Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng liên doanh VID Public – CN Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1 Khái quát về Ngân hàng LD VID PUBLIC – CN HẢI PHÒNG

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Liên doanh VID Public (VID Public Bank) là ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng PUBLIC BANK BERHAD – Malaysia được thành lập ngày 30/9/1991 theo tỷ lệ vốn góp 50:50. Theo Giấy phép hoạt động ngân hàng liên doanh số 01/NH-GP ngày 25/3/1992 của NHNN Việt Nam, VID Public Bank khai trương hoạt động với chi nhánh đầu tiên tại Hà Nội từ tháng 05/1992.

BIDV khai trương hoạt động ngày 26/04/1957 với tên gọi đầu tiên là ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. BIDV là một trong 4 NHTM quốc doanh lớn nhất của Việt Nam, có tiềm lực tài chính mạnh và uy tín trên thị trường tài chính trong nhiều năm, đóng góp tích cực trong việc huy động các nguồn vốn trong nước và ngoài nước để cho vay tài trợ và tham gia vào các dự án phát triển.

PUBLIC BANK BERHAD khai trương hoạt động ngày 06/08/1966 và có mặt trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur từ 06/04/1967. PUBLIC BANK BERHAD là ngân hàng lớn thứ ba ở Malaysia, nhiều năm liền được Asiamoney, Euromoney, Finance Asia và nhiều tổ chức uy tín bình chọn là ngân hàng tốt nhất của Malaysia và ở khu vực.

Vốn điều lệ của VID Public Bank là hơn 1.000 tỷ đồng Việt Nam và tiếp tục tăng vốn tối thiểu lên 3.000 tỷ đồng trong năm 2026. Trong thời gian gần 20 năm hoạt động vừa qua, VID PUBLIC BANK đã được đạt những thành tích đáng kể và được xếp hạng là một trong những ngân hàng hàng đầu đạt thành tích cao nhất trong số những ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và là ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài duy nhất được NHNN Việt Nam trao giải thưởng cho những đóng góp vào sự nghiệp 10 năm đổi mới ngành ngân hàng và tuân thủ chính sách pháp luật của Việt Nam. VID Public Bank cũng là ngân hàng liên doanh đầu tiên được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2002 và năm 2007 cho những đóng góp của ngân hàng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, hiện đại hóa vàc công nghiệp hóa đất nước. VID Public Bank cũng liên tục nhận được các bằng khen về các thành tích xuất sắc của các cơ quan hữu quan.

Với sự trợ giúp của hai ngân hàng mẹ là những ngân hàng hàng đầu của khu vực cùng với những hiểu biết và kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng trong gần 20 năm qua, VID PUBLIC BANK có thể đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đa dạng của khách hàng. Hiện nay, VID PUBLIC BANK đã có 8 chi nhánh ở các tỉnh và thành phố trọng điểm đó là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. Mạng lưới chi nhánh của ngân hàng sẽ được tiếp tục mở rộng trong thời gian sắp tới.

Ngân hàng Liên doanh VID Public – Chi nhánh Hải Phòng (VID Public Bank HP) được thành lập từ tháng 5/1996. Ngay từ năm đầu tiên đi vào hoạt động, VID PUBLIC BANK HP đã kinh doanh có lãi. Qua 18 năm hoạt động, mặc dù quy mô huy động vốn và cấp tín dụng còn ở mức khiêm tốn so với tiềm năng cũng như so với nhiều NHTM khác trên địa bàn Hải Phòng nhưng hoạt động của VID PUBLIC BANK HP đã liên tục phát triển với các chỉ tiêu cơ bản hàng năm như tổng tài sản, lợi nhuận, huy động vốn và dư nợ tín dụng có xu hướng tăng lên không ngừng, đảm bảo chất lượng danh mục tín dụng của ngân hàng ở mức khá và tốt.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Những ngày đầu mới thành lập, VID PUBLIC BANK HP chỉ có 13 cán bộ, công nhân viên. Đến thời điểm hiện nay chi nhánh đã có 5 phòng nghiệp vụ với tổng số 35 nhân viên (trong đó có 15 nam, 20 nữ) với trên 90% có trình độ đại học và trên đại học. Duy trì và phát huy tốt nề nếp và kỷ luật trong ngân hàng, toàn thể đội ngũ cán bộ, nhân viên của chi nhánh luôn có ý thức rất cao trong phục vụ khách hàng. VID PUBLIC BANK HP được khách hàng trên địa bàn đánh giá là một trong những NHTM ở Hải Phòng có chất lượng phục vụ tốt nhất.

  • Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Là đơn vị kinh tế trực liên doanh giữa 2 ngân hàng BIDV và ngân hàng Public Bank Berhad của Malaysia, Chi nhánh Ngân hàng VID Public Hải Phòng cũng như các chi nhánh thuộc các Thành phố khác, để phục vụ tốt cho hoạt động của mình, VID Public Hải Phòng đã thiết lập một cơ cấu bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng. Đứng đầu là giám đốc Ngân hàng, giúp việc cho giám đốc có các phó giám đốc, thư ký, tiếp đó là hệ thống các phòng ban. Mỗi bộ phận thực hiện một chức năng riêng và hỗ trợ nhau trong công việc.

  • Ban giám đốc

Gồm 01 Giám đốc, và 01 Phó giám đốc chỉ đạo,điều hành chung toàn bộ hoạt động của Chi nhánh:

Giám đốc: là đại diện pháp nhân của VID Public Hải Phòng có quyền cao nhất và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan cấp trên và tập thể Cán bộ công nhân viên về mọi mặt hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng VID Hải Phòng. Ông phụ trách quản lý, điều hành chung về tổ chức, hoạt động kinh doanh của ngân hàng, và giải quyết mọi công việc trong hạn mức mà Tổng giám đốc Ngân hàng VID PUBLIC cho phép đối với Giám đốc Chi nhánh.

Phó giám đốc: giúp việc cho Giám đốc, chỉ huy và điều hành các chức năng quản trị nhưng ở mức độ sâu hơn, cụ thể hơn theo sự phân công và uỷ quyền của Giám đốc.

  • Các phòng ban:

1. Phòng Hành chính: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Thực hiện công việc hỗ trợ các phòng ban đảm bảo điều kiện vật chất, quản lý tài sản, lưu trữ văn thư… nhằm phục vụ công tác quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, tổ chức đào tạo và tuyển dụng quản lý nhân sự, quản lý quỹ lương tại chi nhánh phù hợp với quy định của ngân hàng VID Public Hải Phòng.

  • 2. Phòng Tín Dụng:

Thực hiện các chứ năng cho vay ngắn trung dài hạn bằng Đồng tiền nội tệ và ngoại tệ. Quản lý, kiểm soát công nợ của các đối tượng cá nhân và tổ chức kinh tế cho vay. Tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra đầy đủ của hồ sơ tín dụng, phát hành bảo lãnh… Lập kế hoạch báo cáo tình hình hoạt động tín dụng tại chi nhánh.

  • 3. Phòng kế toán:

Tham mưu cho giám đốc về hoạt động chung của chi nhánh, lập kế hoạch tài chính và báo cáo hàng năm với Hội sở chính. Hoạch toán cân đối quản lý công nợ, báo cáo hoạt động thu chi, lợi nhuận của chi nhánh.

  • 4. Phòng thanh toán quốc tế:

Là đầu mối thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá dịch vụ của khách hàng bao gồm nghiệp vụ L/C và nhờ thu kèm chứng từ thanh toán. Phát hành thư bảo lãnh đối với nước ngoài kể cả việc mở và thanh toán L/C trả chậm với mức ký quỹ 100% và các hồ sơ bảo lãnh của phòng Khách hàng thẩm định chuyển đến. Thực hiện các lệnh chuyển tiền đi nước ngoài…

  • 5. Phòng Giao dịch

Thực hiên các giao dịch bán sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cho khách hàng tại quầy giao dịch, thực hiện marketing bán các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tại quầy giao dịch. Tiếp thu ý kiến phản hồi của khách hàng để phản ánh với lãnh đạo hoặc có đề xuất cải tiến đáp ứng sự hải lòng của khách hàng.

  • 6. Phòng Ngân Quỹ:

Quản lý, điều hòa tiền mặt và ngân phiếu thanh toán một các linh hoạt đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của khách hàng, quản lí tài sản cầm cố, chứng từ… Kiểm đếm thu chi tiền mặt cho khách hàng, các dịch vụ thanh toán sec, đổi ngoại tệ…

2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng giai đoạn 2023-2025 Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

2.1.3.1 Tình hình nguồn vốn – tài sản

Trong những năm qua, VID PUBLIC BANK HP về cơ bản đã hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh được Hội sở chính giao. Nhưng còn một số vấn đề cần phải giải quyết đưa ra những biện pháp để cải thiện tình hình nợ quá hạn, nợ xấu trong thời gian tới. VID là một trong các chi nhánh của hệ thống VID Public Bank về chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng. Điều đó được thể hiện một phần ở các chỉ tiêu tổng tài sản và nguồn vốn của VID PUBLIC BANK HP đã tăng trưởng trong giai đoạn 2023-2025.

Một số chỉ tiêu cơ bản về nguồn vốn – tài sản của VID PUBLIC BANK HP được thể hiện ở bảng dưới đây:

  • Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn – tài sản của Ngân hàng LD VID Public-CN Hải Phòng giai đoạn 2023-2025

Quan sát bảng trên cho ta thấy dư nợ tín dụng của chi nhánh chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng tài sản của chi nhánh và đang có xu hướng giảm qua các năm 2024, 2025 do tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn đang phục hồi,các doanh nghiệp ứ đọng hàng tồn kho,tình hình lạm phát vẫn cao.Nguồn vốn huy động của chi nhánh mặc dù cũng có xu hướng giảm dần một phần tăng dự trữ bắt buộc và dư nợ cho vay. Trong trường hợp có biến động giảm nguồn vốn huy động (khi khách rút tiền gửi) và tính thêm cả yếu tố cơ cấu huy động và cơ cấu cho vay theo loại tiền thì tổng lượng vốn huy động của VID PUBLIC BANK HP vẫn có thể duy trì hoạt động cấp tín dụng.

2.1.3.2 Các hoạt động cơ bản của VID Public Bank HP

Trong các năm qua, các hoạt động cơ bản của VID Public Bank HP đã đáp ứng tốt, phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tình hình thị trường và mang lại nhu cầu cho hoạt động của chi nhánh. Chi tiết các hoạt động cơ bản này như sau:

  • a. Hoạt động huy động vốn của VID Public Bank HP

VID PUBLIC BANK HP không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, cố gắng và phát huy những lợi thế của mình trong cuộc cạnh tranh về huy động vốn giữa các ngân hàng. Với những hình thức huy động vốn đa dạng, linh hoạt và hoạt động marketing, VID PUBLIC BANK HP huy động được nguồn vốn trong giai đoạn kinh tế đang phục hồi, nhưng vẫn còn ở mức trung bình, như vậy vẫn còn phải cố gắng thu hút nguồn vốn nhiều hơn để tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng của ngân hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Hiện nay tất cả các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng LD VID Public đều được kết nối trực tuyến với nhau trong một hệ thống nối mạng điện tử và phần mềm chuyên dụng Smartbank cho phép khách hàng gửi, rút tiền và thực hiện các giao dịch khác ở bất kỳ chi nhánh nào của VID PUBLIC Bank ở Việt Nam. Trong rất nhiều năm, VID PUBLIC BANK HP không thu phí kiểm đếm tiền mặt khi khách hàng gửi tiền vào và rút tiền mặt cho cả Đồng Việt Nam và USD. Đây chính là một trong những điểm mạnh thu hút khách hàng giao dịch và gửi tiền tại CN NHLD VID Public Hải Phòng. Thời gian gần đây, VID PUBLIC BANK HP thực hiện thu phí kiểm đếm với một số ít khách hàng nộp tiền mặt vào đồng thời thực hiện ngay việc chuyển tiền trong nội tỉnh hoặc chuyển đi ngoại tỉnh theo phương thức chuyển tiền thanh toán giá trị thấp để bù đắp một phần chi phí do phí chuyển tiền ở các dạng này là rất thấp.

VID PUBLIC BANK HP là một trong số rất ít các NHTM tại Hải Phòng thực hiện tất cả các giao dịch vào buổi trưa (không ngừng giao dịch vào buổi trưa) suốt từ khi thành lập đến nay nên đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch được liên tục và xóa bỏ được tâm lý ngại đến ngân hàng giao dịch vào các thời điểm cuối giờ sáng hoặc ngay đầu giờ chiều của các khách hàng.

Các sản phẩm tiền gửi của chi nhánh cũng khá đa dạng và tiện lợi để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn phong phú từ một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng… đến 36 tháng với mức lãi suất hấp dẫn và tăng dần theo kỳ hạn gửi tiền; Tiền gửi ở tài khoản vãng lai ưu đãi áp dụng cho cá nhân với lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn thông thường; Chứng chỉ tiền gửi tiền Việt Nam đồng và Đô la Mỹ.

VID PUBLIC BANK HP rất coi trọng công tác chăm sóc khách hàng. Với những khách hàng truyền thống, thân thiết, khách hàng có số dư tiền gửi lớn, ngân hàng luôn dành cho họ sự chăm sóc đặc biệt như: Gửi thiếp chúc mừng, tặng quà nhân ngày sinh của khách hàng, ngày lễ, Tết và các dịp đặc biệt khác; Với những khách hàng lớn chi nhánh bố trí người và phương tiện đến tận nơi để nhận, phát tiền. Vì vậy, nguồn vốn huy động được của chi nhánh ngày càng tăng.

  • Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn của CN VID Public Hải Phòng theo loại tiền gửi

Từ các số liệu trên bảng 2.2 chúng ta ta thấy nguồn vốn huy động của VID PUBLIC BANK HP năm 2023 tổng nguồn vốn huy động là 223,2 tỷ đồng đến năm 2024 đạt 236,4 tỷ đồng, tăng 13,2 tỷ đồng tương đương tăng 5,91%.

Còn đến năm 2025 con số này giảm xuống 11,23 tỷ đồng tương đương giảm 4,7% so với năm 2024 và dừng lại ở mức 225,17 tỷ đồng. Như vậy trong giai đoạn 2023 – 2025 là giai đoạn kinh tế đầy biến động và bất ổn nhưng Ngân hàng đã cố gắng phát huy với vị thế là ngân hàng liên doanh hoạt động có thương hiệu uy tín với các tổ chức kinh tế và cá nhân nên lượng vốn huy động tăng trưởng ở mức tốt. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Đi sâu vào phân tích nguồn vốn huy động theo loại tiền gửi ta thấy có sự trái ngược. Nếu như nguồn vốn tiền gửi bằng VND tăng trưởng đều trong 3 năm 2023 – 2025 thì trái lại, nguồn vốn theo ngoại tệ có xu hướng giảm dần, dẫn đến tình trạng giảm sút nhu cầu gửi tiền ngoại tệ. Nếu như ở năm 2023 nguồn vốn ngoại tệ đạt mức 21,57 tỷ thì đến năm 2024 đạt 16,67 tỷ đồng, giảm 4,9 tỷ đồng giảm một lượng nhỏ trong 3 năm. Nguồn vốn huy động bằng tiền VND có sự tăng trưởng tốt. Năm 2023 nguồn vốn huy động bằng VND đạt 201,63 tỷ thì đến năm 2024 tăng 18,1 tỷ đồng tương đương với 9% so với năm 2023, nhưng đến năm 2025 có sự xụt giảm ở mức 6,88 tỷ đồng tương đương 3% so với năm 2024.

Như vậy nhìn tổng vốn huy động của Ngân hàng mặc dù trong tình hình kinh tế đầy khó khăn nhưng cũng đã có biện pháp đổi đổi mới, tăng tính hiệu quả trong hoạt động huy động vốn theo loại tiền, tuy nhiên ngân hàng cần phải cân đối lại giữa vốn huy động tiền nội tệ và ngoại tệ.

  • Bảng 2.3: Cơ cấu huy động vốn của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng theo thời gian huy động

Theo bảng 2.3 ta thấy cho vay ngắn hạn của Ngân hàng chiểm tỷ trong cao chiếm (trên 70%), trong khi đó tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chỉ chiếm tỷ trọng thấp (dưới 30%). Nguyên nhân do cho vay ngắn hạn có tính thanh khoản cao, thủ tục cho vay dễ dàng so với cho vay trung và dài hạn. Hơn nữa, vốn huy động của Ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn nên đầu tư vốn tín dụng ngắn hạn nhiều thì vòng quay tín dụng sẽ nhanh hơn, khả năng xoay vòng vốn cao và rất an toàn cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Cho vay trung và dài hạn mặc chiếm tỷ trọng thấp một phần do Ngân hàng gặp khó khăn về các NHTM khác trên địa bàn cạnh tranh về ưu đãi cũng như lãi suất, lượng khách hàng còn ít.

Hoạt động huy động vốn trong thời gian này về cơ bản đã đáp ứng gần đủ yêu cầu về vốn của chi nhánh. Trong nhiều năm trước đây, CN thường hoàn thành vượt mức chỉ tiêu huy động vốn mà Ban lãnh đạo ngân hàng đề ra. Tuy nhiên, những diễn biến không thuận lợi do suy thoái kinh tế trên thế giới, những khó khăn của kinh tế trong nước cùng với sự cạnh tranh khốc liệt từ các NHTM trên địa bàn trong những năm gần đây, trong đó có nhiều NHTM sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh và sẵn sàng phạm luật, chấp nhận rủi ro cao, chịu lỗ, lòng vòng lách luật… để lôi kéo khách hàng của nhau đã khiến cho một đơn vị khá nghiêm chỉnh như VID PUBLIC BANK HP gặp phải nhiều khó khăn và suy giảm nguồn huy động ở nhiều thời điểm.

Bên cạnh đó, sự tăng trưởng tín dụng của CN và những quy định khắt khe hơn từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước cũng là những yếu tố tạo sức ép lớn lên công tác huy động vốn của ngân hàng. Vì vậy, VID PUBLIC BANK HP rất cần chủ động và linh hoạt hơn nữa để có những giải pháp huy động vốn hấp dẫn khách hàng, giữ được các khách hàng hiện tại và tìm kiếm thêm nhiều khách hàng mới tiềm năng, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và tiền đề cho tăng trưởng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng của CN NHLD VID Public Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

  • b. Hoạt động cho vay của NHLD VID Public Hải Phòng

Ngân hàng LD VID Public mặc dù được thành lập khá sớm từ năm 1992 nhưng là ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đến từ Malaysia nên chưa có hiểu biết nhiều về thị trường Việt Nam. Mặt khác, ngân hàng mẹ thực hiện duy trì chính sách phát triển các loại hình dịch vụ thu phí nhưng rất thận trọng trong cho vay nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng LD VID Public khá đơn điệu, hạn chế với dư nợ rất thấp trong những năm đầu hoạt động. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam và những thay đổi tích cực và cởi mở trong quan điểm và chính sách tín dụng của ngân hàng cấp trên, VID PUBLIC BANK HP bắt đầu chú trọng và đẩy mạnh tín dụng kể từ năm 2004 trở đi.

Cho đến nay VID PUBLIC BANK HP có thể đáp ứng, thoả mãn đầy đủ các nhu cầu vay vốn của khách hàng như: vay vốn ngắn hạn, vay vốn trung dài hạn; cho vay vốn đầu tư tài sản cố định, vay bổ sung vốn lưu động; Hình thức bảo đảm tiền vay đa dạng như thế chấp nhà đất, nhà xưởng, tài sản & máy móc thiết bị,… của bên thứ nhất hay bên thứ 3 theo đúng các quy định của pháp luật. VID PUBLIC BANK HP là một trong các ngân hàng đầu tiên ở Hải Phòng triển khai rất thành công một số loại hình cho vay mới như: cho vay mua ô tô trả góp.

Trong giai đoạn 2023 – 2025, tổng mức dư nợ tín dụng tăng chậm một phần do tình hình kinh tế khó khăn,sự cạnh tranh của các NHTM khác trên địa bàn. Với sự cố gắng không ngừng khắc phục khó khăn và phong cách phục vụ chuyên nghiệp và tận tụy của đội ngũ cán bộ, nhân viên tín dụng của VID PUBLIC BANK HP và việc triển khai nhiều hình thức cho vay với mục đích vay cho các đối tượng cho vay rộng với lãi suất hợp lý, thời gian cho vay và phương thức trả nợ linh hoạt nên phù hợp với nhu cầu của đa số khách hàng vay vốn.

Những năm gần đây, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam, Hội đồng quản trị VID PUBLIC BANK đã quyết định đẩy đưa ra hoạt động tín dụng hợp lý phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay, thể hiện qua chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng hàng năm duy trì ở mức tốt đáp ứng nhu cầu hoạt động của chi nhánh.

  • Biểu đồ 2.1: Dư nợ tín dụng của CN VID Public Bank Hải Phòng giai đoạn 2023-2025

Song song với việc thúc đẩy hoạt động tín dụng, CN luôn chú trọng và quan tâm đặc biệt tới chất lượng công tác thẩm định tín dụng, kiểm soát, giám sát tín dụng sau khi cho vay, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng các khoản vay. Vì vậy, VID PUBLIC BANK HP có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu ở mức chấp nhận được so với các CN khác trong cùng hệ thống cũng như so với mức bình quân chung của toàn ngành ngân hàng. Lợi nhuận của VID PUBLIC BANK HP tăng trưởng ở mức tốt một phần là do CN phải trích lập nhiều dự phòng rủi ro tín dụng cho những khoản nợ xấu theo quy định của NHNN và cũng phải chi phí nhiều cho công tác xử lý và thu hồi nợ khó đòi. Có thể nói đây là kết quả của chính sách cho vay thận trọng, đồng thời cũng là sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ và nhân viên tín dụng của chi nhánh.

  • c. Các hoạt động khác của NHLD VID Public Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Bên cạnh hai nghịêp vụ chính của ngân hàng là huy động vốn và cho vay, VID PUBLIC BANK HP còn thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác như thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ thanh toán cước điện thoại qua điện thoại di động… nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, tăng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng. Cụ thể như sau:

  • Hoạt động bảo lãnh ngân hàng của NHLD VID Public Hải Phòng

Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2022 của nước ta thì bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ tín dụng ngân hàng. Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng được CN quan tâm phát triển và được triển khai từ rất sớm, với đa dạng dịch vụ bảo lãnh như: Bảo lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh thanh toán tiền nộp thuế, Bảo lãnh tiền ứng trước, Bảo lãnh bảo hành chất lượng sản phẩm… Do chất lượng công tác thẩm định khách hàng tốt, cơ chế bảo đảm khá chặt chẽ và sự nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ của các khách hàng yêu cầu bảo lãnh ngân hàng nên cho đến nay VID PUBLIC BANK HP chưa từng phải thanh toán thay cho bất kỳ khách hàng yêu cầu bảo lãnh ngân hàng nào nên đã khẳng định được uy tín của VID PUBLIC BANK HP đối với các đơn vị nhận bảo lãnh. Kết quả là doanh số dịch vụ bảo lãnh qua các năm tuy số tuyệt đối vẫn còn nhỏ. Năm 2023 doanh số bảo lãnh đạt 1,39 tỷ đồng, tăng 11,82% so với năm 2022. Năm 2024, doanh số bảo lãnh của CN đạt 1,68 tỷ đồng tăng 20,61% so với năm 2023. Năm 2025 tăng 10% so với năm trước, trong đó chủ yếu là các bảo lãnh thanh toán tiền thuế của các đơn vị nhập khẩu.

  • Hoạt động thanh toán quốc tế và trong nước

Hiện nay VID PUBLIC BANK HP là một trong 3 CN ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài ở Hải Phòng (cùng với INDOVINA Bank và Ngân hàng liên doanh Việt – Nga). Qua 18 năm hoạt động ở Hải Phòng với lợi thế có nhiều kinh nghiệm về hoạt động thanh toán quốc tế, có hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới, có nguồn ngoại tệ tương đối dồi dào, ổn định nên VID PUBLIC BANK HP là một ngân hàng tin cậy của những doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn Hải Phòng. Chi nhánh đang thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế đa dạng bao gồm: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C); Phương thức thanh toán nhờ thu (D/P và D/A), Phương thức điện chuyển tiền (TT), séc ngân hàng (banker cheque), hối phiếu (demand draft). Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Trong quá trình hoạt động, chi nhánh luôn phấn đấu đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng về thanh toán và hoạt động thanh toán trong nước của chi nhánh đã có nhiều thay đổi đáng kể. Cho đến nay, chi nhánh đã tham gia rất hiệu quả vào hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN (CITAD) nên thời gian thanh chuyển tiền đi những tỉnh, thành phố lớn rất nhanh. Toàn hệ thống Ngân hàng LD VID Public đã được nối mạng trực tuyến, có nhiều sản phẩm mới như e-banking, internet-banking nên việc thanh toán cho các khách hàng trong cùng hệ thống được thực hiện ngay khi hạch toán. Thời gian thanh toán được rút ngắn tối đa, khối lượng thanh toán lớn nhưng mà vẫn đảm bảo an toàn.

  • Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHLD VID Public Hải Phòng

Với lợi thế của một ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài nên ngay từ những ngày đầu thành lập, chi nhánh đã rất chú trọng và triển khai hoạt động kinh doanh ngoại tệ đáp ứng yêu cầu của các khách hàng có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Chi nhánh đã thu hút được nhiều các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI), các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như một số tổ chức nước ngoài đến mở tài khoản hoạt động. Thêm vào đó là thực hiện tỷ giá mua bán ngoại tệ linh hoạt đảm bảo lợi ích của khách hàng, chi nhánh có thể mua được khá nhiều ngoại tệ từ những doanh nghiệp này và bán cho những doanh nghiệp nhập khẩu có nhu cầu mua ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa.

Ngay cả trong những thời điểm khó khăn về ngoại tệ của nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn 2023 – 2025, thì nguồn cung cấp ngoại tệ của chi nhánh vẫn ở mức khá ổn định, có thể đáp ứng phần lớn hoặc toàn bộ nhu cầu ngoại tệ của khách hàng. Hiện nay, chi nhánh đang cung cấp cho khách hàng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như: quyền chọn (option), giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi ngoại tệ.

  • Các hoạt động dịch vụ khác của NHLD VID Public Hải Phòng

Tăng thu từ dịch vụ là xu hướng phát triển chung của các NHTM Việt Nam hiện nay. Vì vậy, bên cạnh các hoạt động và các dịch vụ cơ bản nêu trên thì VID PUBLIC BANK HP luôn dành một sự quan tâm đặc biệt cho việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ và gia tăng nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của một ngân hàng hiện đại, thông qua đó có thể xây dựng được hình ảnh, nâng cao thương hiệu, tăng thu nhập và hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Các sản phẩm dịch vụ, các tiện ích của VID PUBLIC BANK HP ngày càng được đa dạng, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng như: mua bán séc du lịch, chi trả kiều hối, dịch vụ kiểm đếm tiền mặt, dịch vụ thu ngân hoặc cung ứng tiền mặt tại nhà, tại cơ sở kinh doanh của khách hàng, dịch vụ đại lý cho các hãng bảo hiểm, dịch vụ nạp cước điện thoại di động, dịch vụ tư vấn đầu tư. Thời gian gần đây VID PUBLIC BANK HP đã triển khai dịch vụ phone banking, internet banking. Máy rút tiền tự động của chi nhánh với thẻ ATM có tính bảo mật cao, rất an toàn cho người sử dụng. Tốc độ tăng trưởng của các dịch vụ này trung bình là trên 20%/năm, góp phần tăng thu nhập từ các dịch vụ ngân hàng và hỗ trợ hiệu quả công tác huy động vốn của chi nhánh.

Kết quả hoạt động kinh doanh tổng hợp của chi nhánh trong giai đoạn 2023 – 2025 được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả kinh doanh của Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2023-2025

Qua bảng trên ta thấy, các chỉ tiêu cơ bản gồm tổng tài sản, dư nợ tín dụng, nguồn vốn huy động của NHLD VID Public Hải Phòng nhìn chung có xu hướng tăng nhẹ trong 3 năm qua. Trong năm gần đây, dư nợ cho vay chiếm trên 60% tổng tài sản của chi nhánh, lợi nhuận trước thuế giảm nhẹ qua 2 năm 2024-2025 do tình hình kinh tế vẫn chưa phục hồi vẫn trong trạng thái đong băng cùng với đó sự cạnh tranh mạnh mẽ các NHTM khác trên địa bàn thành phố.

  • Biểu đồ 2.2: Tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng LD VID Public-CN Hải Phòng giai đoạn 2023-2025

Với 1 địa chỉ giao dịch duy nhất cùng với 35 cán bộ, nhân viên, có thể đánh giá NHLD VID Public Hải Phòng đã rất nỗ lực để có thể liên tục phát triển hoạt động kinh doanh của chi nhánh VID Public Hải Phòng.

Không dừng lại ở các thành tích đã đạt được, chi nhánh đang tiếp tục đổi mới phong cách phục vụ cũng như tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với Hội sở chính và triển khai cung cấp nhiều dịch vụ, tiện ích mới nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn bằng những sản phẩm, những dịch vụ ưu việt hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng nhằm giữ vững hệ thống các khách hàng tốt hiện tại đồng thời thu hút được thêm nhiều khách hàng giao dịch với ngân hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh của chi nhánh.

2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

2.2.1 Quy mô và phát triển quy mô tín dụng

  • Tổng dư nợ, doanh số cho vay và doanh số thu nợ

Tổng dư nợ: Dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP liên tục tăng trong 3 năm 2023 – 2025. Năm 2024 dư nợ đạt 204,02 tỷ đồng, tăng ở mức 8 % so với năm 2023 do nền kinh tế bất ổn,tình trạng các DN sản xuất kinh doanh bị ứ đọng hàng tồn kho, CN đã áp dụng nhiều chính sách thông thoáng nhằm đẩy cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có chính sách áp dụng lãi suất cho vay linh hoạt đối với các thành phần kinh tế. Tổng dư nợ năm 2025 của VID PUBLIC BANK HP tăng 1,5 % so với thời điểm 31/12/2024, VID Pubic Hải Phòng là một trong những ngân hàng có mức tăng trưởng dư nợ tốt so với các ngân hàng trên địa bàn Hải Phòng mặc dù tăng trưởng tín dụng bị chậm lại khá nhiều.

Chi tiết quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn như sau:

  • Bảng 2.5 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.5 do năm 2023 kinh tế bất ổn định, cơ chế có sự thay đổi. Ta có thể thấy ở năm 2023 tổng dư nợ đạt 188,72 tỷ đồng thì đến năm 2024 đạt mức 204,02 tỷ đồng, tăng 15,3 tỷ đồng tương đương 8,1%. Hai năm 2024 và năm 2025 quy mô tín dụng có phần tăng trưởng phục hồi trở lại.

  • Biểu đồ 2.3 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Nền kinh tế thế giới và trong nước các năm gần đây có nhiều biến động, bất ổn và có rất nhiều điều chỉnh trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam dẫn đến hoạt đông sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động của các thành phần kinh tế thiếu hụt. Trong khi đó, nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp là nguồn tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng. Vì vậy dư nợ cho vay ngắn hạn đạt được ở mức cao tại chi nhánh.

Trong khi đó tỉ lệ cho vay trung và dài hạn ở mức thấp dưới 30% trong 3 năm gần. Do các khoản tín dụng cho vay trung và dài hạn mục đích chính là đầu tư vào tài sản cố định và thực hiện các dự án đầu tư lớn. Do đó mà thời gian thu hồi vốn dài, vòng quay chậm. Điều này không phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay đang bất ổn làm cho các doanh nghiệp kinh doanh, đầu tư rất khó. Cho nên tỉ lệ cho vay vốn trung và dài hạn ở mức thấp. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Chi tiết quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế như sau:

  • Bảng 2.6 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Với chính sách tín dụng hướng đến các khách hàng chủ đạo là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên trong những năm vừa qua, VID PUBLIC BANK HP đã chú trọng nhiều đến việc mở rộng cho vay đối với các công ty cổ phần, công ty TNHH.Và năm gần đây doanh nghiệp làm ăn hiệu quả được chinh nhánh chú trọng việc cấp vốn.

  • Biểu đồ 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.6 ta thấy doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước có chiều hướng tăng nhẹ, cụ thể năm 2023 doanh số cho vay đạt 20,53 tỷ đồng đến năm 2024 đạt ở mức 22,09 tỷ đồng, tăng 1,56 tỷ đồng tương đương với 7,5%. Mảng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có chiều hướng tăng giảm nhẹ do ảnh hưởng kinh tế bất ổn, chính sách nhà nước thay đổi. Cụ thể doanh số cho vay đối với Công ty CP, TNHH năm 2023 đạt 96,3 tỷ đồng đến năm 2024 đạt mức 103,19 tỷ đồng, tăng 6,89 tỷ đồng tương đương 7,1%, nhưng đến năm 2025 giảm 1,43 tỷ đồng tương đương với 1,38%. Thực hiện các hình thức tín dụng đa dạng, cùng với chính sách lãi suất linh hoạt Ngân hàng thu hút được một lượng các công ty ngoài quốc doanh tiếp cận nguồn vốn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhà nước làm hiệu quả, Ngân hàng kiểm duyệt kĩ càng hồ sơ vay vốn cũng như khả năng trả cũng được chi nhánh cung cấp vốn để hoạt động kinh doanh.

  • Biểu đồ 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế năm 2025 của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước những năm gần đây hoạt động kinh doanh ổn định, VID PUBLIC BANK HP mạnh dạng tiếp cận cung cấp tín dụng cho nhóm doanh nghiệp này. Do đó mà dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước của chi nhánh chỉ chiếm 10,95 % đến thời điểm 31/12/2025.

Dư nợ thể nhân chiếm tới 12 % tổng dư nợ của VID PUBLIC BANK HP là do trong các năm gần đây qua chi nhánh đã phát triển một số sản phẩm,chính sách cho vay tiêu dùng…, thực hiện chọn lọc khách hàng cho vay theo hướng tập trung vào các khách hàng thể nhân có thu nhập khá, có cơ sở sản xuất kinh doanh hiệu quả và ổn định. Việc mở rộng cho các khách hàng thể nhân vay vốn đã giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng mà biểu hiện chủ yếu ở hiệu quả khá cao do lãi suất cho vay cao và phân tán rủi ro tín dụng ngân hàng, ngoài ra còn có tác dụng giới thiệu và quảng cáo ngân hàng một cách hiệu quả và nhanh chóng tới các khách hàng tiềm năng của chi nhánh.

Cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền của chi nhánh cũng đang thay đổi với tỷ trọng dư nợ ngoại tệ đã tăng lên liên tục trong các năm qua. Chi tiết như sau: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

  • Bảng 2.7: Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.7 ta thấy, tỷ trọng cho vay bằng nội tệ và ngoại tệ của chi nhánh khá cao. Tỷ trọng cho vay bằng nội tệ chiếm ở mức trên 80% trong giai đoạn 2023-2025. Trong khi đó, theo bảng 2.2, tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ của VID PUBLIC BANK HP tại các thời điểm 31/12/2024 và 31/12/2025 lần lượt là 92,95% và 94,53%. Có thế nói trong 2 năm 2024 và 2025 thì lượng vốn huy động tiền nội tệ của chi nhánh đủ để cho vay các khách hàng tín dụng. Mặt khác để chủ đông an toàn hoạt động tín dụng chi nhánh dành một phần cho dự trữ bắt buộc, tiền mặt để chi trả cho khách hàng, tiền gửi tại NHNN và các NHTM khác. Trong giai đoạn 2023 – 2025, dư nợ cho vay ngoại tệ của chi nhánh luôn có xu hướng giảm so với các năm mức chấp nhận được. Tuy nhiên, cần có hướng đi đúng đắn kịp thời hiệu quả cho vay bằng ngoại tệ của chi nhánh. Bởi vì VID PUBLIC BANK HP có các lợi thế về nguồn ngoại tệ tốt, lợi thế nằm trong khu vực có các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của VID PUBLIC BANK HP là khá lớn so với dư nợ tín dụng và tập trung ở các nhóm khách hàng mục tiêu, chủ đạo đã phản ánh hoạt động tín dụng đang diễn ra theo chiều hướng khá tích cực. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.8: Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng giai đoạn 2023 – 2025

Doanh số cho vay: Trong những năm qua, doanh số cho vay của VID PUBLIC BANK HP đã có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2023, doanh số cho vay của chi nhánh là 256,45 tỷ đồng. Con số này giảm xuống còn 7,3% trong năm 2024. Năm 2025 là một một năm đầy biến động cho kinh tế thế giới và cả trong nước đã gây không ít khó khăn, bất lợi đến tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay chi nhánh vẫn đạt doanh số cho vay là 224,98 tỷ đồng. Doanh số cho vay của VID PUBLIC BANK HP giảm qua các năm là kinh tế đất nước đang trong giai đoạn khủng hoảng đang dần phục hồi,sự nguội lạnh trong sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp,tình trạng ứ đọng hàng hóa vẫn còn. Chi nhánh đã áp dụng nhiều chính sách phù hợp và thông thoáng nhằm phục hồi và duy trì cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Đồng thời, chi nhánh cũng áp dụng đa dạng phương thức cho vay với lãi suất cho vay linh hoạt đối với các thành phần kinh tế.

Doanh số thu nợ: Song song với việc tăng trưởng doanh số cho vay, doanh số thu nợ của chi nhánh cũng có chiều hướng tích cực. Trong đó đáng chú ý là năm 2024 doanh số thu nợ đạt 246,08 tỷ đồng, tăng đến 17,98% so với năm 2023. Nguyên nhân là trong năm 2024 chi nhánh đã thu nợ khá tốt, trong đó thu nợ ngắn hạn chiếm tới 25,11% tổng doanh số. Đối tượng thu nợ chủ yếu là các công ty cổ phần, công ty TNHH trong nước, các cá nhân trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Qua bảng 2.8 kể trên, chúng ta thấy rằng, doanh số cho vay có xu hướng giảm và doanh số thu nợ chỉ tăng ở năm 2024 nhưng năm 2023 và năm 2025 vẫn giảm điều này làm dư nợ cho vay của chi nhánh luôn đạt ở mức chấp nhận được và giảm nhẹ qua các năm. Sự tăng trưởng của doanh số cho vay và doanh số thu nợ phản ánh khoảng thời gian kinh doanh ản đạm của ngành Ngân hàng nói chung và Chi nhánh nói riêng, khả năng thu hồi nợ chư hiệu quá, sinh lợi ít cho ngân hàng.

2.2.1.2 Thị phần Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Mặc dù được thành lập từ khá sớm (05/1996) ở Hải Phòng nhưng tổng dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đến nay vẫn còn rất nhỏ, chỉ chiếm thị phần là 0,64% tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng tại Hải Phòng.

So sánh ngay trong hệ thống Ngân hàng LD VID Public, Chi nhánh Hải Phòng thành lập trước chi nhánh Bình Dương 11 năm, song đến cuối năm 2025 thì nay dư nợ của chi nhánh Bình Dương đã gấp 2,27 lần dư nợ của Chi nhánh Hải Phòng. Chi nhánh Chợ Lớn thành lập năm 2006 nhưng đến nay dư nợ của chi nhánh này cũng gấp 1,37 lần so với chi nhánh Hải Phòng. Chi nhánh Đồng Nai được thành lập gần đây nhất vào tháng 03/2008 nhưng cũng đã đạt số dư nợ tín dụng gấp 1,4 lần chi nhánh Hải Phòng. Như vậy, có thể thấy rằng chi nhánh Hải Phòng là một trong các chi nhánh có tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm nhất hệ thống VID Public Bank.

2.2.1.3 Số lượng khách hàng vay vốn của VID PUBLIC BANK HP

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế thành phố Hải Phòng nói riêng, các doanh nghiệp Hải Phòng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và hàng năm có doanh nghiệp mới được thành lập. Đời sống dân cư cũng được cải thiện đáng kể trong các năm qua và có nhiều thay đổi trong thói quen tiêu dùng, thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng. Trong năm gần đây kinh thế ảm đạm,đang trong giai đoạn phục hồi Những yếu tố trên đã ảnh hưỏng nhu cầu tín dụng ngân hàng trong năm gần đây.

Không nằm ngoài xu thế chung của các ngân hàng trên địa bàn, VID PUBLIC BANK HP đã đẩy mạnh,đưa ra các hoạt động tín dụng mới,thu hút số lượng khách hàng vay vốn tại CN. Số liệu cụ thể về số lượng khách hàng vay vốn được thể hiện trong bảng sau. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

  • Bảng 2.9: Số lượng khách hàng vay vốn tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Khách hàng vay vốn của VID PUBLIC BANK HP chủ yếu là các công ty cổ phần và công ty TNHH. Năm 2025 đối tượng này là 184 khách hàng, chiếm 55,75% tổng số khách hàng. Các khách hàng này không chỉ vay vốn tại VID PUBLIC BANK HP mà còn sử dụng rất nhiều các dịch vụ khác của VID PUBLIC BANK HP như gửi tiền, thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, … nên đã đóng góp vào tăng doanh thu và hiệu quả kinh doanh của chi nhánh. Điều đó đã phản ánh định hướng đúng đắn trong chính sách tập trung cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đối tượng khách hàng này.

Tuy nhiên, cũng qua bảng số liệu kể trên thì ta thấy đối tượng khách hàng vay vốn là các công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và khách hàng cá nhân đang bị giảm liên tục trong 3 năm qua. Nguyên nhân là do VID PUBLIC BANK HP đã rà soát lại, chọn lọc và giảm một số khách hàng nhỏ, hay để nợ quá hạn, năng lực tài chính và năng lực quản lý yếu kém. Số lượng khách hàng tín dụng có giảm theo đó dư nợ của VID PUBLIC BANK HP có phần giảm đi trong các năm qua. Các khách hàng vay vốn cá nhân của VID PUBLIC BANK HP hiện nay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của họ đang khó khăn xin gia hạn. Các khách hàng tín dụng chủ yếu của ngân hàng vẫn chủ yếu là các công ty cổ phần, TNHH và cá nhân với giá trị món vay còn ở quy mô vừa và nhỏ, VID PUBLIC BANK HP chưa thu hút được nhiều các khách hàng lớn vay vốn nên tổng dư nợ tín dụng còn thấp.

2.2.2 Mức độ rủi ro tín dụng

2.2.2.1 Nợ các nhóm

  • Bảng 2.10: Các nhóm nợ của CN NHLD VID Public Hải Phòng

Qua bảng 2.10 ta có thể thấy nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trên 90% trong tổng dư nợ. Nợ nhóm 1 năm 2023 chiếm tỷ trọng 94,83% tương đương 204,51 tỷ đồng, năm 2023 giảm còn 92,8% tương đương 192,25 tỷ đồng. Đến năm 2025 tiếp tục giảm 92,22% tương đương với 188,14 tỷ đồng. Qua thông tin ở bảng trên nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng cao nhưng đã xuất hiện nhóm nợ xấu tại ngân hàng.

Đi sâu vào nhóm nợ xấu tại Ngân hàng (nợ nhóm 3 đến nợ nhóm 5) ta có thể thấy nợ nhóm 3 và nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng khá cao ở năm 2025. Nợ nhóm 3 ( nợ dưới tiêu chuẩn) chiếm 1,05% tổng dư nợ tương ứng với 2,14 tỷ đồng tăng 43,62% so với năm 2024 và tăng 970% so với năm 2023. Cụ thể năm 2025 nợ nhóm 5 ở mức 1,96 tỷ đồng tương đương 0,97% cao nhất trong 3 năm. Điều đó nói lên các doanh nghiệp đang gặp khó trong hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến không đủ khả năng trả lãi theo đúng thời hạn của hợp đồng tín dụng, gây ra rủi ro hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Nợ xấu xuất hiện ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro lớn có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận nhưng có thể giảm được rủi ro cho hoạt động tín dụng VID PUBLIC BANK HP đã duy trì tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu ở mức khá thấp trong các năm qua. Chi tiết như sau:

  • Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng

Trong giai đoạn 2023 – 2025 VID PUBLIC BANK HP xuất hiện nợ xấu và có xu hướng tăng. Tại thời điểm 31/12/2025, tỷ lệ nợ quá hạn và xấu là 4,76% và 3,02% tương ứng. Tỷ lệ nợ xấu theo quy định ở mức dưới 3% được coi là an toàn nhưng tỷ lệ nợ xấu ở mức 3,02% tại chi nhánh là con số đang báo động cần phải có biện pháp xư lý tìm hiểu nguyên do dẫn đến tình trạng trên. Tỷ nợ quá hạn ở năm 2025 giảm xuống còn 4,76% tuy nhiên ở năm 2024 ở mức 5,08% con số này khá cao ngân hàng chú ý đến đều này. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Nguyên nhân chính làm phát sinh nợ xấu và nợ quá hạn tại VID PUBLIC BANK HP bắt đầu từ năm 2023 là do suy thoái kinh tế thế giới cùng những khó khăn kinh tế trong nước đã làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, các cá nhân vay vốn ngân hàng nói riêng. Điều này chứng khả năng thu hồi vốn của ngân hàng ngày càng khó khăn, nguồn vốn của ngân hàng lúc này không phải là rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn trắng. Tỷ lệ ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày một xấu dẫn đến hoạt động kinh doanh không được hiểu quả. Ngân hàng cần đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng nợ xấu.

2.2.2.2 Trích lập và sử dụng dự phòng tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kì. Dựa trên những quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng VID Public – chi nhánh Hải Phòng có bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

  • Bảng 2.12: Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng của Ngân hàng. Dựa theo bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, chi nhánh có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

  • Bảng 2.13 Tỷ lệ trích lập rủi ro tín dụng

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng giai đoạn 2023 – 2025 ngày càng tăng. Năm 2023, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng là 1,15%, năm 2024 là 1,71% và đến năm 2025 là 2,6% (tăng 1,45% so với năm 2023). Con số nói lên các năm trở lại đây Ngân hàng nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng giảm. Tuy nhiên, Ngân hàng VID Public Hải Phòng luôn chấp hành theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo phân loại nợ, trích lập dự phòng theo đúng số dư tín dụng đã cấp, không vì lợi nhuận cao trước mắt nên có thể phần nào hạn chế được rủi ro.

Trong hoạt động kinh doanh luôn tồn tại những rủi ro thường trực do vậy các Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ của doanh nghiệp từ đó sẽ gây bất lợi cho Ngân hàng. Chính vì vậy Ngân hàng phải luôn theo dõi sát sao các khoản nợ và đưa ra được các giải pháp đúng đắn và kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

2.2.3 Mức độ sinh lời Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Mức độ đóng góp của hoạt động cho vay vào tổng nguồn thu của NHLD VID Public Hải Phòng cụ thể như sau:

  • Bảng 2.14: Thu lãi từ hoạt động cho vay trong tổng doanh thu của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cho vay trong tổng doanh thu của VID PUBLIC BANK HP có xu hướng giảm trong giai đoạn 2023 – 2025. Nếu như tỷ trọng này đạt 77,55% vào năm 2023 thì con số này đã giảm xuống còn 70% năm 2024 và đến năm 2025 giảm ở mức 45,86% tổng doanh thu của chi nhánh, Hoạt động cho vay là nguồn thu lãi chủ yếu của ngân hàng nhưng trong vài năm gần đây nhưng nó có xu hướng giảm nguyên nhân do nền kinh tế không ổn định, chính sách kinh tế bất hợp lý. Trong thời gian tới VID PUBLIC BANK HP cần phải nỗ lực hơn nữa để tăng cường huy động vốn cũng như đẩy mạnh hoạt động tín dụng song song với việc tăng trưởng các mảng dịch vụ khác tại chi nhánh.

2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng của CN NHLD VID Public Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

2.3.1 Kết quả đạt được

Sau 18 năm hoạt động, VID PUBLIC BANK HP đã đạt được những thành tựu và thành công nhất định trong hoạt động tín dụng, cụ thể như sau:

Dư nợ cho vay tại VID PUBLIC BANK HP 3 năm trở lại đây dư nợ cho vay có giảm nhưng chấp nhận được, góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn vay của các doanh nghiệp, cá nhân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng, của cả nước cũng như thúc đẩy hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu qủa kinh doanh chung của bản thân CN NHLD VID Public Hải Phòng.

Công tác huy động vốn tại ngân hàng ở mức tăng trưởng tốt nhưng không được ổn định trong 3 năm gần đây. Năm 2024 nguồn vốn huy động đạt mức 236,4 tỷ đồng, tăng 13,2 tỷ tương đương với 6% so với năm 2023, đến năm 2025 nguồn vốn huy có giảm do ảnh hưởng nền kinh tế ngân hàng trích lập dự phòng rủi để kiểm soát chất lượng tín dụng tại chi nhánh.

Hồ sơ, thủ tục cho vay đã dần dần được đơn giản hoá cùng với những cải tiến trong quy trình tín dụng nên ngày càng linh hoạt, rút ngắn thời gian giải quyết một hồ sơ vay vốn và tạo điều kiện thuận tiện cho việc vay vốn của khách hàng. Hiện nay, những hồ sơ vay vốn thuộc quyền phán quyết của CN được giải quyết trong vòng từ 1 đến 3 ngày nếu hồ sơ đó đáp ứng đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng. Đối với các hồ sơ vay vốn CN phải trình lên Hội sở chính xét duyệt, thời gian xem xét phê duyệt cho vay khoảng từ 1 đến 2 tuần tùy theo tính chất khoản vay và hồ sơ vay vốn cụ thể khách hàng nộp cho ngân hàng.

Phương thức cho vay đa dạng, linh hoạt về lãi suất và phương thức trả nợ thuận tiện, phù hợp với mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng như hình thức cho vay tín dụng luân chuyển, hạn mức tín dụng kết hợp, chiết khấu chứng từ, cho vay mua xe ôtô, cho vay tài trợ các dự án đầu tư, cho vay bảo đảm bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay… Vì vậy, doanh số cho vay, dư nợ tín dụng tăng trưởng được.

Có được những kết quả, những thành công trên đây chủ yếu là do VID PUBLIC BANK HP đã có những định hướng, quan điểm, chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp với định hướng phát triển của ngành ngân hàng, của thành phố Hải Phòng và của đất nước, phù hợp với đặc điểm, với khả năng và các điều kiện thực tế của ngân hàng song song với việc chú trọng và không ngừng nâng cao chất lượng các khoản tín dụng, đảm bảo phòng ngừa và hạn chế tối đa nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh cũng như triển khai thực hiện công tác thu hồi nợ vay hiệu quả. Một nguyên nhân cũng rất quan trọng đóng góp vào những kết quả, thành tích kể trên là nỗ lực làm việc hết mình, tác phong chuyên nghiệp, tinh thần phấn đấu và phục vụ khách hàng chu đáo của toàn thể đội ngũ cán bộ, nhân viên của chi nhánh.

Tuy nhiên, những kết quả trên vẫn chưa tương xứng với bề dày thời gian 18 năm hoạt động trên địa bàn Hải Phòng và tiềm năng của CN NHLD VID Public Hải Phòng. Hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng của CN vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục để có thể phát huy tốt nhất tiềm năng, làm cho chất lượng tín dụng được nâng cao hơn nữa, làm cho hoạt động kinh doanh của VID PUBLIC BANK HP ngày càng phát triển hiệu quả và bền vững.

2.3.2 Hạn chế về chất lượng tín dụng tại VID Public Bank HP Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

2.3.2.1 Dư nợ cho vay ,chất lượng cán bộ tín dụng chưa tốt

Mặc dù được thành lập từ khá sớm nhưng quy mô tín dụng của CN VID Public Hải Phòng đến nay vẫn còn rất nhỏ. Tổng dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đến nay vẫn còn rất khiêm tốn ( năm 2024, 2026 tương ứng 52,4% và 53% trên tổng tài sản)

Trong hệ thống Ngân hàng LD VID Public, Hải Phòng là chi nhánh thành lập thứ 4, song nhiều chi nhánh khác của VID Public Bank thành lập sau rất nhiều năm nhưng dư nợ tín dụng đến nay đã vượt khá xa chi nhánh Hải Phòng. Từ đó có thể đáng giá VID PUBLIC BANK HP là một trong các chi nhánh có tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm trong hệ thống VID Public Bank.

Trình độ của cán bộ chuyên môn còn nhiều thiếu thấp: tuy có trình độ đại học,có sự năng động, nhiệt tình nhưng còn thiếu về kinh nghiệm không lường trước được hết các rủi trong hoạt động tín dụng tại thời điểm nền kinh tế có nhiều bất ổn định. Các khâu kiểm soát kiểm tra nội bộ vẫn chưa đúng mức vẫn còn phụ thuộc vào Hội sở chính.

2.3.2.2 Cơ cấu nợ chưa hợp lý

Cơ cấu cho vay bằng nội tệ và ngoại tệ chưa cân đối: Qua bảng 2.7 ta thấy, tỷ trọng cho vay bằng nội tệ vẫn chiếm gần như tuyệt đối, luôn ở mức trên 80% trong giai đoạn 2023 – 2025 trong khi tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ của CN tại các thời điểm 31/12/2024 và 31/12/2025 lần lượt là 13% và 12%. Ngân hàng cần phải điều chỉnh phù hợp nâng cao tỉ trọng cho vay bằng ngoại tệ vì với ưu thế là ngân hàng liên doanh, ngân hàng có khả năng điều kiện thu hút người ngoại tệ.

  • Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu đang có xu hướng tăng cao

Trong suốt thời gian 2023 – 2025 VID PUBLIC BANK HP thông qua việc đánh giá tình hình các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng, nhận thấy các khoản nợ có chiều hướng tăng dần qua các năm. Từ năm 2023 đến nay, nợ xấu có xu hướng gia tăng trong thời gian vừa qua tại CN NHLD VID Public Hải Phòng. Mặc dù các tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của VID PUBLIC BANK HP ở mức trung bình so với các chi nhánh trong cùng hệ thống ngân hàng VID Public, so với nhiều ngân hàng khác trên cùng địa bàn và trong ngưỡng cần chú ý, nhưng đây cũng là dấu hiệu cảnh báo chất lượng tín dụng của VID PUBLIC BANK HP bắt đầu có những vấn đề bất ổn. Việc tập trung quá nhiều vào đẩy mạnh dư nợ tín dụng trong khi đó nhiều khi công tác thẩm định cũng như công tác kiểm tra, giám sát sau phát vay của VID PUBLIC BANK HP còn đôi lúc chưa được thực sự sát sao, chặt chẽ làm cho hoạt động tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể gây nên nhiều nợ quá hạn, nợ xấu và có thể mất vốn cho CN NHLD VID Public Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan

  • Công tác thẩm định còn chưa thực sự tốt

Cán bộ tín dụng của VID PUBLIC BANK HP phải thực hiện khá nhiều phần việc, nhiều nghiệp vụ liên quan đến tín dụng nên khó tránh khỏi yếu kém, hạn chế ở một số chuyên môn nhất định. Bên cạnh đó, cho đến nay VID PUBLIC BANK HP hầu như chưa có sự thẩm định chéo dưới hình thức nhiều người cùng đề xuất cấp tín dụng hoặc Ban xét duyệt tín dụng, dẫn đến việc công tác thẩm định đề xuất cấp tín dụng hầu như chỉ đứng trên quan điểm chủ quan của cán bộ tín dụng phụ trách khoản vay, điều này gây ra rủi ro cho hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng sẽ bị giảm sút.

Mặt khác, trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP vẫn có những hạn chế trong việc thu thập và phân tích thông tin về khách hàng. Thông tin mà ngân hàng ngân hàng có được chủ yếu là nguồn thông tin do khách hàng cung cấp và hạn chế về nhân sự qua công tác kiểm tra phân tích thông tin khách hàng một các xác thực. Vì thế, công tác thẩm định trong các trường hợp sẽ thiếu yếu tố khách quan, chính xác sẽ tạo nhiều sơ hở có thể mang đến những rủi ro. Vì vậy ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động tín dụng gặp phải khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, xuất hiện tình trạng nợ quá hạn thậm chí dẫn đến nợ xấu gây rất nhiều khó khăn vướng mắc cho ngân hàng. Hoặc tình trạng do dự thể quyết định cấp tín dụng cho khách hàng vay vì thiếu thông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định, làm mất cơ hội cho vay đến với nhiều khách hàng tiềm năng.

  • Công tác kiểm tra, kiểm soát còn nhiều sơ hở, lỏng lẻo

Hiện nay Ngân hàng LD VID Public chỉ có bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ tập trung ở Hội sở. Tuy nhiên, việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ cũng chưa thực sự sâu sát vì tần suất kiểm tra còn thấp (khoảng 2 năm mới kiểm tra 1 lần), thời gian mỗi lần kiểm tra còn ít (2 – 3 người kiểm tra trong 2 tuần cho tất cả các nghiệp vụ và hồ sơ liên quan của chi nhánh). Chính vì vậy, việc phát hiện những sai sót trong quy trình tín dụng, trong các nghiệp vụ cụ thể, trong các hồ sơ tín dụng để có những chấn chỉnh, điều chỉnh, sửa chữa và khắc phục còn chưa kịp thời và đầy đủ. Công tác giám sát tín dụng, đặc biệt là giám sát sau khi giải ngân của VID PUBLIC BANK HP còn chưa được thực hiện nhiều. Việc xem xét, đánh giá lại các khoản vay định kỳ dù được thực hiện nhưng vẫn còn mang tính hình thức nhiều. Có thể nói rằng khâu kiểm tra, kiểm soát nói chung và của mảng tín dụng nói riêng của VID PUBLIC BANK HP vẫn chưa được thực hiện đúng mức, vẫn chưa có cán bộ chuyên làm công tác kiểm tra, kiểm soát và giám sát tín dụng nên các món vay còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

  • Số lượng cán bộ còn ít, năng lực cán bộ ngân hàng còn hạn chế

Hiện nay rất nhiều các NHTM thực hiện việc chuyên môn hóa sâu trong các hoạt động tín dụng của họ bằng việc phân tách ra các khâu như bộ phận thẩm định tài sản, bộ phận tín dụng, bộ phận pháp lý chứng từ, bộ phận quản lý rủi ro, bộ phận đôn đốc và thu hồi công nợ,… Việc phân tách như vậy có tác dụng làm cho chuyên môn nghiệp vụ của từng bộ phận là rất sâu, rất vững và hạn chế tối đa các rủi ro tín dụng do không nắm vững nghiệp vụ, do đánh giá chủ quan hoặc rủi ro đạo đức. Tuy nhiên, là một NHLD nên yêu cầu công việc đối với các nhân viên và cán bộ tín dụng của Ngân hàng LD VID Public nói chung và phòng tín dụng của VID PUBLIC BANK HP nói riêng là khá cao, các cán bộ và nhân viên tín dụng phải có khả năng và thực hiện toàn bộ các khâu công việc liên quan đến tín dụng như kể trên. Ngân hàng LD VID Public đòi hỏi người cán bộ tín dụng không những giỏi về nghiệp vụ tín dụng mà còn phải am hiểu về nhiều lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh mà ngân hàng cho vay, cập nhật thường xuyên các thông tin kinh tế trong nước, ngoài nước và phải nắm vững, các quy định của của các cơ quan quản lý Nhà nước để có thể phân tích, tổng hợp, đánh giá và tham mưu cho lãnh đạo VID PUBLIC BANK HP trong các quyết định cấp tín dụng một cách đúng đắn và hiệu quả nhất. Có thể nói đây là yêu cầu rất khó, yêu cầu mỗi cán bộ tín dụng phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm bắt và cập nhật các kiến thức, các thông tin có liên quan đến hoạt động cho vay

Hiện tại VID PUBLIC BANK HP chỉ có 7 cán bộ tín dụng trong khi Hội sở chính duyệt chỉ tiêu cán bộ tín dụng của CN là 10 người. Mặt khác, trong những năm gần đây VID PUBLIC BANK HP đẩy mạnh cấp tín dụng và có một số cán bộ tín dụng chuyển công tác sang các đơn vị khác nên chi nhánh phải tuyển thêm nhiều cán bộ tín dụng mới. Đa phần các nhân viên tín dụng mới tuyển còn rất trẻ nên trình độ cũng như kinh nghiệm thực tế của họ còn hạn chế. Mặc dù tất cả nhân viên, cán bộ tín dụng đều có trình độ đại học trở lên nhưng người có thâm niên lâu nhất mới là 7 năm, đa phần số còn lại thời gian công tác chỉ từ 1 đến 3 năm. Vì vậy, phần lớn cán bộ tín dụng còn thiếu kinh nghiệm công tác nên cũng ảnh hưởng đến đến tăng trưởng và chất lượng tín dụng của CN NHLD VID Public Hải Phòng. Với khối lượng công việc khá nhiều và yêu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ vừa đảm bảo tăng trưởng dư nợ tín dụng theo chỉ tiêu Hội sở giao cho gặp phải sai sót như bỏ bớt các khâu cấp tín dụng nhằm đẩy nhanh tiến độ đạt chỉ tiêu được giao, k tránh khỏi tình trạng nợ quá hạn, xảy ra khiến chất lượng tín dụng của Chi nhánh không được tốt. Qua đó nó là thiểu sót của Chi nhánh cần phải được khắc phục kịp thời.

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan

  • Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ

Trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, khung pháp lý được đánh giá là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng và cũng là một trong những yếu tố có khả năng gây rủi ro cho hoạt động ngân hàng xuất phát từ các quyền đối với tài sản và luật pháp về hợp đồng không rõ ràng, không có khả năng thực thi trên thực tế, không đảm bảo được khả năng thực thi các cam kết và nắm giữ tài sản trên thực tế. Do đó, việc xây dựng khung pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, rõ ràng và đảm bảo khả năng “cưỡng chế” thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng rất cần thiết. Mặt khác, nước ta cần phải khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật để phù hợp với xu thế và bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng ở nước ta đến nay còn nhiều chỗ chưa đồng bộ và đầy đủ, tính ổn định thấp, còn nhiều điểm chồng chéo, thiếu rõ ràng. Số lượng các văn bản pháp luật thì nhiều nhưng các quy định pháp luật, các văn bản pháp quy thường xuyên thay đổi cũng như hiệu lực thực thi của nhiều văn bản pháp quy tương đối thấp đã gây tác động không tốt tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động động tín dụng của ngân hàng nói riêng.

  • Cải cách hành chính còn chậm chạp Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Mặc dù nước ta đang đẩy mạnh việc cải cách hành chính nhưng công cuộc này đang diễn ra rất chậm, thiếu đồng bộ nên gây không ít khó khăn cho các khách hàng và ngân hàng khi cần sự hỗ trợ hoặc thực hiện các giao dịch với các cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, với những lĩnh vực, những vấn đề phải phối hợp giữa các cơ quan trung ương và địa phương, các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực thì việc xử lý rất chậm và kém hiệu quả. Theo quy định trong toàn hệ thống, VID PUBLIC BANK HP chỉ nhận thế chấp bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và/hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Theo Luật Đất Đai 2003 thì từ tháng 1/2007, cơ quan công chứng chỉ thực hiện chứng thực các giao dịch liên quan đến bất động sản đối với những tài sản đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất nói chung trên địa bàn thành phố Hải Phòng và cả các tỉnh khác ở miền Bắc trong thời gian qua còn rất chậm. Đặc biệt là việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các doanh nghiệp trong các khu chế xuất và khu công nghiệp ở Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc (bao gồm cả Hà Nội) vẫn còn rất chậm. Trong khi đó, các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước,… việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khá đơn giản và nhanh chóng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì họ không thể dùng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất để thế chấp cho các tổ chức tín dụng để vay vốn đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

  • Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

Trong giai đoạn 2023 – 2025, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta như giảm nhu cầu hàng hóa từ Việt Nam, giảm nhu cầu vay vốn ngân hàng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng và phát triển tín dụng của các NHTM nói chung và của VID PUBLIC BANK HP nói riêng. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước đã làm cho giá cả các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất tăng lên trong đó có lãi suất vay vốn tăng rất cao khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp càng trở nên khó khăn hơn, hàng hóa khó tiêu thụ, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ nặng, dẫn đến tình trạng có rất nhiều khách hàng tín dụng không có đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng, điều này làm cho nợ quá hạn và nợ xấu có xu hướng tăng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng.

  • Cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính

Hải Phòng là thành phố lớn, là một trung tâm kinh tế thương mại của cả nước nên sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tài chính ngày càng gay gắt với 51 CN ngân NHTM và 173 phòng giao dịch. VID PUBLIC BANK HP kém cạnh tranh hơn so với các NHTM quốc doanh về mặt lãi suất vì các ngân hàng này thường có ưu thế về vốn, quy mô, nhiều khách hàng truyền thống và có ưu thế về lãi suất, sự hỗ trợ từ Chính phủ. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

  • Thông tin mà khách hàng cung cấp không đầy đủ, chính xác

Hiện nay đa số các khách hàng doanh nghiệp hay các hộ kinh doanh cá thể không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về kế toán thống kê, kiểm toán và tìm mọi cách để giảm tối đa số thuế phải nộp cho nhà nước. Vì vậy, các số liệu trong các báo cáo thuế, báo cáo tài chính của họ không phản ánh hết và chính xác thực trạng tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Mỗi khi có nhu cầu vay vốn họ lập phương án sản xuất kinh doanh thường rất sơ sài, thiếu nhiều thông tin cơ bản nên ít có cơ sở để ngân hàng đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án vay vốn. Do vậy, trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP phải xử lý hồ sơ, thẩm định mất rất nhiều thời gian mới quyết định cấp tín dụng được. Nhiều khách hàng tín dụng còn ngụy tạo báo cáo tài chính sai lệch không đúng với thực tế, ngụy tạo hồ sơ để đạt mục tiêu vay được tiền vốn của ngân hàng. Chính những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thẩm định của ngân hàng, dẫn đến đánh giá sai lệch về khách hàng vay, làm giảm chất lượng tín dụng.

  • Ý thức trả nợ của khách hàng còn kém

Ý thức trả nợ của khách hàng là một trong những yếu tố mang tính quyết định khi xem xét cho vay đối với khách hàng, nó đặc biệt có ý nghĩa khi ngân hàng buộc phải thu hồi và xử lý nợ quá hạn. Trong thực tế hoạt động của VID PUBLIC BANK HP đã có rất nhiều khách hàng tín dụng rất thiếu ý thức, kém hiểu biết về pháp luật nên đã chây lỳ không trả nợ cho chi nhánh, để nợ quá hạn kéo dài nhiều năm trời. Trường hợp điển hình của dạng này là Công ty TNHH, khách hàng này luôn hứa hẹn trả nợ, lảng tránh khi ngân hàng đến đòi nợ. Kể cả khi VID PUBLIC BANK HP mời văn phòng luật sư can thiệp để tăng tiến độ xử lý và thu hồi khoản vay này thì khách hàng này vẫn không thiện chí hợp tác với luật sư và ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ vay cho ngân hàng. Một số khách hàng của VID PUBLIC BANK HP hoàn toàn có khả năng tài chính và nguồn trả nhưng vẫn cố tình chây lỳ, khất lần và không thiện chí trả nợ khiến công tác thu hồi nợ của VID PUBLIC BANK HP gặp rất nhiều khó khăn.

  • Nguyên nhân từ chính sách tín dụng và quy trình tín dụng của Ngân hàng LD VID Public

Trước năm 2006, quan điểm, chính sách tín dụng của toàn hệ thống Ngân hàng liên doanh VID Public là hết sức thận trọng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Public Bank Berhad thì phía Public Bank Berhad nắm quyền điều hành các hoạt động của ngân hàng với Tổng giám đốc từ khi thành lập đến nay luôn là người Malaysia. Vì vậy, do ảnh hưởng bởi chính sách cho vay rất thận trọng của ngân hàng mẹ bên Malaysia và chưa thực sự quen với các đặc thù, các điều kiện của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện môi trường kinh tế cũng như môi trường pháp luật ở Việt Nam còn chưa ổn định, thiếu đồng bộ và còn nhiều bất cập nên Hội sở chính và tất cả các CN của VID PUBLIC BANK hầu như chưa chú trọng và quan tâm đúng mức đến các hoạt động tín dụng, không chủ động tiếp cận và đẩy mạnh các hoạt động tín dụng đối với khách hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

Trong thời gian đầu, quyền phê duyệt cho vay của CN còn rất thấp (chỉ tối đa là 50.000 USD) nên rất nhiều khoản vay phải trình lên Hội sở chính, thậm chí có những khoản vay giá trị không lớn tại thời điểm đó nhưng phải trình sang cả hai ngân hàng mẹ là Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Public Bank Berhad của Malaysia để phê duyệt cho vay.

Các điều kiện cho vay cũng rất khắt khe đối với các khách hàng vay vốn, đặc biệt là yêu cầu về tài sản bảo đảm cho khoản vay. Về mặt lý thuyết thì các biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ là biện pháp phòng ngừa, để hạn chế, khắc phục tổn thất một khi các rủi ro tín dụng phát sinh và các khách hàng không có khả năng trả nợ và không muốn trả nợ cho ngân hàng. Trong khi đó, các yếu tố quan trọng mang tính quyết định khi xem xét, quyết định cho vay hay không phải là khả năng trả nợ của khách hàng, là tính khả thi của dự án vay vốn và ý thức thực hiện nghĩa vụ tài chính của khách hàng vay vốn, TSBĐ chỉ là điều kiện bổ sung để ràng buộc và tăng trách nhiệm của khách hàng với khoản vay ngân hàng. Tuy nhiên, trong các năm đầu triển khai hoạt động tín dụng, khi xem xét và đánh giá hồ sơ vay vốn của khách hàng thì Ngân hàng LD VID Public đã quá coi trọng tài sản đảm bảo nhất là đối với các khách hàng lần đầu tiên có quan hệ vay vốn với ngân hàng. Căn cứ theo định hướng của cấp trên, VID PUBLIC BANK HP thông thường chỉ chấp nhận TSBĐ là bất động sản, nhà xưởng với đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, hạn chế nhận máy móc thiết bị làm TSBĐ. Cho đến nay, VID PUBLIC BANK HP không nhận TSBĐ là các máy móc thiết bị đã quá 5 năm kể từ ngày xuất xưởng và vẫn chưa có trường hợp cho vay nào mà bảo đảm bằng hàng tồn kho luân chuyển hoặc quyền đòi nợ. Việc quy định khắt khe đối với TSBĐ tiền vay như vậy đã khiến cho VID PUBLIC BANK HP mất khá nhiều cơ hội cho vay đối với các khách hàng có năng lực và tiềm năng thực sự, có khả năng kinh doanh hiệu quả chỉ vì họ không có đủ TSBĐ theo yêu cầu cho món vay.

Chính vì các lý do trên đã khiến cho trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP đã bỏ qua rất nhiều khách hàng có tiềm năng thực sự và hoạt động tín dụng của VID PUBLIC BANK HP phát triển còn chậm chạp trong nhiều năm.

  • Mạng lưới chi nhánh của VID Public Bank còn nhỏ hẹp

Sau gần 18 năm hoạt động, đến nay toàn hệ thống VID Public Bank mới có 8 chi nhánh, chưa có phòng giao dịch nào. Đây là con số rất thấp so với các NHTM khác. Tại Hải Phòng, Ngân hàng LD VID Public cũng chỉ có một địa chỉ giao dịch duy nhất tại số Số 22,Khu B1,Lô 7B,Lê Hồng Phong. Trong khi đó các NHTM khác đã mở nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trên các tuyến đường phố chính, các khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động, các khu đông dân cư, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, các siêu thị, các trung tâm thương mại nhằm quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng thông qua sự tiện lợi, tiết kiệm, gần gũi khách hàng.

Quy mô mạng lưới hoạt động của VID PUBLIC BANK HP nói riêng và của cả hệ thống VID Public Bank nói chung còn rất nhỏ bé, thương hiệu chưa được quảng bá rộng rãi, ít các dịch vụ và tiện ích nên đã khiến cho một bộ phận khá lớn doanh nghiệp và người dân tại Hải Phòng vẫn chưa biết đến ngân hàng, thậm chí nhầm lẫn với một số NHTM khác như VP Bank, VIBank,.. hoặc có biết đến nhưng cũng còn dè dặt hoặc không thực sự muốn đặt quan hệ tín dụng với chi nhánh vì cho rằng năng lực tài chính của ngân hàng có khả năng chỉ ở mức trung bình thấp nên mới không có nhiều chi nhánh (cũng đồng nghĩa với việc khó vay vốn, mức vay thấp, lãi suất cao,…). Ít địa điểm giao dịch chắc chắn sẽ không thuận tiện cho các giao dịch của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng doanh nghiệp có bạn hàng ở nhiều tỉnh và thành phố thì họ và khách hàng của họ thường giao dịch với ngân hàng cùng hệ thống thì sẽ nhanh chóng và tiết kiệm phí giao dịch hơn.

Như đã nêu ở trên, chúng ta có thể thấy rằng có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại CN NHLD VID Public Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Public Bank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại NH Public Bank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537