Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Dịch vụ phân phối và những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO cho các bạn.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đánh dấu một bước tiến lớn của nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế Việt Nam đã thực sự hội nhập với kinh tế thế giới với rất nhiều cơ hội để phát triển. Nhưng để đạt được điều đó, Việt Nam đã phải trải qua quá trình đàm phán kéo dài tới 11 năm mới có thể đưa ra được những cam kết cuối cùng của mình về mở cửa thị trường khi gia nhập WTO. Trong đó, Việt Nam cũng đã cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối.
Dịch vụ phân phối là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Lĩnh vực phân phối là cầu nối mang tính sống còn giữa những nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một khi vai trò này thực hiện thất bại thì nó có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế và thiệt hại kinh tế đáng kể. Đối với Việt Nam, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, dịch vụ phân phối hàng năm đóng góp tới 15% GDP thì bất cứ một sự xuất hiện các yếu tố nào có thể ảnh hưởng tới dịch vụ phân phối thì đều đáng quan tâm. Nhất là đối với những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong tổ chức thương mại thế giới WTO thì lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về dịch vụ phân phối và nghiên cứu các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong WTO, đề tài sẽ phân tích những vấn đề mà Việt Nam gặp phải khi thực thi các cam kết đó đồng thời sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm thực thi tốt các cam kết gia nhập WTO và phát triển dịch vụ phân phối của Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về dịch vụ phân phối: khái niệm, đặc điểm, vai trò của dịch vụ phân phối.
- Tìm hiểu các cam kết dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO.
- Thực trạng hoạt động dịch vụ phân phối tại Việt Nam.
- Nghiên cứu những vấn đề mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện các cam kết gia nhập WTO.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ phân phối.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là dịch vụ phân phối và các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là phân tích các cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung theo bốn phương thức và khi tiến hành phân tích các cam kết từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể, khoá luận giới hạn ở bốn loại hình dịch vụ phân phối là dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và dịch vụ nhượng quyền thương mại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành công việc nghiên cứu, khoá luận sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích, so sánh.
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài lời nói đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về dịch vụ phân phối
- Chương 2: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong WTO và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi cam kết.
- Chương 3: Giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong WTO về mở cửa dịch vụ phân phối
CHƯƠNG 1: DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN
I: Tổng quan về dịch vụ phân phối
Lĩnh vực phân phối chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay. Nó là sự liên kết mang tính sống còn giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng và đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả. Hoạt động của lĩnh vực này sẽ có những tác động mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng. Đồng thời nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần thiết để họ có thể điều chỉnh các quyết định của mình theo nhu cầu của người tiêu dùng nhằm giảm tối thiểu chi phí và nâng cao lợi nhuận. Một lĩnh vực phân phối hiệu quả sẽ hạn chế được một loạt các loại chi phí khác nhau và tạo cơ hội cho người tiêu dùng có được một sự lựa chọn hàng hoá đa dạng với giá cả cạnh tranh. Một sự hoạt động không hiệu quả của lĩnh vực phân phối có thể dẫn tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực và thiệt hại về kinh tế như đã từng xảy ra ở nhiều nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
1, Khái niệm
1.1. Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ
Dịch vụ phân phối trước hết là một trong nhiều loại hình dịch vụ nên nó sẽ mang những đặc điểm của dịch vụ. Chính vì vậy, điều đầu tiên là cần phải tìm hiểu về dịch vụ. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Để đưa ra được một định nghĩa chính xác nhất về dịch vụ không phải là một điều dễ dàng. Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Nguyên nhân là bởi chính những đặc điểm về tính vô hình, khó nhận biết, nắm bắt cũng như sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ khác nhau đã làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Ngoài ra, sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước cũng sẽ dẫn tới những cách hiểu khác nhau về dịch vụ.
Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng là phi vật chất. Do vậy, dịch vụ có thể được định nghĩa “là hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình, được thực hiện nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống của chính con người”
Từ định nghĩa này có thể rút ra một số đặc điểm nổi bật của dịch vụ. Đầu tiên, đặc điểm cơ bản nhất của dịch vụ đó là tính vô hình. Khác với sản phẩm vật chất mang tính hữu hình, dễ lượng hoá, dễ xác định và kiểm soát được chất lượng và có khả năng dự trữ thì sản phẩm dịch vụ thường là vô hình, khó lượng hoá, khó xác định được chất lượng và cũng khó và thường là không dự trữ được sản phẩm dịch vụ…Đặc điểm thứ hai đó là quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Bởi cung cấp dịch vụ chính là “quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm dịch vụ thông qua hoạt động tiếp xúc giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ đó”. Chính vì việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và không thể tách rời như vậy nên dịch vụ rất khó dự trữ được. Chỉ khi có khách hàng yêu cầu dịch vụ thì người cung cấp dịch vụ mới tiến hành sản xuất. Trọng tâm của quá trình cung ứng dịch vụ là hoạt động, trong khi trọng tâm của quá trình sản xuất vật chất là sự biến đổi của vật chất.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau hoặc theo những quan điểm khác nhau về dịch vụ thì chúng ta cũng có những sự phân loại dịch vụ khác nhau:
Dựa vào mục đích là kinh doanh, thu lợi nhuận thì dịch vụ có thể phân loại thành dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không mang tính thương mại. Dịch vụ mang tính chất thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận (như dịch vụ quảng cáo để bán hàng, dịch vụ môi giới…) còn dịch vụ không mang tính chất thương mại (hay dịch vụ phi thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục đích thu lợi nhuận (như dịch vụ công cộng thường do các đoàn thể, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng hoặc do các cơ quan nhà nước cung ứng khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình).
Dịch vụ cũng có thể phân loại thành dịch vụ về hàng hoá và dịch vụ về tiêu dùng dựa vào mục tiêu của dịch vụ. Theo đó, dịch vụ về hàng hoá bao gồm dịch vụ phân phối (bao gồm vận chuyển, lưu kho, bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi giới…) và dịch vụ sản xuất (bao gồm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các dịch vụ về kỹ sư và kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán kiểm toán, dịch vụ pháp lý…) do những dịch vụ này gắn kết chặt chẽ với việc sản xuất, trao đổi và buôn bán các loại sản phẩm – hàng hoá từ ngành nông – công nghiệp như phục vụ cho việc cung cấp đầu vào cho sản xuất hay phục vụ cho việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ trung gian. Dịch vụ về tiêu dùng gồm dịch vụ xã hội (bao gồm dịch vụ sức khoẻ, y tế, giáo dục, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ bưu điện, viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn và các dịch vụ xã hội khác…) và dịch vụ cá nhân (gồm dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, các dịch vụ giải trí, dịch vụ văn hoá, du lịch…) do các dịch vụ này được tiêu dùng trực tiếp bởi các cá nhân, tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu xã hội và thường không liên quan đến thương mại hàng hoá nhưng vẫn mang tính thương mại. Các dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ cuối cùng.
Còn trong thương mại quốc tế, theo sự phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì dịch vụ được phân chia thành 12 ngành dịch vụ và 155 phân ngành. Đó là: 1. Các dịch vụ kinh doanh, 2. Các dịch vụ thông tin, 3. Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan, 4. Dịch vụ phân phối, 5. Dịch vụ giáo dục, 6. Dịch vụ môi trường, 7. Dịch vụ tài chính, 8. Dịch vụ y tế và xã hội, 9. Dịch vụ du lịch và và dịch vụ liên quan, 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao, 11.
Dịch vụ vận tải, 12. Các dịch vụ khác.
1.2. Khái niệm về dịch vụ phân phối Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Khi hàng hoá được sản xuất ra để đến được với những người tiêu dùng thì phải trải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán. Dịch vụ phân phối là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường. Chúng là những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá qua các doanh nghiệp và tổ chức khác nhau để tới người mua cuối cùng. Quan niệm về DVPP có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.
Đối với người sản xuất thì DVPP là những cách thức và sự tổ chức hệ thống bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạt động phân phối phối giúp họ thực hiện được mục tiêu kinh doanh. Người sản xuất (hay người nhập khẩu) phải tìm ra các trung gian thương mại nào thích hợp để đưa sản phẩm của họ đến các khách hàng cuối cùng nếu như họ không muốn tự mình trực tiếp bán hàng hoá cho người tiêu dùng nhỏ lẻ. Nhà sản xuất có thể thông qua các trung gian như những người bán buôn rồi từ đó tới những người bán lẻ đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, có thể nói DVPP là các hình thức lưu thông sản phẩm qua các trung gian khác nhau. Khi một doanh nghiệp soạn thảo một chính sách phân phối sản phẩm sản xuất ra cũng có nghĩa là doanh nghiệp đó đang lựa chọn những phương thức phân phối phù hợp nhất cho việc bán một hàng hoá hoặc dịch vụ.
Đối với người tiêu dùng, dịch vụ phân phối được hiểu là những hoạt động thực hiện chủ yếu tại các cửa hàng bán lẻ-mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận chuyển, dự trữ và đưa hàng hoá, dịch vụ tới tay người tiêu dùng. Còn đối với bản thân những nhà phân phối, DVPP là một lĩnh vực kinh tế riêng biệt có chức năng trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng.
Từ những quan niệm trên có thể thấy DVPP là hệ thống các quan hệ của một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau cùng tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Nó là một chuỗi các mối quan hệ giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán hàng hoá. Mỗi doanh nghiệp trong kinh doanh chắc chắn có sự tham gia vào một hoặc một số DVPP nhất định. Ví dụ, đối với một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, DVPP của họ bao gồm: hệ thống thu mua nông sản từ những người nông dân và một hệ thống xuất khẩu nông sản ra thị trường nước ngoài…Như vậy, DVPP trở thành đối tượng để tổ chức, quản lý như một công cụ kinh doanh trọng yếu của các doanh nghiệp trên thị trường.
Trên bình diện vĩ mô, các DVPP của vô số doanh nghiệp tạo nên một hệ thống thương mại, hệ thống phân phối hàng hoá chung cho toàn bộ nền kinh tế. Đây là hệ thống lưu thông, tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trên thị trường, theo nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. DVPP vĩ mô của mỗi quốc gia có chức năng là tạo ra sự phù hợp giữa cung cầu hàng hoá trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. DVPP vĩ mô bao gồm tất cả các dòng chảy hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng (cả tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất) nhằm đảm bảo hàng hoá được lưu thông, cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu xã hội. Do đó toàn bộ DVPP vĩ mô là đối tượng nghiên cứu để hoạch định các chính sách tổ chức và quản lý lưu thông phân phối của nhà nước.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong danh mục phân loại ngành dịch vụ CPC (Provisional Central Product Classification) thì dịch vụ phân phối được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính. Đó là: dịch vụ đại lý hoa hồng (Commission Agent’s Services), dịch vụ bán buôn (Wholesale Trade Services), dịch vụ bán lẻ (Retailing Services) và nhượng quyền thương mại (Franchising).
2. Vai trò của dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc dân Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Là một trong những loại hình dịch vụ, làm cầu nối giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, bên cạnh đó còn là cách thức để quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra hiệu quả, do vậy DVPP ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
- Dịch vụ phân phối một chiếm tý trọng đáng kể trong thu nhập quốc dân.
Có thể thấy, vai trò đầu tiên của dịch vụ phân phối là việc đóng góp một phần quan trọng trong tổng thu nhập GDP của nền kinh tế. Dịch vụ phân phối chịu trách nhiệm về lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế, từ đó có tác dụng thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển, đồng thời là một yếu tố có tác động lớn tới định hướng phát triển của sản xuất. Sự tăng trưởng của ngành DVPP góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. Trong tất cả các quốc gia có đầy đủ dữ liệu, lĩnh vực phân phối (bán buôn và bán lẻ cộng lại) chiếm một phần đáng kể trong các hoạt động kinh tế. Phần đóng góp của lĩnh vực phân phối trong tổng GDP nằm trong khoảng từ 8% ở Đức, Ailen đến trên 20% ở Hồng Kông, Trung Quốc và Panama. Tại nhiều nền kinh tế, lĩnh vực này chỉ đứng thứ hai sau lĩnh vực chế tạo về mức đóng góp GDP và vượt trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, khai khoáng, vận tải, viễn thông và dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam, lĩnh vực DVPP cũng đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế trong những năm gần đây. Từ năm 2000 trở lại đây, DVPP đã chiếm tỷ trọng lớn thứ 3 trong tổng mức GDP, khoảng 13-15%, chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến (20%) và nông nghiệp (18%).
- Dịch vụ phân phối thu hút đông đảo lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp.
