Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Tái cấu trúc vốn nhằm phù hợp với chiến lược kinh doanh ở Cảng Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới. Theo đó, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được mở rộng, song sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Điều này, vừa tạo ra các cơ hội kinh doanh đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng đe doạ sự phát triển của các doanh nghiệp.
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới. Trong đó, đổi mới về quản lý tài chính là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phải xác định đúng nhu cầu về vốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Doanh nghiệp cần phải thay đổi cấu trúc tài chính cho phù hợp với chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra để tạo ra một sự nhất quán trong điều hành, quản lý doanh nghiệp.
Thấy được tầm quan trọng đó trên thực tế và lý thuyết, bằng những kiến thức đã học và thời gian thực tập tại công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng, em đã chọn thực hiện khoá luận của mình với đề tài: “Tái cấu trúc vốn nhằm phù hợp với chiến lược kinh doanh tại Cảng Hải Phòng”.
NỘI DUNG CỦA KHOÁ LUẬN
- Chương I: Cơ sở lý luận chung
- Chương II: Tổng quan về Cảng Hải Phòng
- Chương III: Thực trạng tài chính tại Cảng Hải Phòng
- Chương IV: Một số biện pháp tái cấu trúc vốn nhằm phù hợp với chiến lược kinh doanh tại Cảng Hải Phòng
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
A – QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Chiến lược là gì ?
Chiến lược có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, ngày nay nó đã thâm nhập vào hầu hết tất cả các lĩnh vực khác nhau như chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao, khoa học môi trường. Trong lĩnh vực kinh tế thì lý thuyết về quản trị chiến lược ra đời muộn hơn, song đến giữa thập niên 70 của thế kỷ XX thì tư tưởng về quản trị chiến lược đã được hệ thống hoá để tạo thành các quan điểm chiến lược dựa trên cơ sở phân tích khoa học thực sự theo đúng yêu cầu cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện đại, với tư tưởng chính là xác định đúng mục tiêu, phát triển tốt các biện pháp để đạt được chúng, theo đuổi các cơ hội có khả năng thành công vào bất cứ lúc nào khi nó xuất hiện. Bất kể một lĩnh vực, một ngành kinh doanh nào để đạt được sự thành công trong sự phát triển cũng đã vận dụng một hình thức chiến lược nào đó một cách năng động và lĩnh vực dựa trên các cơ sở kỹ thuật phân tích môi trường và hoạch định chiến lược căn cứ vào mô hình toán học và ma trận kinh doanh BCG, ma trận MC Kysney, phương pháp xác định vị trí cạnh tranh chiến lược của Michael.E.Porter.
Ngày nay, quản trị chiến lược đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu, một nội dung quan trọng trong quản lý các lĩnh vực, ngành, doanh nghiệp đã và đang áp dụng rộng rãi trên hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển.
1.1.1.1 Theo quan điểm truyền thống Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
Thuật ngữ “chiến lược” xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa “khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động quân sự”. Alfred Chandler định nghĩa : “Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Đây là một trong những định nghĩa truyền thống được dùng phổ biến nhất hiện nay.
Ta thấy rằng những chiến lược chủ yếu của một công ty bao gồm những mục tiêu, những bảo đảm về nguồn lực để đạt những mục tiêu và những chính sách chủ yếu cần được tuân theo trong khi sử dụng những nguồn lực này. Do đó, chiến lược cần được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát chỉ hướng cho công ty đi đến mục tiêu mong muốn.
1.1.1.2 Theo quan điểm hiện đại
Theo quan niệm mới, nội dung khái niệm chiến lược có thể bao gồm “5P” kế hoạch (plan), mưu lược (ploy), mô thức/dạng thức (pattern), vị thế (position), triển vọng (perspective) mà công ty có được hoặc muốn đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh. Quan điểm hiện đại kết hợp cả 2 loại chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi trong quá trình thực hiện bao gồm một loạt những quyết định và hành động trong một mô thức tương quan năng động.
1.1.2 Quản trị chiến lược
1.1.2.1 Quản trị chiến lược là gì ?
Quản trị chiến lược là một tiến trình nghiên cứu, phân tích môi trường bên trong và bên ngoài của tổ chức, hiện tại cũng như tương lai, xác lập nhiệm vụ chức năng và xây dựng hệ thống các mục tiêu cần theo đuổi, hoạch định và kiểm tra chiến lược nhằm giúp cho tổ chức vận dụng hữu hiệu các nguồn lực và tiềm năng của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.
Định nghĩa trên gồm 3 ý chính như sau :
- Phân tích môi trường kinh doanh trên cơ sở nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu của công ty.
- Lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra chiến lược của công ty.
- Chuyển đổi các nguồn lực đầu vào của công ty thành các giá trị đầu ra mà công ty mong muốn đạt được, thông qua các chiến lược và chính sách kinh doanh đã được chọn và áp dụng.
1.1.2.2 Những yêu cầu của quản trị chiến lược
Việc quản trị chiến lược cần phải chú ý tới 6 yêu cầu sau đây :
- Tạo được lợi thế cạnh tranh của công ty
- Đảm bảo an toàn trong kinh doanh
- Phân tích cá mục tiêu và khả năng thực hiện
- Dự đoán mội trường kinh doanh sắp tới
- Dự trù các giải pháp hoặc biện pháp hỗ trợ cho chiến lược đã chọn
- Kết hợp 2 loại chiến lược có chủ định và chiến lược phát khởi trong quá trình thực hiện
Theo Henry Mintzberg : chiến lược là một mô thức bao gồm một loạt những quyết định và hành động. Xem hình 1
1.2 Các cấp chiến lược Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
1.2.1 Chiến lược tổng thể
Căn cứ vào diễn biến tăng trưởng và phát triển của công ty, chúng ta có thể phân loại các chiến lược tổng thể làm 3 loại theo trình tự 3 giai đoạn.
1.2.2 Chiến lược cạnh tranh cấp doanh nghiệp
Chiến lược cạnh tranh cấp doanh nghiệp bao gồm:
Chiến lược dẫn đầu về chi phí: Chiến lược này cho phép doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ với giá thành thấp hơn.
Chiến lược khác biệt hóa: chiến lược này tạo ra các sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét của họ.
Chiến lược tập trung hay trọng tâm hoá: Chiến lược này định hướng phục vụ cho một nhu cầu nhóm hữu hạn người tiêu dùng hoặc đoạn thị trường.
1.2.3 Chiến lược cấp chức năng
Chiến lược chức năng: Là những chiến lược hướng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ phận chức năng trong công ty. Những chiến lược này có thể tập trung vào một chức năng xác định. Tuy nhiên cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chức năng với nhau nhằm mang lại hiệu quả, chất lượng đổi mới thoả mãn khách hàng ở mức độ cao.
- Chiến lược sản xuất
Sản xuất là chức năng gắn liền với việc chế tạo ra sản phẩm, một trong những lĩnh vực hoạt động chính yếu của doanh nghiệp. Khi triển khai chiến lược sản xuất cần lưu ý : Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
- Khúc tuyến kinh nghiệm (đường cong kinh nghiệm): là tổng chi phí trung bình (hoặc đơn giá chi phí) sẽ giảm dần khi kinh nghiệm được tích luỹ.
- Cấu trúc sản phẩm : cần phải hợp với cấu trúc chế tạo trong tiến trình sản xuất của công ty.
Chiến lược marketting
Các yếu tố marketting ngày càng giữ vai trò quan trọng trong kinh doanh nhất là trên quan điểm chiến lược. Quản trị chiến lược marketting chú trọng đến điểm chủ yếu:
- Chọn lựa những phân khúc thị trường mục tiêu
- Thiết kế chiến lược marketting – mix
- Định vị thị trường chiến lược quản lý nguyên vật liệu.
Vai trò của chức năng quản lý vật tư là giám sát và kết hợp 3 chức năng
- Thu mua các nguồn lực cung cấp cho đầu vào sản xuất kinh doanh,
- Hoạch định và kiểm soát sản xuất
- Phân phối sản phẩm ở đầu ra chiến lược nghiên cứu và phát triển
Trong tất cả các chức năng kinh doanh, việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thường sản sinh ra những kết quả ngoạn mục nhất. Chiến lược R&D của một công ty có thể tập trung vào 3 loại chính :
- Chiến lược đổi mới sản phẩm nhằm phát triển toàn bộ những sản phẩm mới trước các đối thủ cạnh tranh.
- Chiến lược phát triển sản phẩm nhằm cải thiện chất lượng hoặc đặc tính của sản phẩm hiện hữu.
- Chiến lược đổi mới tiến trình nhằm cài thiện các tiến trình chế tạo sản phẩm để giảm chi phí sản xuất hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm chiến lược tài chính.
Bộ phận chức năng về tài chính và kế toán chịu trách nhiệm chính về nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Trước hết là việc tìm kiếm nguồn tiền, tiếp theo là việc kiểm soát chế độ chi tiêu tài chính thông qua các hệ thống kiểm soát nội bộ, kết hợp với kiểm toán.
Các quyết định tài chính bao gồm 3 lĩnh vực chính : đầu tư, tài trợ và quản lý tài sản nhằm giúp cho công ty đạt được các mục tiêu tổng thể của mình. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
- Chiến lược nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn tài nguyên lớn nhất và quý hiếm nhất. Quản trị nguồn nhân lực có thể hiểu một cách khái quát gồm các công tác tuyển mộ, sắp xếp, đào tạo và điều động nhân sự. Mục tiêu của quản trị chiến lược về nhân lực là phát triển kế hoạch nhân sự phù hợp với những yêu cầu chiến lược ngắn hạn, dài hạn của công ty. Kế hoạch này dựa trên các yếu tố quyết định :
- Dự báo nhu cầu nhân sự của công ty trong tương lai gần và xa.
- Cân đối nhân sự giữa hiện tại và tương lai, giữa lao động phổ thông và chuyên môn, giữa các nguồn đáp ứng từ bên ngoài lẫn bên trong công ty.
- Phân tích cung cầu của thị trường lao động.
- Dự trù các giải pháp thay thế để ngăn chặn sự thiếu phù hợp hoặc cân đối giữa các nguồn lực.
Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng tạo nên môi trường trong đó tất cả các hoạt động tạo ra giá trị diễn ra. Cơ sở hạ tầng có thể thúc đẩy duy trì hiệu quả trên phạm vi toàn công ty, khuyến khích hợp tác các bộ phận theo đuổi mục tiêu hiệu quả.
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CẢNG HẢI PHÒNG Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1 Giới thiệu chung về Cảng Hải Phòng
- Tên cơ sở kinh doanh : Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Cảng Hải Phòng
Cảng Hải Phòng là cửa khẩu giao lưu có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Phong trào công nhân sớm có sự lãnh đạo của ĐCSVN có truyền thống đấu tranh cách mạng, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kháng chiến và xây dựng bảo vệ tổ quốc XHCN của đất nước được Đảng và Nhà Nước trao nhiều phần thưởng cao quý.
Ngày 15/03/1874, triều đình Huế ký “Hiệp ước hoà bình về liên minh”, trong đó nhà Nguyễn dâng cho Pháp toàn bộ đất Hải Phòng và quyền kiểm soát bến Ninh Hải (tức là khu vực Cảng Hải Phòng ngày nay).Năm 1876, Cảng bắt đầu hình thành và đưa vào sử dụng. Công trình đầu tiên có quy mô lớn là hệ thống nhà kho gồm 6 kho, nên được gọi là Bến Sáu Kho. Trải qua hơn 130 năm tồn tại và phát triển, Cảng Hải Phòng luôn luôn đóng vai trò là “cửa khẩu” giao lưu quan trọng nhất của miền Bắc đất nước. Hàng hoá XNK cùa 17 tỉnh phía Bắc, hàng quá cảnh của Bắc Lào và Nam Trung Quốc,… thông qua Cảng Hải Phòng đã đến với thị trường các nước và ngược lại.
Khi “Mệnh lệnh toàn quốc kháng chiến” được ban bố vào ngày 19/12/1946, cả nước ta chính thức bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trên thực tế, Cảng đã bắt đầu chống Pháp từ sớm hơn vì Cảng là nơi thực dân Pháp chiếm đầu tiên để phục vụ cho việc vận chuyển vũ khí thực hiện âm mưu chiến tranh cùa chúng. Với tinh thần chiến đấu anh dũng của công nhân cảng cùng với nhân dân toàn thành phố, ngày 13/05/1955, Hải Phòng giải phóng. Theo nghị định 17-NĐ/1956 do Hội Đồng chính phủ thông qua, Cảng Hải Phòng được đặt trực thuộc Ngành vận tải thuỷ, là một đơn vị xí nghiệp của ngành vận tải thuỷ, quản lý tài chính theo chế độ doanh nghiệp. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, cúa sự nghiệp xây dựng CNXH, Cảng Hải Phòng với vị trí là cảng biển lớn nhất miền Bắc đã nhanh chóng được cải tạo và nâng cấp. Khi ta tiếp quản Cảng Hải Phòng đã có 7 bến với chiều dài 1042m, 8 kho 29000m2 diện tích bãi, khả năng thông qua hơn 2 triệu tấn/năm. Được sự giúp đỡ của Bộ Hàng Hải Liên Xô (cũ), từ những năm cuối thập niên 60, hệ thống cầu Cảng đã được xây dựng để đón nhận các tàu có trọng tải 1000DWT, được trang bị hệ thống cần trục chân đế có sức nâng từ 5 đến 16 tấn, và hàng trăm xe vận chuyển các loại, hàng nghìn tấn xà lan biển cùng các xưởng cơ khí tương đối hiện đại, đáp ứng kịp thời yêu cầu XNK hàng hoá giữa nước ta với nước ngoài và sự giao lưu kinh tế giữa các vùng trong nước. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
Từ năm 1965 đến 1972, Cảng Hải Phòng lại kiên cường cùng nhân dân cả nước kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong những tháng ngày đấu tranh chống phong toả của Mỹ, Cảng Hải Phòng vẫn không ngừng được xây dựng và mở rộng.Từ năm 1966, khu Cản chính xây dựng lại và mở rộng lại theo thiết kế bến tường ván thép, đến năm 1981 thì công việc xây dựng hoàn thành. Đến năm 1974, Cảng xây dựng hệ thống cầu tàu, bến bãi từ cầu số 1 đến cầu số 11, với tổng chiều dài 1792m cùng với hệ thống đường sắt dài 71.804m, đưa vào hoạt động 7 trạm biến thế với hệ thống chiếu sáng hoàn chỉnh.
Ngày 11/03/1993, Bộ giao thông vận tải ra quyết định số 376/TCCB-LĐ về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước Cảng Hải Phòng.
Để phù hợp với nền kinh tế thị trường, Cảng Hải Phòng đã tự đổi mới mình,tổ chức lại theo hướng chuyên môn hoá, thành lập các xí nghiệp xếp dỡ container, xí nghiệp xếp dỡ hàng dời, hàng bao, hàng sắt thép, thiết bị… Công nghệ xếp dỡ cũng được thay đổi phù hợp với xu thế phát triển theo phương thức vận chuyển hàng hóa container ở các Cảng biển hiện đại trên thế giới. Cảng đã chú trọng đầu tư vào những khâu trọng yếu, tạo hiệu quả nhanh đi đôi với việc tăng cường quản lý kĩ thuật, tận dụng trang thiết bị hiện có.
2.2 Chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Cảng Hải Phòng là doanh nghiệp Nhà Nước thuộc tổng công ty Hàng Hải Việt Nam, hạch toán kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản ngân hàng và sử dụng con dấu riêng theo quy định Nhà Nước.
Là doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực khai thác Cảng, Cảng Hải Phòng có chức năng chính là xếp dỡ, giao nhận, đóng gói, bảo quản lưu kho, chuyển tải hàng hóa tại khu vực Cảng theo giấy phép kinh doanh số 105661 của trọng tài kinh tế Hải Phòng cấp ngày 07/04/1993.
Các chức năng và nhiệm vụ chính ở Cảng Hải Phòng là:
- Hoạt động bốc xếp.
- Hoạt động kiểm đếm, giao nhận, cân hàng.
- Hoạt động lưu kho bãi
- Hoạt động chuyển tải
- Hoạt động lai dắt hỗ trợ
Hình thức sở hữu: sở hữu Nhà Nước
Lĩnh vực kinh doanh: theo giấy phép kinh doanh số 105661 của trọng tài kinh tế thanh phố Hải Phòng cấp ngày 07/04/1993 thì chức năng nhiệm vụ chính của Cảng là: Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
- Xếp dỡ hàng hoá, giao nhận kho vận, lai dắt, hỗ trợ tàu biển, trung chuyển container quốc tế.
- Đại lý giao nhận, vận chuyển dịch vụ logistcs container chuyên tuyến Hải Phòng – Lào Cai – Côn Minh(Trung Quốc) bằng đường sắt.
- Đóng gói, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ, đường sông và đường không. Đại lý tàu biển và môi giới hàng hoá.
2.3 Cơ cấu tổ chức
2.3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức
2.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Bộ máy tổ chức quản lý của Cảng gồm có ban Tổng giám đốc và 11 phòng ban chức năng thuộc khối văn phòng và một số bộ phận phúc lợi khác có chức năng tham mưu giúp Giám đốc quản lý, điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, chăm lo cho đời sống của cán bộ công nhân viên Cảng.
- Ban Tổng giám đốc gồm có:
1/ Tổng giám đốc cảng Hải Phòng
- Chức năng: là người chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc tổng công ty Hàng Hải Việt Nam về mọi hoạt động của Cảng Hải Phòng.
2/ Các phó Tổng giám đốc:
- Phó Tổng giám đốc kinh doanh – nội chính: chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về khâu nội chính, công tác tổ chức các cán bộ quản lý lao động, chăm lo đến đời sống cán bộ công nhân viên trong toàn Cảng.
- Phó Tổng giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về công việc có liên quan thuộc phạm vi khoa học kỹ thuật. Nắm chắc tình trạng kỹ thuật của các phương tiện thiết bị xếp dỡ và giao kế hoạch sửa chữa các phương tiện thiết bị đó sao cho phù hợp với quy trình xếp dỡ, chỉ đạo việc lắp đặt hệ thống chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước, nạo vét cầu Cảng, tiết kiệm và bảo đảm an toàn về kỹ thuật.
- Phó Tổng giám đốc khai thác kiêm trưởng ban quản lý dự án ODA: có nhiệm vụ phụ trách khai thác kinh doanh, chỉ đạo tổ chức khai thác khối lượng hàng hoá XNK qua Cảng có hiệu quả nhất, chỉ đạo xây dựng các kế hoạch về sản lượng, giá thành và thực hiện chung một cách tốt nhất. Khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng cùa doanh nghiệp, kiểm tra đôn đốc cán bộ công nhân viên thực hiện tốt công tác an toàn lao động. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
- Phó Tổng giám đốc quản lý chất lượng
- Các phòng ban chức năng
01/ Phòng tổ chức nhân sự: là phòng chức năng tham mưu cho giám đốc về các mặt công tác như tổ chức sản xuất, quản lý sắp xếp, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ nhân viên, bảo vệ chính trị nội bộ, nghiên cứu xây dựng các nội quy, chỉ đạo thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước đối với cán bộ công nhân viên của Cảng.
02/ Phòng lao động tiền lương: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc về công tác tiền lương và chế độ chính sách của nhà nước đối với người lao động.Tổ chức lao động hợp lý, quản lý sử dụng lao động. Nghiên cứu, vận dụng, đề xuất chính sách, chế độ của cấp trên, của nhà nước, xây dựng các phương án trả lương, thưởng, các khoản phụ cấp cùng các chế độ chính sách khác.
03/ Phòng tài chính – kế toán: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc mọi vấn đề về tài chính kế toán, tìm kiếm nơi đầu tư sử dụng hiệu quả nguồn vốn của đơn vị, lập các báo cáo tài chính cùng các chỉ tiêu kinh tế thể hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Cảng.
04/ Phòng kinh doanh: là phòng chức năng tham mưu cho giám đốc về các mặt thương vụ bao gồm công tác pháp chế, ký kết hợp đồng, xây dựng chính sách giá, cước phí các loại dịch vụ, tổ chức thu cước, lập hoá đơn giao cho khách hàng và phòng tài chính kế toán, quan hệ với chủ tàu, chủ hàng để khai thác nguồn hàng cho Cảng.
05/ Phòng kỹ thuật công nghệ: là phòng chức năng tham mưu cho giám đốc về các mặt khoa học kỹ thuật, xây dựng kế hoạch khai thác và sử dụng các phương tiện hiện có, tổ chức quản lý kỹ thuật cơ khí, lập quy trình công nghệ xếp dỡ, thiết kế các sơ đồ cơ giới xếp dỡ, cải tiến và thiết kế mới các công cụ xếp dỡ cho phù hợp với điều kiện sản xuất của Cảng, ứng dụng các loại kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm thực hiện đúng quy trình xếp dỡ, vận chuyển đạt năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo an toàn cho con người và mọi thiết bị, công cụ sản xuất. Thực hiện giám sát việc lập kế hoạch mua sắm vật tư, kiểm định chất lượng vật tư, kế hoạch sử dụng vật tư. Chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống phần mềm thiết kế phục vụ cho mục tiêu quản lý. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
06/ Phòng an toàn và quản lý chất lượng: là phòng ban chức năng tham mưu cho giám đốc về các vấn đề liên quan đến an toàn sản xuất, áp dụng các chính sách chất lượng trong quản lý và sản xuất theo những tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.
07/ Phòng kỹ thuật công trình: làm chức năng tham mưu cho ban giám đốc Cảng trên các lĩnh vực về vùng đất, vùng nước Cảng, giám sát kỹ thuật việc xây dựng, cải tạo, sửa chữa, gia cường, thay thế, làm mới,…các công trình đã có, nâng cao chất lượng cơ sơ hạ tầng, xây dựng quy hoạch phát triển Cảng, khảo sát và lập các dự án thiết kế công trình.
08/ Phòng quân sự bảo vệ : có chức năng và nhiệm vụ bảo vệ an ninh cảng biển, luyện tập thường xuyên tạo cho công nhân có ý thức trách nhiệm cao trong công cuộc bảo vệ đất nước với một tinh thần sẵn sàng dù đang trong thời hòa bình.
09/ Phòng hành chính quản trị: chức năng nhiệm vụ tương đương với Văn phòng của cơ quan doanh nghiệp. Tham mưu và tổ chức thực hiện các công tác về quản trị, hành chính, quản lý nhà cửa, tài sản đất đai của Cảng. Thực hiện công tác vệ sinh môi trường, phục vụ lãnh đạo, bảo vệ an ninh trật tự khu văn phòng Cảng. Quản lý và sử dụng đội xe con. Tham mưu và thực hiện cộng tác thi đua khen thưởng, tuyên truyền báo chí, quản lý kho và cấp phát văn phòng phẩm.
10/ Phòng đại lý và môi giới hàng hải: làm dịch vụ môi giới hàng hải giúp thực hiện các thủ tục cho các tàu ra vào Cảng nhanh chóng hơn, làm đại lý cho các hãng tàu quốc tế.
11/ Phòng kế hoạch thống kê: là phòng chức năng tham mưu cho giám đốc về các mặt lập kế hoạch ngắn hạn và dài hạn cho Cảng, xây dựng và giao nhiệm vụ cho các xí nghiệp thành viên, thống kê các con số về tình hình hoạt động, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài liệu về khách hàng, các loại tàu ra vào Cảng để đưa ra những con số dự báo trong tương lai phù hợp với nguồn nội lực sẵn có của Cảng. Phòng kế hoạch thống kê cũng tham gia xây dựng biểu cước và phân tích hoạt động kinh doanh.
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CẢNG HẢI PHÒNG
- Phân tích tình hình tài chính tại Cảng Hải Phòng
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân tích tình hình tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp, không những cho biết tình hình tài chính doanh nghiệp tại thời điểm tính toán mà còn có thể đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp.
3.1 Phân tích bảng cân đối kế toán. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
Nhận xét:
- Về phần tài sản
Tổng tài sản năm 2008 của công ty là 1.618.256.207.600 VNĐ, so với năm 2007 tăng 521.497.496.055 VNĐ, tương ứng tăng 47,55%. Mức tăng này lớn, tuy nhiên chưa thể kết luận ngay việc tăng này có tốt hay không mà tài chính doanh nghiệp phải xem xét tài sản của công ty tăng ở những yếu tố nào, do đâu mà tăng và ảnh hưởng của việc tăng này tới tình hình tài chính của công ty như thế nào.
Tài sản của công ty tăng là do trong kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đã tăng 538.970.761.338 VNĐ giá trị TSDH tương ứng tăng 82,01% so với năm 2007. TSNH giảm 17.473.265.283 VNĐ tương ứng giảm 3,97% so với năm 2007.Trong tổng tài sản, TSDH chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở cả hai năm đều trên 59,92% (chủ yếu là TSCĐ hữu hình và đầu tư vào công ty con).TSNH chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, chỉ trên 26,08%. Điều này hoàn toàn phù hợp với loại hình kinh doanh ở Cảng Hải Phòng, do đó các tài sản dài hạn như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,truyền dẫn, nhà cửa, vật kiến trúc hay thiết bị dụng cụ quản lý…luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản. Qua đây ta thấy TSDH có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Tài sản ngắn hạn:
TSNH của công ty năm 2008 so với năm 2007 giảm 17.473.265.283 VNĐ tương ứng với 3,97% chủ yếu là do việc công ty giảm mạnh các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Vì năm 2008 là năm vô cùng khó khăn của Cảng Hải Phòng nói riêng cũng như của nền kinh tế thế giới nói chung. Khi nền kinh tế toàn cầu lâm vào tình trạng khủng hoảng thì những khoản đầu tư ngắn hạn sẽ có tỷ lệ rủi ro cao hơn. Nên đầu tư ngắn hạn năm 2008 giảm 72.352.601.100 VNĐ tương ứng giảm 7,46%. Mặc dù các khoản tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho,tài sản ngắn hạn tăng lên, nhưng mức tăng nhỏ hơn so với mức giảm của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn nên tổng tài sản vẫn giảm đi. Cụ thể là tiền tăng lên 10.436.557.911VNĐ so với năm 2007 tương ứng với 54,91%. Các khoản phải thu ngắn hạn tăng 19.166.974.646 VNĐ tương ứng với 21,54%. Hàng tồn kho năm 2008 tăng 8.302.980.219 VNĐ tương ứng với 52,07%. Trong điều kiện kinh tế như hiện nay, việc tăng hàng tồn kho, tăng khoản phải thu khách hàng là không tốt. Điều đó chứng tỏ công ty bị chiếm dụng vốn nhiều làm ảnh hưởng đến việc quay vòng vốn và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong năm tới, doanh nghiệp cần khắc phục điều này.
Tài sản ngắn hạn khác tăng mạnh lên 16.972.823.041 VNĐ tương ứng với205,62%. TSNH khác tăng là do doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng mạnh hơn 201 tỷ đồng, do đó các chi phí trả trước ngắn han, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước cũng tăng theo. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong TSNH của công ty là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn. Trong tổng tài sản, TSNH chiếm 40,08% thì các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn đã chiếm 18,99%, các khoản phải thu ngắn hạn chiếm 9,04% năm 2008. Điều này cho thấy sự biến động của TSNH chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động của các tài sản này.
- Tài sản dài hạn:
TSDH của năm 2008 tăng lên so với năm 2007 là 538.970.761.338 VNĐ tương ứng với 82,01%. Mức tăng này lớn nên tổng tài sản vẫn tăng lên 47,55% dù TSNH giảm đi 3,97% so với năm 2007. TSDH tăng chủ yếu là do tăng 506.571.546.012VNĐ giá trị TSCĐ tương ứng tăng 87,57%. Trong đó, TSCĐ hữu hình tăng 367.007.512.312VNĐ tương ứng tăng 79,41% do chủ yếu đầu tư vào nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận trải, truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, TSCĐ hữu hình khác. TSCĐ vô hình cũng tăng lên 14.611.011.110 VNĐ tương ứng tăng 774,78% đầu tư chủ yếu vào phần mềm máy vi tính. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng lên 32.399.215.326VNĐ tương ứng tăng 41,16% so với năm 2007. Trong đó, khoản đầu tư vào công ty con tăng 25.300.000.000 VNĐ tăng tương ứng 35,89%, còn khoản đầu tư dài hạn khác tăng vọt lên 7.099.215.326VNĐ tương ứng với 86,37%.
Nhìn chung, năm 2008, kết cấu tài sản của công ty thay đổi so với năm 2007 là chủ yếu đầu tư vào TSDH, TSNH đầu tư giảm dần. Đây là sự thay đổi theo hướng tích cực. Việc tăng TSCĐ nói trên phản ánh trong năm công ty đã tăng mức đầu tư vào TSCĐ, đổi mới máy móc thiết bị để phục vụ tốt hơn công tác sản xuất kinh doanh, và cũng là đầu tư theo chiều sâu nên kết quả của việc thay đổi kết cấu này cần phải có thời gian mới thấy được.
- Về phần nguồn vốn
Nguồn vốn của công ty được hình thành từ hai nguồn: vốn chủ sở hữu và vốn vay. Tổng nguồn vốn tăng 521.497.496.055VNĐ tương ứng tăng 47,55%. Trong đó, nợ phải trả năm 2008 so với năm 2007 tăng mạnh 470.212.436.886 VNĐ tương ứng với 299,95%. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm nguồn vốn của công ty tăng. Nguồn vốn chủ sở hữu tăng nhẹ 51.285.059.169 VNĐ tương ứng với 5,95% so với năm 2007. Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn công ty là vốn CSH, ở cả hai năm đều trên 56%. Điều này cho thấy mức độ độc lập về tài chính của công ty là khá cao nên ít bị rằng buộc hay chịu sức ép về các khoản nợ vay. Nhưng cũng cho thấy khả năng chiếm dụng vốn của công ty không cao, vốn vay chưa được sử dụng mạnh như một công cụ để gia tăng lợi nhuận. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
- Nợ phải trả:
Nợ phải trả năm 2008 tăng một cách đột biến 470.212.436.886VNĐ tương ứng với 299,95%. Nợ phải trả tăng lên chủ yếu là do khoản nợ dài hạn. Nợ dài hạn tăng 422.625.515.869VNĐ tương ứng tăng 427,97%. Trong đó, chủ yếu là vay dài hạn từ nguồn vốn viện trợ ODA. Nợ ngắn hạn tăng lên 47.586.921.017VNĐ tương ứng với 44,76% là do các khoản phải trả người bán tăng lên 11.516.651.400VNĐ tương ứng với201,44%, phải trả người lao động tăng lên 32.832.054.733 VNĐ tương ứng với 181,38%. Trong đó có khoản vay và nợ ngắn hạn giảm được 3.473.396.408VNĐ tương ứng giảm 9,46% – dù đây là khoản giảm nhẹ nhưng cũng là một dấu hiệu tích cực. Nợ dài hạn tăng mạnh 422.625.515.869VNĐ tương ứng với 427,97%. Nguồn vốn vay dài hạn ở đây chính là nguồn vốn viện trợ ODA. Từ năm 1999, thủ tướng Chính Phủ quyết định đầu tư dự án cải tạo, nâng cấp Cảng Hải Phòng giai đoạn II nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống trang thiết bị và luồng tàu vào Cảng Hải Phòng. Dự án sử dụng nguồn vốn vay ODA đặc biệt của chính phủ Nhật Bản thông qua ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản JBIC với tổng số vốn đầu tư hơn 1770 tỷ đồng.
- Nguồn vốn chủ sở hữu:
Năm 2008, nguồn vốn CSH tăng rất nhẹ 51.285.059.169VNĐ tương ứng với tốc độ tăng 5,95% chủ yếu là nguồn vốn, quỹ tăng 68.486.001.225VNĐ tương ứng với 108,44 %. Nguồn kinh phí và quỹ khác giảm 17.200.942.056VNĐ tương ứng với tốc độ giảm 33,96%. Đây là điều tất yếu vì năm 2008 là năm vô cùng khó khăn, lạm phát tăng cao lên tới trên 25%, tiếp đó là cuối năm 2008 kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái dẫn tới nền kinh tế trong nước cũng như đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, quỹ khen thưởng, phúc lợi giảm xuống cũng là một điều dễ hiểu.
Nhìn chung, năm 2008 kết cấu nguồn vốn của Cảng Hải Phòng so với năm 2007 có thay đổi: Cảng Hải Phòng tăng khoản nợ phải trả lên 299,95% nhằm mục đích tận dụng tối đa, hiệu quả nguồn vốn vay ODA. Theo đó, thì vốn chủ tăng rất nhẹ 5,95% so với năm 2007 là điều hợp lý.
3.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh.
- Nhận xét : Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
Tổng doanh thu của công ty năm 2008 tăng mạnh 200.789.660.065 tương ứng tăng 42,84% so với năm 2007. Việc tăng này chủ yếu là do tăng doanh thu thuần trao đổi dịch vụ dẫn tới tăng doanh thu cung cấp dịch vụ. Doanh thu thuần không thay đổi so với tổng doanh thu vì doanh nghiệp không phải giảm giá hàng bán, không phải chiết khấu thương mại hay hàng bán không bị trả lại. Đây là lợi thế của doanh nghiệp vì không phải xây dựng các khoản giảm trừ nên ít ảnh hưởng đến tổng doanh thu. Trong khi đó, doanh thu từ hoạt động tài chính tăng nhẹ 4.492.179.064VNĐ tương ứng với 23,86% mà chủ yếu là từ hoạt động lãi tiền gửi, tiền cho vay, cổ tức lợi nhuận được chia. Thu nhập khác giảm nhẹ 630.920.977VNĐ tương ứng với 14,96%. Tuy thu nhập khác giảm không nhiều nhưng doanh nghiệp cũng nên lưu ý tới vấn đề này.
Tổng doanh thu thuần tăng kéo theo tổng chi phí năm 2008 cũng tăng theo, cụ thể là tổng chi phí tăng 215.888.913.215 tương ứng với 47,35%. Từ trên đây, ta thấy rõ tốc độ tăng của tổng chi phí 47,35% lớn hơn tốc độ tăng của tổng doanh thu 42,84%. Điều đó, dẫn tới lợi nhuận trước thuế năm 2008 giảm đi 11.237.995.063VNĐ tương ứng với 28,48% kéo theo lợi nhuận sau thuế cũng giảm đi 8.091.356.445VNĐ tương ứng với 28,48%. Tốc độ tăng của tổng chi phí rất lớn nhưng trong đó vẫn có khoản chi phí quản lý doanh nghiệp giảm nhẹ 2.807.344.431VNĐ tương ứng với 8,94%. Chứng tỏ, doanh nghiệp đã áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000, đây là điểm tốt mà doanh nghiệp cần phát huy. Trong đó, cũng phải kể đến chi phí tài chính năm 2008 tăng một cách đột biến so với năm 2007 lên 32.078.555.518VNĐ tương ứng với1076,68% mà chủ yếu là các khoản lãi tiền vay và lỗ do chênh lệch tỷ giá đã thực hiện. Sau khi đi tìm hiểu, em đựoc biết nguyên nhân là do thị trường thế giới cũng như thị trường hàng hoá có nhiều biến động gây bất lợi cho nền công nghiệp Việt Nam, tình hình lạm phát kéo dài khiến cho tiền tệ ở nhiều quốc gia bị phá giá. Do ảnh hưởng của tài chính – tiền tệ thế giới và khu vực, đồng tiền Việt Nam bị mất giá so với đồng USD đã ảnh hưỏng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Cảng Hải Phòng và tác động trực tiếp tới chi phí tài chính.
Qua bảng phân tích ở trên, ta thấy để có 100 đồng doanh thu thuần trong năm 2007 doanh nghiệp phải bỏ ra 88,17 đồng giá vốn hàng bán và 0,64 đồng chi phí tài chính và 7,59 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp và 0,11 đồng chi phí khác. Trong 100 đồng doanh thu thuần năm 2008 doanh nghiệp phải bỏ ra 89,61 đồng giá vốn hàng bán và 5,24 đồng chi phí tài chính và 4,89 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp và 0,07 đồng chi phí khác. Như vậy, năm 2008 doanh nghiệp chưa làm tốt việc tiết kiệm chi phí trên một đồng doanh thu thuần. Tuy nhiên việc giảm chi phí quản lý doanh nghiệp trên 100 đồng doanh thu đã góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cứ 100 đồng doanh thu thuần năm 2007 thì đem lại 8,42 đồng lợi nhuận trước thuế và 6,06 đồng sau thuế ; năm 2008 thì đem lại 4,21 đồng lợi nhuận trước thuế và 3,03 đồng sau thuế.
Vì chiến lược của công ty là chấp nhận tăng chi phí để củng cố và mở rộng thị trường nhằm cải thiện tình hình Cảng Hải Phòng trong thời kì khó khăn nên kết quả trên có thể chấp nhận được. Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải


Pingback: Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng