau:
Theo như Bảng 2.8 và Biểu đồ 2.7 ta thấy, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động của Công ty cho thấy năm 2022, Công ty mất 0.96 đồng vốn lưu động để tạo ra được một đồng doanh thu thuần, đến năm 2023, Công ty phải mất đến 1.01 đồng vốn lưu động mới tạo ra được một đồng doanh thu thuần, nhưng đến năm 2024 Công ty chỉ còn mất 0.71 đồng để tạo được một đồng doanh thu thuần. Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động của Công ty đang giảm nhanh trong giai đoạn 2023 – 2024 phản ánh hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện đáng kể so với giai đoạn 2022 – 2023.
Doanh thu thuần là một chỉ tiêu hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp, nhưng cái cuối cùng mà doanh nghiệp quan tâm lại không phải là doanh thu thuần mà là phần lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận sau thuế). Để đánh giá sự đóng góp của vốn lưu động trong việc tạo ra lợi nhuận sau thuế, ta sử dụng chỉ tiêu hệ số sinh lợi của vốn lưu động.
2.3.4 Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
- Bảng 2.9. Bảng tính hệ số sinh lợi của vốn lưu động
- Biểu đồ 2.8. Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
- Biểu đồ 2.8. Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Biểu đồ 2.8 cho ta thấy hệ số sinh lợi của vốn lưu động có xu hướng tăng qua các năm, tăng nhẹ vào giai đoạn 2022 – 2023 và tăng mạnh ở giai đoạn 2023 – 2024. Nếu như năm 2022, một đồng vốn lưu động chỉ tạo ra 0.041 đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp thì năm 2023, với một đồng vốn lưu động Công ty tạo ra được 0.043 đồng lợi nhuận sau thuế và đến năm 2024 một đồng vốn lưu động đã tạo ra được 0.087 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy rõ ràng ta thấy sự tăng quy mô vốn lưu động nhằm mở rộng sản xuất của Công ty đã dẫn đến hiệu quả nâng cao lợi nhuận sau thuế vào giai đoạn 2023 – 2024, điều này phản ánh hướng đi đúng đắn của Công ty và chất lượng quản lý vốn lưu động đang ngày một được chú trọng và nâng cao.
Tóm lại, việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 bằng những chỉ tiêu ở trên đã cho chúng ta thấy cái nhìn sâu sắc về tình hình sử dụng vốn lưu động của Công ty trong những năm vừa qua. Có thể nhận thấy, Công ty đang tiến hành đầu tư mở rộng sản xuất, và đạt được nhiều thành tựu. Tính đến giai đoạn 2023 – 2024, hiệu quả sử dụng vốn của Công ty đã được nâng cao rõ rệt, hệ số đảm nhiệm và hệ số sinh lời của vốn lưu động tăng nhanh, vốn lưu thông bị ứ đọng đã được giảm đi nhanh chóng, phản ánh hiệu quả hoạt động gắn liền với quy mô sản xuất mở rộng.
Nhìn nhận thấy thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, để có thể đề ra các biện pháp đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta phải có cái nhìn cụ thể về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11. Điều đầu tiên ta có thể thấy là muốn sử dụng vốn lưu động có hiệu quả Công ty cần phải có những biện pháp quản lý hình thái vật chất của vốn lưu động một cách khao học, đảm bảo sự hài hòa giữa nhu cầu sản xuất và chi phí trong quản lý cũng như vấn đề sử dụng hợp lý, tránh thất thoát, lãng phí.
2.4.1 Quản lý hình thái biểu hiện của vốn lưu động
2.4.1.1 Quản lý tiền mặt và các chứng khoán có độ thanh khoản cao
Quản lý tiền mặt tại văn phòng Công ty và từng xí nghiệp được phân công cho một nhân viên trong phòng tài chính kế toán phụ trách (Thủ quỹ). Các thủ quỹ có nhiệm vụ theo dõi thu chi và có những báo cáo kịp thời lên Công ty về mức tiền mặt hiện có. Công ty đã và đang có nhiều kế hoạch mở rộng đầu tư vào chứng khoán có độ thanh khoản cao để tạo sự linh động và hiệu quả hơn trong quản lý tiền mặt. Chứng khoán của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 vẫn luôn giữ được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường chứng khoán nói chung.
