Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế: Trường hợp nghiên cứu cụ thể ở công ty Gang Thép Thái Nguyên này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết

Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO đã đánh dấu bước hội nhập toàn diện của Việt Nam vào nền kinh tế quốc tế. Trong một thị trường mở có sự cạnh tranh bình đẳng quyết liệt từ những đối thủ lớn trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đã bộc lộ không ít những yếu kém của mình. Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thép của Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Như chúng ta biết, ngành thép là một ngành công nghiệp nặng then chốt trong nền kinh tế quốc dân, là đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp khác, là ngành không thể thiếu trong tiến trình công nghiệp, hóa hiện đại hóa của đất nước. Do vậy, ngành thép thể hiện sức mạnh tổng hợp của một quốc gia. Tuy nhiên các doanh nghiệp thép Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại: chủng loại sản phẩm chưa phong phú, năng suất sản xuất thấp, mất cân đối giữa việc sản xuất phôi thép và cán thép dẫn tới tình trạng phụ thuộc vào giá cả phôi thép trên thế giới… Đó chính là nguyên nhân khiến ngành thép có nhiều bất ổn trong thời gian qua. Để tồn tại và phát triển trước những đối thủ cạnh tranh lớn, các doanh nghiệp thép không thể dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước nữa, mà phải tự mình nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình. Đây là một nhu cầu cấp thiết không chỉ đối với các doanh nghiệp thép mà còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.

Là một công ty sản xuất thép chủ lực của Tổng công ty Thép Việt Nam, với truyền thống lâu đời, công ty Gang Thép Thái Nguyên có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành thép. Trong bối cảnh hiện nay, công ty đang phải đối mặt với những khó khăn chung của toàn ngành. Do vậy, công ty đã coi nhiệm vụ nâng cao năng lực cạnh tranh là một nhiệm vụ chiến lược. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với riêng công ty, mà ít nhiều còn ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành thép Việt Nam.

Xuất phát từ những lý do trên, em đã mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế: Trường hợp nghiên cứu cụ thể ở công ty Gang Thép Thái Nguyên” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

II. Mục đích nghiên cứu

  • Khóa luận làm rõ một số vấn đề lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên, thông qua đó để hiểu về thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thép Việt Nam.
  • Trên cơ sở thực trạng đã nghiên cứu, khóa luận đưa ra một số giải pháp chủ yếu ở tầm vi mô và vĩ mô nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên và một số biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. Do thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận không đi sâu phân tích cụ thể từng đơn vị trực thuộc công ty Gang Thép Thái Nguyên mà chỉ tập trung vào thực trạng năng lực cạnh tranh của cả công ty trong giai đoạn từ 2019 đến nay.

IV. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Khóa luận sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: thu thập, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá…

V. Kết cấu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm ba chương:

  • Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Chương III: Một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên.

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Muốn vậy, mỗi doanh nghiệp cần nhận thức đúng đắn về bản chất của năng lực cạnh tranh. Vì lý do đó, trong khóa luận này, chương I sẽ trình bày khái quát về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cùng với những nét cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời chương I cũng trình bày phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp. Những lý thuyết trình bày trong chương này sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.

I. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Khái niệm năng lực cạnh tranh xuất hiện khi các nhà kinh tế học tiến hành nghiên cứu về cạnh tranh. Chính vì vậy, để hiểu rõ về năng lực cạnh tranh thì chúng ta nên hiểu khái quát về cạnh tranh.

1. Cạnh tranh

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế xã hội, trong khóa luận này thuật ngữ “cạnh tranh” được tiếp cận dưới góc độ lĩnh vực kinh tế. Cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện, tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi cung – cầu, giá cả là nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của thị trường. Trước đây khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C. Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản. Theo C. Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Có thể thấy ở đây, C.Mác đã đề cập tới vấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên theo quan niệm này thì cạnh tranh có nguồn gốc từ góc độ tiêu cực. Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Có rất nhiều định nghĩa về cạnh tranh đã xuất hiện:

Theo từ điển rút gọn về kinh doanh: “Cạnh tranh là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.

Còn theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.

Theo Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt thì: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hoá tốt nhất”. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”.

Ở Việt Nam, đề cập đến cạnh tranh một số nhà khoa học cho rằng, cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh là giành lợi thế để hạ thấp giá các yếu tố đầu vào của chu trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao giá của đầu ra sao cho mức chi phí là thấp nhất.

Như vậy trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bố nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là quá trình thúc đẩy tích luỹ và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Từ đó, cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích nghi được với các điều kiện thị trường, dẫn đến quá trình tập trung hoá trong từng ngành, quốc gia,…

Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh cũng như phạm vi và cấp độ là khác nhau. Song nhìn chung các khái niệm đều có nét tương đồng về nội dung:

Thứ nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi một mục đích tối đa. Đối với các doanh nghiệp, đó là lợi nhuận tối đa; đối với người tiêu dùng, đó là tối đa hoá mức độ thoả mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm

Thứ hai, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, trong đó các bên tham gia đều phải tuân thủ những ràng buộc chung như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lí, các thông lệ kinh doanh…

Thứ ba, phương pháp cạnh tranh rất đa dạng: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm…. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Xét theo hướng tiếp cận của đề tài này, khóa luận lựa chọn khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quan hệ cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”.

Việc phân loại cạnh tranh cũng không đơn giản, đứng ở góc độ nghiên cứu khác nhau ta lại có những loại cạnh tranh khác nhau:

  • Xét theo quy mô có cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh doanh nghiệp, cạnh tranh quốc gia.
  • Xét theo tính chất của các phương thức cạnh tranh ta có cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
  • Xét về hình thái có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
  • Xét theo các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá có cạnh tranh trước khi bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng, cạnh tranh sau khi bán hàng.
  • Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh thì có cạnh tranh nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành.
  • Xét theo lãnh thổ thì có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế.

Ngoài các loại hình cạnh tranh đã nêu trên, người ta còn xét theo một số tiêu chí khác: điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên nhân lực, đặc điểm tập quán sản xuất…

Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội rất phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có những quan điểm cạnh tranh khác nhau. Nhưng dù đứng ở góc độ nào thì các nhà kinh tế học đều phải thừa nhận cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, hay nói cách khác nền kinh tế thị trường chính là động lực của cạnh tranh. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, cạnh tranh cũng có mặt trái: Cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới nhiều hậu quả tiêu cực gây rối loạn thị trường, thiệt hại cho người tiêu dùng và những doanh nghiệp sản xuất chính đáng; cạnh tranh cũng có thể dẫn đến xu hướng độc quyền, làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo và những bất công trong xã hội…

Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của cạnh tranh. Điều đó cần đến sự điều tiết hợp lý của Nhà nước trong chính sách cạnh tranh và đó cũng là trách nhiệm của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường.

2. Năng lực cạnh tranh Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

2.1 Khái niệm

Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh tranh. Bên cạnh khái niệm năng lực cạnh tranh, người ta còn sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh, tính cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh. Mặc dù các thuật ngữ này có thể mang sắc thái khác nhau và không đồng nhất trong những trường hợp cụ thể nào đó, nhưng các thuật ngữ đó đều được dịch ra từ một thuật ngữ tiếng Anh là “competitiveness“.

  • Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực canh tranh, có thể dẫn ra một số quan điểm như sau:

Hội đồng sức cạnh tranh của Mỹ đề nghị định nghĩa: Sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nâng cao một cách vững chắc và lâu dài.

Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”.

Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế đã chọn định nghĩa về năng lực cạnh tranh cố gắng kết hợp cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế“.

Ở Việt Nam thì các chuyên gia lại cho rằng: “Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh), khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp“.

Mặc dù có sự khác nhau giữa các định nghĩa trên song hàm nghĩa cơ bản là như nhau. Với phạm vi và khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, trong khóa luận sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh của OECD.

Như ta biết, môi trường cạnh tranh hiện nay là môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, tức là vừa có cạnh tranh, vừa có độc quyền, vừa cạnh tranh vừa hợp tác cả ở thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế. Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn về năng lực cạnh tranh là điều vô cùng cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của các chủ thể.

2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Năng lực cạnh tranh có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau dẫn đến sự phân chia năng lực cạnh tranh cũng có đôi chút khác biệt. Theo cách phân chia phổ biến nhất thì năng lực cạnh tranh bao gồm:

  • Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc
  • Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp.
  • Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.

Ngoài ba cấp độ trên, có nhà nghiên cứu cũng đề cập đến năng lực cạnh tranh cấp ngành. Thực chất, năng lực cạnh tranh cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng từ năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và của sản phẩm tương tự như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nên khóa luận không đề cập đến.

Việc hiểu thế nào cho đúng về khái niệm các cấp độ năng lực cạnh tranh cũng gây ra rất nhiều tranh cãi. Song nhìn chung chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng của sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán,…

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhắm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau: thị phần, doanh thu, lợi nhuận, phương pháp quản lý, uy tín doanh nghiệp,… Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo cho doanh nghiệp khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn đối thủ cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng quốc gia đó nâng cao mức sống cho người dân với tốc độ cao và bền vững, được thể hiện qua chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia. Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia là môi trường kinh tế vĩ mô, nền tảng kinh tế vĩ mô, trình độ hoạt động của các doanh nghiệp, chất lượng môi trường kinh doanh và năng suất sản xuất quốc gia. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Từ cái nhìn khái quát về ba cấp độ của năng lực cạnh tranh ta cũng có thể nhận ra được mối quan hệ của chúng. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia cao hay thấp là dựa phần lớn vào trình độ hoạt động của các doanh nghiệp. Theo Michael Porter, ở cấp độ quốc gia khái niệm năng lực cạnh tranh duy nhất có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Vì vậy muốn nâng cao năng suất liên tục thì mọi doanh nghiệp, mọi ngành nghề của nền kinh tế phải liên tục cải tiến, liên tục nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Ngược lại, một quốc gia có năng lực cạnh tranh tức là quốc gia đó đã đảm bảo được những điều kiện tốt nhất cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: môi trường kinh doanh thuận lợi ổn định; chính sách vĩ mô rõ ràng nhất quán; kết cấu hạ tầng, lao động, khoa học và công nghệ,…đều phải đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp.

Mặt khác năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lại được thể hiện qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Một doanh nghiệp có thể có nhiều mặt hàng với những năng lực cạnh tranh cao thấp khác nhau. Nhưng nếu có nhiều mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao thì tất yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được nâng cao hơn nhiều. Vì khi đó doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường, giành được ưu thế các đối thủ cạnh tranh.

Như vậy rõ ràng ba cấp độ của năng lực có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng có quan hệ mật thiết nhưng cũng có sự độc lập tương đối, không hoàn toàn là cái này cấu thành nên cái kia. Do vậy khi nghiên cứu tìm hiểu về bất kỳ năng lực cạnh tranh ở cấp độ nào cũng không được bỏ qua mối quan hệ của nó với các cấp độ khác của năng lực cạnh tranh.

II. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để tồn tại và phát triển vững chắc thì doanh nghiệp cần phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có nghĩa là có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao, chiếm lĩnh nhiều thị phần để tiêu thụ sản phẩm của mình, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều yếu tố. Thiếu đi một vài yếu tố sẽ làm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp suy yếu.

1. Năng lực tổ chức quản lý

Có thể nói trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng, là điều kiện đầu tiên cho sự thành công của một doanh nghiệp. Năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp được thể hiện ở một số mặt như sau:

1.1. Phương pháp quản lý

Muốn tổ chức quản lý tốt trước hết doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiện đại, phù hợp. Trình độ quản lý giỏi sẽ đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh tới 70%, 30% còn lại dành cho các yếu tố khác. Các nhà quản lý Nhật Bản đã tổng kết rằng 80% các lỗi trong sản xuất là do lỗi của quản lý. Điều đó cho thấy trình độ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự thành bại của doanh nghiệp.

Hiện nay có nhiều phương pháp quản lý hiện đại đã được các tổ chức doanh nghiệp áp dụng thành công vào quản trị sản xuất và kinh doanh từ nửa sau của thế kỷ XX. Đó là các phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo phương pháp của quản lý chất lượng như ISO 9000 hoặc TQM…

Thực chất hoạt động quản trị doanh nghiệp ngày nay chính là hoạt động quản lý chất lượng. Nếu chất lượng quản lý kém thì chất lượng sản phẩm kém, và tất nhiên doanh nghiệp không có lợi nhuận. Do chất lượng có tầm quan trọng như vậy nên nhiều nhà kinh tế học cho rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của chất lượng. Các tổ chức WTO, ISO rất khuyến khích các tổ chức, các doanh nghiệp trên thế giới áp dụng ISO 9000 và cao hơn là TQM.

1.2. Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức hiệu quả của một doanh nghiệp phải đảm bảo được các tiêu chuẩn: gọn nhẹ, ít cấp bậc, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao. Hiện nay có ba hình thức tổ chức phổ biến là: Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

  • Tổ chức theo cơ cấu chức năng
  • Tổ chức theo phòng ban
  • Tổ chức theo ma trận

Mỗi hình thức tổ chức đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm riêng của mình để có lựa chọn thích hợp, song nhìn chung các doanh nghiệp hiện nay thường tổ chức theo ma trận, nghĩa là phối hợp nhiệm vụ kế hoạch giữa các chức năng ngang và dọc. Các phòng ban chỉ việc xem phần việc của mình trong từng ô của ma trận mà thực hiện. Việc kiểm tra, kiểm soát, đánh giá cũng căn cứ vào mức hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch đã ghi trong ma trận.

1.3. Văn hóa doanh nghiệp

Có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp là tổng thể truyền thống của các cấu trúc và các bí quyết kinh doanh xác lập quy tắc ứng xử nội tại, gắn bó các thành viên với nhau trong một doanh nghiệp. Cụ thể văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở hai mặt: mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh.

Về mục đích kinh doanh thường có hai điểm chung như sau:

  • Đạt hiệu quả cao, tức là lợi nhuận tối đa cho cá nhân và cho cộng đồng, là hiệu quả xã hội.
  • Có tính nhân văn, thể hiện ở hai mặt là đối với con người và đối với thiên nhiên. Đối với con người tức là đáp ứng đến mức cao nhất nhu cầu của con người, là tôn trọng phẩm giá con người, không dùng thủ đoạn mánh khóe cạm bẫy trong kinh doanh. Đối với thiên nhiên là việc gắn kinh doanh với bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế.

Về phương pháp kinh doanh, tức là việc doanh nghiệp đạt tới mục đích bằng con đường và nguồn lực nào. Tuy mục đích kinh doanh là quan trọng nhưng không thể đạt mục đích bằng bất cứ giá nào, mà phải tuân theo những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, đấy chính là văn hóa trong phương pháp kinh doanh. Những điểm chung trong phương pháp kinh doanh là:

  • Tuân thủ pháp luật, đảm bảo minh bạch, công khai trong kinh
  • Chú trọng khoa học quản lý, tuân theo các nguyên tắc quản lý khoa học.
  • Dựa vào khoa học kỹ thuật, vận dụng công nghệ tiên tiến trong điều hành sản xuất kinh doanh.
  • Chú trọng quan hệ con người, phát huy năng lực xã hội mà quan trọng là khơi dậy và phát huy tổng hợp các tiềm năng.

Có thể coi đây là những điểm chung nhất của văn hóa doanh nghiệp. Những điểm chung đó được vận dụng cụ thể trong từng thời kỳ nhất định mà có những thay đổi thích hợp theo chiều hướng khác nhau.

2. Nguồn lực của doanh nghiệp Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Một doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh tất yếu phải có trong tay những nguồn lực nhất định. Mức độ nguồn lực ấy ra sao, khả năng tận dụng thế nào chính là một trong các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

2.1. Nguồn vốn

Vốn là một nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên, vì nếu không có vốn thì không thể thành lập doanh nghiệp, không thể tiến hành kinh doanh được.

Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn chắc chắn huy động được vốn trong những trường hợp cần thiết. Muốn có nguồn vốn đảm bảo thì cần đa dạng hóa nguồn cung vốn, mặt khác việc đa dạng hóa nguồn vốn cũng giúp giảm phần nào rủi ro cho doanh nghiệp. Các kênh huy động vốn chủ yếu ngoài nguồn vốn tự có là: vay từ ngân hàng thương mại, thuê mua tài chính, phát hành chứng khoán, vay từ các quỹ chuyên biệt…

Một điều quan trọng không kém là việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Vấn đề này khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. Muốn sử dụng vốn tốt, trước tiên phải biết lựa chọn kênh huy động vốn phù hợp, chuẩn bị tâm lý huy động vốn, lên sẵn kế hoạch sử dụng vốn. Rất nhiều doanh nghiệp vì không hạch toán các chi phí rõ ràng, không có kế hoạch chủ động sử dụng vốn từ đầu nên nguồn vốn lớn huy động được đã không phát huy hết hiệu quả. Do vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì doanh nghiệp nhất thiết phải quan tâm đến việc huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn.

2.2. Nguồn nhân lực

Con người là cội nguồn của mọi sáng tạo, chính con người đã tạo ra các nguồn lực khác cho doanh nghiệp. Nhận thức được điều này nên các nhà kinh tế học vẫn luôn khẳng định nhân lực là vốn quý nhất của doanh nghiệp. Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của nhân viên, trình độ văn hóa của mọi thành viên. Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ bán được nhiều hơn, giá cao hơn, lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng tăng, uy tín và doanh nghiệp nhờ thế cũng tăng theo. Với danh tiếng đó doanh nghiệp càng có điều kiện phát triển thị trường, mở rộng quy mô, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày phát triển.

Thực tế cho thấy các nước phát triển đã chú trọng tới việc tri thức hóa nguồn nhân lực, phát triển khả năng sáng tạo của con người để tạo ra thế cạnh tranh, giành ưu thế trên thương trường. Và trong điều kiện môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, thì việc quan tâm tới chất lượng nguồn nhân lực là điều vô cùng cần thiết với các doanh nghiệp.

2.3. Trình độ công nghệ Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là công thức tạo sản phẩm. Để có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực; thời gian tạo ra sản phẩm ngắn; tiêu hao năng lượng, nguyên liệu thấp; năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng công nghệ hiện đại giúp cho doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm tốt, do đó làm năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng.

Có một vấn đề các doanh nghiệp cũng cần để ý, đó là việc lựa chọn công nghệ thích hợp. Tức là doanh nghiệp phải dự báo được chu kỳ sống của công nghệ để có thay đổi phù hợp, tạo ra những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường, phải đào tạo công nhân đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ. Nếu không thì đôi khi có công nghệ hiện đại mà vẫn không phát huy được hiệu quả.

3. Các yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Như đã đề cập trong mối quan hệ của các cấp độ năng lực cạnh tranh ở phần trước, năng lực cạnh tranh sản phẩm là cơ sở để tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và quốc gia. Vì thế khi xét tới các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh doanh nghiệp ta không thể không nhắc tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm:

3.1. Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là mức độ tập trung một tập hợp các đặc tính của sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu. Sản phẩm có nhiều tiêu chuẩn chất lượng khác nhau, nhưng nếu chỉ cần một tiêu chuẩn không đảm bảo thì không thể coi sản phẩm đó đạt chất lượng được, ở đây không có quy luật bù trừ. Chất lượng sản phẩm lại bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, đó là: nghiên cứu sản phẩm, thiết kế sản phẩm, tạo sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm, yếu tố con người, công nghệ sản xuất…

3.2. Giá cả

Giá cả có thể coi là yếu tố quan trọng thứ hai sau chất lượng. Trong bối cảnh hiện nay, khi khoa học kỹ thuật đã phát triển với trình độ cao thì chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp gần như tương đương nhau. Và khi đó giá cả lại là yếu tố hấp dẫn khách hàng.

