Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. Tổng quan về công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
- Tên công ty: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
- Địa chỉ: Km số 2- Phùng Hưng- Hà Đông- Hà Nội
- Mã số thuế: 0104775001
- Vốn điều lệ: 21.600.000.000 ( hai mươi mốt tỉ sáu trăm triệu đồng )
- Số lượng lao động: 132 nhân viên
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I tiền thân là Xí nghiệp Khảo sát Xây dựng Điện I – trực thuộc Công ty tư vấn xây dựng điện I, là doanh nghiệp Nhà nước. Công ty được thành lập và hoạt động theo Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0104005901 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 01/04/2021.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I có tư cách pháp nhân không đầy đủ theo sự phân cấp và uỷ quyền của Công ty, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập trong Công ty tư vấn xây dựng điện I, có con dấu riêng được mở tài khoản tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển – Hà Tây và được đăng ký kinh doanh trong phạm vi ngành nghề Tổng công ty Điện lực Việt Nam cho phép.
Căn cứ quyết định số 27 QĐ/HĐQT – TVĐ1-P3 ngày 23/01/2021 của Hội đồng quản trị Công ty CP Tư vấn Xây dựng Điện I về việc thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I thuộc Công ty CP Tư vấn Xây dựng Điện I. Xí nghiệp Khảo sát Xây dựng Điện I đã chuyển đổi mô hình hoạt động sang Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I kể từ ngày 27/5/2021.
Từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, công ty là một trong những doanh nghiệp tư vấn, khảo sát thiết kế Điện lớn ở Việt Nam, đã và đang thực hiện toàn bộ công tác tư vấn thiết kế, khảo sát, thí nghiệm… và là tư vấn chính cho nhiều dự án công trình điện quan trọng, quy mô lớn, phức tạp của Việt Nam cũng như ở CHDCND Lào và Vương quốc Campuchia.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Công ty tiếp tục tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới trang thiết bị công nghệ, đầu tư nguồn lực để thực hiện các dự án điện năng lượng tái tạo, nhằm cung cấp dịch vụ kỹ thuật tốt nhất cho khách hàng, góp phần nâng cao thương hiệu, nâng cao giá trị công ty, xây dựng Công ty phát triển bền vững.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Sơ đồ 2.1.Cơ cấu tổ chức công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
2.1.2.1. Giám đốc
- Là người lãnh đạo cao nhất, chịu trách nhiệm chung về mọi mặt hoạt động của Công ty. Giám đốc trực tiếp phụ trách các phòng kinh tế kế hoạch, phòng kế toán tài vụ và tổ chức hành chính.
- Điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động hàng ngày khác của công ty. Chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên,thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty.
2.1.2.2. Phó giám đốc khảo sát nguồn điện
Có nhiệm vụ giám sát và tham mưu với Giám đốc về công tác kỹ thuật và thi công các công trình khảo sát nguồn điện, ký duyệt các thiết đồ hố khoan và phương án tổ chức thi công, tài liệu khảo sát.
2.1.2.3. Phó giám đốc xây lắp điện
Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về công tác khảo sát thiết kế lưới điện, là ủy viên các hội đồng tư vấn của công ty, ký duyệt các tài liệu thiết kế lưới điện.
2.1.2.4. Phòng tổ chức hành chính
Xây dựng bộ máy tổ chức cán bộ, xây dựng và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động, quản lý danh sách đội ngũ cán bộ công nhân viên.
2.1.2.5. Phòng kinh tế kế hoạch
Xây dựng kế hoạch sản xuất ngắn hạn, dài hạn, các giải pháp sản xuất kinh doanh, xây dựng quy chế khoán, kiểm tra và đôn đốc thực hiện kế hoạch, bảo quản tài sản thiết bị của công ty, tổ chức ký kết và thanh lý các hợp đồng kinh tế và tìm thêm việc làm cho công ty. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
2.1.2.6. Phòng kế toán tài vụ
Lập kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của công ty tham mưu cho Giám đốc trình Hội đồng thành viên phê duyệt để làm cơ sở thực hiện.
- Chủ trì thực hiện nhiệm vụ thu và chi, kiểm tra việc chi tiêu các khoản tiền vốn, sử dụng vật tư, theo dõi đối chiếu công nợ.
- Xây dựng kế hoạch quản lý, khai thác và phát triển vốn của Tổng công ty giao cho Công ty, chủ trì tham mưu trong việc tạo nguồn vốn, quản lý, phân bổ, điều chuyển vốn và hoàn trả vốn vay, lãi vay trong toàn công ty.
2.1.2.7. Phòng tổ chức thi công khảo sát
Tổ chức thi công công tác khoan, khảo sát đảm bảo chất lượng, tiến độ và an toàn lao động. Tổ chức sản xuất phục vụ sản xuất cho các tổ khoan.
2.1.2.8. Phòng kỹ thuật địa chất
Xây dựng các biện pháp chỉ đạo kỹ thuật công tác khoan, thí nghiệm địa chất bảo đảm chất lượng cao, trực tiếp thực hiện công tác thí nghiệm mẫu, đào hố, lập và xuất bản tài liệu khoan, đào.
2.1.2.9. Phòng thiết kế
Là đơn vị sản xuất trực thuộc công ty chuyên làm công tác khảo sát thiết kế lưới điện cấp điện áp chủ yếu từ 35 KV trở xuống. Tham mưu cho công ty phương hướng và các biện pháp đầu tư phát triển lĩnh vực khảo sát, thiết kế lưới điện của công ty.
2.1.3. Đặc điểm ngành nghề của công ty.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I được thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0104005901 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 01/04/2021. Cụ thể nghiệp vụ kinh doanh của công ty như sau:
- Tư vấn dịch vụ kỹ thuật và xây dựng công trình đường dây trạm biến áp 220KV, các công trình công nghiệp dân dụng khác bao gồm: lập dự án đầu tư, lập quy hoạch xây dựng, lập dự toán công trình, lập hồ sơ và tổ chức đấu thầu thiết kế, mua sắm vật tư thiết bị, xây lắp công trình, nhận thầu quản lý xây dựng.
- Đầu tư xây dựng công trình nguồn điện;
- Sản xuất kinh doanh điện năng;
- Thi công xây dựng công trình điện lực, dân dụng;
- Khoan phun thí nghiệm chống thấm,gia cố, xử lý nền móng công trình xây dựng;
- Khảo sát khoan đào, đo vẽ, lập báo cáo, tài liệu địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường phục vụ thiết kế công trình công nghiệp, dân dụng, thăm dò tài nguyên;
- Dịch vụ khảo sát và đo vẽ bản đồ địa hình, địa chính;
- Nhận thầu khảo sát, thiết kế, khai thác, tinh chế, lọc nước phục vụ sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh nước sạch;
- Đầu tư xây dựng công trình và kinh doanh bất động sản, kinh doanh thiết bị vật tư chuyên ngành điện, khảo sát;
- Thiết kế công trình đường dây tải điện và trạm biến áp 220KV các giai đoạn, tư vấn, giám sát xây dựng các công trình công nghiệp dân dụng.
2.1.4. Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
2.1.4.1. Tình hình tài sản nguồn vốn
- Tình hình tài sản
Theo bảng cân đối kế toán thì tổng tài sản của công ty thời điểm năm 2023 là 81.353 triệu đồng, sang đến năm 2024 tăng lên mức 82.876 triệu đồng tương ứng với 1,87%. Tuy nhiên sang đến năm 2025, tổng tài sản của công ty lại có xu hướng giảm khá mạnh với mức giảm tuyệt đối là 3.691 triệu đồng, tương đương với 4,45% so với năm 2024.
- Bảng 2.1. Bảng Cân đối Kế toán – Phần Tài sản năm 2023 – 2025
Nhìn chung, về cơ cấu tài sản đối với các công ty kinh doanh ngành Xây dựng, tài sản ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với tài sản dài hạn và công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I cũng không ngoại lệ. Để thấy rõ được cơ cấu và sự thay đổi qua các năm, chúng ta cùng theo dõi biểu đồ 2.1 bên dưới.
- Biểu đồ 2.1. Tình hình tài sản tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
Về tài sản ngắn hạn: có sự tăng trưởng khi đạt mức tăng 4,39%, đạt 968 triệu đồng trong năm 2024 do có sự tăng mạnh của các khoản phải thu ngắn hạn và phải thu khách hàng. Đến năm 2025, tài sản ngắn hạn của công ty có sự giảm nhẹ 5,89% còn 66.790 triệu đồng.
- Tiền và các khoản tương đương tiền:
Chệch lệch giữa năm 2023 và 2024 là4.174 triệu đồng, tương ứng với tốc độ giảm 73,88%. Tiền và các khoản tương đương tiền giảm giúp công ty giảm chi phí dự trữ tiền, giảm chi phí cơ hội bị mất đi. Tuy nhiên việc dự trữ tiền và các khoản tương đường tiền ở mức quá thấp có thể làm giảm khả năng thanh toán của công ty, có thể gặp rủi ro khi có nhu cầu bất thường về vốn.
Đến năm 2025, tiền và các khoản tương đương tiền đạt giá trị là 6.692 triệu đồng, tăng 353,37% so với năm 2024. Trong đó, chiếm phần lớn là tiền gửi ngân hàng là 6.687 triệu đồng, còn lại là tiền mặt với 4,7 triệu đồng. Tiền gửi ngân hàng tăng mạnh do cuối năm công ty hoàn thành nghiệm thu công trình thủy điện Bắc Hà. Lượng tiền gửi ngân hàng của công ty chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản so với các khoản khác thuộc vốn bằng tiền vào thời điểm cuối năm, điều này cho thấy khả năng thanh toán tức thời của công ty được đảm bảo. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Các khoản phải thu ngắn hạn:
Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2024 là 51.550 triệu đồng, tăng 9.773 triệu đồng, tốc độ tăng 23,39% so với năm 2023. Nguyên nhân chính là do phải thu khách hàng tăng mạnh đạt 34.918 triệu đồng, tăng 11.367 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 48,27% so với năm 2023. Trong năm 2024 công ty đã tiến hàng nới lỏng chính sách tín dụng, điều này có thể giúp tăng khả năng bán hàng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi không thu hồi được nợ.
Năm 2025, các khoản phải thu ngắn hạn đạt 46.225 triệu đồng, giảm 10,33% so với năm 2024. Nguyên nhân chính là do trong quá trình sản xuất kinh doanh, thi công các công trình, vì công ty thiếu vốn nên các xí nghiệp trực thuộc phải tự cung ứng vốn để mua nguyên vật liệu và chi trả các chi phí khác, vì thế khoản phải thu của công ty giảm xuống do bù trừ cho các xí nghiệp trực thuộc.
- Hàng tồn kho:
Năm 2024, hàng tồn kho của công ty là16.559 triệu đồng, giảm 955 triệu đồng so với năm 2023, tốc độ giảm 5,45%. Hàng tồn kho giảm thể hiện nỗ lực của công ty trong việc thúc đẩy bán hàng hóa, dịch vụ. Tỉ trọng hàng tồn kho so với tổng tài sản chiếm tỷ trọng 19,98% là một tỷ trọng hợp lý, giúp công ty vừa tiết kiệm chi phí dự trữ hàng lưu kho, vừa đảm bảo hàng hóa dự trữ đủ cho việc cung cấp ra thị trường.
Sang đến năm 2025, hàng tồn kho giảm 4.221 triệu đồng tương đương với mức giảm 25,49% đạt giá trị 12.337 triệu đồng. Sự giảm hàng tồn kho chủ yếu là do giảm chi phí sản xuất kinh doanh dở dang từ 15.626 triệu đồng xuống 11.176 triệu đồng. Do các dự án gần hoàn thiện và công ty cũng đã hoàn thành và bàn giao một số công trình nên lượng tiền mặt, các khoản phải thu cũng giảm cùng với hàng tồn kho. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Tài sản ngắn hạn khác:
Năm 2024 là 1.383 triệu đồng, giảm 54,56% so với năm 2023. Nguyên nhân đó là do trong năm 2024 thuế Giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ giảm.
Năm 2025, do các khoản tạm ứng tăng dẫn đến giá trị của tài sản ngắn hạn khác tăng khá mạnh 10,98% đạt giá trị 1.535 triệu đồng.
Về tài sản dài hạn: tài sản dài hạn của công ty trong năm 2024 giảm 1.460 triệu đồng so với năm 2023, đạt 11.908 triệu đồng. Sang đến năm 2025, do các khoản phải thu dài hạn tăng dẫn đến tài sản dài hạn của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I tăng 4,09% đạt giá trị 12.395 triệu đồng.
- Tài sản cố định:
Năm 2024, tài sản cố định là 8.821 triệu đồng, giảm 1.579 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ giảm 15.18%. Nguyên nhân là do trong năm 2024 công ty có mua mới một số máy móc thiết bị và phương tiện vận tải, truyền dẫn với số lượng ít làm cho nguyên giá tài sản cố định tăng nhưng mức tăng không đáng kể (tăng 2,2%) so với mức giảm của giá trị hao mòn lũy kế (giảm 9,97%).
Tài sản cố định năm 2025 là 6.573 triệu đồng, giảm 24,38% so với năm 2024 do trong năm công ty có thanh lý một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, truyền dẫn.
- Tài sản dài hạn khác:
Năm 2024, tài sản dài hạn khác của công ty là 3.087 triệu đồng, tăng 4% so với năm 2023. Nguyên nhân chính là do sự tăng lên của phải thu dài hạn ( tăng 3,53% ), điều này được lý giải bởi chính sách nới lỏng tính dụng, tăng thời hạn thanh toán cho khách hàng.
Năm 2025 giá trị tài sản dài hạn khác tăng 2.735 triệu nghìn đồng tương đương với mức tăng 88,6%. Nguyên nhân đó là do trong năm 2025, công ty phát sinh chi phí trả trước dài hạn là 98 triệu đồng, đồng thời tình hình kinh tế khó khăn, công ty tiếp tục nới lỏng chính sách tín dụng để thu hút khách hàng khiến cho giá trị khoản phải thu dài hạn tăng mạnh 75,81%.
- b. Tình hình nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Trong khi việc phân tích tình hình tài sản cho ta thấy cơ cấu tài sản của công ty, qua đó đánh giá được mức độ phân bổ tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc phân tích nguồn vốn sẽ cho ta biết mức độ ổn định của những tài sản đó, xem chúng được tài trợ bằng nguồn vốn nào của công ty. Chính vì thế đây là công tác quan trọng, được thực hiện thường xuyên tại bất kì một doanh nghiệp nào.
Bảng 2.2 sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình nguồn vốn của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I giai đoạn từ 2023 – 2025
- Bảng 2.2. Bảng Cân đối Kế toán – Phần Nguồn vốn năm 2023 – 2025
Nợ phải trả năm 2024 là 64.640 triệu đồng, tăng 8,55% so với năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng lên của nợ ngắn hạn. Tuy nhiên đến năm 2025, nợ phải trả lại giảm xuống ngang bằng với năm 2023 đạt giá trị 59.823 triệu đồng.
Nợ ngắn hạn: Tỷ trọng nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn của công ty chiếm con số khá cao, lần lượt là 73,2%, 78% và 73,55% từ năm 2023 đến 2025. Nguyên nhân chủ yếu của việc tỷ trọng nợ ngắn hạn chiếm mức cao, đặc biệt vào năm 2024 là do công ty huy động vốn từ các ngân hàng để bổ sung cho nguồn vốn lưu động của mình. Ngoài ra việc công ty phải trả người lao động khoản tiền chiếm 24,94% tổng nguồn vốn tương đương 20.293 triệu đồng vào năm 2023 và 21.893 triệu đồng tương đương 26,42% vào năm 2024. Thêm vào đó, khoản người mua trả tiền trước năm 2025 tăng đột biến gần 2,5 lần so với năm, đạt giá trị là 5.625.640 triệu đồng, khoản mục phải trả cho người bán năm 2024 cũng tăng mạnh 51,28% so với năm 2023.
Nợ dài hạn: chiếm tỷ trọng khá nhỏ nhưng lại liên túc tăng qua các năm, cụ thể là năm 2024 tăng 138,39% so với năm 2023 và năm 2025 tăng 20,77% so với năm 2024. Các khoản vay nợ này chủ yếu có thời hạn từ 4 –5 năm và được vay từ ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Hà Tây để đầu tư xây dựng các công trình thủy điện. Vào thời điểm khó khăn như hiện nay, việc tài trợ vốn lưu động bằng nợ dài hạn là một việc làm mạo hiểm và có thể khiến cho công ty không kịp thời phản ứng trước những nhu cầu kinh doanh phát sinh. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Nguồn vốn chủ sở hữu: năm 2023 đạt giá trị 21.805 triệu đồng, sau đó giảm 16,37% vào năm 2024 xuống 18.236 triệu đồng. Nguyên nhân chính là do trong năm 2023, công ty có khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối nhưng sang đến năm 2024, công ty đã phân phối hết số lợi nhuận này. Tuy nhiên sau đó vốn chủ sở hữu tăng nhẹ 6,17% vào năm 2025 đạt giá trị 19.361 triệu đồng. Quỹ khen thưởng phúc lợi qua các năm luôn có sự tăng mạnh đặc biệt là vào năm 2025 tăng 220,64%. Điều này cho thấy mặc dù tình hình kinh tế khó khăn nhưng công ty vẫn luôn động viên, khuyến khích nhân viên cố gắng trong công việc.
2.1.4.2. Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận
- Bảng 2.3. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2023 – 2025
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy doanh thu và lợi nhuận của công ty tăng mạnh trong năm 2024 và sụt giảm vào năm 2025, doanh thu thuần năm 2024 đạt mức 103.435 triệu đồng tăng 29,14% so với năm 2023. Sang đến năm 2025, doanh thu sụt giảm mạnh dẫn đến sự giảm sút của lợi nhuận sau thuế. Cụ thể doanh thu năm 2025 đạt 54.498 triệu đồng, giảm 47,31% so với năm 2024 và lợi nhuận sau thuế đạt 2.998 triệu đồng, giảm 35,36%.
Về doanh thu:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Năm 2024, doanh thu của công ty là 103.435 triệu đồng, tăng 23.342 triệu đồng, mức độ tăng 29,14% so với năm 2023. Nguyên nhân là do trong năm 2024, công ty đã tiến hành đa dạng hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp thêm nhiều dịch vụ như dịch vụ tư vấn kỹ thuật xây dựng, dịch vụ khảo sát và đo vẽ bản đồ địa hình, địa chất… Bên cạnh đó, nhu cầu xây dựng các công trình đường dây tải điện, công trình công nghiệp dân dụng cũng tăng mạnh khiến cho mặc dù năm 2024 kinh tế khó khăn nhưng công ty vẫn có doanh thu tăng mạnh.
Năm 2025, doanh thu có sự sụt giảm mạnh 48.937 triệu đồng tương đương với 47,31%. Nguyên nhân là do nền kinh tế khó khăn, doanh thu về xây lắp điện và khảo sát thiết kế công trình điện đều giảm mạnh đến gần 50%.
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung ứng dịch vụ:
Do công ty không có các khoản giảm trừ doanh thu từ năm 2023- 2025 nên doanh thu thuần bằng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Điều này thể hiện công ty đã quản lý tốt hoạt động sản xuất kinh doanh, sản phẩm dịch vụ cung ứng với chất lượng tốt. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Thu nhập khác:
Năm 2024, thu nhập khác của công ty đạt 253 triệu đồng, tăng 253 triệu đồng so với năm 2023. Nguyên nhân là do trong năm 2024 công ty đã nhượng bán và thanh lý một số tài sản. Thu nhập khác năm 2025 giảm 80,12% đạt giá trị 50 triệu đồng do trong năm công ty cũng thanh lý một số máy móc, thiết bị, phương tiện truyền dẫn nhưng lãi thu về ít hơn so với năm 2024.
Về chi phí:
- Giá vốn hàng bán
Năm 2024, giá vốn hàng bán của công ty là 87.721 triệu đồng, tăng 22.541 triệu đồng, tương đương với tỷ lệ tăng 34,58% so với năm 2023.Giá vốn hàng bán của công ty tăng mạnh do số lượng các công trình thi công, dịch vụ cung ứng tăng. Đối với một doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng điện thì giá vốn hàng bán thường bao gồm chi phí mua sắm vật tư, khấu hao máy móc, nhà xưởng, chi phí điện nước, nhân công trực tiếp. Năm 2024 có thể nói là một năm mà công ty đã chưa quản lý tốt được giá vốn hàng bán khi mà tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nhanh hơn so với tốc độ tăng của doanh thu.
Năm 2025, giá vốn hàng bán giảm mạnh còn 43.398 triệu đồng, giảm 50,53% so với năm 2024. Có thể thấy, trong năm nay, công ty đã cải thiện được hiệu quả quản lý giá vốn hàng bán khi mà tốc độ giảm của giá vốn hàng bán cao hơn so với tốc độ giảm của doanh thu.
- Chi phí tài chính
Năm 2024, chi phí tài chính là 2.191 triệu đồng, tăng 179 triệu đồng, tốc độ tăng 8,9% so với năm 2023. Trong đó chi phí tài chính đều là chi phí lãi vay, chi phí tài chính năm 2024 tăng do công ty đã vay thêm vốn ngân hàng để đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị. Sang đến năm 2025, chi phí tài chính giảm khá mạnh 28,86% do công ty đã trả được một số nợ gốc cho ngân hàng.
- Chi phí quản lý kinh doanh
Năm 2024, chi phí quản lý kinh doanh của công ty là 7.664 triệu đồng, tăng 548 triệu đồng tương ứng với mức tăng 7,7% so với năm 2023. Nguyên nhân là do trong năm 2024, doanh thu của công ty tăng, công ty tiến hành tăng lương cho nhân viên quản lý, đồng thời chi phí khấu hao Tài sản cố định và dịch vụ mua ngoài tăng. Tuy nhiên đến năm 2025, chi phí quản lý giảm 33,3% trong đó chiếm phần lớn là chi phí nhân viên quản lý giảm từ 4.430 triệu đồng xuống 3.092 triệu đồng do tình hình kinh doanh không khả quan, doanh nghiệp cắt giảm nhân sự. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Về lợi nhuận:
Biểu đồ 2.2. Quy mô lợi nhuận sau thuế của công ty
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là tốt hay không được đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận sau thuế của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I từ năm 2023 – 2025 đều không bị giá trị âm chứng tỏ công ty hoạt động có lợi nhuận và không bị thua lỗ. Năm 2024, lợi nhuận sau thuế là 4.638 triệu đồng, tăng 834 triệu đồng so với năm 2023, tốc độ tăng 21,93%. Đây là mức tăng trưởng đáng kể của công ty trong một năm kinh tế gặp nhiều khó khăn, điều đó thể hiện sự cố gắng của công ty trong việc tối thiểu hóa chi phí và thúc đẩy lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra. Tuy nhiên sang đến năm 2025, lợi nhuận sau thuế giảm mạnh 35,46% so với năm 2024 đạt giá trị 2.998 triệu đồng, điều này có thể do ảnh hưởng không tốt từ suy thoái kinh tế, tăng trưởng các ngành giảm sút.
2.1.4.3. Một số chỉ tiêu đánh giá tổng hợp
- Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Đây là nhóm chỉ tiêu nhằm đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp thông quả khả năng trả nợ dựa trên ba chỉ tiêu quan trọng: khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời.
- Bảng 2.4. Khả năng thanh toán của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
Khả năng thanh toán ngắn hạn đo lường khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2024 là 1,12 lần, có nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn của công ty được đảm bảo bằng 1,12 đồng tài sản ngắn hạn, giảm tương ứng với năm 2023 là 0,03 đồng tài sản ngắn hạn. Do tổng nợ ngắn hạn giảm mạnh vào năm 2025, nên chỉ tiêu này tăng trở lại thành 1,13 đồng. Chỉ tiêu này trong cả ba năm qua đều lớn hơn 1 cho thấy công ty hoàn toàn có đủ khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Khả năng thanh toán nhanh đo lường chính xác hơn khả năng thanh toán ngắn hạn ( do hàng tồn kho không được tính vào chi trả do khả năng tiêu thụ của hàng tồn kho thấp). Khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2024 là 0,86 lần, có nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn của công ty năm 2024 được đảm bảo bằng 0,86 đồng tài sản ngắn hạn khi không tính đến yếu tố hàng tồn kho và không thay đổi so với năm 2023. Năm 2025, chỉ tiêu này tăng 0,06 đồng đạt giá trị 0,92 đồng do trong năm chi phí sản xuất kinh doanh dở dang giảm mạnh vì công ty đã hoàn thành và bàn giao một số dự án. Chỉ tiêu này khá cao cho thấy công ty không phụ thuộc nhiều vào hàng tồn kho, nhưng khoản phải thu khách hàng lại chiếm tỷ trọng lớn, công ty cần thắt chặt chính sách tín dụng để giảm chi phí và rủi ro khi thu hồi nợ.
Khả năng thanh toán tức thời đo lường việc chi trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền.Năm 2024, lượng tiền mặt giảm xuống đáng kể so năm 2023, đây là lý do dẫn đến hệ số thanh toán tức thời giảm mạnh. Khả năng thanh toán tức thời của công ty năm 2024 là 0,02 lần có nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn của công ty năm 2024 được đảm bảo bằng 0,02 đồng tiền và các khoản tương đương tiền, giảm 0,08 đồng so với năm 2023. Sang đến năm 2025, hệ số này tăng trở lại đạt giá trị 0,11 đồng. Khả năng thanh toán tức thời ở mức cao giúp công ty đảm bảo được khả năng thanh toán khi có nhu cầu về vốn bất thường nhưng chỉ tiêu này quá cao sẽ làm công ty mất nhiều chi phí dự trữ tiền và chi phí cơ hội.
Tóm lại, khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán tức thời của công ty đang mức ổn định, tuy nhiên khả năng thanh toán nhanh có xu hướng giảm, thấp hơn so với chỉ tiêu của ngành cho thấy khả năng thanh toán của công ty kém an toàn hơn các doanh nghiệp cùng ngành. Do vậy, để cải thiện được vấn đề này, công ty cần giảm lượng hàng tồn kho xuống mức thích hợp và bổ sung thêm các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn.
- b. Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một chu kỳ nhất định, là một nguồn vốn quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các quyết định về tài chính trong tương lai. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời bao gồm ba chỉ số: chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS). Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Bảng 2.5. Khả năng sinh lời của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
Từ Bảng 2.5, ta vẽ được biểu đồ tăng giảm của 3 chỉ tiêu ROS, ROA, ROE trong giai đoạn 2023 – 2025 :
- Biểu đồ 2.3. Chỉ số ROS, ROA, ROE của công ty trong giai đoạn 2023 – 2025
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu thuần (ROS):cho biết 100 đồng doanh thu thuần thu về tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng ( chỉ tiêu phản ảnh mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí bỏ ra ). Tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty năm 2024 là 4,48%, nghĩa là 100 đồng doanh thu thuần thu về tạo ra 4,48 đồng lợi nhuận ròng, giảm 0,27 đồng so với năm 2023. Mặc dù sang năm 2025, cả doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của công ty đều giảm mạnh nhưng lợi nhuận sau thuế có mức giảm ít hơn nên tỷ suất ROS tăng lên 5,5%%. Tỷ suất sinh lời giảm là do mức tăng của chi phí lớn hơn so với mức tăng doanh thu, làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Qua hai năm, tỷ suất sinh lời trên doanh thu của công ty đều ở mức cao, cho thấy công ty đang quản lý tốt các khoản chi phí bỏ ra, duy trì hiệu quả trong việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): cho biết 100 đồng nguồn vốn đem đầu tư cho tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm 2024 của công ty là 5,6% có nghĩa là 100 đồng nguồn vốn đầu tư cho tài sản thì thu về 5,6 đồng lợi nhuận ròng, tăng 0,93 đồng so với năm 2023.Tuy nhiên đến năm 2025, do lợi nhuận sau thuế giảm mạnh, tỷ suất này giảm xuống còn 3,79%.Có thể thấy tỷ suất sinh lời của công ty hiện nay là chưa cao so với mặt bằng chung của các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành. Như vậy một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho công ty là cần hoàn thiện bộ máy quản lý, bộ máy nhân sự để quản lý tài sản, doanh thu, chi phí một cách hiệu quả hơn nhằm mang lại kết quả kinh doanh cao nhất cho doanh nghiệp mình.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): cho biết 100 đồng nguồn vốn chủ sở hữu đem đầu tư cho tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty năm 2024 là 25,82%, tăng 8,22% so với năm 2023, chứng tỏ hoạt động đầu tư của công ty đã có kết quả nhất định. Tuy nhiên do nguyên nhân chính đến từ tình hình khó khăn chung của nền kinh tế nên ROE của công ty trong năm 2025 lại giảm 9,6% so với năm 2024, chỉ còn 16,22%. Sự biến động này chủ yếu do ảnh hưởng từ kết quả hoạt động kinh doanh không mấy khả quan, trong năm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không có sự biến động nhiều.
Mặc dù tình hình tài chính trong nước cũng như quốc tế biến động và suy giảm do suy thoái kinh tế thế giới nhưng nhìn chung các chỉ tiêu sinh lời của công ty vẫn ở mức khả quan, nhờ đẩy mạnh việc cung ứng hàng hóa dịch vụ, tăng doanh thu và tối thiểu hóa chi phí. Công ty cần nỗ lực duy trì và cải tiến hơn nữa công tác bán hàng, tạo đầu ra cho sản phẩm, quản lý tài sản chặt chẽ, đồng thời quản lý tốt chi phí của công ty.
2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
2.2.1. Phân tích chung cơ cấu vốn lưu động của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
2.2.1.1. Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, qua quá trình luân chuyển tài sản ngắn hạn có thể đánh giá kịp thời tình hình và đưa ra các quyết định về mua hàng hóa, dự trữ sản xuất và tiêu thụ của công ty.
- Biểu đồ 2.4. Quy mô tài sản ngắn hạn của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
Biểu đồ trên cho ta thấy quy mô tài sản ngắn hạn có xu hướng biến động qua từng năm, năm 2024 tăng 2.983 triệu đồng, tương đương với mức tăng 4,39% so với năm 2023, do trong năm 2024, công ty quyết định bổ sung thêm vốn lưu động để mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tài sản ngắn hạn lại giảm 5,89% vào năm 2025 do công ty giảm các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho.
- Bảng 2.6. Cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty.
Thông qua bảng 2.6, ta có được cái nhìn trực quan về cơ cấu vốn lưu động từ năm 2023 đến 2025 như sau:
- Biểu đồ 2.5 Cơ cấu vốn lưu động của công ty
Tiền và các khoản tương đương tiền: chiếm tỉ lệ nhỏ và có biến động rất mạnh, năm 2024 chỉ chiếm tỉ lệ 2,08% giảm 73,88% so với năm 2023. Việc này giúp công ty giảm chi phí dự trữ tiền, giảm chi phí cơ hội bị mất đi. Tuy nhiên việc dự trữ tiền và các khoản tương đường tiền ở mức quá thấp có thể làm giảm khả năng thanh toán của công ty, có thể gặp rủi ro khi có nhu cầu bất thường về vốn. Trong khi đó tiền và các khoản tương đương tiền năm 2025 lại tăng mạnh 353,37% và chiếm 10.02% tài sản ngắn hạn. Tỷ trọng có thể coi là khá an toàn, vừa giúp công ty có cơ hội đầu tư vào các tài sản sinh lời khác vừa giúp đảm bảo khả năng thanh toán khi có những khoản phát sinh đột xuất. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Các khoản phải thu ngắn hạn: chiếm tỷ trọng lớn. Do đặc thù là doanh nghiệp xây dựng, chu kỳ kinh doanh kéo dài, các công trình hoàn thành thì mới được thanh toán kéo theo các khoản phải thu cũng bị tồn đọng không nhỏ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có các khoản ứng trước mua vật tư hàng hoá cho các nhà cung cấp để hưởng chiết khấu, nên lượng vốn bị chiếm dụng cũng không nhỏ. Năm 2023, khoản mục này chiếm tỷ trọng là 61,45%. Sang đến năm 2024, kinh tế khó khăn nên số lượng vốn bị khách hàng chiếm dụng tăng cao, khoản mục này tăng 23,39% so với năm 2023, tỷ trọng tăng lên là 72,64%. Các dự án đang thực hiện cũng đòi hỏi một lượng vốn ứng trước để mua sắm các trang thiết bị, chi trả chi phí điều hành,… Đến năm 2025, một phần chi phí ứng trước đã được thanh toán, khoản phải thu giảm 10,33% so với năm 2024, chiếm tỷ trọng 69,21%.
Hàng tồn kho: là khoản mục chiếm tỉ trọng cao thứ hai trong tổng tài sản ngắn hạn và có xu hướng giảm từ năm 2023 – 2025. Tỷ trọng này cao là điều bình thường đối với bất kỳ một công ty xây dựng nào. Nguyên nhân là do đặc thù của ngành, các nguyên liệu, thành phẩm, công cụ phục vụ cho công tác thi công trong một thời gian dài, nên thường được dự trữ dưới dạng hàng tồn kho. Năm 2024, hàng tồn kho chiếm tỉ trọng 23,33% giảm 5,45% so với năm 2023, sau đó hàng tồn kho tiếp tục giảm mạnh 25,49% vào năm Nguyên nhân của việc giảm lượng hàng dự trữ là do công ty đã giảm dự trữ công cụ, dụng cụ; lượng hàng tồn kho trong chỉ dự trữ ở mức đáp ứng nhu cầu công trình, hợp đồng đã ký kết không dự trữ quá nhiều. Đồng thời mức giảm hàng tồn kho cao hơn so với mức giảm của tài sản ngắn hạn cho thấy công ty đã có những chính sách quản lý và dự trữ hàng tồn kho hiệu quả.
Tài sản ngắn hạn khác: chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tài sản ngắn hạn. Tỷ trọng này cũng được duy trì ổn định qua các năm lần lượt là 4,48%; 1,95%; 2,3%.Tài sản ngắn hạn khác bao gồm các khoản tạm ứng để mua sắm công cụ , dụng cụ phục vụ thi công công trình. Việc duy trì được tỷ trọng sẽ giúp công ty tập trung được nguồn lực của mình vào các hoạt động sản xuất kinh doanh mà không gây ra tình trạng lãng phí nguồn vốn.
Như vậy ta có thể thấy tình hình tài sản ngắn hạn của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I từ năm 2023 – 2025 là khá ổn định và phù hợp với tình hình chung của toàn ngành trong giai đoạn này. Hai khoản mục chiếm tỷ trọng cao nhất là các khoản phải thu và hàng tồn kho. Sự biến động lớn tập trung vào tiền và các khoản tương đương tiền và các khoản phải thu. Do đó, trọng tâm công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động là tập trung vào hàng tồn kho và các khoản phải thu đồng thời cũng cần chú ý đến sự biến động của vốn bằng tiền và các tài sản lưu động khác.
- Phân tích cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Bảng 2.7.Cơ cấu nguồn vốn ngắn hạn của công ty từ năm 2023 – 2025
Nguồn vốn ngắn hạn là một bộ phận quan trọng của công ty, đó là những khoản vốn vay có trách nhiệm trả trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I, nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, tỷ trọng các năm lần lượt là 72,46%; 76,27%; 73,37%. Dựa vào bảng trên, cho ta thấy thống kê chi tiết các khoản nợ ngắn hạn của công ty qua ba năm 2023,2024 và 2025.
Vay ngắn hạn: Công ty vay nợ ngắn hạn một phần từ ngân hàng Đầu tư và Phát triển, một phần được vay từ các cá nhân nhằm mục đích chủ yếu là để bổ sung vốn lưu động. Năm 2024, tỷ trọng vay nợ ngắn hạn chiếm khoảng 27,92%, tăng 24,96% so với năm 2023 do công ty tăng lượng vốn vay từ ngân hàng để đầu tư vào các dự án mới. Tuy nhiên sang đến năm 2025, khi nhiều dự án đã được hoàn thành và bàn giao, khoản mục này giảm đi 20,76%, điều này giúp giảm chi phí lãi vay, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Phải trả người bán: là khoản vốn mà công ty chiếm dụng được thông qua tín dụng thương mại được cấp. Các doanh nghiệp hiện nay cấp tín dụng cho công ty là công ty Điện lực Hà Tây, Công ty điện lực Thái Nguyên, Xí nghiện Điện Cao thế Miền Bắc,…Tỷ trọng khoản mục này có xu hướng tăng nhẹ qua các năm, lần lượt là 16,17%; 22,82%; 23,86% vào từ năm 2023-2025. Năm 2025, mặc dù giá trị phải trả người bán giảm 3,86% so với năm 2024, nhưng tỷ trọng trong nợ ngắn hạn vẫn tăng do nợ ngắn hạn có mức độ giảm mạnh hơn so với mức độ giảm của khoản mục phải trả người bán. Với khoản vốn chiếm dụng trong chậm thanh toán, công ty có thể tranh thủ một số cơ hội đầu tư hoặc chi trả cho các hoạt động mua sắm, chi tiêu của mình, điều này làm giảm bớt gánh nặng lên tài chính của công ty. Tuy nhiên, nếu khoản mục này quá lớn sẽ ảnh hưởng đến uy tín của công ty.
Phải trả người lao động: đây là khoản mục luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong nợ ngắn hạn và giảm qua các năm, từ năm 2023 – 2025 lần lượt là 34,43%; 34,64%; 26,81%. Khoản phải trả người lao động là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những khoản nợ người lao động về tiền lương, tiền công, tiền thưởng bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của họ. Khoản mục này chiếm tỷ trọng quá lớn, thể hiện số vốn mà doanh nghiệp đang chiếm dụng của người lao động là cao, giúp doanh nghiệp có thể nguồn vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà ko phải trả chi phí lãi vay. Tuy nhiên nếu tỷ trọng phải trả người lao động quá cao nghĩa là doanh nghiệp đang nợ lương nhân viên, điều này diễn ra trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, đồng thời không tạo động lực cho nhân viên nhiệt tình làm việc.
Phân tích về tình hình cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty, ta có thể thấy trong giai đoạn 2023-2025, nguồn vốn ngắn hạn có sự biến động tăng giảm nhẹ. Điều này là do sự thay đổi trong chính sách phân bổ nguồn vốn của công ty nhằm phù hợp hơn với tình hình kinh doanh và môi trường kinh tế trong nước cũng như quốc tế đang nhiều biến động.
2.2.2. Phân tích từng bộ phận cấu thành vốn lưu động của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
2.2.2.1 Vốn bằng tiền
Tiền là một khoản mục quan trọng trong cơ cấu vốn lưu động, là tài sản linh hoạt nhất dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác. Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán nhanh của công ty, bên cạnh đó đảm bảo dự trữ đủ tiền, công ty sẽ tận dụng được các thời cơ trong kinh doanh, tự chủ trong thanh toán. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời trên tiền rất thấp, thậm chí tiền mặt tại quỹ có tỷ lệ sinh lời bằng không. Đặc biệt trong bối cảnh lạm phát như hiện nay, có thể nói tỷ lệ sinh lời của tiền là tỷ lệ âm. Vì vậy công ty giữ tiền tại quỹ và ngân hàng chỉ nhằm mục đích thuận lợi trong thanh toán và duy trì khả năng thanh toán chung của công ty trong mọi thời điểm.
- Bảng 2.8 . Cơ cấu vốn bằng tiền của công ty
Qua bảng phân tích trên, có thể thấy vốn bằng tiền của công ty có sự biến động rất mạnh qua các năm. Tại thời điểm 31/12/2024, vốn bằng tiền của công ty là 1.476 triệu đồng, giảm 4.174 triệu đồng, tương đương 73,88% so với năm 2023. Tuy nhiên sau đó vốn bằng tiền lại đột ngột tăng 353,37%, đạt giá trị 6.692.144 nghìn đồng.
- Tiền mặt:
Khoản mục này chiếm tỷ trọng lần lượt là 0,16%; 0,5%; 0,07% từ năm 2023-2025. Năm 2024, giá trị tiền mặt của công ty là 7.319 nghìn đồng giảm 19,36% so với năm 2023. Lượng tiền mặt dự trữ của công ty giảm dần là do các nhu cầu chi tiêu, mua sắm tại tại doanh nghiệp ít đi, thêm vào đó các khách hàng của công ty chậm trễ trong việc thanh toán nên cũng giảm bớt dự trữ tiền mặt. Năm 2025, lượng tiền mặt tăng lên đột biến để đáp ứng nhu cầu chi trả cho các dự án của công ty. Mặc dù vậy, có thể thấy tiền mặt vẫn luôn chiếm tỷ trọng rất ít so với khoản mục vốn bằng tiền. Trong hoàn cảnh khó khăn như hiện tại, việc dự trữ tiền mặt ở mức tối thiểu, chỉ đủ phục vụ cho các nhu cầu thanh toán cần thiết là một chính sách khôn ngoan nhưng công ty cũng cần dự toán chính xác nhu cầu tiền mặt để không ảnh hưởng tới hoạt động chi tiêu khi lượng tiền dự trữ quá ít.
- Tiền gửi ngân hàng:
Khoản mục này luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn hẳn tỷ trọng tiền mặt, đặc biệt là vào năm 2025, chiếm đến 99,93% vốn bằng tiền của công ty. Chính vì luôn chiếm tỷ trọng lớn như vậy nên sự biến động của tiền gửi ngân hàng là yếu tố quyết định đến sự biến động vốn bằng tiền. Việc thanh toán, chi trả của công ty hiện nay được thực hiện phần lớn qua ngân hàng. Đây cũng là điều hợp lý trong việc quản lý vốn của công ty vì khách hàng và nhà cung cấp của công ty trải dài trong phạm vi cả nước, thực hiện thanh toán qua ngân hàng vừa giúp công ty tiết kiệm được thời gian, vừa giảm bớt phần nào tác động tiêu cực của lạm phát tới sự mất giá của tiền.
Như vậy có thể thấy doanh nghiệp đã có hướng đi đúng đắn trong việc tăng lượng tiền gửi ngân hàng và phát triển các dịch vụ thanh toán hiện đại. Đây là một giải pháp hiệu quả và cần tiếp tục phát huy, tuy nhiên trước hết doanh nghiệp cần tìm ra và dự trữ lượng tiền mặt tối thiểu để giảm các chi phí không cần thiết mà vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2.2.2.2. Các khoản phải thu ngắn hạn Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Đối với bất kỳ công ty nào dù hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hay thương mại, các khoản phải thu luôn là khoản mục không thể thiếu trong cơ cấu vốn lưu động, thậm chí chiếm tỷ trọng khá lớn. Các khoản phải thu có tác dụng kích thích bán hàng, giúp công ty tăng doanh thu và lợi nhuận nhưng mặt khác nó cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ vì vậy quản trị các khoản phải thi luôn có vai trò quan trọng đối với mỗi công ty.
Cơ cấu các khoản phải thu giữa hai năm có sự thay đổi rõ rệt, đó là sự tăng mạnh tỷ trọng phải thu khách hàng và giảm mạnh của các khoản phải thu nội bộ ngắn hạn (thu của các đơn vị cùng trực thuộc Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện I). Trong hai năm liền khoản mục phải thu khách hàng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhấttrong danh mục các khoản phải thu ngắn hạn.
- Bảng 2.9. Cơ cấu các khoản phải thu của công ty
Quan sát biểu đồ dưới đây sẽ cho ta thấy cái nhìn rõ nét hơn về cơ cấu các khoản phải thu của công ty giai đoạn 2023 – 2025:
- Biểu đồ 2.6 Cơ cấu các khoản phải thu của công ty
Phải thu khách hàng: Khoản mục này luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng qua các năm. Tại thời điểm năm 2024, phải thu khách hàng tăng 11.367 triệu đồng, tăng mạnh 48,27% so với năm 2023 trong đó khoản phải thu đối với Ban Điều hành Dự án Thủy điện Lai Châu tăng từ 2.785 triệu đồng lên 16.783 triệu đồng. Nguyên nhân là do trong năm, công ty đã hoàn thành và bàn giao dự án nhưng chủ đầu tư đầu tư công trình xin gia hạn thêm thời gian trả nợ. Năm 2025, mặc dù các khoản phải thu giảm 10,33% nhưng phải thu khách hàng vẫn tăng nhẹ 3,54%. Với chính sách nói lỏng tín dụng như hiện nay, công ty có thể tăng lượng khách hàng, về lâu dài thì có lợi cho công ty, song hiện tại với khoản phải thu lớn như vậy sẽ tạo áp lực lên nguồn tài chính, nên trong tương lai, công ty cần có chiến lược cụ thể để thu hồi được hết các khoản nợ, tránh thất thoát vốn.
Trả trước cho người bán: chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu các khoản phải thu. Tỷ trọng từ năm 2023- 2025 lần lượt là 1,05%; 0,5%; 1,55%. Việc chiếm tỷ trọng thấp như vậy cho thấy doanh nghiệp đã tạo được uy tín với nhà cung cấp. Nó làm tăng khả năng thanh toán, tăng tốc độ luân chuyển, tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Phải thu nội bộ ngắn hạn: chiếm tỷ trọng khá lớn và đang có xu hướng giảm qua các năm. Tỷ trọng lần lượt là 39,16%; 29,76%; 17,98% qua các năm 2023,2024 và 2025. Các khoản phải thu nội bộ là những khoản doanh thu trả chậm phát sinh khi đơn vị thực hiện nhiệm vụ giữa các công ty trong toàn tập đoàn. Tuy nhiên, về bản chất nó lại chứa đựng ít rủi ro thanh toán hơn so với khoản phải thu khách hàng do là những khoản nợ của các doanh nghiệp cùng thuộc công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện I. Bởi vậy, sự gia tăng của khoản mục này là không đáng lo ngại, nhưng vẫn cần có những cải thiện trong công tác quản lý nội bộ để tăng hiệu quả quản lý các khoản phải thu trong ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Để đánh giá chính xác tình hình các khoản phải thu của công ty, chúng ta sử dụng các chỉ tiêu như vòng quay các khoản phải thu và thời gian thu nợ. Các chỉ tiêu này được tính toán trong bảng dưới đây:
- Bảng 2.10. Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu
Từ bảng 2.10, ta thể hiện được vòng quay hàng tồn kho qua biểu đồ 2.7 dưới đây:
- Biểu đồ 2.7. Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu của công ty
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải phải thu thành tiền mặt. Hệ số này vào năm 2023 là 1,92 vòng sau đó tăng lên thành 2 vòng vào năm 2024.Con số này cho thấy công ty đã gia tăng các khoản bán chịu nhiều hơn khiến cho các khoản phải thu tăng lên. Năm 2025, vòng quay các khoản phải thu sụt giảm xuống còn 1,17 vòng. Trong khi đó, chỉ tiêu này theo trung bình ngành trong năm là 3,1 vòng, cao hơn gần gấp đôi so với công ty. Như vậy khả năng quản lý và sử dụng các khoản phải thu tại công ty chưa hiệu quả. Với số vòng quay như vậy, công ty sẽ không tận dụng được tối đa giá trị của các khoản phải thu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, thêm vào đó sẽ làm gia tăng chi phí quản lý các khoản mục này do chúng chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn lưu động của công ty.
Thời gian thu nợ trung bình là chỉ tiêu đo lường hiệu quả và chất lượng các khoản phải thu của doanh nghiệp, khi số vòng quay các khoản phải thu càng thấp thì thời gian thu nợ trung bình càng cao và ngược lại. Tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I chỉ số này giảm nhẹ vào năm 2024, nhưng tăng mạnh 70,94 ngày và đạt giá trị 311,96 ngày vào năm 2025. Đây là mức tăng quá lớn, thể hiện sự khó khăn trong việc thu hồi nợ của công ty,điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí vốn của công ty.
2.2.2.3. Hàng tồn kho Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Với đặc thù của ngành xây dựng điện, hàng tồn kho của doanh nghiệp có những đặc điểm riêng như: nguyên vật liệu sản xuất thường có khối lượng lớn, trị giá cao, đòi hỏi phải dự trữ lớn để giảm bớt rủi ro của biến động giá cả cũng như đáp ứng kịp thời được các nhu cầu từ các công trình xây dựng mà công ty tham gia thi công. Vì vậy hoạt động mua ngoài được doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích giảm chi phí cất trữ, chi phí vận chuyển, đảm bảo thuận tiện cho việc vận chuyển. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cần phải có mức dự trữ hợp lý tránh trường hợp thị trường nguyên vật liệu có biến động bất lợi làm gián đoạn sản xuất gây ảnh hưởng tới tiến độ thi công. Chúng ta sẽ xem xét cụ thể về cơ cấu hàng tồn kho của doanh nghiệp:
- Bảng 2.11. Cơ cấu hàng tồn kho của công ty
Nguyên liệu, vật liệu: trong hàng tồn kho tăng lên về cả quy mô lẫn tỷ trọng qua các năm với mức tăng từ của năm 2024 là 12,41% so với năm 2023, năm 2025 tăng 24,44% so với năm 2025. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế cùng với diễn biến bất thường của thời tiết nên thị trường vật liệu xây dựng cũng đầy biến động, tăng giảm khó lường. Doanh nghiệp chọn giải pháp tăng dự trữ nguyên vật liệu để tránh bị ảnh hưởng bởi sự biến động về giá cả nguyên vật liệu đáp ứng cho các công trình đang được thực hiện, các hợp đồng đã được ký kết, thêm vào đó cũng có mục đích đầu cơ nguyên vật liệu. Trong đó, việc cung ứng và sử dụng nguyên vật liệu của doanh nghiệp được thực hiện một cách đồng bộ đi cùng với công trình đã ký sẵn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn, giảm thiểu chi phí lưu kho.
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang: phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ, đầu kỳ, cuối kỳ của các hoạt động sản xuất, kinh doanh chính, phụ và thuê ngoài gia công chế biến ở các đơn vị sản xuất. Tỷ trọng của chi phí sản xuất kinh doanh dở dang luôn lớn nhất trong khoản mục hàng tồn kho. Hoàn toàn phù hợp với đặc thù về xây lắp, thời gian thực hiện các công trình kéo dài khiến cho chi phí Sản xuất kinh doanh dở dang của doanh nghiệp cao. Cụ thể trong năm 2024 với số tiền là 15.625 triệu đồng chiếm tỷ trọng là 94,37% hàng lưu kho. Trong năm 2025 chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đã có sự suy giảm về cả quy mô lẫn tỷ trọng với mức là 11.176 triệu đồng chiếm 90,59% cơ cấu hàng tồn kho.
Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho:
- Bảng 2.12. Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho của công ty
- Biểu đồ 2.8. Chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho của công ty
Hệ số lưu kho cho biết bình quân hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu. Chỉ tiêu này của công ty vào năm 2023 là 3,72 nghĩa là hàng tồn kho của công ty chỉ quay 3,72 vòng đã tạo ra doanh thu. Năm 2024, chỉ tiêu này tăng lên thành 5,3 vòng, tăng 1,58 vòng so với năm 2023. Nguyên nhân là do công ty bán được nhiều hàng hơn, giá vốn hàng bán tăng lên trong khi hàng tồn kho giảm. Sang đến năm 2025, giá vốn hàng bán giảm mạnh từ 87.721 triệu đồng xuống 43.398 triệu đồng dẫn đến vòng quay hàng tồn kho giảm còn 3,52 vòng. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Thời gian lưu kho TB cho biết bình quân tồn kho của doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày hay số ngày trung bình của một vòng quay kho. Dựa vào bảng phân tích trên ta thấy số ngày tồn kho trung bình có xu hướng giảm từ năm 2023 đến 2024, với giá trị giảm là 29,25 ngày tương đương 29,81%. Sang đến năm 2025, chỉ tiêu này tăng 34,82 ngày đạt giá trị là 103,69 ngày. Tóm lại do đặc tính trong ngành nghề kinh doanh của công ty luôn phải dự trữ hàng tồn kho ở mức cao và cũng do chính sách của công ty là luôn sẵn sàng cung cấp sản phẩm chất lượng cho khách hàng một cách nhanh nhất, nên số lần quay vòng hàng tồn kho trong một năm ở mức thấp và thời gian lưu kho trung bình cũng dài hơn so với các ngành nghề kinh doanh khác.
- Tài sản ngắn hạn khác
Bảng 2.13. Cơ cấu tài sản ngắn hạn của công ty
Dựa vào bảng trên, ta thấy cơ cấu tài sản ngắn hạn chỉ có một khoản mục là tạm ứng. Tạm ứng bao gồm các khoản mục tạm ứng lương cho cán bộ, công nhân viên, công tác phí và một số chi phí khác như mua các tài sản sử dụng trong công ty, chi phí tiếp khách…Cụ thể, khoản tạm ứng của công ty năm 2023 là 3.043 triệu đồng thì sang năm 2024 giảm xuống còn 1.383 triệu, đến năm 2025 lại tăng 152 triệu đồng đạt giá trị 1.535 triệu đồng.
2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I
2.2.3.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Bảng 2.14. Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty
Vòng quay Vốn lưu động: có xu hướng tăng qua hai năm 2023,2024 và sau đó giảm vào năm 2025. Cụ thể, vào năm 2023 vòng quay vốn lưu động là 1,12 vòng thì qua năm 2024 tăng 0,37 vòng đạt giá trị 1,49 vòng.Chỉ số này có nghĩa là 1 đồng tài sản lưu động của công ty tạo ra được 1,49 đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên đến năm 2025, chỉ tiêu này lại giảm mạnh, nguyên nhân là do ảnh hưởng bởi doanh thu trong giai đoạn này sụt giảm, chỉ còn một nửa so với năm 2024. Tốc độ giảm của doanh thu lớn hơn tốc độ giảm của vốn lưu động nên hệ số hiệu suất sử dụng vốn lưu động năm 2025 giảm xuống còn 0,79 vòng.
Thời gian luân chuyển vốn lưu động: cho biết thời gian hoàn thành một vòng quay Vốn lưu động. Thời gian luân chuyển vốn lưu động của công ty vào năm 2024 là 292,68 ngày, giảm 70,92 ngày so với năm 2023. So sánh với chỉ số trung bình ngành ta thấy thời gian luân chuyển Vốn lưu động của công ty vào năm 2023 và 2024 đều thấp hơn so với trung bình ngành, điều này phản ảnh tình hình kinh doanh khả quan, doanh thu tăng mạnh, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là cao.
Thông qua những phân tích trên, ta có thể thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động chính là một chỉ tiêu rất tổng hợp và cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của một doanh nghiệp.
2.2.3.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động còn được thể hiện thông qua mức tiết kiệm Vốn lưu động khi tăng tốc độ luân chuyển Vốn lưu động và được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: mức tiết kiệm Vốn lưu động tuyệt đối và mức tiết kiệm Vốn lưu động tương đối.
- Bảng 2.15. Chỉ tiêu mức tiết kiệm vốn lưu động của công ty
Mức tiết kiệm tuyệt đối: Theo bảng trên, ta thấy trong năm 2024, công ty đã tiết kiệm được một lượng vốn là 17.758 triệu đồng, tuy nhiên sang năm 2025 thì công ty lại lãng phí mất 511 triệu đồng, có nghĩa để đạt được mức doanh thu bằng năm 2023 công ty cần bỏ ra một lượng vốn lưu động ít hơn so với năm 2023 là 17.758 triệu đồng. Sang đến năm 2025, vòng quay vốn lưu động đã giảm đi còn 0,79 vòng nên công ty bị lãng phí mất 61.511 triệu đồng.
Mức tiết kiệm tương đối: Ta thấy, năm 2024 công ty đã tiết kiệm được một khoản là 22.933 triệu đồng có nghĩa trong năm công ty không cần phải bỏ thêm 933 triệu đồng vốn lưu động lẽ ra phải bỏ để mở rộng doanh thu. Nhưng đến năm 2025 lượng vốn mà công ty phải bỏ ra là 32.409 triệu đồng.
Mức tiết kiệm Vốn lưu động là số vốn lưu động công ty tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn. Công ty càng tăng được vòng quay vốn lưu động thì càng có khả năng tiết kiệm được vốn lưu động, càng nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Năm 2024, mức tiết kiệm Vốn lưu động là 17.758 triệu đồng, tuy nhiên đến năm 2025 đã lãng phí 61.511 triệu đồng. Những kết quả này phản ánh hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của công ty đang trong tình trạng kém hiệu quả, phải được nâng cao và có biện pháp khắc phục.
2.2.3.3 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
- Bảng 2.16. Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động của công ty
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động cho biết mức độ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, hệ số này càng nhỏ thì vốn lưu động được sử dụng có hiệu quả và ngược lại. Qua bảng phân tích trên, trong năm 2023, chỉ mất 0,89 đồng vốn lưu động để tạo ra được một đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này giảm xuống 0,22 đồng còn 0,67 đồng vào năm 2024. Có thể thấy đây là một năm mà vốn lưu động của doanh nghiệp đã được sử dụng và đạt được hiệu quả rất cao. Tuy nhiên đến năm 2025, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động tăng 88,06% lên thành 1,26 đồng. Để có thể phân tích kỹ hơn, ta theo dõi bảng so sánh chỉ tiêu này giữa công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I và chỉ tiêu ngành
- Bảng 2.17. So sánh chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm với trung bình ngành
Từ bảng 2.17, ta vẽ được biểu đồ so sánh hệ số đảm nhiệm của công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I so với trung bình ngành: Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
- Biểu đồ 2.9. So sánh chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm của công ty với trung bình ngành
Qua bảng so sánh trên, có thể nhận thấy, trong năm 2023 và 2024, công ty đã sử dụng vốn lưu động có hiệu quả. Nếu như trung bình ngành xây dựng phải mất 1,01 đồng Vốn lưu động vào năm 2023 và 0,81 đồng vào năm 2024 để tạo ra được một đồng doanh thu thuần thì công ty chỉ mất 0,89 đồng vào năm 2023 và 0,67 đồng vào năm 2024. Tuy nhiên đến năm 2025, trung bình ngành chỉ mất 0,82 đồng Vốn lưu động thì công ty mất đến 1,26 đồng Vốn lưu động mới tạo ra được 1 đồng doanh thu. Công ty cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao doanh thu, hiệu quả hoạt động để đảm bảo được một chỗ đứng vững chắc và sự phát triển lâu dài của công ty.
2.2.3.4. Mức doanh lợi vốn lưu động
Doanh thu thuần là một chỉ tiêu hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp, nhưng cái mà doanh nghiệp quan tâm cuối cùng không phải là doanh thu thuần mà là lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (lợi nhuận sau thuế). Để đánh giá sự đóng góp của vốn lưu động tạo ra trong việc tạo ra lợi nhuận sau thuế, ta sử dụng chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động. Chỉ tiêu này đánh giá một đồng Vốn lưu động hoạt động trong kì kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao cho biết doanh nghiệp đã sử dụng Vốn lưu động có hiệu quả, ngược lại chỉ tiêu này thấp có nghĩa là lợi nhuận trên một đồng vốn là nhỏ.
- Bảng 2.18. Chỉ tiêu mức doanh lợi vốn lưu động của công ty
Từ bảng phân tích trên ta thấy mức doanh lợi Vốn lưu động năm 2023 là 0,05 đồng, sau đó tăng 0,02 đồng vào năm 2024 và giảm xuống còn 0,04 đồng vào năm 2025. Nếu như năm 2023, một đồng vốn lưu động tạo ra 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế thì năm 2025, với một đồng Vốn lưu động công ty đã tạo ra được 0,07 đồng và đến năm 2025 giảm xuống còn 0,04 đồng (giảm 42,86% so với năm 2024). Công ty cần xem xét lại chính sách đầu tư vốn của mình và nâng cao chất lượng quản lý vốn lưu động.
Tóm lại, qua phân tích cơ cấu các bộ phận của vốn lưu động và một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận ta thấy công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I đã có chính sách quản lý vốn lưu động tốt, hiệu quả vào năm 2023 và 2024. Tuy nhiên năm 2025, hiệu quả sử dụng Vốn lưu động của công ty là khá kém do bị ảnh hưởng chung từ nền kinh tế và công ty chưa có chính sách hợp lý, để cho thời gian luân chuyển Vốn lưu động còn dài ngày khiến vốn hoạt động kém linh hoạt và khiến tổng thể các hoạt động chung của công ty bị ảnh hưởng và cho ra các kết quả kinh doanh kém.
2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Trong giai đoạn 2023 – 2025 nền kinh tế trong nước và ngoài nước vẫn chịu nhiều khó khăn ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới. Vượt lên sự khó khăn đó, công ty đã duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh trong môi trường kinh tế bất ổn, mặc dù năm 2025 tốc độ tăng trưởng chậm lại nhưng đó là những cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ của công ty. Tuy nhiên sau khi phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động của công ty, ta nhận thấy rằng công ty vẫn còn tồn tại một số điểm yếu kém, đặc biệt về khoản phải thu khách hàng tăng mạnh qua các năm và nhiều khoản phải thu đã quá hạn rất lâu. Ngoài ra nhiều dự án thực hiện còn dang dở, khiến cho vốn của công ty bị ứ đọng, khả năng quay vòng vốn thấp.
2.3.1. Kết quả đạt được
Qua quá trình tìm hiểu thực tế và nghiên cứu, phân tích dữ liệu, các chỉ số tài chính ta thấy công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dựng Điện I đã đạt được những kết quả sau:
Doanh thu của công ty tăng mạnh trong năm 2023 và 2024, tuy đây là khó khăn chung của nền kinh tế nhưng công ty vẫn hoạt động hiệu quả, không bị rơi vào tình trạng không tăng trưởng.
Công ty đã có các chính sách để chuyển dần từ quản lý Vốn lưu động thận trọng sang dung hòa. Trong thời kỳ kinh tế có nhiều biến động theo xu hướng bất lợi, lãi suất cho vay tăng cao, nhờ thay đổi chính sách quản lý Vốn lưu động mà chi phí lãi vay của công ty năm 2025 chỉ dừng lại ở mức 1.558 triệu đồng.
Công ty luôn duy trì lượng dự trữ hàng tồn kho ở mức hợp lý. Điều này vừa giúp công ty giảm chi phí lưu kho vừa đảm bảo việc cung ứng và sử dụng nguyên vật liệu của công ty luôn được thực hiện một cách đồng bộ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường, liên tục, theo đúng kế hoạch.
Khả năng thanh toán của Công ty luôn được đảm bảo ở mức an toàn. Trong 3 năm từ 2023 – 2025, khả năng thanh toán ngắn hạn lần lượt là 1,15; 1,12; 2,13 và khả năng thanh toán nhanh lần lượt là 0,86; 0,86; 0,92. Điều này cho thấy tài sản ngắn hạn của công ty đủ để trả nợ ngắn hạn, thậm chí không cần bán gấp hàng tồn kho để trả nợ.
Trong quá trình kinh doanh, công ty đã tận dụng được nguồn vốn chiếm dụng từ đối tác và coi đó như một nguồn tài chính ngắn hạn để thanh toán những phát sinh trong quá trình hoạt động nhưng không để tình trạng nợ kéo dài và không có các khoản nợ quá hạn.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
Công ty tuy có mức tăng trưởng doanh thu rất khả quan, nhưng điều này có được chủ yếu là do việc nới lỏng chính sách tín dụng, khiến chi phí trong năm 2024 và 2025 đặc biệt tăng mạnh. Bên cạnh đó, việc này khiến thời gian thu hồi nợ trung bình tăng mạnh kéo theo thời gian quay vòng tiền trung bình của công ty tăng cao. Mặt khác, vốn mà khách hàng chiếm dụng cao hơn nhiều so với vốn công ty chiếm dụng được từ khách hàng. Chứng tỏ trên thực tế công ty đã bỏ lỡ nguồn huy động vốn từ phía khách hàng – với điểm đặc biệt không hề mất chi phí sử dụng.
Tỷ trọng nợ phải trả cao hơn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn. Cho thấy doanh nghiệp đi vay nhiều hơn số vốn hiện có. Điều đó có thể tạo rủi ro trong việc trả nợ đặc biệt khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng. Thêm vào đó tính tự chủ của doanh nghiệp cũng ở mức thấp do lượng vốn chủ sở hữu dù đã tăng nhưng vẫn ở mức nhỏ.
Dự trữ tiền mặt năm 2025 của công ty tăng đột biến và ở mức rất cao, điều này khiến cho công ty phát sinh thêm chi phí quản lý và mất đi cơ hội đầu tư vào các dự án có tiềm năng.
Nguồn vốn bị chiếm dụng của công ty có xu hướng tăng khiến công ty mất đi một lượng vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc nới lỏng chính sách tín dụng tuy đem lại cho Công ty thêm nhiều khách hàng, tăng doanh thu nhưng mặt khác, việc này cũng làm phát sinh thêm các khoản chi phí khác như chi phí quản lý các khoản phải thu, tăng mức độ rủi ro của các khoản nợ khó đòi, tăng khoản dự phòng các khoản nợ khó đòi,…
Sở dĩ có những hạn chế này là do những nguyên nhân sau đây:
- Nguyên nhân khách quan:
Nền kinh tế Thế giới suy thoái, đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức; giá dầu thô, giá vàng và các mặt hàng lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế tăng cao; thị trường chứng khoán sụt giảm; khủng hoảng nợ công xảy ra ở nhiều nước thuộc khối EU;… đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam nói chung, và công ty nói riêng.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước thay đổi: các chính sách vĩ mô của Nhà nước gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn nói chung và Vốn lưu động nói riêng của doanh nghiệp. Việc thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng tuy có đạt được một số thành tựu nhưng cũng làm phát sinh một số các bất cập như lạm phát tăng cao, thâm hụt cán cân thương mại,… gây áp lực lên thị trường tiền tệ, khiến cho hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp nói chung và công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khảo sát Thiết kế Xây dụng Điện I nói riêng gặp nhiều khó khăn.
Thủ tục hành chính còn rườm rà, hệ thống luật pháp còn nhiều kẽ hở khiến cho Công ty gặp nhiều bất lợi trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Nguyên nhân chủ quan:
Doanh nghiệp chưa thực hiện được việc tính toán mức dự trữ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất hợp lý. Việc tính toán chủ yếu dựa trên việc sử dụng và dự trữ kỳ trước.
Doanh nghiệp chưa có các chính sách quản lý khoản công nợ hiệu quả khiến cho lượng vốn bị chiếm dụng cao, ảnh hưởng đến tốc độ quay vòng cũng như luân chuyển Vốn lưu động của doanh nghiệp.
Hoạt động của các đơn vị cấp dưới, đặc biệt là các đội vận chuyển chưa tốt dẫn đến phát sinh nhiều tiêu cực gây giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trình độ đội ngũ nhân viên còn nhiều hạn chế. Tuy số lượng nhân viên đông đảo, nhưng số lượng người có trình độ cao, chuyên môn sâu, có kinh nghiệm, có khả năng tiếp thu công nghệ mới chưa nhiều nên việc chuyển đổi công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới còn gặp nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng sử dụng vốn lưu động của công ty Điện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp sử dụng vốn lưu động tại công ty Điện


Pingback: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động công ty Điện