Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID Public – CN Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại đã hình thành và tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống ngân hàng đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Ngân hàng là một trong những mắc xích quan trọng cấu thành nên hoạt động nhịp nhàng của nền kinh tế. Đối với bản thân các NHTM thì tín dụng là một mảng hoạt động lớn và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Tầm quan trọng của hoạt động tín dụng được thể hiện trước hết ở chỗ nó mang lại nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu của các NHTM. Tuy nhiên, tín dụng cũng là hoạt động có rủi ro cao nhất của ngân hàng. Những rủi ro trong hoạt động tín dụng không những khiến cho hoạt động của NHTM kém hiệu quả mà còn có thể gây ra những tổn thất hết sức to lớn và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực to lớn đối với cả nền kinh tế.
Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng trong nhưng năm qua rất chú trọng tới hoạt động tín dụng và từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh để đáp ứng nhu cầu phát triền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn còn chưa tương xứng với tiềm lực hoạt động của Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng và bộc lộ những hạn chế nhất định như tiềm ẩn nhiều rủi ro, nợ xấu có xu hướng tăng, thị phần nhỏ hẹp, cơ cấu nợ còn chưa hợp lý.
Qua quá trình tìm hiểu, học tập, nghiên cứu và đặc biệt trong quá trình thực tập tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn và các anh chị cán bộ nhân viên trong ngân hàng, em xin nhận viết đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng”.
Khóa luận bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng.
Là một sinh viên mới được trang bị kiến thức căn bản, thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các cán bộ công nhân viên Ngân hàng LD VID Public và bất cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giao quyền sử dụng tiền cho họ với những điều kiện thoả thuận nhất định (thời gian, lãi suất, điều kiện đảm bảo,số lượng) theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2022/QH12 (2022) thì “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” và “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Trong các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan của Chính phủ. Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống của nền kinh tế. Đối với hầu hết các NHTM, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. Như vậy, tín dụng ngân hàng có nhiều hình thức và cho vay là hình thức chủ yếu và chiếm phần lớn cấp tín dụng của NHTM. Trong phạm vi của khóa luận này, khi đề cập tới tín dụng ngân hàng chỉ giới hạn phạm vi là cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.2 Đặc trưng của hoạt động tín dụng ngân hàng
- Bản chất của tín dụng ngân hàng là quan hệ vay, mượn lẫn nhau trên cơ sở hoàn trả và nó có các đặc trưng sau đây:
Tài sản trong quan hệ giao dịch tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trước những năm 70 của thế kỷ 20 hoạt động tín dụng của NHTM chỉ có hình thức cho vay bằng tiền. Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ cho vay và tín dụng được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 70 của thế kỷ 20 trở lại đây các hình thức cho thuê thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu,… Đã được các ngân hàng và các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là các loại hình tín dụng mới.
Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, bên cho vay khi chuyển tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn gốc và lãi. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế có không ít cán bộ và nhân viên tín dụng khi thẩm định khách hàng, xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng mà chỉ chú trọng đến các tài sản bảo đảm, vì vậy đã gặp khó khăn khi thu hồi nợ vay và ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, ngân hàng sẽ chỉ phát vay cho bên vay vốn trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện của bên vay. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ thực chất là lệnh phiếu trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Giá trị lúc hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm cả phần lãi ngoài vốn gốc cho ngân hàng.
1.1.3 Chính sách tín dụng Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng. Với tầm quan trọng và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo ra sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.
Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được xem xét và đưa ra trong chính sách tín dụng như: Quy mô, lãi suất, kỳ hạn, đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác. Các nội dung cơ bản của chính sách tín dụng được thể hiện chi tiết qua các chính sách cụ thể: Chính sách khách hàng; Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng; Lãi suất và phí suất tín dụng; Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ; Các khoản bảo đảm; Chính sách đối với các tài sản có vấn đề.
1.1.4 Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một quy trình tín dụng cụ thể, bao gồm nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi.
Trong quy trình tín dụng, bước lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng là khâu căn bản đầu tiên nhưng rất quan trọng, vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra quyết định cho vay.
Tiếp theo là khâu phân tích tín dụng, khâu này sẽ phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay cả gốc và lãi, những rủi ro có thể xảy ra và khả năng kiểm soát các rủi ro đó, tính chân thực của hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp, thái độ trả nợ của khách hàng. Từ các cơ sở đó để ra quyết định cho vay hay không. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Sau khâu quyết định cho vay và ký hợp đồng tín dụng và hoàn thiện các hồ sơ liên quan sẽ là bước giải ngân. Khâu giám sát tín dụng và kiểm tra sau khi phát vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp để có những hành động điều chỉnh hoặc can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu cho chất lượng tín dụng, góp phần cải thiện chất lượng tín dụng.
Thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng là khâu quan trọng có tính quyết định đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động của NHTM do đó ngân hàng phải tích cực trong công tác thu nợ. Việc tích cực đôn đốc, thu nợ và phát hiện kịp thời những điều kiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cùng những biện pháp xử lý phù hợp, đúng lúc, hiệu quả sẽ có tác dụng giảm thiểu các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với chất lượng tín dụng.
1.1.5 Một số hình thức tín dụng ngân hàng
1.1.5.1 Theo thời hạn vay vốn
Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn tối đa là 12 tháng và được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Tín dụng ngắn hạn thường được dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Những khoản cho vay này chủ yếu để đổi mới trang thiết bị, công nghệ, đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô vốn vừa có thời gian thu hồi vốn nhanh. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Tín dụng dài hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn thường được sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư mua sắm tài sản cố định có giá trị cao, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, các dự án lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Việc phân chia các hình thức tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian cho vay liên quan chặt chẽ đến khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, đến mức độ an toàn và khả năng sinh lời của tín dụng.
1.1.5.2 Theo tài sản bảo đảm tiền vay
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: Là cho vay có các tài sản bảo đảm thông qua thế chấp, cầm cố hoặc phải bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng chưa có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm bằng tài sản. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ dự phòng, phòng ngừa rủi ro.
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Là cho vay không có tài sản bảo đảm dưới các hình thức thế chấp, cầm cố tài sản mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. Đối với các khách hàng có uy tín, thường là các khách hàng thường xuyên của ngân hàng, kinh doanh có lãi, tình hình tài chính mạnh, có năng lực quản trị và quản trị có hiệu quả, ít xảy ra tình trạng nợ nần, hoặc món vay có số tiền vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay thì ngân hàng có thể xem xét cấp tín dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng mà không cần có nguồn thu thứ hai dự phòng, bổ sung.
1.1.5.3 Theo phương thức cấp tín dụng
Cho vay từng lần: Trong mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện trình tự và đầy đủ những thủ tục vay vốn cần thiết như chuẩn bị hồ sơ vay vốn ký kết hợp đồng tín dụng và thực hiện các thủ tục liên quan khác. Phương thức này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất không ổn định, kinh doanh theo thời vụ.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Việc cho vay và thu nợ đan xen nhau, không phân định ranh giới, thời điểm cụ thể lúc nào cho vay, lúc nào thu nợ. Phương thức này áp dụng đối với các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn định, vòng quay vốn nhanh và có uy tín trong quan hệ tín dụng với ngân hàng. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Cho vay hợp vốn (cho vay đồng tài trợ): Là một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối để dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do NHNN Việt Nam ban hành và các quy định pháp luật liên quan.
Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
1.1.5.4 Theo mục đích tín dụng
Căn cứ vào mục đích của sử dụng vốn vay của ngân hàng trong từng lĩnh vực của nền kinh tế người ta chia thành:
- Tín dụng bất động sản: Phục vụ cho việc mua những tài sản thực như nhà ở, trung cư, trung tâm mua bán, khu văn phòng,đất đai…
- Tín dụng nông nghiệp: Phục vụ cho các hoạt động nông nghiệp.
- Tín dụng công thương nghiệp: Phục vụ cho việc mua bán hàng hoá, nguyên vật liệu.. phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công thương.
- Tín dụng tiêu dùng cá nhân: Là tín dụng phục vụ cho các hoạt động tiêu dùng cá nhân như mua xe hơi, du lịch…
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Cấp tín dụng cho các khách hàng là các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tài chính trung gian khác…
1.1.5.5 Theo nghiệp vụ tính dụng
Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bảo lãnh: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
Chiết khấu: Là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
1.1.5.6 Theo hợp đồng tiền được sử dụng cấp tín dụng
- Cấp tín dụng bằng đồng nội tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng tiền của nước mình.
- Cấp tín dụng bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ. Ví dụ cho vay bằng USD, GBP,YEN …
1.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Chất lượng tín dụng là một khái niệm không thông dụng, bởi tín dụng bao hàm các hoạt động khác nhau khó đồng nhất và đo lường: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, … Thông thường trong phạm trù đơn giản Chất lượng Tín dụng được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng (hay còn gọi là chất lượng cho vay). Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nói chung người ta thường lấy các chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; Tỷ lệ nợ đã xóa, đã xử lý trên tổng dư nợ; Tỷ lệ và cơ cấu..
Cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn – dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của tổ chức tín dụng; Dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro cao tại thời điểm đó: Bất động sản, cổ phiếu…; Số dư dự thu lãi trên tổng dư nợ; Chi phí dự phòng tín dụng hay số dư dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ; Tỷ trọng cho vay 20 khách hàng lớn nhất.”
Mặt khác, khi đứng ở mỗi góc độ khác nhau ta sẽ có các cách hiểu khác nhau về chất lượng tín dụng của NHTM. Tổng hợp các quan điểm trên và đứng trên góc độ ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh quy mô, mức độ rủi ro và sinh lợi trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng thương mại”.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Để phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM, chúng ta sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau, mỗi chỉ tiêu phản ánh một hoặc một số khía cạnh nhất định của chất lượng tín dụng. Các chỉ tiêu này thường được phân theo nhóm các chỉ tiêu định lượng và nhóm các chỉ tiêu định tính. Tuy vậy, việc đo lường theo các chỉ tiêu định tính khó thực hiện và mang tính chất chủ quan. Do vậy, các chỉ tiêu định lượng chính được sử dụng để phân tích trong đề tài tập trung vào các nội dung sau:
1.2.2.1 Các chỉ tiêu về quy mô tín dụng và phát triển theo quy mô tín dụng
a – Dư nợ tín dụng, doanh số cho vay và doanh số thu nợ
- Doanh số cho vay: Là tổng số tiền ngân hàng đã cho vay đối với khách hàng trong một thời kỳ.
- Doanh số thu nợ: Là tổng số tiền gốc vay ngân hàng thu được từ khách hàng tín dụng trong một thời kỳ.
- Dư nợ tín dụng: Phản ánh số tiền thực tế mà khách hàng đang còn vay ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Thông thường, đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh quy mô tín dụng của NHTM.
Khi NHTM tăng dư nợ tín dụng tức là doanh số cho vay trong kỳ lớn hơn doanh số thu nợ trong kỳ, đồng thời NHTM vẫn đảm bảo được thu nợ đúng hạn hoặc duy trì được tỷ lệ thu hồi nợ đúng hạn ở mức chấp nhận được thì khi đó chúng ta có thể khẳng định rằng quy mô tín dụng của ngân hàng đang tăng trưởng tốt, đang đảm bảo được công tác thu hồi nợ tốt.
Tuy nhiên, trong trường hợp dư nợ tín dụng tăng, doanh số cho vay không đổi và doanh số thu nợ giảm do có nhiều nợ quá hạn phát sinh trong kỳ thì việc tăng quy mô dư nợ tín dụng như vậy lại là điều thực sự không tốt của các NHTM. Tương tự n dư nợ tín dụng của một NHTM có thể giảm so với đầu kỳ do trong kỳ NHTM đó đã rất nỗ lực để thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu thì việc giảm quy mô dư nợ tín dụng như vậy lại là một thành công của NHTM đó.
Vì vậy, khi đánh giá các chỉ tiêu dư nợ tín dụng, doanh số cho vay và doanh số thu nợ, chúng ta cần phải căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội, căn cứ vào thực trạng hoạt động cho vay của NHTM ở một giai đoạn cụ thể và kết hợp các chỉ tiêu này để có các đánh giá, kết luận đầy đủ, chính xác hơn. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng: Là tốc độ tăng trưởng dư nợ của ngân hàng trong năm (i) so với dư nợ của ngân hàng trong năm (i-1). Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ cho vay là nhanh hay chậm của ngân hàng và được tính theo công thức:
Nếu tỷ lệ này lớn hơn không, có thể kết luận rằng năm sau đã có sự mở rộng tăng trưởng tín dụng so với năm trước.