Dịch vụ phân phối đang là một trong những lĩnh vực kinh tế thu hút nhiều lao động nhất trong nền kinh tế quốc dân. Luôn song hành với dịch vụ phân phối là hàng loạt các hoạt động phụ trợ khác như marketing, dịch vụ tài chính, khuyến mãi, chăm sóc khách hàng…do đó mà số lao động hoạt động trong lĩnh vực phân phối lại chiếm một tỷ lệ đáng kể. Thường thì DVPP tạo ra tới 15% tổng số việc làm. Chẳng hạn tính toán tới số lao động hoạt động trong ngành bán lẻ, mà cụ thể là trong các siêu thị có thể thấy rõ điều đó. Chúng ta có thể thấy được ở một siêu thị cần rất nhiều nhân viên như nhân viên kho, nhân viên thanh toán, nhân viên giám sát bán hàng…cùng với việc nhân với số ca làm việc và số siêu thị hoạt động thì sẽ nhận thấy số lao động nhiều thế nào. Đóng góp của lĩnh vực này trong việc tạo công ăn việc làm thường còn lớn hơn đóng góp vào GDP. Chỉ số thể hiện tầm quan trọng của lĩnh vực phân phối trong các hoạt động kinh doanh chính là tỷ lệ số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối trong tổng số các doanh nghiệp của một nền kinh tế: tỷ lệ này nằm trong khoảng từ ít hơn 20% tại Hoa Kỳ, Đan Mạch,….lên tới 40% tại Hy Lạp và Bồ Đào Nha. Tại Việt Nam, DVPP phát triển cũng đã góp phần gia tăng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, với khoảng 54.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (chiếm 40% tổng số doanh nghiệp thuộc thành phần này) và không dưới 3.000 doanh nghiệp nhà nước tham gia kinh doanh. Một điều quan trọng nữa là lĩnh vực này đang tạo ra công ăn việc làm đáng kể cho những người lao động có tay nghề thấp. Điều này tạo ra một ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội khi nó làm giảm sức ép của nghèo đói, góp phần ổn định xã hội. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế.
Đúng như định nghĩa đã nêu, vai trò của dịch vụ phân phối là sự kết nối sống còn của nhà sản xuất với người tiêu dùng đặc biệt đặt trong nền kinh tế thị trường hiện đại, khi phân công lao động phát triển ở trình độ cao. Một nền kinh tế có hệ thống phân phối hiệu quả sẽ làm tăng lợi ích cho cả người sản xuất và tiêu dùng. Trong nền kinh tế vốn tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản như là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hoá của các doanh nghiệp để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm thấp với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ và ngày càng đặc biệt và đa dạng theo sự phát triển của xã hội, thu nhập của dân cư càng tăng lên. Hay là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng do sản xuất tập trung tại một điểm còn tiêu dùng rộng khắp hoặc ngược lại. Hoặc cũng có thể là sự khác biệt về thời gian do sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp, có thể sản xuất có tính thời vụ còn tiêu dùng quanh năm hoặc ngược lại, do đó người sản xuất phải dự trữ hàng hoá. Quá trình phân phối hàng hoá sẽ giải quyết được những mâu thuẫn này. Trong quá trình lưu thông hàng hoá gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có thể chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người sản xuất và cung ứng hàng hoá để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường, tạo ra sự ăn khớp về không gian, thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì thế tạo lập những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hoá và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế đất nước.
- Vai trò của dịch vụ phân phối trong chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một hệ thống các hoạt động trao đổi được tổ chức chặt chẽ từ khâu thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp nhằm mục đích tạo ra giá trị và tính cạnh tranh cao hơn. Chuỗi giá trị là liên kết cho người tiêu dùng. Theo tổ chức OECD thì quá trình phân phối hàng hoá tạo ra từ 10% cho đến 50% giá của một loại hàng hoá tiêu dùng. Hay tại Việt Nam, theo một khảo sát của trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, trong chuỗi giá trị hình thành sản phẩm thì khâu nghiên cứu sản xuất chiếm 30%, khâu sản xuất chiếm 30% trong khi đó khâu phân phối chiếm tới 40%. Một hoạt động có hiệu quả của dịch vụ phân phối sẽ dẫn tới việc giảm giá, giảm sự méo mó trong cơ cấu giá, tạo điều kiện cho người tiêu dùng hưởng lợi, tạo sự ổn định cho nền kinh tế.
- Vai trò của dịch vụ phân phối trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Một số doanh nghiệp có tiềm lực sẽ mở rộng hệ thống dịch vụ phân phối ra nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của họ ở nước ngoài để đưa sản phẩm của mình hoặc xuất khẩu sản phẩm trong nước tới những người tiêu dùng nước ngoài hay một số doanh nghiệp trong nước lại tiến hành nhập khẩu những hàng hoá từ thị trường nước ngoài để tiêu dùng trong nước thì lúc đó trên bình diện vĩ mô DVPP còn có vai trò liên kết thị trường của một nước với các thị trường còn lại trên thế giới. Điều này thật sự có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển bởi họ luôn tìm kiếm cơ hội tham gia vào kênh phân phối toàn cầu như một công cụ cho sự hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện phát triển kinh tế.
3. Đặc điểm của dịch vụ phân phối Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Là một loại dịch vụ nên DVPP cũng mang đầy đủ những đặc điểm của dịch vụ nói chung. Bên cạnh đó với vai trò của mình, DVPP cũng có một số đặc điểm khác của một lĩnh vực dịch vụ chuyên ngành. Đó là:
- DVPP mang tính chuyên môn hoá và phân công lao động cao.
Để đảm bảo cho hàng hoá đến được tay người tiêu dùng thì trong quá trình lưu thông hàng hoá phải diễn ra các hoạt động như: chuyển quyền sở hữu, đàm phán, vận động vật chất của hàng hoá, thanh toán, xúc tiến đặt hàng, chia sẻ rủi ro, tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói…Các hoạt động này diễn ra không ngừng, liên tục như những dòng chảy riêng biệt. Các dòng chảy này kết nối các thành viên của DVPP với nhau. Mỗi dòng chảy là một tập hợp các chức năng phân phối được thực hiện bởi các thành viên tham gia vào hệ thống phân phối. Tất cả các chức năng phân phối trong mỗi DVPP đều cần được thực hiện bởi một doanh nghiệp hoặc cá nhân nào đó. Tuy nhiên mọi doanh nghiệp không nhất thiết là phải tham gia vào tất cả các dòng chảy. Các tổ chức kinh doanh nhất định chuyên môn hóa vào một hoặc một số công việc phân phối nhất định. Với sự đòi hỏi phát triển mạnh mẽ trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới diễn ra rộng rãi thì từng dòng chảy này được đầu tư tập trung thực hiện dẫn tới các hoạt động này ngày một chuyên môn hoá cao và sự phân công lao động cũng vì thế mà tăng cao. Vì thế doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu sử dụng những trung gian thương mại hoặc tổ chức bổ trợ khác để thực hiện công việc phân phối là vì họ thực hiện các chức năng phân phối hiệu quả hơn.
- DVPP vận hành theo mô hình chuỗi gồm nhiều cấp, tạo thành kênh phân phối.
Điểm đầu của một kênh phân phối luôn là những nhà sản xuất ra sản phẩm và điểm cuối của kênh phân phối đó là những người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình hàng hoá từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng có thể đi qua các kênh phân phối dài, ngắn khác nhau; trực tiếp hay gián tiếp. Cấp kênh phân phối là một trung gian bất kỳ thực hiện một công việc nào đó nhằm đưa hàng hoá và quyền sở hữu hàng hoá đến gần người mua cuối cùng. Một công ty phân phối có thể đảm nhận một hoặc tất cả các cấp trong chuỗi phân phối, tuỳ thuộc vào tiềm năng tài chính hoặc mục tiêu kinh doanh của công ty (Xem hình 1).
Hình 1. Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới người tiêu dùng cuối cùng
Nhà sản xuất có thể đưa hàng hoá của mình trực tiếp đến người tiêu dùng, không qua trung gian nào cả thông qua việc bán sản phẩm của mình tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty hay qua điện thoại…hoặc bằng cách gián tiếp là có thể thông qua các trung gian như đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ để đưa tới tay người tiêu dùng sản phẩm của mình.
- Cơ cấu ngành của dịch vụ phân phối Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Cơ cấu ngành phân phối thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển, sự khác biệt đặc trưng về cấu trúc và các chính sách của mỗi quốc gia. Song chúng ta vẫn có thể khái quát hoá một số vấn đề chung về lĩnh vực phân phối. Thứ nhất, tại hầu hết các nước, phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ chỉ có một cửa hàng và có quyền sở hữu duy nhất. Thứ hai, một phần lớn lĩnh vực này, cả về số doanh nghiệp lẫn doanh số bán lẻ, liên quan đến bán lẻ thực phẩm. Các mặt hàng quan trọng khác là vải sợi, quần áo và giày dép, các thiết bị gia dụng và phụ tùng ô tô. Thứ ba, đặc trưng của lĩnh vực này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn, lương thấp và sử dụng nhiều lao động có trình độ thấp. Tuy nhiên, với sự thay đổi về thị hiếu của người tiêu dùng và thay đổi công nghệ thể hiện ở các sản phẩm ngày càng phức tạp, tinh vi hơn đã tạo nên sự chuyển biến trong lĩnh vực phân phối theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, và do vậy, cũng làm tăng nhu cầu đối với lao động có trình độ cao trong ngành này.
Hiện nay đang có những thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực phân phối, đặc biệt là tại các nước phát triển. Sự thay đổi này tác động đến cơ cấu của từng phân ngành trong lĩnh vực phân phối cũng như tầm quan trọng tương đối của mỗi phân ngành này. Trước hết, lĩnh vực phân phối ngày càng trở nên tập trung hơn. Điều này thể hiện cả ở việc xuất hiện một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực này và việc mối quan hệ giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn và những người bán lẻ ngày càng gần gũi hơn, đặc biệt thông qua việc tạo ra các mạng lưới phân phối hàng hoá. Cụ thể như trong lĩnh vực bán lẻ, những cửa hàng nhỏ truyền thống bán những sản phẩm thiết yếu đã được thay thế bằng hệ thống các cửa hàng bách hoá lớn hơn. Thêm vào đó, quy mô trung bình của các cửa hàng cũng đã tăng nhiều cả về mặt doanh thu và số nhân công bán hàng, và mật độ các cửa hàng bán lẻ cũng giảm xuống. Các cửa hàng nhỏ đó không biến mất mà nhập vào thành một phần trong dây chuyền lớn các cửa hàng bán lẻ hoặc hoạt động theo thoả thuận nhượng quyền của các công ty lớn, hướng tới các phân đoạn chuyên biệt hơn trên thị trường. Thứ hai là vị thế của các nhà bán buôn truyền thống nhìn chung đã suy giảm trên thị trường, với ảnh hưởng mạnh nhất đối với phân đoạn thị trường của nhóm “hàng rẻ tiền mau hỏng”. Tuy nhiên, một vài loại hình bán buôn vẫn rất mạnh, ví dụ những hãng bán buôn chuyên cấp hàng cho những đối tượng sử dụng đặc thù như trường học, bệnh viện, những hãng cung cấp trọn gói hàng hoá trong những lĩnh vực như hàng tiêu dùng có giá trị cao và những hãng bán buôn trong những lĩnh vực vật liệu truyền thống và các sản phẩm có số lượng lớn.
- DVPP chịu sự tác động mạnh mẽ của thương mại điện tử
Sự phát triển của thương mại điện tử có thể mang lại sự thay đổi toàn diện trong lĩnh vực phân phối. Theo định nghĩa hẹp nhất phạm vi của thương mại điện tử chỉ bao gồm các sản phẩm mà có thể được giao qua mạng điện tử. Trong khi đó, định nghĩa rộng hơn lại gồm cả những sản phẩm được quảng cáo, đặt mua và thanh toán qua mạng điện tử. Thực tế có thể nhận thấy là các cửa hàng trên mạng bán hoa, sách báo, ôtô, băng đĩa, máy tính hoặc phần mềm máy tính và thậm chí cả hàng tạp hoá cũng đã và đang xâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống bán lẻ truyền thống thông qua việc chuyên kinh doanh một số mặt hàng hoặc nhóm sản phẩm nhất định. Điều này có được là do những ưu thế của các cửa hàng trên mạng như giảm chi phí tìm kiếm, giao dịch và phí lưu kho, đa dạng hoá khả năng lựa chọn mặt hàng, doanh thu cao, nguồn cung cấp hàng rẻ hơn và thông tin thị trường chính xác hơn. Ví dụ, việc mua sách và hàng hoá khác qua mạng cho phép dễ dàng tìm kiếm nhóm mặt hàng cần mua và người bán có thể quảng cáo và đưa thông tin tới đúng khách hàng dựa trên những sở thích của họ. Nhờ đó, những dự báo về việc bán các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng qua mạng rất lạc quan.
II: Dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nước thành viên. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
1. Dịch vụ phân phối trong WTO
Theo WTO, trong Danh mục Phân loại ngành dịch vụ, tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 (hay W/120) được xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn dựa trên Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc (CPC), thì DVPP được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising) (Xem phụ lục 1).
- Dịch vụ đại lý hoa hồng
Dịch vụ đại lý hoa hồng là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (hoa hồng).
- Bên giao đại lý, bên đại lý: o Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ.
- Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.
Cách hình thức đại lý:
- Đại lý bao tiêu: Là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.
- Đại lý độc quyền: Là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.
- Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ: Là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý.
- Các hình thức đại lý khác mà các bên thoả thuận – Quyền sở hữu trong đại lý thương mại:
Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lý.
- Hoa hồng đại lý: Thù lao đại lý có thể được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá hoặc cũng có thể tuỳ theo thoả thuận khác của hai bên. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ.
- Trường hợp bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý.
- Dịch vụ bán buôn
Theo quy định tại Nghị định số 23/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì bán buôn là hoạt động bán hàng hoá cho thương nhân, tổ chức khác; không bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
Dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng cho những người bán lẻ, những doanh nghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ chức hoặc các đơn vị chuyên môn, hoặc cho những người bán buôn khác.
Dịch vụ bán buôn có đặc điểm là bán hàng với số lượng lớn, và thường là nguyên hộp, nguyên đai, nguyên kiện cho bên mua với giá thấp hơn giá bán lẻ. Giá bán buôn thường được quy định theo kiểu bậc thang theo khối lượng hàng hoá bán ra nhằm khuyến khích khối lượng đặt hàng của đại lý mà vẫn đảm bảo sự cân bằng và công bằng về giá trong hệ thống thương mại.
Các đơn vị kinh doanh dịch vụ bán buôn thường là các doanh nghiệp và cá nhân có nguồn vốn lớn, quan hệ rộng trong sản xuất kinh doanh. Các nhà bán buôn thường áp dụng hệ thống quản lý hiện đại với những chính sách bán hàng và marketing chuyên nghiệp (cấp thẻ cho người mua hàng, in catalogue quảng cáo hàng bán…) và đặc biệt giá bán buôn luôn mang tính cạnh tranh cao.
Các dịch vụ bán buôn theo danh mục CPC của Liên Hợp Quốc gồm CPC 622, 61111, 6113, 6121.
1.3. Dịch vụ bán lẻ
Cũng theo định nghĩa của Nghị định 23/2007/NĐ-CP thì bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng. Việc kinh doanh bán lẻ có thể diễn ra trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng hoặc có thể qua rất nhiều khâu trung gian thương mại khác nhau. Dịch vụ bán lẻ bao gồm hoạt động bán hàng tại những địa điểm nhỏ, cố định như cửa hàng hay kiốt, hoặc cũng có thể thông qua đường bưu điện với số lượng nhỏ và người mua là người tiêu dùng trực tiếp. Dịch vụ bán lẻ có thể gồm cả những dịch vụ phụ trợ như giao hàng. Trong thương mại, người bán lẻ mua hàng hoá với số lượng lớn trực tiếp từ nhà sản xuất, thông qua người nhập khẩu hoặc người bán buôn và bán cho người tiêu dùng với số lượng nhỏ hơn. Người bán lẻ giữ vai trò cuối cùng trong chuỗi cung ứng và có vai trò rất quan trọng trong chất lượng phân phối của các công ty vì họ là những người gần gũi với người tiêu dùng cuối cùng nhất.
Những doanh nghiệp/người bán lẻ bán hàng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình.
Danh mục CPC xác định rằng “dịch vụ chính do các nhà bán buôn và bán lẻ thực hiện là bán lại hàng hoá, kèm theo hàng loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan khác như: bảo quản lưu kho hàng hoá; lắp ráp, sắp xếp và phân loại đối với hàng hoá khối lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hoá khối lượng nhỏ, dịch vụ giao hàng, dịch vụ bảo quản lạnh, các dịch vụ khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện, và các dịch vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe”. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
1.4. Nhượng quyền thương mại
Dịch vụ nhượng quyền thương mại mang mã số CPC 8929 trong danh mục CPC.
Theo Điều 284, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì Nhượng quyền thương mại được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hàng việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; o Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Về hình thức của nhượng quyền thương mại có thể được phân loại theo các căn cứ khác nhau.
- Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại gồm có các hình thức sau:
Nhượng quyền sản xuất (Processing Franchise): Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất, cung ứng ra thị trường các hàng hoá mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền và một số khía cạnh như hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi.
Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (Service Franchise): Là loại hình nhượng quyền trong lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như sửa chữa, bảo dưỡng ôtô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng…Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một hoặc một số mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng. Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền.
Nhượng quyền phân phối: Trong hình thức nhượng quyền này, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối thông thường tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, xét về cơ bản có các hình thức:
Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit Franchising): Hình thức này được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền.
Nhượng quyền mở rộng (Franchise diveloper agreement): Thực chất là bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng và điều hành một số lượng một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thoả thuận phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho một bên thứ ba.
Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ – Master Franchise): Là nhượng quyền thương mại mang tính quốc tế. Nghĩa là bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau.
2. Các phương thức mở cửa dịch vụ phân phối theo quy định của WTO và nghĩa vụ của các nước thành viên
2.1. Các phương thức mở cửa dịch vụ phân phối theo WTO/GATS
Theo quy định của Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS), các nước muốn gia nhập WTO thì phải cam kết mở cửa dịch vụ phân phối theo bốn phương thức cung cấp dịch vụ. Bốn phương thức này được xác định trên cơ sở xuất xứ của người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ đó, cũng như mức độ và hình thức hiện diện trên lãnh thổ của các bên vào thời điểm dịch vụ được chuyển giao.
Trong biểu cam kết, các phương thức cung cấp dịch vụ được đánh theo số thứ tự:
- Phương thức 1 – “Cung cấp qua biên giới” – Cross-border Supply.
- Phương thức 2 – “Tiêu dùng ở nước ngoài” – Consumption Abroad.
- Phương thức 3 – “Hiện diện thương mại” – Commercial Presence.
- Phương thức 4 – “Hiện diện của thể nhân”- Movement of natural person.
Phương thức 1: Cung cấp qua biên giới – Là phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một nước thành viên này sang lãnh thổ của một nước thành viên khác. Trong phương thức này thì chỉ có bản thân dịch vụ di chuyển qua biên giới mà không có sự di chuyển của con người. Có thể kể đến ví dụ về dịch vụ phân phối G7 của Việt Nam được cung cấp sang Nhật Bản thông qua phương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại. Nhà cung cấp dịch vụ không thiết lập bất kỳ một hiện diện nào trên lãnh thổ nước thành viên tiêu dùng dịch vụ. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Phương thức 2: Tiêu dùng ở nước ngoài – Là phương thức theo đó người tiêu dùng của một nước thành viên di chuyển sang lãnh thổ một nước thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ. Về bản chất, dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng trên lãnh thổ nước thành viên không phải là nơi người tiêu dùng đó cư trú. Ví dụ điển hình về phương thức này là người tiêu dùng Việt Nam di chuyển sang một nước thành viên khác của WTO là Trung Quốc để tiêu dùng dịch vụ phân phối (trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ ở Trung Quốc), hoặc trường hợp tài sản của người tiêu dùng dịch vụ được di chuyển qua biên giới để sử dụng các dịch vụ nước ngoài như tàu được đem đi sửa chữa ở một nước khác.
Phương thức 3: Hiện diện thương mại – Là phương thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một nước thành viên di chuyển qua biên giới để thành lập hiện diện thương mại của mình ở nước ngoài nhằm tiến hành cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện này. Sự hiện diện như vậy có thể dưới các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện…(ví dụ ngân hàng Hoa Kỳ thành lập chi nhánh để kinh doanh tại Việt Nam, doanh nghiệp phân phối EU thiết lập siêu thị tại Việt Nam để phân phối hàng hoá…)
Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân – Phương thức cung cấp dịch vụ này chỉ áp dụng cho thể nhân, khi họ có mặt tạm thời tại thị trường. Ví dụ như sự có mặt của bản thân các nhà cung cấp dịch vụ hay người làm công của (ví dụ, các cá nhân môi giới Mỹ về kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại sang Việt Nam để hoạt động).
2.2. Nghĩa vụ của các nước thành viên theo quy định của GATS.
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) là hiệp định đa phương đầu tiên trong lĩnh vực thương mại và đầu tư dịch vụ. Hiệp định này tạo khuôn khổ để tiến hành hoạt động thương mại dịch vụ và khởi xướng tiến trình tự do hoá. Mục tiêu của GATS là tạo ra một hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế đáng tin cậy; đảm bảo đối xử bình đẳng và công bằng đối với tất cả các bên tham gia; thúc đẩy các hoạt động kinh tế thông qua việc cam kết chính sách và thúc đẩy thương mại và phát triển thông qua tự do hoá dần dần. Theo Điều 1 GATS, hiệp định áp dụng cho tất cả các dịch vụ được tiến hành thương mại.
Mỗi nước thành viên ít nhất cũng phải đưa ra cam kết đảm bảo mở cửa một số ngành trong thị trường dịch vụ nước mình. Các cam kết này được mô tả trong “Danh mục cam kết cụ thể” của từng nước đính kèm GATS. Bản thân GATS đề ra những quy tắc mà chính phủ phải tuân thủ khi áp đặt các quy định có ảnh hưởng theo bất kỳ cách nào đến thương mại và sự hiện diện của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Khi tham gia WTO, trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, các nước thành viên phải tuân thủ hai nhóm nghĩa vụ là các nghĩa vụ chung (áp dụng bắt buộc và trực tiếp cho tất cả các thành viên cũng như tất cả các ngành dịch vụ) và các cam kết cụ thể đối với lĩnh vực phân phối (mỗi nước thành viên có các cam kết riêng về từng ngành dịch vụ thể hiện trong Biểu cam kết của nước đó). Biểu cam kết bao gồm cam kết nền (còn gọi là cam kết chung. Là các cam kết áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ nêu trong Biểu cam kết, thường là các điều kiện về phương thức cung cấp dịch vụ như hiện diện thương mại hay hiện diện của thể nhân) và cam kết riêng cho từng ngành dịch vụ (Là các cam kết cụ thể trong từng ngành dịch vụ, bao gồm các điều kiện tiếp cận thị trường cụ thể trong từng ngành dịch vụ).
GATS quy định một tập hợp các nghĩa vụ (nguyên tắc) chung mà tất cả các quốc gia thành viên phải tuân thủ. Bao gồm: Nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc, Nguyên tắc minh bạch hoá.
Nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN)
Đây là nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế, là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 GATS và các nước thành viên cần phải tuân thủ nghiêm túc. Nguyên tắc này yêu cầu một nước thành viên phải dành cho tất cả các nước thành viên WTO còn lại sự đối xử ưu đãi nhất đã dành cho bất kỳ nước thành viên WTO nào là đối tác thương mại của mình ngay lập tức và vô điều kiện. Sự phân biệt đối xử với các nước thứ ba bị cấm hoàn toàn. Trong GATS, áp dụng với lĩnh vực phân phối nguyên tắc này được quy định: “Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ phải dành cho dịch vụ phân phối và các nhà cung cấp dịch vụ phân phối của bất kỳ nước thành viên nào sự đối xử không kém phần ưu đãi hơn mức dành cho dịch vụ phân phối và các nhà cung cấp dịch vụ phân phối tương tự của một nước thành viên bất kỳ một cách ngay lập tức và vô điều kiện”.
Nghĩa vụ này được áp dụng đối với tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ, ở tất cả các ngành, cho dù đã có cam kết cụ thể hay chưa.
Tuy nhiên trong quá trình thực thi, yêu cầu về MFN đối với các thành viên thường không thể được đáp ứng ngay khi chính thức gia nhập, tức là chưa thể mở cửa các dịch vụ đã cam kết ở mức ưu đãi tối đa cho mọi thành viên WTO ngay lập tức. Nguyên do là vào lúc gia nhập, các nước thành viên đã ký kết các hiệp định song phương hoặc hiệp định mang tính khu vực dành cho một số nước nhất định những ưu đãi đặc biệt mà không thể áp dụng rộng rãi hoặc không thể áp dụng rộng rãi ngay tức thì cho mọi thành viên WTO. Bởi nếu áp dụng ngay thì quốc gia đó sẽ đứng trước nguy cơ mất kiểm soát thị trường đối với lĩnh vực dịch vụ đó, các doanh nghiệp trong nước không thể thích nghi kịp. Xuất phát từ thực tế đó, GATS có điều khoản về khả năng miễn trừ trong việc áp dụng nghĩa vụ MFN. Điều khoản này đã cho phép các thành viên có sự linh hoạt trong phát triển quan hệ thương mại song phương, đồng thời vẫn bảo toàn được nguyên tắc chung là không được phân biệt đối xử giữa những người nước ngoài. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Phụ lục về Miễn trừ MFN của GATS chỉ cho các thành viên một cơ hội duy nhất để đưa ra các miễn trừ đối với nghĩa vụ MFN trước khi GATS có hiệu lực. Cách thức áp dụng ngoại lệ này được mô tả trong Danh mục Miễn trừ MFN của từng nước, nêu rõ những nước nào được hưởng chế độ đối xử ưu đãi hơn và chỉ rõ thời hạn ưu đãi. Về nguyên tắc, một ngoại lệ sẽ không kéo dài quá 10 năm, và sẽ phụ thuộc vào đàm phán trong tương lai. Cứ 5 năm một lần, các nước sẽ rà soát lại những điều kiện tạo nên sự cần thiết phải đưa ra ngoại lệ đó. Ngoại lệ đó phải được từ ¾ tổng số thành viên trở lên thông qua, đồng thời, cơ sở pháp lý cho sự đối xử phân biệt này sẽ được xem xét lại hàng năm theo thủ tục bãi miễn. Một ngoại lệ MFN sẽ không cho phép một nước dành cho những nước nhất định sự đối xử kém ưu đãi hơn mức quy định trong Danh mục cam kết của nước đó, mà chỉ cho phép nước này dành đối xử ưu đãi hơn mức quy định trong Danh mục cam kết cho một số thành viên hay quốc gia nêu trong ngoại lệ.
Có 3 loại ngoại lệ MFN. Trước hết, Điều II.2 GATS cho phép các thành viên duy trì một biện pháp trái với nguyên tắc MFN với điều kiện là biện pháp đó được liệt kê trong danh sách các ngoại lệ MFN của mình và biện pháp đó phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt nêu tại Phụ lục của GATS về các ngoại lệ tại Điều II.
Theo Điều II.3 GATS, cơ chế thương mại đường biên giữa các nước WTO giáp nhau cũng là ngoại lệ MFN. Theo quy định này, một Thành viên WTO được phép dành các ưu đãi thương mại cho các nước láng giềng để tạo điều kiện thúc đẩy các trao đổi dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng nội địa giữa các vùng biên giới giáp nhau.
Ngoại lệ MFN thứ 3 (không phải liệt kê) là ngoại lệ được quy định tại Điều V GATS. Điều V đưa ra các quy định về các hiệp định hội nhập kinh tế, theo đó chỉ dành các ưu đãi thương mại cho những thành viên của các hiệp định đó.
Chẳng hạn, trong danh mục miễn trừ đối xử tối huệ quốc của Việt Nam khi gia nhập WTO có quy định, tất cả các ngành hiện diện thương mại trong đó có ngành phân phối được dành các biện pháp đối xử ưu đãi theo các Hiệp định đầu tư song phương cho tất cả các nước đã ký hiệp định đầu tư song phương với Việt Nam với thời gian áp dụng vô thời hạn nhằm thúc đẩy đầu tư vào Việt Nam.
Nghĩa vụ minh bạch hoá Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Minh bạch là nguyên tắc cốt yếu để tiến tới tự do hoá đa phương. Nguyên tắc này giúp các thành viên và các doanh nghiệp xác định được những hạn chế và bảo hộ. Các nước thành viên phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản của nguyên tắc này là xuất bản và thông báo nhanh chóng các thay đổi pháp luật, duy trì các điểm hỏi đáp và tiến hành rà soát pháp lý một cách công bằng trong lĩnh vực dịch vụ phân phối. Tất cả những biện pháp được áp dụng rộng rãi có liên quan hay ảnh hưởng đến việc thực hiện GATS phải được công bố nhanh chóng và chậm nhất là vào thời điểm các biện pháp này có hiệu lực. Ngay cả đối với những lĩnh vực của chính phủ thuộc các Hiệp định quốc tế có liên quan hay tác động đến thương mại dịch vụ thì chính phủ của nước thành viên đó vẫn phải có nghĩa vụ thông báo. Các thành viên có thể tiến hành công bố các quy định này ở bất kỳ địa điểm nào, bằng bất kỳ biện pháp nào, và được áp dụng cho cả những biện pháp do chính quyền cấp địa phương hay cấp vùng đưa ra.
Ngoài nghĩa vụ công bố tất cả các biện pháp liên quan, các thành viên còn có nghĩa vụ thông báo nhanh chóng, ít nhất là mỗi năm một lần cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ về các luật lệ, quy định hay hướng dẫn hành chính mới (hay các thay đổi) trong ngành dịch vụ phân phối và bốn tiểu ngành đã có cam kết cụ thể. Các chính phủ cũng sẽ phải cam kết “nhanh chóng đáp ứng tất cả đòi hỏi về thông tin cụ thể” của các chính phủ khác về những biện pháp trên và sẽ thành lập điểm hỏi đáp.
Cam kết riêng của mỗi nước về thương mại dịch vụ thường bao gồm cam kết về hai vấn đề sau: Một là mở cửa thị trường cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và hai là mức độ đối xử quốc gia đối với dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, các nghĩa vụ trong GATS liên quan tới quy định trong nước và một số điều kiện khác.
Đãi ngộ quốc gia (NT):
Đối với lĩnh vực phân phối, nguyên tắc này quy định rằng một khi các công ty được phép xâm nhập thị trường phân phối theo những điều kiện quy định thì họ sẽ không bị phân biệt đối xử tại thị trường nội địa đó.
Trong phạm vi một thị trường, Đãi ngộ quốc gia trong GATS chủ yếu hàm chứa ý nghĩa không phân biệt đối xử giữa người nước ngoài và trong nước. Hình thức đãi ngộ quốc gia trong GATS bao trùm cả vấn đề người cung cấp dịch vụ phân phối. Nguyên tắc này chỉ ra rằng, mỗi nước thành viên sẽ dành cho dịch vụ phân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối của bất kỳ một nước thành viên nào khác sự đối xử trong tất cả các biện pháp có ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ phân phối đó không kém ưu đãi hơn mức dành cho dịch vụ phân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối ở nước mình. Có 3 mức độ xem xét, kiểm tra để đảm bảo không có sự phân biệt đối xử: Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Các bên thừa nhận rằng, không thể dành cho người nước ngoài sự đối xử giống hệt như mức dành cho công dân nước đó, nhưng điều này phải là thông lệ.
- Các bên thừa nhận rằng ngay cả trong những trường hợp nhà cung cấp dịch vụ phân phối nước ngoài được hưởng sự đối xử pháp lý giống như mức dành cho những nhà cung cấp dịch vụ phân phối trong nước, cách đối xử hợp pháp này trên thực tế có thể gây bất lợi cho nhà cung cấp nước ngoài. Do vậy, “sự đối xử giống hệt về mặt hình thức hay sự đối xử khác biệt về mặt hình thức” đều được chấp nhận với điều kiện là không tạo ra sự đối xử “kém thuận lợi hơn”.
- Nếu một cách đối xử bị nghi ngờ là không đáp ứng tiêu chuẩn “không kém ưu đãi hơn”, các bên sẽ tiến hành kiểm tra, và sự đối xử “sẽ bị coi là kém ưu đãi hơn nếu nó làm thay đổi các điều kiện cạnh tranh theo hướng có lợi cho dịch vụ phân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối của nước thành viên đó so với dịch vụ phân phối và nhà cung cấp dịch vụ phân phối tương tự của bất kỳ nước thành viên nào khác”.
Nghĩa vụ không phân biệt đối xử đối với dịch vụ hay nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài theo GATS không được hiểu là, yêu cầu một thành viên phải bù đắp cho “bất kỳ bất lợi nào trong cạnh tranh nảy sinh từ đặc tính nước ngoài của dịch vụ hay nhà cung cấp dịch vụ có liên quan”.(quy định này đề cập tới những tình huống mà công dân một nước không thích mua dịch vụ nước ngoài vì những lý do thuộc tâm lý cá nhân, văn hoá, chính trị, tôn giáo hay các lý do khác. Các chính phủ phải mô tả tất cả các điều kiện và tiêu chuẩn áp dụng đãi ngộ quốc gia trong danh mục cam kết của mình).
Tiếp cận thị trường:
Nguyên tắc này cho phép các công ty nước ngoài cung cấp các dịch vụ phân phối qua biên giới lãnh thổ của một nước khác mà không cần lập cơ sở ở nước đó, họ cũng có thể lập hiện diện thương mại và gửi các cán bộ chủ chốt đến các cơ sở tại nước ngoài của mình, và cũng có thể cung cấp dịch vụ ở nước mình cho những khách hàng không phải là công dân nước mình mà đến từ các nước khác.
Điều khoản tiếp cận thị trường đề cập tới 4 phương thức cung cấp, và quy định rằng một thành viên “sẽ dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một nước thành viên nào khác sự đối xử không kém ưu đãi hơn mức đã quy định trong các điều khoản, điều kiện và hạn chế đã nhất trí và ghi rõ trong danh mục cam kết của mình”. Không giống như Hiệp định GATT đối với hàng hoá, GATS không đưa ra nghĩa vụ chung về việc dành quyền tiếp cận thị trường cho bất kỳ ai theo cả bốn phương thức cung cấp. Việc tiếp cận thị trường theo một cách thức nào đó sẽ tuỳ thuộc vào các cam kết cụ thể của một nước mô tả trong cột “tiếp cận thị trường” trong danh mục cam kết của nước đó. Điều khoản tiếp cận thị trường liệt kê một danh sách đầy đủ và ngắn gọn các hạn chế như vậy, và tất cả các biện pháp mà các thành viên áp dụng nằm trong giới hạn đã xác định đó. Những hạn chế số lượng và pháp lý bao gồm các hạn chế về: Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
- Số lượng người cung cấp dịch vụ,
- Tổng giá trị của giao dịch dịch vụ hay tài sản
- Tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ đầu ra,
- Hạn chế về số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể
- Phần trăm góp vốn của nước ngoài.
Và bất kỳ yêu cầu về những hình thức cụ thể về chủ thể pháp lý như giới hạn sự hiện diện chỉ ở mức độ chi nhánh hay liên doanh. Những biện pháp này không nhất thiết phải mang tính phân biệt đối xử về bản chất mới là trái với điều khoản về tiếp cận thị trường. Thậm chí ngay cả nếu chúng được áp dụng với các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, những biện pháp này vẫn có tác dụng quản lý sự hiện diện của một nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Bốn biện pháp hạn chế số lượng đầu tiên có thể diễn ra dưới hình thức kiểm tra nhu cầu kinh tế. Vì GATS không quy định đưa ra định nghĩa về việc kiểm tra nhu cầu kinh tế hay chỉ ra những tiêu chuẩn để xem xét, việc áp dụng các biện pháp này có thể mang tính hạn chế và tuỳ tiện, dẫn đến việc tiếp cận thị trường trở nên khó dự đoán. Một nước sẽ được coi là cho phép tiếp cận thị trường hoàn toàn nếu như không đàm phán quyền được áp dụng bất kỳ hạn chế nào nêu trên. Lúc đó, nước này có thể ghi “không” vào cột tiếp cận thị trường trong danh mục cam kết của mình, tức là không có hạn chế thị trường nào trong ngành dịch vụ đó. Nếu một hình thức tiếp cận thị trường cụ thể được một nước nêu trong danh mục cam kết của mình thì nó phải được áp dụng trên cơ sở MFN.
Các nghĩa vụ trong của các nước thành viên trong GATS liên quan tới quy định trong nước: Các thành viên GATS có quyền ban hành các quy định mới về cung cấp dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ của mình để thực hiện các mục tiêu chính sách quốc gia. Tuy nhiên, trong những ngành được cam kết, theo Điều VI.1 GATS, các biện pháp chung phải được quản lý “một cách hợp lý, khách quan và công bằng”. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
Tính cân xứng của quy định trong nước: Rất nhiều dịch vụ được các chính phủ điều tiết để đảm bảo việc cung cấp diễn ra một cách có trật tự với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng. GATS thừa nhận chủ quyền của các chính phủ thành viên trong việc điều tiết các dịch vụ trong nước, do vậy, GATS chỉ chú trọng vào xây dựng quy định trong các lĩnh vực mà quy tắc trong nước ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ quốc tế. Thứ nhất, GATS đặt mục tiêu loại trừ sự phân biệt đối xử giữa người nước ngoài với nhau, giữa người nước ngoài với công dân trong nước. Thứ hai, GATS đưa ra mục tiêu tăng cường tính công khai (minh bạch). Điều khoản về quy định trong nước đưa ra các quy tắc đảm bảo các biện pháp trong nước được xây dựng một cách hợp lý, khách quan và công bằng. Những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải được quyền kháng nghị lại các quyết định hành chính và phải được thông báo nếu như đơn xin cấp phép của mình bị từ chối. Điều VI.6.1(a) yêu cầu các thành viên đã đưa ra các cam kết đối với các dịch vụ chuyên môn phải xây dựng các thủ tục để xác định thẩm quyền của những người cung cấp dịch vụ chuyên môn của các thành viên khác. Theo Điều VI.2 GATS, các thành viên cam kết cung cấp các cơ chế trong nước (“toà án tư pháp, trọng tài hoặc toà án hành chính và thủ tục”) trong trường hợp các nhà cung cấp dịch vụ cá nhân yêu cầu giải quyết các vấn đề pháp lý. Theo yêu cầu của một nhà cung cấp dịch vụ bị ảnh hưởng, các cơ chế này cần phải đảm bảo “xem xét nhanh chóng và đưa ra biện pháp khắc phục đối với các quyết định hành chính có tác động đến thương mại dịch vụ”. Điều VI.3 yêu cầu các thành viên WTO phải đảm bảo rằng các quyết định hành chính phải được đưa ra trong một khoảng thời gian hợp lý. Điều VI.4 trao thẩm quyền đàm phán đối với bất kỳ nguyên tắc cần thiết nào, có tính đến những cân nhắc nêu trên. Các cuộc đàm phán nhằm ngăn cản những quy định trong nước tạo nên những rào cản không cần thiết đối với thương mại. Điều VI.5 yêu cầu đảm bảo rằng các cam kết cụ thể không bị vô hiệu hoặc giảm bớt mức độ cam kết bởi các yêu cầu về cấp phép và chuyên môn và các tiêu chuẩn kỹ thuật. Các yêu cầu này phải khách quan và minh bạch và không được phiền toái hơn mức cần thiết. Phạm vi áp dụng của những quy định này hạn chế, tuy nhiên nhằm bảo vệ những mong muốn hợp lý tại thời điểm cam kết. Khóa luận: Dịch vụ phân phối của Việt Nam khi gia nhập WTO.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của VN

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