Mô hình quản lý tiền mặt của Công ty có những nét tương đồng với mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr. Công ty xác định một mức tiền mặt cơ bản (trong mô hình Miller Orr, gọi là mức tiền mặt theo thiết kế) bằng 5% tổng vốn lưu động và tùy theo nhu cầu thực tế phát sinh nhiều hay ít, Công ty sẽ có những điều chỉnh kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế. Tuy nhiên mức độ điều chỉnh và biên độ dao động của tiền mặt được điều chỉnh theo sự chỉ đạo của Ban giám đốc Công ty, kế toán trưởng công ty.
Ta có thể thấy được sự phân công cụ thể và rõ ràng trong việc quản lý ngân quỹ, việc xác định mức tiền mặt cơ bản giúp Công ty chủ động trong thanh toán, đảm bảo không bỏ lỡ những cơ hội đáng tiếc do thiếu vốn. Tuy nhiên, một sự khiếm khuyết dễ nhận thấy là nguồn huy động tiền mặt khi cần thiết của Công ty rất hạn chế, chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn Ngân hàng thương mại. Sự khiếm khuyết của các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn khiến cho công tác quản lý tiền mặt của Công ty thiếu sự linh hoạt và trở nên thận trọng hơn làm giảm khả năng sinh lời, giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
2.4.1.2 Quản lý dự trữ, tồn kho
Dự trữ của Công ty chủ yếu là những nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động xây lắp như: sắt thép, xi măng, ống bê tông, dây điện… và các công trình xây dựng dở dang. Dự trữ của Công ty được quản lý trực tiếp tại các kho của từng xí nghiệp. Các xí nghiệp của Công ty được tổ chức tại các nơi có công trình xây dựng lớn, có thời gian kéo dài. Các xí nghiệp có bộ máy quản lý tương đối độc lập tuy rằng hạch toán phụ thuộc song mỗi xí nghiệp đều lập báo cáo tài chính riêng. Tại mỗi xí nghiệp cũng như ở trụ sở chính của Công ty đều có sự phân công rõ ràng một nhân viên phụ trách quản lý kho (xuất nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ). Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Công ty không áp dụng các mô hình quản lý dự trữ mà phần lý thuyết đã trình bày mà việc quản lý dự trữ của Công ty, giống nhiều doanh nghiệp Việt Nam là xuất phát từ nhu cầu phát sinh của kế hoạch sản xuất. Thông qua kế hoạch sản xuất quý, các xí nghiệp phân bổ lượng dự trữ cho từng tháng theo tính toán khối lượng xây lắp hàng tháng theo từng đặc thù riêng của xí nghiệp. Do đặc điểm các công trình xây dựng của xí nghiệp là các công trình lớn, thời gian kéo dài (công trình thủy điện, hầm giao thông…) vận chuyển nguyên vật liệu khó khăn cho nên các xí nghiệp thường đảm bảo mức dự trữ tương đối lớn. Đây cũng là một hạn chế, làm gia tăng chi phí lưu kho, bảo quản, chi phí cơ hội sử dụng vốn. Đặc điểm của
mỗi địa bàn, mỗi công trình là khác nhau do vậy mức dự trữ cũng không giống nhau, do từng xí nghiệp quyết định và trình Công ty, điều này tạo sự khó khăn cho Công ty trong việc theo dõi, quản lý thống nhất cũng như việc xây dựng các kế hoạch sản xuất dự trữ chung. Rõ ràng, đây là một nhân tố quan trọng khiến vốn lưu động bình quân của Công ty tăng lên, làm cho tốc độ luân chuyển vốn lưu động giảm xuống, giảm hiệu quả sử dụng vốn.
2.4.1.3 Quản lý các khoản phải thu
Do đặc thù của ngành nghề của Công ty là khi hoàn tất một công trình, bên thi công phải để lại 10% giá trị công trình (hoặc theo thỏa thuận đã ký kết trong hợp đồng) làm điều kiện đảm bảo về chất lượng công trình trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm). Do đó, khi quy mô xây lắp của Công ty tăng lên, phần nào cũng khiến cho khoản phải thu của khách hàng tăng lên. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2025, Công ty đã nhận thầu rất nhiều công trình có giá trị lớn, điều này phản ánh phần nào khoản mục phải thu của khách hàng cao như vậy. Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2025, khoản phải thu của khách là 182 tỷ đồng, chiếm đến 40.69% tổng nguồn vốn lưu động, trong khi đó cả năm 2024, khoản mục phải của khách hàng thu là gần 70 tỷ đồng chỉ chiếm 30.1% tổng nguồn vốn lưu động. Tốc độ tăng nhanh của khoản phải thu trong tổng vốn lưu động cũng là một vấn đề đáng xem xét.
2.4.2 Công tác kế hoạch hóa vốn lưu động
- Bảng 3.0 Bảng kế hoạch tín dụng vốn lưu động 2026
Công tác kế hoạch hóa vốn lưu động là một nội dung được Công ty rất quan tâm, mỗi đầu năm Công ty đều xây dựng kế hoạch vốn lưu động cho cả năm và được sự kiểm tra, phê duyệt của Tổng công ty. Nghiên cứu Bảng 3 ta thấy, Công ty đã có một kế hoạch chi tiết và khá đầy đủ về nhu cầu vốn lưu động và nguồn tài trợ tương đối đầy đủ.
Thông qua kế hoạch sản lượng (được xây dựng bởi ban giám đốc Công ty, phòng Kinh tế – Kế hoạch) Công ty xác định một mức hiệu quả sử dụng vốn nhất định (vòng quay vốn lưu động), từ đó tính toán được nhu cầu vốn lưu động bình quân cho cả năm tới. Trên cơ sở đánh giá khả năng đáp ứng vốn lưu động hiện có với nhu cầu vốn lưu động đã xác định cho năm tới Công ty xác định nguồn và lượng vốn lưu động cần huy động thêm. Một thực tế cho thấy từ bản kế hoạch tín dụng vốn lưu động là trong nguồn huy động vốn của Công ty thì 38.4% là vốn vay từ Ngân hàng thương mại, Công ty chỉ đáp ứng được 56 tỷ đồng chiếm 19% tổng nhu cầu vốn lưu động, còn lại chủ yếu là nợ khách hàng (chiếm đến 39%). Có một kế hoạch tín dụng vốn lưu động rõ ràng như vậy đã tạo cho Công ty sự chủ động trong vấn đề huy động vốn và sử dụng vốn đúng mục đích nhằm tránh thất thoát, đảm bảo hiệu quả cao nhất cho Công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
2.4.3 Công tác quản lý tài chính nói chung
Có thể nói đây là một nhân tố thiên về định tính nhưng lại có ảnh hưởng hết sức to lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Quản lý, sử dụng vốn lưu động là một bộ phận của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, do đó thật khó dám khẳng định Công ty sử dụng hiệu quả vốn lưu động mà các công tác khác lại thể hiện sự yếu kém. Chắc chắn rằng chỉ khi tổng thể công tác quản lý tài chính được thực hiện khoa học, đạt chất lượng cao thì mới có thể nghĩ đến hiệu quả của từng bộ phận. Trước hết, công tác quản lý tài chính của Nhà nước và của Tổng công ty Sông Đà là điều kiện ràng buộc Công ty khi tìm kiếm những giải pháp tối đa hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Công tác hạch toán kế toán được thực hiện thống nhất trong toàn Tổng công ty Sông Đà bằng một phần mềm kế toán, hệ thống bảng biểu, báo báo được Tổng công ty hướng dẫn thực hiện theo một mẫu chung. Đây là một thuận lợi cho công tác quản lý tài chính thống nhất trong toàn Công ty cũng như mở ra khả năng giao dịch thuận tiện với những Công ty thành viên khác trong Tổng công ty Sông Đà. Điều này cũng giúp cho công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động được minh bạch, khoa học, đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng.
Nguồn nhân lực là một nhân tố có đóng góp cực kỳ quan trọng trong sự thành công của doanh nghiệp. Chính vì thế, Công ty rất chú trọng vào vấn đề này, các nhân viên tài chính – kế toán của Công ty nhìn chung có kinh nghiệm công tác, nhanh nhạy nắm bắt và ứng dụng công nghệ tin học trong công việc (100% nhân viên tài chính – kế toán đều có bằng A tin học văn phòng). Công ty thường xuyên tổ chức các đợt bồi dưỡng bổ sung kịp thời nghiệp vụ khi có những thay đổi mới của Nhà nước cũng như của Tổng công ty. Những nhân tố đó đã khiến cho trình độ của các nhân viên tài chính – kế toán luôn được duy trì và nâng cao, công tác quản lý tài chính diễn ra rất nhịp nhàng, khoa học, góp phần vào nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quả hoạt động của Công ty nói chung.