Để có giá cả thấp thì doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí. Chỉ có cách giảm chi phí thì doanh nghiệp mới giảm được giá bán khi chất lượng vẫn tương đương với các đối thủ mà vẫn có lợi nhuận.

3.3. Các yếu tố khác

Ngoài các yếu tố chính đã nêu ở trên thì còn có các yếu tố khác như chủng loại hàng hóa, thời gian cung cấp hàng, mạng lưới phân phối, các dịch vụ đi kèm…

Nhu cầu đối với sản phẩm bao giờ cũng rất phong phú, vì vậy việc đa dạng hóa chủng loại để đáp ứng nhu cầu là cần thiết. Việc cung cấp hàng hóa phải kịp thời nhanh chóng để giúp đối tác không bị lỡ kế hoạch, không bị mất thời cơ. Hiện nay doanh nghiệp rất coi trọng việc phát triển các dịch vụ đi kèm sản phẩm, điều đó giúp tăng thêm giá trị cho sản phẩm, thu hút khách hàng và giữ chân khách hàng tốt hơn.

4. Năng suất lao động Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Năng suất lao động là một yếu tố cấu thành, đồng thời cũng là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và cả trong tương lai. Năng suất lao động được hiểu là giá trị do một lao động tạo ra trên một đơn vị thời gian, thể hiện khả năng sản xuất của một doanh nghiệp. Ngoài ra, người ta có thể lấy chỉ tiêu năng suất sản xuất, tức là lượng giá trị được tạo ra trên một đơn vị thời gian. Nhưng xét về bản chất, chỉ tiêu đó vẫn chưa thể hiện rõ nét năng lực sản xuất của một doanh nghiệp, bởi nếu lượng giá trị lớn nhưng phải huy động nguồn lao động cũng lớn, dẫn đến năng suất lao động thấp thì khả năng sản xuất vẫn không được đánh giá cao.

Muốn tăng năng suất lao động, tất yếu phải tiến hành song song tăng sản lượng sản xuất và giảm lượng lao động. Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận. Muốn có được lợi nhuận thì phải tạo ra các sản phẩm thường xuyên thỏa mãn yêu cầu khách hàng, tức là phải đảm bảo chất lượng, phải giảm mọi chi phí tới mức thấp nhất, thường xuyên cải tiến đổi mới, tạo cho sản phẩm những khác biệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Để tăng lợi nhuận thì việc tăng năng suất lao động là tất yếu, sử dụng ít lao động lại tạo được giá trị sản xuất lớn sẽ khiến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên.

5. Chi phí sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận là phần thu được khi đem doanh thu trừ đi chi phí sản xuất kinh doanh. Từ đó có thể thấy để có lợi nhuận cao thì tất yếu phải giảm chi phí. Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều loại chi phí, vì vậy cũng có nhiều cách để giảm chi phí: tỉ lệ phế phẩm phải thấp để không tốn chi phí cho sửa chữa kiểm tra, bồi thường khi khách hàng khiếu nại về sản phẩm; sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiến hành quản lý theo phương pháp hiện đại; tăng cường công tác đào tạo để có đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân có trình độ; áp dụng công nghệ hiện đại, tăng cường công tác nghiên cứu ứng dụng; hạch toán chi phí rõ ràng,…

Để giảm chi phí doanh nghiệp phải phối hợp đồng bộ quản lý nhiều khâu, nhiều biện pháp mới đạt hiệu quả tối đa.

6. Hoạt động nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu và triển khai vừa là việc nghiên cứu tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới để ứng dụng vào hoạt động của tổ chức mình, vừa là nghiên cứu sáng tạo cái mới. Sáng tạo đó bao gồm sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới, tạo ra kết cấu mới, tổ chức mới, phương pháp quản lý mới, khai thác thị trường mới… Đây là nhân tố cực kỳ quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hiện nay ở các nước phát triển, hoạt động này diễn ra rất sôi động, tốc độ đổi mới nhanh làm cho tuổi thọ của công nghệ, máy móc thiết bị giảm xuống nhanh chóng, đặc biệt là trong công nghệ thông tin, công nghệ tin học và điện tử, công nghệ tự động hóa. Để hoạt động nghiên cứu triển khai tiến hành tốt thì doanh nghiệp không thể thiếu công tác đào tạo. Đào tạo trước hết là phải nâng cao nhận thức cho mọi người về hội nhập, cạnh tranh,…sau nữa là nâng cao hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật sản xuất, nâng cao tay nghề làm ra sản phẩm có chất lượng và năng suất ngày càng cao.

7. Quản lý môi trường Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Quan điểm hiện đại về phát triển ngày nay mà mọi tổ chức hướng tới là sự phát triển bền vững. Một doanh nghiệp hàng năm có doanh thu tăng, lợi nhuận lớn mà môi trường sinh thái suy giảm thì đó là sự phát triển không bền vững. Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên, các yếu tố vật chất bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người. Có thể khẳng định, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người, động thực vật, đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Bởi vậy doanh nghiệp phải có đủ các biện pháp để bảo vệ môi trường. Nếu doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh làm suy thoái môi trường và cảnh quan, sản phẩm của doanh nghiệp làm ra không đủ tiêu chuẩn về môi trường thì doanh nghiệp đó sẽ không có uy tín với cộng đồng dân cư, và hệ quả tất yếu là người tiêu dùng sẽ không tiêu thụ sản phẩm của họ. Như vậy doanh nghiệp không có sức cạnh tranh với đối thủ của mình. Hiện nay khái niệm năng suất xanh do APO đưa ra năm 1994 đã trở nên rất phổ biến. Đó là sự nâng cao năng suất kết hợp với bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm đến mức thấp nhất. Năng suất xanh là chìa khoá cho sự phát triển bền vững.

III. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Hiện tại ở Việt Nam chưa có tổ chức nào đưa ra bộ tiêu chí đánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Phần lớn các tiêu chí được dùng hiện nay đều mang tính định tính, chưa mô hình hóa để định lượng được, dù độ chính xác của định tính cũng được chấp nhận bằng kỹ thuật chọn mẫu và xử lý dữ liệu. Nhưng nhìn chung các tiêu chí cũng đã thể hiện phần nào nội dung cốt lõi của năng lực cạnh tranh. Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, khóa luận xin được trình bày một số tiêu chí sau:

1. Thị phần

Thị phần là chỉ số thể hiện quy mô của doanh nghiệp, cho thấy doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh như thế nào trên thị trường. Một điều tất yếu là doanh nghiệp càng có năng lực cạnh tranh thì tiêu thụ được càng nhiều hàng hoá, doanh thu lớn và tất yếu thị phần tăng. Việc tăng thị phần và giữ vững thị phần đã có luôn là vấn đề quan tâm lớn của mỗi doanh nghiệp. Nói tới thị phần, ta thường thấy xuất hiện chỉ số thị phần tuyệt đối và tương đối, được tính theo công thức sau:

Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, giới chuyên môn thường căn cứ vào thị phần, đó là biểu hiện cụ thể, đáng tin, lượng hoá được về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

2. Danh tiếng, uy tín

Đây là yếu tố mang tính tổng hợp, là kết quả của các yếu tố cấu thành đã trình bày ở trên. Nếu tất cả các yếu tố đó tốt sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo dựng nên hình ảnh tốt đẹp về công ty. Danh tiếng, uy tín của doanh nghiệp được hình thành không chỉ trong chốc lát mà phải bằng cả quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược đúng đắn của mình.

Một vấn đề quan trọng liên quan đến nâng cao uy tín của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp phát triển và duy trì thành công thương hiệu mạnh. Bởi vậy, các chỉ tiêu như chi phí cho hoạt động phát triển thương hiệu, mức độ nổi tiếng và được ưa chuộng của thương hiệu… so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh có thể được sử dụng để phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Ngoài ra, uy tín của doanh nghiệp còn được xây đắp từ đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội. Đây là một cách xây dựng uy tín lâu dài vững chắc nhất.

Uy tín danh tiếng là tài sản vô hình của doanh nghiệp, có giá trị lớn gấp nhiều lần tài sản hữu hình. Để có thể tồn tại một cách vững chắc trên thị trường trong nước và thế giới thì doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý tới việc xây dựng, bảo vệ, khuyếch trương uy tín của mình.

Ngoài các tiêu chí trên, các nhà nghiên cứu còn sử dụng một số tiêu chí khác như các tiêu chí về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm và các quá trình sản xuất, mức độ khai thác nguồn lực, khả năng đổi mới của doanh nghiệp, khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ quá trình kinh doanh, khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế…

IV. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do các yếu tố cấu thành tác động trực tiếp mà còn chịu ảnh hưởng từ các nhân tố bên ngoài. Những yếu tố nội tại doanh nghiệp có thể kiểm soát được, nhưng các nhân tố ảnh hưởng thì nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, do Nhà nước và ngành chi phối là chính.

1. Nguồn cung ứng đầu vào

Trong thời đại của sự phân công lao động và chuyên môn hóa cao thì không một doanh nghiệp nào có thể tự lo cho mình tất cả nguồn đầu vào được, làm như vậy hiệu quả thấp hoặc là không có hiệu quả vì không phát huy hết lợi thế so sánh của mình. Để kinh doanh đạt hiệu quả cao doanh nghiệp phải tìm cho mình những người cung ứng có uy tín (giao hàng đúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo yêu cầu về chất lượng…), nếu không doanh nghiệp cũng sẽ sai hẹn với khách hàng của mình, và như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh.

2. Nhu cầu về sản phẩm

Điều kiện về cầu sản phẩm, hay nói cách khác chính là nhu cầu của khách hàng về sản phẩm doanh nghiệp là điều kiện cần đầu tiên cho sự tồn tại của sản phẩm. Mỗi sản phẩm sẽ có đặc trưng riêng về nhu cầu, có thể là nhu cầu linh hoạt, nhu cầu theo mùa vụ, hay mức cầu cố định…Từ đó doanh nghiệp có định hướng đúng đắn về tình hình cầu của sản phẩm, xác định mức đa dạng hóa của sản phẩm và các dịch vụ đi kèm sản phẩm. Điều này có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

3. Mức độ cạnh tranh của ngành

Sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều, phong phú đa dạng, có chất lượng, giá cả hạ thấp do trình độ công nghệ tiên tiến làm cho năng suất tăng, chi phí giảm…Tất cả những yếu tố đó sẽ làm cho mức độ cạnh tranh trong ngành tăng cao. Khi mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt thì doanh nghiệp càng cần tích cực nâng cao sức cạnh tranh của mình để tồn tại. Hay nói cách khác, mức độ cạnh tranh chính là động lực để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

4. Các ngành công nghiệp phụ trợ có liên quan Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Những ngành công nghiệp phụ trợ và những ngành liên quan có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì những ngành này cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp ở các khu vực có sơ sở hạ tầng phát triển, trình độ dân trí cao, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc phát triển,…cùng với các ngành phụ trợ phát triển thì sẽ phát huy được năng lực cạnh tranh cho mình.

5. Năng lực cạnh tranh quốc gia

Như đã trình bày ở phần trên, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp có mối quan hệ khăng khít. Quốc gia có năng lực cạnh tranh tốt thì tất yếu sẽ tạo ra môi trường kinh tế xã hội phát triển, môi trường chính trị pháp luật ổn định minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và trên thị trường quốc tế. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia có nhiều chỉ tiêu khác nhau, song phổ biến nhất là hai chỉ tiêu: chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng và chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp. Hai chỉ tiêu này đều do WEF công bố hàng năm trong báo cáo trạnh canh toàn cầu.

Chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index-GCI) là chỉ số truyền thống đo lường cấc yếu tố vĩ mô tác động tới năng lực cạnh tranh quốc gia dựa trên ba nhóm chỉ số cơ bản được coi là các trụ cột cho tăng trưởng nền kinh tế, đó là chỉ số về công nghệ, chỉ số thể chế công, chỉ số ổn định môi trường tăng trưởng kinh tế vĩ mô.

Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (Global Competitiveness Index – GCI) mới được công bố trong báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2023 – 2024. Chỉ số này được xây dựng trên cơ sở đo lường chín yếu tố có tác động lớn tới năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm: thể chế, hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản và y tế, giáo dục và đào tạo bậc cao, hiệu quả thị trường, mức độ sẵn sàng về công nghệ, trình độ kinh doanh và đổi mới.

Dựa vào các tiêu chí đánh giá này, WEF sẽ đưa ra bảng xếp hạng năng lực canh tranh của các quốc gia trên thế giới. Trong phạm vi đề tài này, khóa luận sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp để đánh giá năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

V. NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Toàn cầu hoá đã tạo ra những thay đổi rất lớn cho tất cả các lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế, xã hội, văn hoá. Trong đó, mạnh mẽ nhất, tác động lớn nhất là xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Lý luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế

“Hội nhập kinh tế là quá trình nền kinh tế các quốc gia tham gia một cách chủ động, tích cực vào nền kinh tế thế giới, qua đó, nền kinh tế các quốc gia tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau”.

Hội nhập kinh tế quốc tế có hai nội dung chính. Một là, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó các thành viên đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với từng thành viên của các định chế, tổ chức đó. Hai là, tiến hành những cải cách ở trong nước để có thể thực hiện các quy định, cam kết quốc tế về hội nhập.

Như vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến nhiều mặt, nhiều hoạt động trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là đến quan hệ thương mại quốc tế của các quốc gia. Có thể nói hội nhập kinh tế quốc tế cùng với tự do hóa kinh tế là hai quá trình song song và hợp thành một quá trình rộng lớn hơn, đó là quá trình toàn cầu hóa, là sự định hình và phát triển nền kinh tế toàn cầu với tư cách là một chỉnh thế chung thống nhất, không có khoảng cách về kinh tế.

2. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến doanh nghiệp Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu cho các quốc gia trên con đường phát triển của mình. Tuy mỗi quốc gia có vị thế khác nhau và mục tiêu khác nhau, trong phát triển kinh tế cũng như hội nhập nhưng nhìn chung các quốc gia đều thu được những lợi ích khi tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế, những lợi ích chính đó là:

  • Thị trường được mở rộng tới phạm vi khu vực và thế giới, nhờ đó tiềm năng kinh tế của các nước tham gia được khai thác một cách có hiệu quả. Khi đó, phúc lợi xã hội và quyền lợi của người tiêu dùng đều được nâng lên bởi các quốc gia, các doanh nghiệp đều tham gia hội nhập bằng lợi thế cạnh tranh tốt nhất và hiệu quả nhất của mình.
  • Tự do hóa thương mại có nghĩa là sẽ tự do lưu chuyển các yếu tố của sản xuất như: vốn, công nghệ, lao động, trình độ quản lý tiên tiến… Vì vậy các quốc gia tham gia hội nhập sẽ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lực này từ bên ngoài để mở rộng sản xuất, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên trong nước.
  • Liên kết kinh tế quốc tế thúc đẩy cạnh tranh trên quy mô quốc tế, tạo khả năng đạt được sự tối ưu về quy mô, về cơ cấu cho từng ngành sản xuất.

Hội nhập kinh tế có nghĩa là ranh giới hành chính bị xóa nhòa, khái niệm quốc gia trong kinh tế thế giới sẽ không còn rõ nét vì thị trường thế giới là một thể thống nhất, do vậy các doanh nghiệp sẽ là những chủ thể chịu tác động trực tiếp của xu thế này. Tác động đó được thể hiện qua những cơ hội và thách thức đến với doanh nghiệp Việt Nam.

3. Cơ hội của các doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa: Khi hội nhập tức là các nước phải tiến hành mở cửa thị trường, giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan, điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với quá trình mở cửa tự do hóa kinh tế,… Vì thế thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ bó hẹp trong nội địa, mà đã mở rộng ra khu vực và thế giới. Doanh nghiệp Việt Nam khắc phục được tình trạng phân biệt đối xử, tạo dựng được thế lực trên thị trường thế giới, lại được hưởng những ưu đãi thương mại, mở đường cho sự phát triển của doanh nghiệp. Hội nhập khiến các doanh nghiệp phải thúc đẩy quá trình cơ cấu lại theo hướng có hiệu quả hơn, nâng cao hiệu quả kinh doanh, sản xuất những sản phẩm được thị trường thế giới chấp nhận.

Thu hút vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài: Như đã trình bày ở trên, rào cản thương mại không còn sẽ giúp dòng vốn và công nghệ tự do di chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu. Hiện tại các doanh nghiệp Việt Nam rất thiếu vốn và công nghệ hiện đại để phát triển, hội nhập sẽ là cơ hội để tiếp thu các nguồn lực ấy. Ngoài nguồn vốn và công nghệ hiện đại, doanh nghiệp Việt Nam còn tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý rất quý báu và các nguồn lực khác trên thế giới để áp dụng cho doanh nghiệp của mình.

Nâng cao tính hiệu quả, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Trong một thị trường mở không còn sự bảo hộ của nhà nước, các doanh nghiệp chỉ có thể dựa vào chính sức lực của mình để tồn tại. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại để phù hợp với xu hướng thế giới, phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

4. Thách thức của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

  • Cùng với những cơ hội nêu trên thì doanh nghiệp cũng phải đối phó với những thách thức khi hội nhập:

Thách thức về năng lực cạnh tranh: Việc giảm thuế và phi thuế, sự thông thoáng về chính sách quản lý đối với các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ,…trong quá trình hội nhập sẽ tạo sức ép rất lớn, đòi hỏi nền kinh tế và các doanh nghiệp phải có đầy đủ khả năng cạnh tranh mới có thể trụ vững và khai thác được lợi thế của hội nhập. Cần nhận thức rằng, phạm vi cạnh tranh giờ đây là ở quy mô toàn cầu vì vậy sẽ rất gay gắt, buộc tất cả các doanh nghiệp phải phấn đấu để tồn tại và phát triển.

Thách thức về nguồn nhân lực: Đây cũng là thách thức không nhỏ với doanh nghiệp. Bởi nguồn nhân lực đang ở độ tuổi lao động có chất lượng thấp cả về chuyên môn, tác phong và kỹ thuật, thêm nữa là trình độ người quản lý còn non kém. Việc tiếp cận với công nghệ mới trong khi hội nhập đòi hỏi doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh trong việc quản lý và đạo tạo nguồn nhân lực. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

Thách thức về đổi mới công nghệ: Điều tất yếu khi hội nhập là phải đổi mới công nghệ. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp hiện tại còn quá thấp. Việc không tương thích trong trình độ công nghệ đã gây cản trở ít nhiều đến việc đổi mới nâng cao trình độ công nghệ.

Thách thức về tiếp nhận và xử lý thông tin: Thời đại ngày nay là thời đại của thông tin, nên việc cập nhật thông tin cũng như việc xử lý thông tin là rất cần thiết. Nhưng kỹ năng xử lý thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá yếu, làm giảm tính nhạy bén linh động của doanh nghiệp với biến động thị trường. Điều đó là thiếu sót lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cơ hội và thách thức của hội nhập đã có tác động rất lớn đến các doanh nghiệp Việt Nam. Cơ hội nhiều nhưng các doanh nghiệp nếu không biết cách giành lấy, không biến nó thành động lực thì cũng coi như đã bỏ qua cơ hội đó. Trước những cơ hội và thách thức hội nhập, doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Đây gần như là điều tất yếu nếu các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế thế giới hiện nay.

Tóm lại, cơ sở lý thuyết trình bày trên đã cho thấy cạnh tranh kinh tế là một động lực cần thiết khiến các chủ thể kinh tế đấu tranh để tồn tại, phát triển và đạt được những mục tiêu của mình. Quá trình cạnh tranh ấy làm nảy sinh nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng nhiều biện pháp. Với phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp kết hợp định tính và định lượng, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc xác định chính xác năng lực của mình, từ đó có chiến lược đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép

One thought on “Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép”

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của công ty Gang Thép

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537