Cơ cấu tín dụng: Là cấu trúc danh mục tín dụng của ngân hàng. Quy mô của ngân hàng là một nhân tố quan trọng quyết định cơ cấu cho vay của ngân hàng. Được xác định cơ cấu cho vay thông qua công thức:
Dư nợ cho vay loại (i) có thể phân theo các tiêu thức khác nhau như:loại tiền cho vay, thời hạn cho vay, thành phần kinh tế, mục đích cho vay…
Các ngân hàng lớn thường cấp các khoản tín dụng giá trị lớn cho các công ty lớn. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ thường tập trung vào nghiệp vụ tín dụng bán lẻ dưới dạng các khoản cho vay cá nhân giá trị thấp, cho vay trả góp,cho vay các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cơ cấu cho vay của một ngân hàng còn phụ thuộc vào tương quan giữa thu nhập dự tính trên các khoản tín dụng và thu nhập dự tính từ các tài sản tài chính khác. Với điều kiện các yếu tố khác không đổi, nhìn chung một ngân hàng muốn cung cấp những khoản vay mang lại tỷ lệ thu nhập dự tính cao nhất sau khi đã tính tới toàn bộ chi phí và rủi ro tổn thất tín dụng.
- b- Thị phần
Thị phần là phần thị trường tín dụng mà ngân hàng chiếm lĩnh ở một thời điểm nhất định. Thị phần càng cao chứng tỏ quy mô tín dụng của ngân hàng càng lớn, uy tín và năng lực tài chính của ngân hàng tốt.
- c- Số lượng khách hàng
Là tổng số các khách hàng tín dụng đang còn dư nợ tại ngân hàng ở một thời điểm nhất định.
Dư nợ tín dụng = Số lượng khách hàng × Quy mô món vay trung bình
Vì vậy, nếu quy mô vay trung bình không tăng song số lượng khách hàng tăng thì dư nợ tín dụng sẽ tăng lên. Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng và phạm vi cấp tín dụng của ngân hàng là rộng hay hẹp. Chỉ tiêu này khi kết hợp với chỉ tiêu dư nợ tín dụng và cơ cấu nợ cũng sẽ phản ánh mức độ phân tán rủi ro tín dụng của ngân hàng là nhiều hay ít. Nếu số lượng khách hàng tín dụng nhiều sẽ giúp ngân hàng phân tán được rủi ro và hệ số an toàn tín dụng cao hơn mặc dù chi phí nghiệp vụ tín dụng và chi phí quản lý có thể sẽ cao hơn. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Các NHTM đều mong muốn có được các tỷ lệ này cao vì hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng. Mỗi ngân hàng có kết cấu tài sản, có chính sách khác nhau và đặc thù hoạt động riêng của mình nên tỷ lệ này khác nhau. Vì vậy, khi xem xét chất lượng tín dụng của một NHTM, ta không chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể mà phải sử dụng tổng hợp một hệ thống chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận chính xác.
- Các chỉ tiêu mức độ rủi ro
- Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh sự an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng, theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ này ở mức = < 5% sẽ đảm bảo cho mức độ lành mạnh của hoạt động tín dụng. Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn quá cao thì sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về khả năng thu hồi vốn vay. Mặt khác, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc mở rộng hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng vì không đảm bảo các chỉ số an toàn theo quy định của các cơ quan quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến kế hoạch huy động và sử dụng vốn của ngân hàng. Rủi ro mất thanh khoản sẽ tăng lên do ngân hàng có thể sẽ gặp khó khăn khi khách hàng nhận thấy rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng cao họ sẽ ít gửi tiền vào ngân hàng hơn.
- Chỉ tiêu nợ phân theo nhóm nợ
Theo thông lệ, các khoản nợ được phân loại như sau:
Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn. Bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
Nợ nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nợ nhóm 4: Nợ nghi ngờ. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2.
Nợ nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã bị quá hạn.
- Các khoản nợ khoanh, chờ xử lý. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Nợ xấu hay nợ không đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
- Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dự nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
- Tỷ lệ nợ xấu ngoại bảng/ Tổng dư nợ
Nợ xấu ngoại bảng bao gồm các khoản nợ xấu đã dùng dự phòng rủi ro hoặc các nguồn khác để xử lý và chuyển ra theo dõi ngoại bảng để tiếp tục thu hồi, nợ khoanh chờ xử lý, nợ tồn đọng theo chương trình cho vay chỉ định của Chính Phủ,… Các ngân hàng thường cố gắng hạn chế chỉ tiêu này ở mức thấp nhất. Khi xem xét chỉ tiêu này cần phân biệt rõ những khoản nợ này thuộc đối tượng khách hàng nào, thời điểm xử lý theo dõi ngoại bảng là khi nào. Tỷ lệ này cho biết nợ xấu ngoại bảng chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng dư nợ.
Các ngân hàng thường tìm cách ngăn ngừa nợ xấu ngoại bảng. Do đó, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
- Chỉ tiêu trích lập và sử dụng dự phòng
Theo quy định hiện hành, các ngân hàng bắt buộc phải trích lập dự phòng để ước lượng giá trị các khoản vay có khả năng thu hồi. Trích lập dự phòng là giải pháp thu nợ dự phòng và phòng ngừa rủi ro.
Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Trích lập dự phòng để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
Khi các khoản vay bị quá hạn, không có khả năng thu hồi thì NHTM sẽ sử dụng nguồn trích lập dự phòng bên cạnh các biện pháp khác để xử lý, thu hồi nợ vay cho ngân hàng. Như vậy, khi càng có nhiều nợ quá hạn, đặc biệt là khi tỷ lệ nợ quá hạn ở các nhóm nợ nhóm cao nhiều hơn (nợ khó thu hồi hơn, xấu hơn) thì có nghĩa là rủi ro tín dụng càng tăng cao hơn, khả năng không thu hồi được vốn vay càng lớn, khi đó các NHTM phải trích lập dự phòng nhiều hơn. Việc trích lập dự phòng là để phòng ngừa rủi ro không thu hồi được nợ vay, nguồn trích lập dự phòng sẽ được sử dụng là một trong các nguồn để thu hồi nợ vay và giảm bớt rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Như vậy, càng ít nợ quá hạn và càng ít nợ quá hạn ở nhóm nợ phải trích lập dự phòng thì chất lượng cho vay càng cao và ngược lại. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
- Chỉ tiêu mức độ sinh lời
- Thu lãi từ hoạt động tín dụng
Nguồn thu là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, do đó đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM. Chất lượng tín dụng của một NHTM không thể gọi là tốt khi mà thu lãi từ hoạt động này mang lại thấp.
Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng doanh thu trên thu nhập của ngân hàng, thu lãi từ hoạt động tín dụng chiếm bao nhiêu, nó phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào kết quả hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng. Tỷ lệ này cao, chứng tỏ thu lãi từ hoạt động tín dụng mang lại càng lớn, và nó cũng phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.3.1 Nhân tố về phía Ngân Hàng
- Chiến lược kinh doanh
Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công của ngân hàng trên thị trường. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, đáp ứng nhu cầu khách hàng, khai thác và tạo ra các cơ hội.Dựa trên cơ sở một chiến lược kinh doanh được xác nhận, ngân hàng sẽ chuyển nó thành hành động, lập ra những kế hoạch như tăng trưởng tín dụng, marketing, nhân sự.
- Quy định và chính sách Tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng như chiếc chìa khóa dẫn đến thành công trong hoạt động tín dụng. Chính sách tín dụng tốt sẽ thu hút được một lượng khách hàng lớn đảm bảo khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng trên cơ sở tuân phử pháp luật quy định của nhà nước. Do đó chất lượng tín dụng ảnh hưởng bởi chính sách tín dụng của ngân hàng có tốt hay không.
Quy trình tín dụng là bao gồm tất cả các quy định thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo tính an toàn cho vốn tín dụng. Trong đó bước chuẩn bị cho vay là quan trọng nó là cơ sở định lượng rủi ro trong quá trình cho vay, công việc thẩm định đối tượng được phép cấp tín dụng cũng như quy định về điều kiện và thủ tục cho vay của ngân hàng quyết định tới chất lượng tín dụng. Việc vận hành tốt giữa các bước trong quy trình cấp tín dụng đảm bảo việc vốn tín dụng được hoạt động một cách bình thường, đúng kế hoạch. Ngoài ra việc linh hoạt trong quá trình cấp tín dụng gây tâm lý tốt cho khách hàng từ đó quy mô tín dụng được mở rộng. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
- Công tác thông tin
Trên cơ sở nguồn thông tin thu thập được, ngân hàng thực hiện phân tích tín dụng để đánh giá khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về vấn sử dụng vốn vay, cũng như đánh giá khả năng hoàn trả vốn vay đã vay. Ngân hàng sẽ tìm kiếm những khả năng có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, khả năng kiểm soát của ngân hàng về các rủi ro qua đó dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra. Từ đó làm cơ sở để ra quyết định cấp tín dụng, có hay không quyết định cho khoản vay.
- Công nghệ của ngân hàng
Thời đại hiện nay công nghệ hiện giúp cho ngân hàng cung cấp dịch vụ tiện ích, phong phú phục vụ nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của khách hàng. Do tính đặc thù của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là giao dịch với số lượng khách hàng đông và đa dạng, ngân hàng phải thực hiện một số lượng lớn các hợp đồng. Do đó, hệ thống công nghệ của ngân hàng hiện đại sẽ tiết kiệm được thời gian công sức của cán bộ tín dụng, vừa nhằm hạn chế tối đa sự sai sót, nhầm lẫn trong quá trình giao dịch với khách hàng.
- Chất lượng cán bộ nhân viên tín dụng
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tiếp nhận hồ sơ, hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục vay, thực hiện thu thập và xử lý thông tin về khách hàng để đưa ra quyết định cho vay, cũng như là người thực hiện giám sát sau khi cho vay và thu nợ. Do đó, mỗi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn, khả năng nghiệp vụ như đánh giá phân tích. Và có trách nhiệm trong công việc trên cơ sở lựa chọn được những khách hàng có đủ năng lực pháp lý, có đủ năng lực tài chính,… Nhờ có những cán bộ như vậy, các khoản cho vay diễn ra an toàn và hiệu quả, hoạt động cấp tín dụng sẽ được nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều.
1.3.2 Về phía khách hàng Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
- Năng lực tài chính
Vấn đề quan trọng đầu tiên của cán bộ tín dụng khả năng trả nợ của khách. Một khoản vay cấp vốn được ngân hàng chấp nhận khi khách hàng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực tài chính đủ lớn và lành mạnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng những nguồn trả nợ nghi ngờ về tính lành mạnh hoặc nguồn đủ mạnh nhưng không ổn định.
- Tư cách đạo đức của khách hàng
Phải nhắc đến kể nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay khách hàng cá nhân, đó là đạo đức khách hàng. Nếu như khách hàng là người có ý thức trả nợ tốt đúng hạn, rủi ro tín dụng thấp thì sẽ kích thích ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, các quy định cũng sẽ không quá khắt khe.
- Rủi ro trong việc sử dụng vốn vay tín dụng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh không tránh khỏi gặp yếu tố rủi ro phát sinh do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi chính sách kinh tế của Nhà nước..ảnh hưởng trực tiếp cho khách hàng .
- Chiến lược kinh doanh của khách hàng
Trong hoạt động kinh doanh thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào kế hoạch chiến lược kinh doanh đúng đắn của khách hàng. Việc khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không đúng với chiến lược sản xuất kinh doanh sẽ ảnh hưởng chất lượng khoản vay. Khách hàng dùng khoản vay đầu tư vào kế hoạch sản xuất kinh doanh rủi ro cao nhằm tìm khoản lợi nhuận lớn, sử dụng vốn của ngân hàng để chi tiêu sai mục đích khi đăng kí vay… Hoặc có một số trường hợp thẩm định kế hoạch kinh doanh có khả khi đem lại lãi nhằm chứng minh đủ điều kiện cấp vốn để chiếm dụng vốn khôn hoàn trả lại.
1.3.3 Nền kinh tế
- Môi trường kinh tế – chính trị
Môi trường kinh tế, chính trị có ảnh hưởng tới hoạt động cho vay của khách hàng cá nhân. Nếu nền kinh tế phát triển tốt, thu nhập bình quân đầu người cao và môi trường chính trị ổn định thì hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân sẽ diễn ra thông suốt, phát triển đều đặn và hạn chế những rắc rối xảy ra. Nếu môi trường có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng để dành khách hàng thì hoạt động cho vay của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn.
- Môi trường tự nhiên
Ảnh hưởng của thiên tai như hạn hán, lũ lụt, động đất… có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là các ngành nuôi trồng thủy sản,sản xuất nông nghiệp. Đo đó môi trường tự nhiên gây khó khăn cho khách hàng, chất lượng tín tại Ngân hàng giảm.
- Môi trường pháp lý
Hệ thống pháp luật là cơ sở điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế nói chung và hoạt động trong Ngân hàng nói riêng. Hệ thống pháp luật không đúng đắn, đồng bộ, chinh sách bất ổn định gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank


Pingback: Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại NH Public Bank