Do đặc thù hoạt động của Công ty, Công ty thường xuyên có những công trình xây lắp ở các vùng xa xôi, rải rác trên khắp mọi miền tổ quốc vì thế khả năng thu hút những nhân viên tài chính – kế toán giỏi về làm việc tại các công trường là hạn chế. Thêm vào đó, là sự thiếu thốn về phương tiện, thông tin một phần nào khiến cho làm giảm hiệu quả quản lý tài chính nói chung trong toàn Công ty cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng.
3. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11 Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
Từ những phân tích cụ thể về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 cũng như các nghiên cứu, đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động, trong phần này ta sẽ đánh giá tổng thể thực trạng hiệu quả quản lý vốn lưu động nhằm tạo cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp trong phần tiếp theo.
3.1 Thành quả đạt được
Nhìn chung, trong vòng ba năm nghiên cứu Công tác Tài chính – Tín dụng của Công ty đã có nhiều cố gắng, đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Công tác kinh tế đã tập trung thực hiện việc thương thảo ký kết hợp đồng với các đối tác đảm bảo đúng quy trình, quy định của Công ty.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 đã được cải thiện đáng kể cùng với sự gia tăng quy mô về sản xuất. Trong 3 năm nghiên cứu, vốn lưu động của Công ty có sự tăng trưởng đều đặn, đánh dấu sự phát triển bền vững trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
Có thể nhận thấy, Công ty đang tiến hành đầu tư mở rộng sản xuất, và đạt được nhiều thành tựu. Tính đến giai đoạn 2023 – 2024, hiệu quả sử dụng vốn của Công ty đã được nâng cao rõ rệt, hệ số đảm nhiệm và hệ số sinh lời của vốn lưu động tăng nhanh, vốn lưu thông bị ứ đọng đã được giảm đi nhanh chóng, phản ánh hiệu quả hoạt động gắn liền với quy mô sản xuất mở rộng.
3.2 Những vấn đề còn tồn tại
Mặc dù kết quả hoạt động của Công ty tương đối tốt, song vẫn còn rất nhiều hạn chế tồn tại mà Công ty cần phải xem xét nhằm có những điều chỉnh hợp lý. Về cơ cấu vốn, vốn chủ sở hữu của Công ty chiếm tỷ trọng quá nhỏ trong tổng nguồn vốn. Hầu hết nhu cầu vốn tăng thêm của Công ty đều được huy động từ vay ngắn hạn Ngân hàng thương mại, điều này làm giảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động của Công ty.
Thêm vào đó, công tác thu hồi vốn và công nợ chưa thực sự đạt yêu cầu, giá trị kinh doanh dở dang và nợ phải thu còn ở mức cao. Theo những phân tích cụ thể ở trên, phần lớn vốn lưu động của Công ty nằm ở khoản mục phải thu của khách hàng. Vấn đề là khi càng mở rộng quy mô sản xuất và có nhiều hợp đồng xây lắp có giá trị lớn thì khoản mục này càng tăng. Chính vì vậy, công ty cần có chính sách tín dụng thương mại hợp lý tránh tình trạng bị khách hàng chiếm dụng vốn quá lớn làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Một tồn tại nữa là công tác kế hoạch hóa vốn lưu động cần được làm cụ thể và chi tiết hơn nữa, đảm bảo sự chắc chắn và chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty.
Trên đây là những đánh giá tổng kết về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Sông Đà 11. Những đánh giá trên còn nhiều thiếu sót do trình độ có hạn của tác giả, tuy nhiên mục đích cuối cùng của khóa luận không phải dừng lại ở việc phân tích thực trạng và đánh gái hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Sông Đà 11 mà là đề ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Công ty. Dưới đây, tác giả mạnh dạn đưa ra những giải pháp cho vấn đề mà khóa luận nghiên cứu. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà


Pingback: Khóa luận: Nâng cao sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà