Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng đã giới thiệu về ba giải pháp và đề xuất cách thực hiện các giải pháp đó nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng. Mỗi giải pháp đưa ra đều dựa trên thực tế, những vấn đề còn tồn tại và cách giải quyết, xử lý các giải pháp để tạo ra các lợi ích cho du lịch Hải Phòng. Dưới đây phần chương 1 của bài mẫu Đề tài Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng, mời các bạn tham khảo
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài.
Trong xu thế hội nhập đặc biệt Viêt Nam đã ra nhập tổ chức thương mại WTO thì ngành du lịch càng có nhiều cơ hội để phát triển. Theo thống kê có 70% du khách đến Việt Nam và không quay trở lại với rất nhiều lý do. Trong những năm gần đây, lượng du khách đến Việt Nam ngày càng tăng cũng như số lượng người Việt Nam đi du lịch trong và ngoài nước cũng tăng lên đáng kể.
Đứng trước thời cơ và thách thức đó, bên cạnh việc làm thế nào để phát triển ngành du lịch trở thành kinh tế chủ đạo thì việc nghiên cứu thị trường, thị hiếu khách du lịch cũng như tìm ra những yếu điểm của ngành để có hướng khắc phục là điều vô cùng quan trọng.
Hải Phòng là một trong ba thành phố lớn của đất nước Việt Nam. Với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, đặc biệt là nguồn tài nguyên tự nhiên, nhân văn độc đáo và hấp dẫn, có giá trị cao về du lịch.
Hải Phòng có đủ những điều kiện và khả năng vượt trội để phát triển du lịch. Trong những năm qua du lịch Hải Phòng đã phát triển với tốc độ cao, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của Thành phố.
Tuy nhiên sự phát triển trên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, tài nguyên và vị thế vốn có của Hải Phòng. Một phần vì chất lượng sản phẩm du lịch còn chưa cao, chưa đa dạng, chưa mang tính đặc thù, sức cạnh tranh còn hạn chế, do vậy chưa thu hút được số lượng lớn khách du lịch trong nước nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng.
Do vậy việc nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng là việc làm cần thiết để cải thiện tình hình trên, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của Hải Phòng. Đề tài:
“Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng” được chọn là nhằm mục đích trên với mong muốn góp phần đẩy mạnh hoạt động phát triển du lịch của Hải Phòng nói riêng và của Việt Nam nói chung.
2. Mục đích, giới hạn và nhiệm vụ ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
2.1. Mục đích
- Nghiên cứu về lý thuyết sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù, vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du lịch hiện đại và cơ sở lý thuyết của các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng
- Trên các cơ sở lý thuyết trên, phân tích đánh giá thực trạng sản phẩm du lịch của Hải Phòng
- Nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của Hải Phòng cho khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để truyền thông, quảng bá các sản phẩm du lịch đặc thù nhằm thu hút nhiều khách hơn và giới thiệu hình ảnh du lịch của Hải Phòng đến với bạn bè quốc tế và du khách nội địa trong nước
- Tìm hiểu được lợi ích của việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của Hải Phòng dành cho từng đối tượng khách và của việc truyền thông quảng bá các sản phẩm du lịch đặc thù
2.2. Giới hạn
Đề tài tập trung chủ yếu vào việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng cho đối tượng khách du lịch trong nước và nước ngoài
2.3. Nhiệm vụ
- Luận giải cơ sở lý luận về du lịch, sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù, và vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du lịch hiện đại.
- Phân tích và đánh giá thực trạng sản phẩm du lịch tại Hải Phòng
- Bước đầu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù cho đối tượng khách du lịch nội địa và nước ngoài.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng và sức hấp dẫn của nó đối với du khách
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp bản đồ
5. Những vấn đề đề xuất hoặc giải pháp. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Giải pháp 1::Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng cho khách du lịch nội địa
Giải pháp 2: Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòngcho khách du lịch quốc tế
Giải pháp 3: Xúc tiến quảng bá về sản phẩm Du lịch đặc thù tại Hải Phòng
6. Kết cấu của Đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương:
Chương 1.Cơ sở lý luận chung về sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch đặc thù
Chương 2. Phân tích và đánh thực trạng sản phẩm du lịch tại Hải Phòng
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng.
- Toàn bộ luận văn tác giả trình bày trong 103 trang tính từ phần mở đầu cho đến phần danh mục tài liệu tham khảo, chưa kể phần phụ lục, đây là tài liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân quan tâm về đề tài Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH VÀ SẢN PHẨM DU LỊCH ĐẶC THÙ
1.1. Cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch đặc thù ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Từ xưa đến nay, du lịch được coi như một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch trở thành một trong những hiện tượng phổ biến có sức ảnh hưởng rộng rãi trên Thế giới. Trong sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội, du lịch ngày càng trở nên phổ biến và ngày càng đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn cũng như giải trí của con người. Du lịch được coi như«hoạt động tinh thần» không thể thiếu trong đời sống, đặc biệt là trong xã hội hiện nay. Do hoàn cảnh khác nhau về điều kiện kinh tế- xã hội, không gian- thời gian, và cũng do các góc độ nghiên cứu khác nhau, nên mỗi ngành khoa học, mỗi người đều có cách hiểu khác nhau về du lịch.
Theo định nghĩa của hai học giả Thụy Sỹ Hunziker và Kraff đã được hiệp hội các chuyên gia du lịch thừa nhận: «Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và các hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải nơi làm việc thường xuyên của họ
Tổ chức IUOTO (International Union of Official Travel Organization) đã khái niệm du lịch như sau: «Du lịch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
Trong Luật Du lịch Việt Nam (bản ban hành năm 2005) tại Điều 4, chương 1 định nghĩa: «Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Các khái niệm về du lịch tuy có khác nhau về nội dung nhưng bản chất lại giống nhau, đều nêu bật lên được những yếu tố quan trọng tạo nên du lịch như mục đích không phải là làm việc mà là nghỉ ngơi, thư giãn; địa điểm là khác nơi cư trú thường xuyên và các thành phần làm nên du lịch như: khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và dân cư địa phương.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó.
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), «Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của ba nhóm yếu tố cấu thành: Hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tài nguyên-môi trường du lịch và dịch vụ, quản lý và hình ảnh du lịch».Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), «Sản phẩm du lịch là tổng hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch». Các dịch vụ trong khái niệm này bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ thông tin hướng dẫn, và các dịch vụ liên quan khác. Tuy nhiên trong thực tế khái niệm về sản phẩm du lịch có góc nhìn rộng hơn, không chỉ giới hạn ở tập hợp các dịch vụ mà còn bao gồm tập hợp các yếu tố vật chất và phi vật chất như các yếu tố hấp dẫn du lịch mà trước hết là tại nguyên du lịch, có khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch đa dạng của du khách. [7, 4] Sản phẩm du lịch tạo nên sự khác biệt trong phát triển du lịch, tạo nên thương hiệu và hình ảnh của mỗi điểm đến du lịch, của mỗi địa phương, mỗi vùng, và mỗi quốc gia. Sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các giá trị tài nguyên du lịch, các điều kiện về cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống các dịch vụ và khả năng đáp ứng của các cơ sở du lịch.
Như vậy, việc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch, trước hết cần nghiên cứu các yếu tố về « Cầu du lịch», bao gồm các đặc điểm tâm lý, văn hóa, nhu cầu, sở thích, khả năng thu nhập, xu hướng đi du lịch, điểm đến, sản phẩm du lịch ưa thích… của các thị trường khách du lịch, và về « Cung du lịch », bao gồm các đặc điểm về giá trị tài nguyên du lịch (thế mạnh, đặc thù…), các điều kiện về cơ sở hạ tầng xã họ, hệ thống các dịch vụ và khả năng đáp ứng (cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, con người…). Ngoài ra việc nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch cần tuân theo nguyên tắc phát triển bền vững (kéo dài vòng đời của sản phẩm du lịch), có tính đặc thù riêng, có thương hiệu và đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
1.1.3. Khái niệm về sản phẩm du lịch đặc thù ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên các giá trị đặc thù, độc đáo (có thể là duy nhất), nguyên bản của tài nguyên du lịch; dựa trên các giá trị đặc sắc, thành tựu nổi trội của nền kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật… của mỗi điểm đến, mỗi địa phương, mỗi vùng, mỗi quốc gia với những dịch vu không chỉ làm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch mà còn tạo được những ấn tượng bởi tính độc đáo (duy nhất), sáng tạo… trong long du khách.
Sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm có khả năng tạo nên thương hiệu, hình ảnh du lịch; tạo nên sự “khác biệt” giữa điểm du lịch này với điểm du lịch khác (giữa địa hương này với đại phương khác, giữa vùng này với vùng khác, và giữa quốc gia này với quốc gia khác). Tuy nhiên tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch đặc thù còn phụ thuộc vào thị hiếu, phù hợp với nhu cầu của thị trường khách du lịch; có thể hấp dẫn với thị trường này, nhưng lại không hấp dẫn với thị trường khác. [
Sản phẩm du lịch đặc thù có vị trí vai trò rất quan trọng trong hệ thống sản phẩm du lịch mỗi điểm đến. sản phẩm du lịch đặc thù tạo nên sự khác biệt, gây dựng hình ảnh và thương hiệu du lịch; tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch, nâng cao khả năng cạnh tranh cho mỗi điểm đến.
Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù là hoạt động nhằm hoàn thiện các yếu tố vật chất (xây dựng mới hạ tầng dịch vụ có chất lượng cao, Bảo vệ môi trường, Bảo vệ Tài nguyên du lịch tự nhiên và hạn chế sự quá tải,…Duy tu bảo dưỡng các tài nguyên nhân văn,…);
Nhân tố quan trọng hàng đầu cấu thành nên sản phẩm du lịch đặc thù là các giá trị đặc thù của tài nguyên du lịch. Do vậy, tài nguyên du lịch mang ý nghĩa cấp quốc gia, cấp vùng hay cấp địa phương sẽ quyết định sản phẩm du lịch đặc thù có ý nghĩa cấp quốc gia, cấp vùng hay cấp địa phương. Như vậy, sản phẩm du lịch đặc thù có ý nghĩa quốc gia hay cấp vùng và cấp địa phương sẽ được xây dựng dựa trên giá trị đặc thù của tài nguyên du lịch cấp quốc gia, hay cấp vùng và cấp địa phương.[7, 5]
Vì vậy, cẩn phân biệt rõ các cấp của sản phẩm du lịch đặc thù: [12]
- Sản phẩm du lịch đặc thù có tính quốc gia: sử dụng tài nguyên du lịch có tính độc đáo, đặc trung cao nhất so sánh toàn quốc, các sản phẩm này có thể thu hút đông đảo thị trường khách du lịch và có thể xây dựng thương hiệu du lịch có tính cạnh tranh
- Sản phẩm du lịch đặc thù có tính nội vùng: sử dụng tài nguyên du lịch có tính độc đáo, đặc sắc của một địa phương trong mối quan hệ so sánh với các địa phương còn lại trong vùng. Các sản phẩm này có thể rất hấp dẫn khách du lịch trong vùng và các vùng lân cận nhưng có thể không có tính hấp dẫn toàn quốc, không phải là sản phẩm du lịch đại diện có khả năng xây dựng thương hiệu du lịch của vùng.
- Vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du lịch hiện đại [6] Sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du lịch hiện đại có các vai trò sau:
- Cá biệt hóa du lịch của điểm đến, của địa phương;
- Tạo ra tính hấp dẫn cao, thu hút thị trường khách đặc biệt hoặc đại trà;
- Gây dựng hình ảnh du lịch của điểm đến, địa phương;
- Xây dựng thương hiệu du lịch của điểm đến, điah phương
- Tạo ra sức cạnh tranh cao cho điểm đến, địa phương;
- Là những điểm nhấn của hệ thống sản phẩm du lịch của điểm đến, địa phương
- Có khả năng tạo ra các động lực cho các sản phẩm du lịch khác cùng phát triển
1.3. Cơ sở lý luận phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
1.3.1. Cơ sở lý luận về việc phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng cho khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
1.3.1.1. Xác định thị trường mục tiêu[3, 15]
Để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cần phải đứng trên quan điểm của khách hàng. Song, nhu cầu, mong muốn và thị hiếu của họ luôn luôn thay đổi, vị vậy cần phải tìm hiểu và quan tâm tới các yếu tố sau:
- Độ tuổi trung bình của người tham gia (thời gian rảnh rỗi, độ dài chuyến đi)
- Nhu cầu và sự yêu thích của họ
- Những khả năng về thể chất
- Khả năng chi trả
- Độ dài chuyến đi
- Các yêu cầu đặc biệt. Cần xem xét tính khả thi đưa vào nghiên cứu, không nên quá tham vọng để thực hiện những gì không thể làm được
Việc xác định thị trường mục tiêu này giúp cho doanh nghiệp kinh doanh dự đoán được số lượng người mua và khả năng chi tiêu trung bình của họ; giúp xác định thông tin về khách hàng, từ đó các sản phẩm du lịch được thiết kế để phù hợp với đối tượng khách tiêu dung, và giúp xác định mức đầu tư cho chi phí sản phẩm và chi phí marketing một cách hiệu quả.
- Đặc trưng của điểm đến
Mỗi điểm du lịch sẽ có những nét hấp dẫn riêng, vậy nên các công ty du lịch sẽ dựa trên các tài nguyên du lịch sẵn có của điểm đến và khả năng của mình để nghiên cứu và tìm ra những điểm thu hút tại điểm đến để thỏa mãn nhu cầu một đối tượng khách mà công ty hướng tới.
Để có thể lựa chọn và mô tả các điểm tham quan du lịch cũng như các yếu tố bao gồm trong sản phẩm du lịch đặc thù khác nhau như lưu trú, ăn uống mà công ty du lịch phải quan tâm để đưa và lịch trình.
1.3.1.3. Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
- Marketing quảng cáo: đưa ra các kế hoạch có hệ thống thực thi, đưa ra các thông điệp mang tính công cộng và có sức thuyết phục. Thông điệp đó hiển thị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, mục tiêu là tìm kiếm những khách hàng tiềm năng. Ở bước này, marketing quảng cáo mang tính vĩ mô hơn, bao quát hơn vềdu lịch Hải Phòng.
- Đưa ra các chính sách: là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trong một thời gian nhất định, mục đích đưa ra các chính sách này để khách hàng thấy sản phẩm du lịch đặc thù này là dành riêng cho họ
- Thiết kế sản phẩm du lịch đặc thù và tạo dựng thương hiệu du lịch Hải Phòng: Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/11/2006 của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2006 – 2010, định hướng đến năm 2020- Số: 235 /BC-BCS.
- Loại hình du lịch cơ bản của thành phố được lựa chọn và tập trung đầu tư và phát triển trong thời gian qua là: Du lịch sinh thái biển kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, thể thao; du lịch cộng đồng; du lịch hội nghị, hội thảo và văn hoá, lễ hội; trong đó, đặc biệt quan tâm tới hai trọng điểm du lịch là Đồ Sơn và Cát Bà.
- Thành phố đã công nhận 5 tuyến và 14 điểm du lịch địa phương nhằm nâng cao chất lượng các tuyến, điểm du lịch trên địa bàn thành phố, như: Tuyến du lịch Hải Phòng – Kiến An – An Lão – Tiên Lãng – Vĩnh Bảo (Tuyến Du khảo đồng quê); tuyến du lịch Hải Phòng – Cát Bà; tuyến du lịch Nội thành Hải Phòng; tuyến du lịch Hải Phòng – Kiến Thụy – Đồ Sơn; tuyến du lịch Hải Phòng – Thủy Nguyên (Tuyến du lịch Bắc sông Cấm)
- Trong những năm gần đây công tác xây dựng thương hiệu và những sản phẩm du lịch hấp dẫn đã được quan tâm khôi phục và phát triển như: Khôi phục và phát triển các lễ hội truyền thống, thu hút nhiều khách du lịch, như: Lễ hội chọi Trâu (Đồ Sơn), Lễ hội Làng cá Cát Bà (Cát Hải), Lễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo), Lễ hội núi Voi (An Lão), Lễ hội Đền Trần Quốc Bảo (Thủy Nguyên), Ngày hội Táo Quân,… xây dựng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ thành lễ hội của nhân dân, vì nhân dân, từng bước trở thành thương hiệu mạnh của thành phố. Bảo tồn và phát triển làng nghề tạc tượng, điêu khắc gỗ, làm con giống (Vĩnh Bảo); nghề đúc đồng, mây tre đan (Thủy Nguyên); nghề trồng hoa (Hải An)… nghệ thuật Ca Trù, hát Đúm, hát Văn, hát Chầu Văn, múa rối, múa rồng, vật cầu, cờ ngư- ời…. Từ năm 2012 đến nay, thành phố từng bước khôi phục hình ảnh Nhà Kèn (vườn hoa Nguyễn Du) thông qua các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật vào thứ 7 hàng tuần; phục dựng chương trình nghệ thuật sân Đình tại Đình Hàng Kênh vào tối ngày mồng 1 (âm lịch) hàng tháng; cải tạo quán Hoa và dải vườn hoa trung tâm, đầu tư xây dựng hệ thống nhạc nước tại hồ Tam Bạc làm sinh động thêm các sản phẩm du lịch của thành phố. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
- Đề cử quần đảo Cát Bà trở thành danh lam thắng cảnh – di sản cấp quốc gia đặc biệt (đang xây dựng hồ sơ đề cử Vịnh Hạ Long -Quần đảo Cát Bà trình UNESCO xem xét công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới mới); xây dựng kế hoạch ứng cử Vịnh Lan Hạ tham gia Hiệp hội câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới, Lễ hội chọi Trâu Đồ Sơn là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Khu di tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân là Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia.
- Ngành Du lịch đã phối hợp với các đơn vị kinh doanh lữ hành tăng cường hoạt động nghiên cứu tâm lý, thị hiếu, sở thích của du khách đối với từng loại hình sản phẩm du lịch, qua đó xây dựng và hoàn thiện sản phẩm đặc trưng đối với từng vùng trên địa bàn thành phố, nâng cao sức cạnh tranh góp phần vào việc tuyên truyền, quảng bá sản phẩm du lịch. Gắn nhãn hiệu chứng nhận “Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà” cho 18 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch tại đảo Cát Bà nhằm từng bước xây dựng Nhãn hiệu trở thành một thương hiệu mạnh, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
- Marketing quảng bá sản phẩm: đưa ra các kế hoạch có hệ thống thực thi, đưa ra các thông điệp mang tính công cộng và có sức thuyết phục. Thông điệp đó hiển thị sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, mục tiêu là tìm kiếm những khách hàng tiềm năng. Ở bước này, marketing quảng bá sản phẩm tập trung vào sản phẩm du lịch đặc thù đã thiết kế, nhằm mục đích bán được sản phẩm đến tay người tiêu
- Phản hồi: Việc thiết kế sản phẩm du lịch đặc thù không phải lúc nào cũng đạt yêu cầu, vì vậy các công ty du lịch cần có thời gian thu thập các thông tin phản hồi khi thương mại hóa sản phẩm. Phụ thuộc vào mức độ phức tạp của sản phẩm du lịch, các thông tin phản hồi: mức độ đáp ứng tài nguyên du lịch của điểm đến, mức độ và khả năng thực hiện chương trình của công ty du lịch, của của các nhà cung cấp các dịch vụ có liên quan; mức độ và khả năng của khách du lịch. Thu thập các thông tin phản hồi này sẽ giúp công ty thiết kế hoàn thiện hơn chương trình du lịch. Các nguồn thông tin có thể tham khảo: địa phương, nhân viên, quản lý, giám sát, điều hành trong công ty, khách du lịch, đối tác.
1.3.2. Cơ sở lý luận về việc truyển thông, quảng bá các sản phẩm du lịch đặc thù
Tùy vào từng đối tượng khách sẽ có các cách truyên truyền quảng bá sản phẩm du lịch đặc thù cụ thể, nhưng nhìn chung, tuyên truyền quảng bá sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng là thực hiện công tác giới thiệu rộng rãi khắp tất cả mọi nơi để mọi người đều biết đến du lịch của Hải Phòng và quyết định thực hiện chuyến du lịch đến Thành phố Hải Phòng
Việc tuyên truyền, quảng bá này giúp công ty du lịch tối đa hóa lợi nhuận; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, internet, báo, đài…) để mang thông tin đến người tiêu dung nhanh nhất; mang sản phẩm trực tiếp tới tay người tiêu dùng cuối cùng; đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm; xây dựng và tăng độ nhận biết thương hiệu của sản phẩm.
1.3.2.1 Giới thiệu chung về Thành phố Hải Phòng.
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 210 01’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.
Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, dân số 1.837.3 ngàn người (tính đến 01/04/2009), mật độ dân số trung bình của thành phố là 1.218,78 người/km2, vào loại trung bình so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương – là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 228 phường và thị trấn (70 phường, 10 thị trấn và 148 xã) .
Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang – một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc. Chính vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng đ- ược xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế – khoa học – kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.(Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ).
Hải Phòng có điều kiện tự nhiên rất phong phú, giầu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa. Nơi đây có rừng quốc gia Cát Bà – khu dự trữ sinh quyển thế giới – là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới. Đồng thời, nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp.
Khí hậu của Hải Phòng cũng khá đặc sắc, ôn hoà, dồi dào nhiệt ẩm và quanh năm có ánh nắng chan hoà, rất thích nghi với sự phát triển của các loài động thực vật nhiệt đới, đặc biệt rất dễ chịu với con người vào mùa thu và mùa xuân. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Hải Phòng là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, “phên dậu” phía Đông của đất nước, có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Người Hải Phòng với tinh thần yêu nước nồng nàn, tính cách dũng cảm, kiên cường, năng động, sáng tạo, đã từng chứng kiến và tham gia vào nhiều trận quyết chiến chiến lược trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đây là vùng đất in đậm dấu ấn chống ngoại xâm trong suốt quá trình lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt Nam, với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, của Lê Hoàn năm 981, của Trần Hưng Đạo năm 1288 … mà đến nay, các chiến tích đó vẫn còn tồn tại rất nhiều di tích lịch sử, lưu truyền biết bao truyền thuyết dân gian, để lại cho hậu thế nhiều công trình văn hoá, nghệ thuật có giá trị. Cho nên đến Hải Phòng, đặt chân đến bất cứ đâu chúng ta cũng bắt gặp các di tích, các lễ hội gắn với những truyền thuyết, huyền thoại về lịch sử oanh liệt chống ngoại xâm của Hải Phòng. Những di tích, lễ hội này chính là nguồn tiềm năng quan trọng cần được quan tâm bảo vệ tôn tạo để phục vụ phát triển du lịch.
Có thể nói rằng, Hải Phòng là nơi có lịch sử vinh quang ngàn năm, một vùng đất hội tụ đầy đủ khí thiêng sông núi, và một cư dân anh dũng, sáng tạo và rất cởi mở, dễ hoà hợp với bè bạn bốn phương. Những người dân từ nhiều miền quê đến sinh sống tại vùng đất cửa biển này đã hình thành nên tính cách kiên nghị, năng động, sáng tạo trong lao động, luôn nhạy bén với cái mới, làm cho người Hải Phòng sớm tiếp thu được những tinh hoa của thời đại trước biến thiên của lịch sử. Tất cả những yếu tố trên đã và sẽ làm cho Hải Phòng trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế và Hải Phòng thực sự là một trong những trọng điểm du lịch hấp dẫn của vùng ven biển Bắc Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
Có thể bạn quan tâm:
1.3.2.2 . Khu du lịch Đồ Sơn
Là một quận của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về hướng đông nam, hiện là một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi biển với phong cảnh tuyệt đẹp thu hút đông đảo khách du lịch đến đây hàng năm.
Đồ Sơn là khu nghỉ mát và tắm biển nổi tiếng ở miền Bắc. Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển, với hàng chục mỏm cao tù 25 đến 130m, nơi đây có bãi cát mịn, bên bờ biển rợp bóng phi lao. Về phía tây và tây bắc, quận Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, các hướng còn lại tiếp giáp với biển Đông. Do ở phía bắc và phía nam của quận là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển đem theo nhiều phù sa ,cộng thêm việc quai đê lấn biển ở Đảo Hòn Dáu để xây dựng khu Resort cao cấp,nên nước biển ở khu vực này (nhất là khu II) đục nhưng vẫn có sức thu hút du khách.
Đồ Sơn hội tụ các điều kiện: cơ sở vật chất là nhà cửa, khách sạn, nhà hàng, đường xá, điện nước khá hoàn chỉnh. Trước đây Đồ Sơn là nơi lui tới nghỉ ngơi, hưởng thụ của vua chúa quan lại đô hộ. Nơi đây còn ngôi nhà bát giác kiên cố của Bảo Đại – ông vua cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Bãi tắm Đồ Sơn chia làm 3 khu chính: khu 1 nằm ngay đầu quận Đồ Sơn, khu 2 có nhiều khách sạn hiện đại, khu 3 yên tĩnh và kín đáo. Cát ở Đồ Sơn rất mịn, ít vỏ sò, có màu vàng
óng khi mặt trời lên và có màu đỏ hồng vào lúc hoàng hôn. Vào ngày hè, Đồ Sơn thật sống động. Du khách khắp mọi miền đất nước cũng như khách quốc tế về đây tắm biển, nghỉ ngơi và leo núi, ngắm nhìn ba thế biển đẹp.
Đồ Sơn có rất nhiều khách sạn nổi tiếng, đầy đủ tiện nghi rất thoải mái như Biệt Thự Bảo Đại, khách sạn Đồ Sơn Resort, khách sạn Biển Nhớ, khách sạn Hải Âu, khách sạn Hoa Phượng, khách sạn Lâm Nghiệp, khách sạn Công Đoàn Việt Nam, Hòn Dáu Resort….Những khách sạn này đều đảm bảo cho bạn tiện nghi nhất, tùy từng khách sạn sang trọng với mức giá khác nhau, bạn sẽ được tận hưởng những dịch vụ khác nhau tại các khách sạn này và lựa chọn cho mình một khách sạn phù hợp nhất khi đến với khu du lịch Đồ Sơn này. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Du lịch tại Đồ Sơn, bạn có thể tham quan rất nhiều cảnh đẹp hấp dẫn như: Đảo Dáu với bể bơi nhân tạo thuộc hàng lớn nhất Châu Á,có vườn chim,vườn thú,khu vui chơi giải trí,các khách sạn đẳng cấp 3 đến 5 sao, đặc biệt không thể thiếu ngọn hải đăng cổ kính hơn trăm năm tuổi.Kể từ khi được tu sửa khang trang,nơi đây còn được gọi vui bằng cái tên “Đà Lạt thu nhỏ” ,hằng năm được rất đông du khách đến vui chơi giải trí vào những ngày hè. Ngoài ra khi đến với Đồ Sơn,du khách có thể đến thăm di tích bến tàu không số, nằm ở chân đồi Nghĩa Phong, tìm hiểu về con đường Hồ Chí Minh trên biển đầy gian khổ. Tham quan quần thể di tích Đình Ngọc Xuyên- Suối Rồng- Tháp Tường Long. Đặc biệt, tại khách sạn Đồ Sơn Resort bạn còn được vui chơi thỏa thích tại casino trên tầng 3 của khách sạn. Đây là nơi duy nhất tại miền bắc mà bạn có thể thoải mái chơi trò chơi đặc biệt này.
Nếu đến đây vào đúng các mùa lễ hội, bạn sẽ bị thu hút bởi sự náo nhiệt tại nơi đây. Có thể kể đến một số lế hội như lễ hội đảo Dáu. Vào ngày này, người dân Đồ Sơn nói riêng và người dân buôn bán khắp nơi đi thuyền ra đảo cúng và thắp hương cầu may cho một năm buôn bán thuận lợi và sức khỏe bình an. Hay cứ vào mỗi dịp Tết đến,người dân khắp nơi lại đổ về Đồ Sơn viếng thăm đền Bà Đế,cầu phúc cho mưa thuận gío hoà,nhà nhà êm ấm.
Được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho những gì tinh hoa đẹp đẽ nhất của biển cả, cùng với sự khéo léo của người dân nơi đây, Đồ Sơn hiện đang là một trong những khu du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước. Đồ Sơn đã và đang cố gắng hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng du lịch cũng như tên tuổi của mình đi khắp bốn phương.
1.3.2.3. Huyện đảo Cát Hải
Huyện Đảo Cát Hải thuộc Thành phố Hải Phòng phía Tây Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Địa hình nơi đây phức tạp,tổng diện tích khoảng 345 km2, rừng núi chiếm 2/3 diện tích. Huyện có 2 đảo hợp thành. Đảo Cát Hải là dải cát dễ bị xâm thực và bị thủy triều bào mòn.Đảo Cát Bà 336 hòn đảo trong đó Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất. Huyện có gần 30 ngàn người. Khu hành chính của huyện đóng tại Cát Bà. Nơi đây có Vườn Quốc Gia Cát Bà là nơi lưu giữ nguồn gel quí hiếm trong đó có loài Voọc Đầu trắng được ghi vào Sách Đỏ thế giới.
Cát Bà có hàng trăm hang động với nhiều dáng vẻ nguyên sơ kỳ vĩ, đa dạng thảm thực vật phong phú. Nơi đây có nhiều vụng vịnh với dải cát vàng, những quần thể san hô lung linh muôn màu sắc. Thiên nhiên ưu đãi cho Cát Bà một nguồn tài nguyên vô cùng quý hiếm: Trên rừng có nhiều loại gỗ quý như Lát hoa, Lim, Gội, Kim giao, các loại cây dược liệu, các loại chim thú như đại bàng, đa đa, trăn, kỳ đà, rắn hổ mang, tắc kè, khỉ, chồn, cầy… Biển Cát Hải có gần 200 loài cá, gần 600 loài động vật biển, 75 loài thực vật phù du, gần 200 loài động vật phù du, 27 loại rừng ngập mặn. Biển Cát Hải còn có nhiều loại nhuyễn thể như Tôm he, Tôm rồng, Đồi mồi, Cua, Ghẹ, Sò huyết, Trai ngọc, Vẹm xanh, Tu hài…
Đến Cát Hải du khách có thể cảm nhận được nơi đây có khí hậu mát mẻ ôn hòa. Các mùa ở Huyện Đảo thể hiện rõ ràng, không khí làm cho con người cảm thấy dễ chịu. Tháng 7, tháng 8 thường có mưa bão, gió nam thổi mạnh, tháng cuối năm có mưa dầm và sương mù.
Các nhà khảo cổ học khẳng định Cát Hải là cái nôi của người cổ xưa. Qua khai quật cho thấy 15 điểm có dấu tích người Việt cổ nhưng hang Eo Bùa, Tùng Bà, Bờ Đá, Khoăn Mui, Ang Giữa. Năm 1938 nhà khảo cổ học người Pháp đã khai quật và nghiên cứu đioxit cacbon tìm thấy những dị vật còn sót lại, ông khẳng định Cát Bà nằm trong loại hình nền văn hóa Hạ Long. Những đồ vật được tìm thấy ở nơi đây qua khảo cứu đã chứng tỏ người Việt cổ đã từng trú ngụ tại mảnh đất này. Di chỉ Cái Bèo là niềm tự hào của người dân trên Đảo.
Đảo Cát Bà từng là căn cứ của các cuộc khởi nghĩa. Năm 1750 thủ lĩnh nông dân Nguyễn Hữu Cầu – tức Quận He dấy quân khởi nghĩa lấy Cát Bà làm căn cứ. Năm 1893 khi quân Pháp đổ bộ lên Đảo người dân đã kháng cự quyết liệt. Vào những năm 1889 – 1893 Cát Bà trở thành căn cứ chính của nghĩa quân Tiến Đức, ông đã dựa vào địa hình Trung Trang, Mái Gợ, Trà Báu xây dựng đồn điền, đồn trung, đồn hậu với bẫy đá, hầm chông chống giặc. Khu di tích Hà Sen và Đôn Lương trở thành di tích lịch sử của Huyện Đảo.
Trong thời kỳ chống Mỹ, do địa hình là cửa ngõ giao lưu quốc tế và Vịnh Bắc bộ nên Cát Bà, Cát Hải là mục tiêu tấn công của không quân và hải quân Mỹ. Tính trong cuộc chiến tranh phá hoại không quân và hải quân Mỹ đã ném xuống đây 1104 quả bom phá, 36000 quả bom bi, bom xuyên, 2355 quả thủy lôi, tính trung bình mỗi người dân trên Đảo hứng chịu trên 2 quả bom, mỗi km2 chịu 8,8 quả bom các loại.
Mặc dù là huyện Đảo bị phong tỏa dữ dội trong chiến tranh song người dân nơi đây vẫn kiên cường bảo vệ Đảo. Thực hiện khẩu hiệu “ Tay lưới, tay súng” vừa đảm bảo sản xuất muối, chế biến nước mắm, trồng trọt, chăn nuôi vừa chi viện cho chiến trường Miền Nam. Ghi nhận những thành tích xuất sắc mà quân và dân trên Đảo đạt được, Đảng và nhà nước tặng Huyện 8 chữ vàng: Hà Sen anh dũng – Đôn Lương kiên cường”.
Trong công cuộc đổi mới, Huyện Đảo đã tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, thành phố phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, cầu, cảng… khai thác tiềm năng sẵn có phát triển nghành thủy sản, du lịch, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi và cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Đến nay bộ mặt của huyện đổi thay nhanh chóng, đời sống của nhân dân không ngừng cải thiện. Mỗi năm nơi đây đón 1 triệu khách du lịch, là điểm đến của bạn bè muôn phương. Cát Bà được tổ chức UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, phấn đấu là Công viên địa chất thế giới trong tương lai. Huyện Đảo vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ Đổi mới.
1.3.2.4. Một số Lễ hội nổi tiếng tại Hải Phòng ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
* Lễ hội Làng cá Cát Bà:
Ghi nhớ sự kiện Bác Hồ kính yêu về thăm làng cá Cát Hải (Hải Phòng) vào ngày 1/4/1959, từ đó đến nay, ngày 31/3 hàng năm đã trở thành ngày lễ hội làng cá, thời điểm ra quân đánh cá vụ nam của ngư dân huyện đảo.
Theo tục lệ cổ, ngay từ sáng 30/3 hàng năm, tại Cát Bà (huyện Cát Hải) sẽ tổ chức lễ cầu ngư, ra quân đánh bắt vụ cá nam, thả cá giống và phát động phong trào nhân dân bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Lễ cầu ngư diễn ra với những nghi thức trang trọng, cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, mùa vụ khai thác, nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả cao nhất. Đông đảo cán bộ, người dân huyện đảo dự lễ cầu ngư, đặc biệt là các ngư dân trực tiếp đi biển, tổ chức lễ rước nước, tế lễ với ước nguyện tốt đẹp.
Ấn tượng và thu hút nhất trong những ngày lễ hội làng cá Cát Bà là hội đua thuyền rồng trên biển, với sự tham gia giữa đội chủ nhà Cát Bà với các đoàn khách đến từ vùng duyên hải Quảng Ninh, Bắc Trung bộ, cùng những anh em từ vùng lúa Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thủy Nguyên (Hải Phòng). Đây là cuộc đua tài đầy quả cảm, rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn của từng cá nhân trong một tập thể. Đồng thời, rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp, dành cho cả nam và nữ, giải đấu của các đấu thủ nữ có cự ly dài 4.000m, đường đua của nam giới là 6.000m, diễn trong khoảng thời gian 30 phút sôi nổi khẩn trương.
Ngoài cuộc đua thuyền rồng đầy khí thế, sôi nổi và hào hứng từ phút ban đầu đến phút cuối, trong khuôn khổ lễ hội còn có thêm các trò thi phối hợp, biểu diễn
lướt ván đua thuyền thúng của cư dân miền duyên hải, miền Trung. Điều đặc biệt, tại ngày hội làng cá Cát Bà, hai loại hình thi đấu kéo co và múa rồng trên biển, lẽ ra chỉ diễn ra trên đất liền thì bây giờ đều được đưa xuống biển thi đấu. Người tham gia thi đấu được chia làm hai bên, ai nấy đều ở trên thuyền mình, dàn quân, nắm chắc dây co mà kéo về phía đội mình. Trong các cuộc thi kéo co trên biển nhiều năm gần đây, đội chủ nhà Cát Bà thường vượt trội trước các đội bạn.
Khi đêm về, Cát Bà trong những ngày lễ hội luôn lung linh sắc đèn, kết hợp với những màn pháo bông đầy màu sắc. Ánh sáng sân khấu hiện đại là những chương trình nghệ thuật đặc sắc với chủ đề theo từng năm, được tổ chức với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đến từ mọi miền, cống hiến cho người xem những bài hát, điệu múa ca ngợi Đảng, Bác Hồ. Những khúc ca dạt dào, sâu lắng về biển, đảo Cát Bà thân yêu cùng những giai điệu tình yêu trẻ trung, sôi động. Đêm nghệ thuật sôi nổi bắt đầu cho mùa du lịch mới đầy khí thế.
* Lễ hội Núi Voi:
Đã thành thông lệ, lễ hội truyền thống Núi Voi ở huyện An Lão, thành phố Hải Phòng mang màu sắc văn hoá của người dân miền biển diễn ra từ ngày 12 đến 14/2. Đây là dịp để du khách được tìm hiểu về vùng đất cổ có bề dày lịch sử và tham gia các hoạt động văn hoá độc đáo. Trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Núi Voi đã trở thành huyền thoại với hình ảnh “Những cô gái dân quân treo mình bên vách đá, lưng chừng trời ngắm bắn máy bay rơi”.
Núi Voi và lễ hội Núi Voi gắn liền với sự phát triển vùng đất, con người An Lão. Trải qua nhiều biến động, thăng trầm lịch sử, quy mô tổ chức có thể to, nhỏ khác nhau nhưng lễ hội Núi Voi vẫn luôn được duy trì từ hàng trăm năm qua. Lễ hội là dịp người dân tôn vinh, tưởng nhớ những vị anh hùng dân tộc, lớp lớp thế hệ người An Lão đã chiến đấu, xây dựng lên vùng đất này. Nên đã thành tục lệ, lễ hội Núi Voi luôn được mở đầu bằng nghi thức tế lễ trang nghiêm tại đền thờ nữ tướng Lê Chân nằm bên phía nam núi Voi và lễ tế thần hoàng tại chùa, đình Chi Lai nằm phía bên kia dãy núi. Khu danh thắng, di tích núi Voi vốn ẩn chứa trong mình nhiều dấu tích và những truyền thuyết lịch sử độc đáo, càng trở nên linh thiêng trong không gian lễ hội.
Không chỉ để tôn vinh, tưởng nhớ các vị anh hùng, người có công với đất nước, quê hương, lễ hội Núi Voi là dịp mỗi làng quê giới thiệu đến du khách xa gần những tiềm năng quê hương mình. Ngay trong những ngày đầu năm mới, khắp các làng trên, xóm dưới trong huyện đồng thời diễn ra rất nhiều lễ hội truyền thống, những liên hoan văn nghệ, thể thao, để từ đó lựa chọn những tiết mục đặc sắc nhất, những diễn viên, vận động viên tiêu biểu nhất tham dự lễ hội. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Đã thành truyền thống, ngày mồng 4 tháng Giêng hằng năm, xã Thái Sơn, nơi có sới vật nổi tiếng của huyện, tổ chức hội vật mùa xuân, lựa chọn những đồ vật tiêu biểu tham gia Hội vật tự do Núi Voi. Ngày mồng 3 Tết, xã Bát Trang tổ chức giải bóng chuyền, xã Quang Trung liên hoan văn nghệ, xã An Thọ có giải cờ tướng,… Đây đều là những nội dung nằm trong chương trình hoạt động của lễ hội Núi Voi. Đến với lễ hội Núi Voi du khách được sống trong không gian văn hóa truyền thống
Ngoài ra, tại lễ hội Núi Voi du khách sẽ được thưởng thức các sản vật, món ăn nổi tiếng mang đậm hương vị quê hương: chè Chi Lai, khoai Tiên Hội…/.
Sự hòa quyện không gian đẹp của danh thắng Núi Voi với hoạt động mang đậm nét dân gian truyền thống của người dân An Lão tạo nên nét riêng hấp dẫn du khách đến lễ hội này.
* Lễ hội Hát Đúm ở Thủy Nguyên:
Đã từ lâu, cứ vào ngày mùng 4 đến ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch hàng năm, Tổng Phục lại mở Hội làng. Hội làng đầu xuân có rất nhiều cuộc thi: Thi cỗ bánh, thi dệt cửi, thi đánh đu, đánh vật, đánh cờ…nhưng cuốn hút nhất vẫn là thi hát Đúm. Đây là lễ hội có truyền thống từ xa xưa và được duy trì đến tận hôm nay trong niềm đam mê không chỉ của các nghệ nhân có tuổi, mà cả ở tầng lớp thanh, thiếu niên.
Theo truyền thống, ngày bắt đầu của hội hát đúm đồng thời cũng là ngày những cô gái của Tổng Phục bỏ chiếc khăn mỏ quạ bịt mặt trong suốt cả năm. Vì thế, hội hát đúm ngày xuân cũng còn là ngày hội mở mặt. Trong những ngày này, các chàng trai, cô gái Tổng Phục (trước đây, ba xã Phục Lễ, Phả Lễ và Lập Lễ thuộc Tổng Phục) thường tập trung để hát đúm tại đình Phục Lễ, một trong những ngôi đình lớn.
Hát đúm cũng có thể diễn ra ở trên đường đi, ngoài cánh đồng khi các tốp trai thanh, gái lịch trong những bộ quần áo truyền thống ngày hội gặp nhau. Họ nắm tay nhau say sưa hát đối những làn điệu giao duyên thể hiện khát vọng về tình yêu đôi lứa thông qua nhiều câu hát ví von mang đậm chất dân gian của vùng quê.
Bài bản của hát đúm rất phong phú. Đầu tiên, khi mới gặp nhau là những câu hát chào, những câu hát mừng. Tiếp sau đó có thể là hát hỏi, hát đố, hát họa, hát huê tình, hát cưới… và cuối cùng là hát ra về.
Hát đúm kéo dài từ sáng tới trưa, từ trưa tới tối. Giữa các canh hát, các cô mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho các chàng để tỏ lòng mến mộ. Chiều, các cô mời các chàng về nhà mình ăn bữa cơm đầu xuân để biết nhà cửa và có sức tiếp tục hát tới khuya. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, cuộc hát đúm kéo dài đến Mồng 10. Qua những buổi hát, nhiều đôi đã kết nhau để cuối năm nên duyên chồng vợ.
Bởi có tục lệ ấy mà các cô gái ở đây cô nào cũng thuộc một số bài hát ví để đi hội gặp các chàng trai mời hát mà mở khăn đối đáp. Hát ví thường chỉ dựa vào hai thể thơ lục bát và song thất lục bát. Tuy không nhiều làn điệu, nhưng lại rất phong phú về đề tài, đòi hỏi người hát phải rất giỏi về đối đáp.
Trong ngày hội “Hát đúm”, tại sân chùa Phục Lễ, nhiều bàn hát đúm mọc lên, mỗi bàn kê hai bộ tràng kỷ đối diện nhau. Giữa bàn để nhiều hộp trầu và khăn tay thêu cành hồng (tặng phẩm). Một bên trai, một bên gái ngồi hai bên dãy tràng kỷ. Mặt nhìn mặt, tay cầm tay. Thường thì cả hai bên trai gái vào hát đều di động để nếu nhỡ một anh hát bí hay bị hỏi, đố, lúng túng không trả lời được thì ra hiệu cho anh kia hát đỡ, gỡ bí cho. Khi hát có nhạc bát âm. Hai bên trai gái đối đáp. Bên nào không đối đáp được là thua. Đây là một hình thức thử tài văn chương, kiến thức của nhau, ướm lời yêu đương “tìm hiểu” bằng nghệ thuật, phải thuộc làu tục ngữ, truyện tích.
Hát đúm vui nhất là hôm hát giã đám. Lúc này họ trao giữ kỷ vật cho nhau, nấn ná đến tận khuya, mà đưa ra toàn những bài hát hay, mới nhất từ nỗi lòng sâu kín của họ. Hôm đó hai bên ít hát đối đáp mà toàn những bài trữ tình, bâng khuâng, lưu luyến… Những yêu đương, thương nhớ, những xa cách, chia ly, những hứa hẹn, đợi chờ và hy vọng… Họ mong đợi mùa hội sau, để lại được say đắm trong tiếng hát của nhau.
Vào những ngày xuân, hát đúm như trỗi dậy một sức sống mới vốn tiềm ẩn từ lâu trong tâm trí và tấm lòng của những người con quê hương hát đúm. Các chàng trai, cô gái vẫn duyên dáng, say sưa trong những làn điệu hát đúm ngày xuân. Hát đúm cũng như một số hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian khác đã phải trải qua những bước thăng trầm. Vậy mà, sức sống lâu bền, mãnh liệt của nó vẫn còn đến ngày hôm nay
* Hội đánh pháo đất Vĩnh Bảo:
Về Vĩnh Bảo (Hải Phòng) mùa thu, bạn sẽ được xem một hội làng truyền thống – Hội đánh pháo đất. Hội thi được tổ chức vào ngày 3 tháng 8 âm lịch hằng năm tại các xã Tân Hưng, Tam Đa, Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
Tương truyền cuộc thi này đã được tổ chức lần đầu từ giữa thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Pháo đất Vĩnh Bảo gồm hai loại: pháo tung và pháo đập úp (dài hơn pháo tung). ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Đất làm pháo lấy từ đáy sông, loại đất đã được gạt hết lớp bùn từ chiều hôm trước, phơi cho se mặt. Sáng hôm sau lấy chày hoặc tay luyện đất. Luyện nhào đến khi nó dẻo lại như kẹo, nhuyễn như bột làm bánh, từ màu đen chuyển sang màu hồng mịn óng ánh như sáp thì chuyển đến giai đoạn làm pháo. Pháo được nặn thành hình khối chữ nhật, miệng hình tròn hay hình chữ nhật, trong trong đó đặt ” cạnh pháo ” là một thoi đất mềm dài, nối hai thành pháo.
Mọi người đều có thể tham gia đánh pháo, nhưng phần đông là những chàng trai và người ta chia những người dự thi thành nhiều “cỗ pháo”. Mỗi cỗ gồm ba bốn người, được nhận từ 25 kg đến 30 kg đất để thi làm pháo nhanh. Đất được dàn ra, lên khuôn. Đầu tiên làm cánh pháo, sau đó bấu “mép” – chỗ mỏng nhất ở cánh pháo – để khi tung cánh pháo sẽ mở ra. Đồng thời làm những “nắm kế” – nắm đất tròn như quả cam để đỡ cho cánh pháo khỏi bị rã. Chuốt bụng pháo, xem lại cánh pháo, thế là chiếc pháo đã làm xong, oai vệ trên mười nắm kê, trông như một cỗ xe mười bánh.
Vào cuộc thi, ông quản pháo – người có uy tín nhất trong các lần đánh pháo thúc một hồi trống. Tiếng trống giong lên rộn rã, các cỗ pháo lần lượt tiến ra sân bãi bằng phẳng, rắn chắc giữa tiếng reo hò của người xem. Mỗi cỗ chọn một người khỏe mạnh nhất vào thi, số người còn lại đứng cạnh để nâng pháo. Đầu tiên thì tung pháo. Người dự thi nhận pháo của bạn củng cố, nâng pháo lên ngang mặt đoạn xoay mạnh hai tay mà tung pháo lên, sao cho càng cao càng tốt và pháo không bị chao đảo. Sau ba lần tung quả pháo lên như vậy thì chuyển sang thi ba lần đập úp ba quả pháo khác. Người dự thi nâng pháo lên ngang ngực, đâp úp thật nhanh quả pháo xuống mặt đất, miệng pháo rơi nhanh mạnh xuống mặt bãi bằng phẳng rắn chắc, không khí trong lòng pháo sẽ bị nén lại tạo sự chênh lệch áp suất trong lòng pháo với ngoài thân pháo, làm cho hộp pháo mỏng bị phá vỡ mà phát ra tiếng nổ. Khi tung pháo lên hoặc đập úp pháo xuống như trên, cánh pháo làm bằng đất mềm theo thành pháo vỡ toang và mở ra theo chiều dài thường trên dưới một mét, có khi dài tới hai mét, xoắn lại nằm vắt ngang thân pháo. Pháo nổ càng to cánh pháo càng mở dài, càng nói lên sức khỏe, nghệ thuật cao của người đánh pháo và kỹ thuật giỏi của người làm pháo. Ban tổ chức cộng chiều dài cánh pháo của ba lần tung pháo và ba lần đập pháo mà xếp giải.
* Lễ hội Hoa Phượng đỏ:
Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng là một sản phẩm du lịch mới của thành phố Hải Phòng với nhiều hoạt động văn hóa,nghệ thuật, thể thao hoành tráng, hấp dẫn, rực rỡ sắc màu, góp phần quảng bá hình ảnh thành phố Cảng của miền bắc Việt Nam.
Năm 2012, thành phố Hải Phòng có trên 9.000 cây hoa phượng được trồng trải khắp thành phố. Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng lấy hình ảnh hoa phượng, gắn với vùng đất, con người Hải Phòng làm cốt lõi và được thể hiện qua các hình thức biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao trên sân khấu, khán đài và các hoạt động khác tại những địa danh văn hóa, du lịch nổi tiếng của thành phố và trên các tuyến đường, phố chính.
1.3.2.5. Một số điểm di tích nổi tiếng ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
* Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo được Nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 1991. Nguyễn Bỉnh Khiêm thủa nhỏ tên gọi là Văn Đạt quê ở trang Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Ngày sinh của ông chưa có sách nào ghi cụ thể. Theo cuốn “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề – một danh thần ở khoảng cuối đời Lê Trung Hưng người làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương thi đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn năm 1736 đời Lê Ý Tông, làm quan tới chức Đông Các hiệu thư thị tham chánh Sơn Nam đã viết: “Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491) lúc nhỏ vốn dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Năm 4 tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài nghĩa của kinh, mới đọc qua đã thuộc làu làu…”.
Lớn lên được mẹ và thầy Dương Đức Nham dạy học. Sang tuổi trưởng thành, ông học thầy bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Do xã hội lúc đó nhiều biến động, mãi đến năm 44 tuổi ông mới dự thi thời triều Mạc. Cả 3 kỳ thi đề đỗ giải Nguyên Khôi. Kỳ thi Đình năm Ất Tỵ (1535), ông đỗ Trạng Nguyên và được Vua bổ làm Hiệu thư ở viện Hàn Lâm, rồi Đại học sỹ tòa Đông Các. Ông làm quan cho nhà Mạc
được 8 năm rồi dâng “Thất trảm sớ”, không được Vua ưng thuận nên cáo lão từ quan về quê, mở trường dạy học, sáng tác hàng nghìn bài thơ bằng chữ Nôm và chữ Hán. Người đời tương truyền, ông có nhiều bài sấm ký bao quát tầm nhìn thời thế ứng nghiệm. Nhiều học trò theo học ông đã lừng danh như: Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Đinh Thời Trung, Trương Thời Cử… có người làm tới chức Tể Tướng. Như vậy, Ông không chỉ là cây đại thụ về thơ văn mà còn là một nhà giáo lỗi lạc.
Mặc dù sống cuộc đời điền viên, vui thú cỏ cây hoa lá, ngam thơ, vịnh cảnh cùng môn sinh nhưng lòng ông vẫn đau đáu nỗi yêu nước, thương dân. Ông mất ngày 28 tháng Giêng mùa đông năm Ất Dậu (1585) niên hiệu Diên Thành thứ 9 đời Mạc Mậu Hợp, thọ 95 tuổi.
Toàn cảnh đền thờ Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm
Triều đình nhà Mạc cử Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng về dự lễ viếng và thay mặt Vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công. Tháng Giêng năm Bính Tuất (1586), Vua Mạc ban cấp cho làng Trung Am 3000 quan tiền để lập đền thờ ông, có gắn biển mang hàng chữ “Mạc triều Trạng Nguyên tể tướng từ” do nhà Vua tự tay đề, đồng thời giao cho địa phương 100 mẫu ruộng thờ ông (theo TS Vũ Khâm Lân trong sách Đại Việt sử loại tiệp lục). Như vậy, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm trên nền đất cũ được xây dựng xưa nhất là năm 1586. Sau đó do biến động của lịch sử, ngôi đền đó không còn, sau này mới được dựng lại. Theo “Công dư tiệp ký” của ông Vũ Phương Đề ghi: “năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất
Mão 1735, đời Lê Ý Tông) người trong làng vì nhờ Thị Đức của tiên sinh có dựng lại trên nền nhà cũ… người hàng tổng cũng nhớ ơn đức, xuân, thu hai kỳ đến tế lễ”.
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mười đến thăm đền đã ghi hàng chữ lưu niệm “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh hân văn hóa như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, nhân cách cao cả cùng với tri thức uyên bác và tài năng sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của ông mà đến nay chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng”.
Năm Mậu Thìn 1929 (Bảo Đại thứ 3), dân làng quyên góp tiền bạc, công sức tu tạo lại ngôi đền. Tháng 9/1985, ngôi đền được Thành phố chỉ đạo tu sửa, mở mang khuôn viên, sửa lại đường sá. Năm 1998, đền được nâng cấp, tôn nền xây tường bao.
Đặc biệt vào cuối năm 2000, kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng duyệt kế hoạch cho nâng cấp tạo dựng cả một vùng rộng lớn thành quần thể “Di tích danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm” gồm: “Quán Trung Tân”, mộ phần cụ Nguyễn Văn Định (thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm), khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chùa Song Mai nơi phu nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tu hành. Đường đi được làm lại, khuôn viên, vườn cây lưu niệm được qui hoạch, cảnh quan thật khang trang, ngoạn mục./.
* Đền Nghè:
Nằm ở trung tâm thành phố Hải Phòng thuộc phường Mê Linh (nay là phường An Biên, quận Lê Chân), đền Nghè là Di tích lịch sử văn hoá thờ nữ tướng Lê Chân. Bà quê ở làng An Biên (thuộc Đông Triều, Quảng Ninh) đã đến vùng đất nơi ngã ba sông Tam Bạc đổ vào sông Cấm, lập ấp Vẻn, sau đổi là An Biên Trang, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 – 43) chống quân Đông Hán xâm lược. Bà là một nữ tướng tài ba, anh dũng, lập nhiều chiến công vang dội trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được Trưng Vương phong chức Chương quản binh quyền nội bộ, giao trọng trách trấn giữ miền Hải Tần.
Một góc đền Nghè ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Để tưởng nhớ công lao của nữ tướng, người lập ra làng An Biên xưa và đặt nền móng cho thành phố Hải Phòng ngày nay, nhân dân đã lập lên toà miếu An Biên thờ Bà. Buổi đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ lợp tranh, đến năm 1919, được xây dựng khang trang. Đền Nghè hiện nay là một công trình mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, đầu thế kỷ XX bao gồm: tam quan, toà bái đường, thiêu hương, hậu cung, giải vũ, nhà bia, nơi đặt tượng voi đá, ngựa đá. Sau lại làm thêm toà tứ phủ.
Toà bái đường gồm 5 gian được nâng đỡ bởi 16 cột lim, kê trên 16 viên đá tảng đục đẽo công phu, tỉ mỉ. Chính giữa nóc nhà bái đường đắp nổi hàng chữ Hán lớn An Biên cổ miếu. Hậu cung gồm 3 gian, xây cao hơn nhà bái đường với thiết kế kiểu 2 tầng mái, làm tăng thêm sự bề thế, uy nghi của công trình.
Nét đặc sắc của kiến trúc đền Nghè là nghệ thuật chạm khắc trên gỗ, đá. Với các đề tài long – ly – quy – phượng; tùng – cúc – trúc – mai… Thể hiện kỹ thuật chạm khắc bong hình, chạm nổi, chạm chìm đạt đến trình độ tinh xảo.
Hiện nay, đền Nghè còn bảo tồn được nhiều tác phẩm điêu khắc trên đá rất có giá trị. Điển hình là tấm bia đá có kích thước lớn được tạc vào thời Nguyễn, ghi
tiểu sử của nữ tướng Lê Chân. Toà bái đường treo khánh đá chạm nổi đề tài vũ hội long vân đường nét tinh vi, mềm mại, uyển chuyển. Ở toà thiêu hương có chiếc sập đá đồ sộ, tạo bằng khối đá liền, chạm nổi hình chim, thú, hoa, lá rất công phu. Tại toà hậu cung, tương Nữ tướng ngồi trên ngai thờ, đặt trong một khám lớn sơn son, thếp vàng với dáng vẻ uy nghi, đôn hậu, xinh đẹp.
Tượng nữ tướng Lê Chân
Hội đền Nghè được tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch, thu hút đông đảo du khách đến tham quan di tích, tưởng niệm nữ tướng Lê Chân. Đền Nghè được Nhà nước xếp hạng năm 1975.
* Chùa Dư Hàng:
Chùa Dư Hàng (tên chữ là Phúc Lâm tự), thuộc xã Dư Hàng Kênh (huyện An Dương), nay thuộc địa bàn phường Hồ Nam, quận Lê Chân. Nếu căn cứ vào bản ghi chép bia ký của chùa Dư Hàng thì chùa có nguồn gốc từ thời Tiền Lê (980- 1009). Cuối thời vua Lê Đại Hành đã có vị sư tổ đến đây thuyết pháp, khai sáng giáo lý nhà Phật. Đến thời Trần (1225-1400), các vị sư tổ thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập ở Yên Tử Sơn, đã có mối quan hệ với bản chùa Dư Hàng. Vì vậy, từ xưa đến nay, chùa Dư Hàng vẫn truyền lệ kỷ niệm sinh nhật vị sư tổ đệ nhất “Đền ngự giác hoàng tinh tuệ thiền sư” tức vua Trần Nhân Tông vào ngày 02/11 âm lịch. Vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm là thiền sư Huyền Quang Lý Đạo Tái vào ngày 3/11 Âm lịch. Đến đời vua Lê Gia Tông (1672), sư cụ Nguyễn Đình Sách (tự là Chân Huyền) đã xuất hiện tiền để tậu ruộng đất, làm chùa to rộng, có đủ gác chuông, nhà thờ tổ, nhà tăng… Từ đó trở đi, dù phải trải qua bao thăng trầm lịch sử, ngôi chùa đã được thế hệ hoà thượng, tăng ni, tín đồ phật tử sở tại chung sức, chung lòng sửa sang chùa ngày thêm khang trang, đẹp đẽ.
So với nhiều ngôi chùa thờ phật ở Hải Phòng, chùa Dư Hàng có kiến trúc bề thế, khuôn viên hoàn chỉnh, gồm toà phật điện 7 gian, gác chuông cao 3 tầng, mái công vút, quả chuông đồng cỡ lớn, chữ đề: “ Phúc Lâm tự chung”, nghĩa là chuông chùa Phúc Lâm.
Tại toà Phật điện, hiện còn lưu giữ nhiều pho tượng phật cổ có giá trị, tạo hình chuẩn xác như bộ Tam thế, toà Cửu long – Thích ca sơ sinh, hộ thiện, trừ ác, bộ tượng “ Phật điện minh vương”… Nội thất toà phật diện được trang trí nhiều bức hoàng phi, câu đối, cửa võng sơn son tiếp vàng rực rỡ, đường nét mềm mại, kỹ thuật tinh xảo, được thể hiện qua các mảng đề tài hoa lá, cỏ cây, muông thú, mang phong cách nghệ thuật triều Nguyễn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Gian tiền đường của toà phật điện được trang trí bằng nhiều mảng chạm khắc nổi trên cửa võng, nhiều mảng đề tài quen thuộc: mai điểu, ngũ phúc, rồng mây… thể hiện ước muốn của muôn dân cho “mưa thuận, gió hoà, cỏ cây tươi tốt”, hộp hình khắc gỗ mô tả cảnh thầy trò Đường tăng trên đường sang Tây Trúc thỉnh kinh. Hiện nay, chùa Hàng còn bảo lưu nhiều di vật qúy giá như chuông, khánh, đỉnh đồng, đồ trang trí mỹ thuật bằng gốm sứ, đá xanh, bộ kinh sách “A hàm” cổ được lưu truyền từ nhiều đời sư trụ trì.
Phật điện chùa Dư Hàng ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Tại khu vườn tháp tĩnh mịch, rợp mát bóng cây cổ thụ xanh tươi, ngoài nhóm mộ tháp các vị sư tổ đã viên tịch tại bản chùa còn có mộ tháp chứa xá lỵ các vị tổ thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tháp sư cụ Chân Huyền và nhiều vị hoà thượng đã từng trụ trì tại ngôi chùa Dư Hàng.
Năm 1926, tại chùa đã diễn ra một sự kiện quan trọng, gắn liền với phòng trào đấu tranh yêu nước, đòi quyền dân sinh, dân chủ của tăng ni, phật tử cùng đông đảo các học sinh, thầy trò, thợ thuyền lao động. Họ đã tập trung tại chùa Dư Hàng
làm lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh, khi cả nước được tin cụ mất tại Sài Gòn. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), Hội Tăng già cứu quốc Hải Phòng đã làm lễ gia mắt tại chùa, điểm tổ chức “Tuần lễ vàng”, đồng thời các đoàn thể quần chúng cách mạnh họp bàn việc đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường từ Pháp trở về Việt Nam, ghé thăm đồng bào, chiến sĩ Hải Phòng. Suốt 9 năm kháng chiến, chùa Dư Hàng đã mở rộng cửa thiền, nuôi quân. Có nhiều vị tu hành ở chù đã hăng hái tòng quân cứu nước, tiêu biểu có cố hoà thượng Đinh Quang Lạc đã được Chính phủ trao tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Chùa Dư Hàng được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1986.
* Đình Hàng Kênh:
Đình Hàng Kênh (tên chữ là Nhân Thọ đình), nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Theo bia ký còn lưu giữ tại di tích, đình Hàng Kênh ngày nay khởi dựng vào năm 1719, đời vua Lê Dụ Tông và được trùng tạo vào năm 1841 đến 1850.
Đình Hàng Kênh
Đình Hàng Kênh tọa lạc trên một khuôn viên rộng chừng 6000m2 với bố cục kiến trúc truyền thống: đại đình, tọa ống muống và hậu cung. Ngoài kiến trúc chính còn có hai toà giải vũ, văn miếu, hồ bán nguyệt.
Toà đại đình là phần kiến trúc trọng yếu nhất của ngôi đình, có quy mô bề thế gồm 7 gian, mái lợp ngói mũi hài, đầu đạo cong vút. Với kết cấu bộ khung chịu lực bằng gỗ lim gồm 42 cột cao hơn 5 mét, chu vi cột cái gần 2 mét, kê trên những chân tảng đá xanh chạm nổi một bông sen. Nét đặc sắc, độc đáo của toà đại đình là các mảng trang trí chạm khắc cầu kỳ, tinh xảo như chạm bong hình, chạm nổi, chạm thủng trên các xà, cột, câu đầu, bảy hiên, cốn… tạo cho các mảng chạm khắc có không gian nhiều tầng, nhiều lớp, một thế giới điêu khắc sống động với nhiều đề tài phong phú, đa dạng như rồng, mây, hoa lá, kỳ lân, phượng… Đặc biệt ở hơn 100 mảng điêu khắc có gần 400 con rồng quấn quýt, hoà quyện cùng hoa lá, cỏ cây, chim, phượng với kỹ thuật chạm khắc tinh xảo. ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Đình Hàng Kênh không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mà còn bảo lưu được kiểu thức ván sàn lòng thuyền hiếm có, đưa đình Hàng Kênh trở thành một di sản văn hoá đặc sắc trong các ngôi đình Việt Nam.
Toà hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền, người có công đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, giành nền độc lập tự chủ cho dân tộc Việt nam sau một nghìn năm Bắc thuộc.
Tượng Ngô Quyền ngồi trên ngai rồng trong tư thế thết triều, phía trước có một chiếc thuyền nhỏ, một khúc gỗ tượng trưng cho hàng cọc cắm trên sông Bạch Đằng.
Đình Hàng Kênh là di tích đặc biệt, tiêu biểu của thành phố Hải Phòng, được Nhà nước xếp hạng năm 1962.
* Quần thể Di tích – Danh thắng Tràng Kênh:
Khu di tích lịch sử và danh thắng Tràng Kênh thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có bề dày lịch sử văn hóa, đồng thời đây còn là một danh thắng với cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ do hệ thống núi đá vôi và sông ngòi tạo thành.
Tràng Kênh, vùng đất cổ được biết đến qua di chỉ khảo cổ học nổi tiếng, hiện còn bảo lưu trong lòng đất. Theo các nhà nghiên cứu, Tràng Kênh là một di chỉ khảo cổ học, một công xưởng chế tác đồ trang sức bằng đá lớn nhất vùng Đông bắc Tổ quốc, có niên đại cách ngày nay gần 4000 năm, thuộc sơ kỳ thời đại kim khí. Từ buổi khai sơn, phá thạch, tạo dựng cuộc sống, người Tràng Kênh với bàn tay khéo léo đã chế tác ra những đồ trang sức bằng đá tinh xảo, với những vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt đa dạng, phong phú, đầy màu sắc. Thông qua các cuộc khai quật và nghiên cứu, các nhà khảo cổ học đã kết luận rằng: Tràng Kênh cách đây gần 4000 năm đã thực sự là một công xưởng chế tác đồ đá có quy mô lớn, sản phẩm của nó không chỉ được trao đổi ở nội địa, mà còn vượt biển tới các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, vùng đất này được coi là một phên dậu chống giặc ngoại xâm. Dấu ấn lịch sử để lại đến nay cho biết, Tràng Kênh là một trận địa quan trong trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288 do Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy, đánh tan đội quân xâm lược Nguyên – Mông thế kỷ XIII. Với các địa danh đã đi vào sử sách dân tộc như núi U Bò, Hoàng Tôn, Phượng Hoàng hay cửa Bạch Đằng, nơi hợp lưu của 3 con sông đổ về, cùng các dấu tích về những trận địa cọc hay những địa danh như Áng Hồ, Áng Lác cho biết vùng đất này đã ghi dấu về một chiến trường do quân và dân triều Trần bày trận đòn đánh quân thù. Ngày nay dưới chân núi Hoàng Tôn trong hệ thống núi đồi ở Tràng Kênh còn ngôi đền thờ một vị tướng của vương triều Trần. Đó là đền thờ Trần Quốc Bảo. Ông thuộc tôn thất nhà Trần có công trong trận Bạch Đằng năm 1288, khi mất được nhân dân địa phương lập đền thờ. Theo nội dung tấm bia dựng vào niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) đời vua Lê Thần Tông, ngôi đền được xây dựng ở nơi có thắng cảnh đẹp vào hạng thứ nhất của xứ Hải Dương.
Tràng Kênh – Bạch Đằng, một địa danh lịch sử từ lâu đã đi vào tiềm thức của người dân thành phố Hải Phòng như một ký ức không thể nào quên về một chiến công vĩ đại chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta cách đây trên 7 thế kỷ. Cùng với nhiều di sản mang những nội dung lịch sử văn hóa có giá trị, Tràng Kênh – vùng đất thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh năm 1962.
1.5. Tiểu kết chương 1 và nhiệm vụ chương 2 ( Luận văn phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố )
Như vậy, chương 1 đã giải quyết vấn đề cơ sở lý luận về sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch đặc thù. Trong đó, đã làm rõ các khải niệm của du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Sản phẩm du lịch là tổng hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Và sản phẩm du lịch đặc thù là những sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên các giá trị đặc thù, độc đáo (có thể là duy nhất), nguyên bản của tài nguyên du lịch; dựa trên các giá trị đặc sắc, thành tựu nổi trội. Và còn là những sản phẩm có khả năng tạo nên thương hiệu, hình ảnh du lịch; tạo nên sự khác biệt giữa điểm du lịch này với điểm du lịch khác
Tiếp đó, chương 1 cũng nêu được vai trò của sản phẩm du lịch đặc thù trong hoạt động du lịch hiện đại như: cá biệt hóa du lịch, tạo ra tính hấp dẫn cao, thu hút thị trường khách đặc biệt hoặc đại trà, gây dựng hình ảnh du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch, tạo ra sức cạnh tranh cao, điểm nhấn của hệ thống sản phẩm du lịch, có khả năng tạo ra các động lực cho các sản phẩm du lịch khác cùng phát triển.
Cuối cùng, nội dung chương 1 đã đề cập đến các cơ sở lý luận liên quan đến các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng. Đặc biệt là cho hai đối tượng khách: trong nước, quốc tế, và việc truyền thông quảng bá các sản phẩm du lịch đặc thù. Đây chính là cơ sở để hình thành nên các giải pháp thực tế để tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù tại Hải Phòng.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn thực trạng phát triển sản phẩm du lịch đặc thù tại Thành phố Hải Phòng

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
