Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

PHẦN I CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phát sinh nhiều mối quan hệ kinh tế. Song song với những quan hệ kinh tế thể hiện một cách trực tiếp là các quan hệ kinh tế thông qua tuần hoàn luân chuyển vốn, gắn với việc hình thành và sử dụng vốn tiền tệ. Các quan hệ kinh tế này phụ thuộc phạm trù tài chính và trở thành công cụ quản lí sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp.

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ các doanh nghiệp để phục vụ và giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh.

1.1.2 Bản chất tài chính doanh nghiệp:

Có thể nói tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với sự tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, các hoạt động gắn liền với việc phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp

1.1.3 Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp

Căn cứ vào hoạt động của Doanh nghiệp trong một môi trường kinh tế xã hội có thể thấy quan hệ tài chính của doanh nghiệp hết sức phong phú và đa dạng. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

  • Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước

Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí…vào ngân sách Nhà nước. Hay quan hệ này còn được biểu hiện thông qua việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động, hỗ trợ doanh nghiệp về kỹ thuật, cơ sở vật chất, đào tạo con người…

  • Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tại chính

Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn,có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng

  • Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác

Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động…Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu hàng hoá, dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường

  • Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp

Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa các cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt các chính sách của doanh nghiệp như : chính sách cổ tức ( phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…

1.1.4. Các chức năng của tài chính doanh nghiệp

Bản chất tài chính quyết định các chức năng tài chính.Chức tài chính là những thuộc tính khách quan,là khả năng bên trong của phạm trù tài chính.

  • Tổ chức vốn và luân chuyển vốn. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Một trong những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục là phải có đầy đủ vốn để thoả mãn các nhu cầu chi tiêu cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh.Song, do sự vận động của vật tư, hàng hoá và tiền tệ thường không khớp nhau về thời gian nên giữa nhu cầu và khả năng về vốn tiền tệ thường không cân đối nhau. Vì vậy, đảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề quan trọng, đòi hỏi phải tổ chức vốn.

Thực hiện tốt chức năng tổ chức của tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là dùng một số vốn ít nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.

  • Phân phối thu nhập bằng tiền

Sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh,doanh nghiệp có được thu nhập bằng tiền. Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục cần thiết phải phân phối số thu nhập này.

Thực chất đó là quá trình hình thành các khoản thu nhập bằng tiền, bù đắp chi phí (chi phí sản xuất kinh doanh,chi phí sản xuất lưu thông..) phân phối tích lũy tiền tệ đạt được thông qua sự vận động và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp. Việc thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa quan trọng:

Đảm bảo bù đắp những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn vốn cho quá trình kinh doanh được liên tục.

Phát huy được vai trò của đòn bẩy tài chính doanh nghiệp.Kết hợp đúng đắn giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên,thúc đẩy doanh nghiệp và công nhân viên quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.

  • Giám đốc (kiểm tra)

Tổ chức vốn, phân phối thu nhập và tích luỹ tiền tệ đòi hỏi phải có sự giám đốc, kiểm tra.

Giám đốc của tài chính doanh nghiệp là loại giám đốc toàn diện,thường xuyên và có hiệu quả cao,không những giúp doanh nghiệp thấy rõ tiến trình hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp hấy rõ hiệu quả kinh tế do những hoạt động đó mang lại. Bởi vì hầu hết các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều được thể hiện qua các chỉ tiêu tiền tệ. Từ đó, thông qua tình hình quản lý và sử dụng vốn, chi phí dịch vụ, các loại quỹ, các khoản tiền thu, thanh toán với cán bộ công nhân, với các đơn vị kinh tế khác,với Nhà nước…mà phát hiện chỗ mạnh, chỗ yếu từ đó có biện pháp tác động thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến các hoạt động tổ chức quản lý kinh doanh sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Ba chức năng của tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời nhau. Thực hiện chức năng quản lý vốn và chức năng phân phối tiến hành đồng thời với chức năng giám đốc. Quá trình giám đốc, kiểm tra tiến hành tốt thì quá trình tổ chức phân phối vốn mới được thực hiện tốt. Ngược lại, việc tổ chức vốn và phân phối tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng giám đốc.

1.2. Quản trị tài chính doanh nghiệp Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

1.2.1 Khái niệm về quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Quản trị tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và gĩư vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp. Hầu hết mọi quyết định quản trị khác đều dựa trên những kết luận rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.

  • Các quyết định tài chính chủ yếu của công ty:

Quyết định đầu tư: là loại quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản, giá trị từng bộ phận tài sản cần có và mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp. Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản. Cụ thể có thể liệt kê một số loại quyết định đầu tư như : quyết định đầu tài sản lưu động, quyết định đầu tư tài sản cố định, quyết định quan hẹ cơ cấu giữa đầu tài sản lưu động và đầu tư tài sản cố định.

Quyết định nguồn vốn : nếu quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết định nguồn vốn liên quan đến bên phải bảng cân đối tài sản. Nó gắn liền với việc quyết định nên lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp việc mua sắm tài sản. Ngoài ra, quyết định nguồn vốn còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để tái đầu tư và lợi nhuận được phân chia cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Một số quyết định về nguồn vốn : quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn, quyết định huy đông vốn dài hạn, quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính), quyết định vay để mua hay thuê tài sản.

Quyết định phân chia cổ tức (hay chính sách cổ tức của công ty).Trong loại quyết định này giám đốc tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay giữ lại để tái đầu tư. Ngoài ra, giám đốc tài chính còn phải quyết định xem công ty nên theo đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức đó có tác động gì đến giá trị công ty hay giá cổ phiếu trên thị trường hay không. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Các quyết định khác: ngoài ba loại quyết định chủ yếu trong tài chính công ty vừa nêu, còn có rất nhiều loại quyết định khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty như : quyết định hình thức chuyển tiền, quyết định phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong hoạt động, quyết định tiền lương hiệu quả…

1.2.2.Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh,tài chính doanh nghiệp giữ vai trò chủ yếu sau:

  • Huy động và đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
  • Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
  • Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.3. Các nội dung chủ yếu của quản trị tài chính doanh nghiệp

Quản trị tài chính doanh nghiệp tương bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

  • Tham ga đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
  • Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp
  • Tổ chức sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
  • Thực hiện việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
  • Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp.
  • Thực hiện việc dự báo và kế hoạch hoá tài chính doanh nghiệp.

PHẦN II GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá

Công ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá tiền thân là xí nghiệp cảng Xếp Dỡ Đoạn Xá, là đơn vị trực thuộc cảng Hải Phòng, được thành lập theo quyết định số 334/TCCB – LĐ ngày 28/06/1995 của cục Hàng Hải Việt Nam.

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203000123 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hải Phòng cấp đăng ký lần đầu ngày 27 tháng 11 năm 2001, đăng ký lần 2 ngày 11 tháng 06 năm 2008.

Ngày 19/10/2002, theo Quyết định số 1372/QĐ/TTg của Thủ Tướng Chính Phủ – nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xí nghiệp Xếp Dỡ Đoạn Xá chuyển thành Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá với vốn điều lệ là 35.000.000.000 đồng trong đó Vốn Nhà Nước là 17.850.000.000 đồng chiếm 51%. Với bề dầy lịch sử hơn 13 năm, Công ty đã từng bước xây dựng – trưởng thành và phát triển qua nhiều giai đoạn:

  • Từ khi thành lập đến 10/2001, Cảng Đoạn Xá là đơn vị hạch toán phụ thuộc Cảng Hải Phòng, trong những năm này do chưa được chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị nên chưa khai thác hết được lợi thế của mặt bằng (khoảng 65.000 m2) và cầu cảng để đưa vào sử dụng.
  • Từ đầu năm 2002,công ty đã tiến hành đầu tư vào các dự án:

Dự án đầu tư cải tạo cầu tàu với số vốn điều lệ 29 tỷ đồng, Dự án xây dựng nhà điều hành với số vốn đầu tư 1,8 tỷ đồng,  Đầu tư 01 cầu trục chân đế 40 tấn với số vốn 25 tỷ đồng

Đầu tư 01 xe nâng hàng đóng rút container 04 tấn,02 xe tải và các tài sản cố định khác với mức đầu tư khoáng 06 tỷ đồng

Các dự án này sau khi thực hiện đã phát huy được hiệu quả ngay trong năm 2002,2003.

Ngày 12 tháng 12 năm 2005, Trung tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội chứng nhận : Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá được niêm yết cổ phiếu phổ thông tại Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội kể từ ngày 12/12/2005 với mã chứng khoán DXP.

Ngày 13 tháng 11 năm 2006, Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước chứng nhận : Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá được niêm yết cổ phiếu phổ thông tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh kể từ ngày 13/11/2006.Ngày giao dịch đầu tiên tại Sở GDCK TP Hồ Chí Minh là ngày 11/12/2006. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Ngày 25 tháng 12 năm 2007, công ty phát hành cổ phiếu thưởng để tăng vốn điều lệ lên 52.500.000.000 đồng từ quỹ đầu tư phát triển và lợi nhuận sau thuế năm 2007 theo nghị quyết của Đại Hội Đồng Cổ Đông ngày 20 tháng 11 năm 2007,trong đó vốn nhà nước là 26.775.000.000 đồng chiếm 51%. Ngày 25/01/2008 cổ phiếu phát hành thêm được chính thức giao dịch tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh.

Từ sau khi được cổ phần hoá, Công ty tiếp tục kế thừa, duy trì và phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh hiện có, đồng thời tiến hành khai thác tối đa các tiềm năng, từng bước mở rộng phạm vi hoạt động, tìm hiểu lợi thế của địa phương, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, hợp tác liên doanh tạo ra các hoạt động phát triển ổn định, bền vững. Nhờ việc phát huy tính độc lập, chủ động, bên cạnh đó tiếp tục tìm kiếm các dự án đầu tư có tính khả thi cao. Tất cả những điều đó là yếu tố, là điều kiện quan trọng cho Công ty bước vào nền kinh tế hội nhập của đất nước.

Hội nhập AFTA và WTO thực sự là một luồng gió lớn thổi vào những cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam khi được trực tiếp tiếp xúc hoạt động và kinh doanh trên thị trường toàn cầu. Trong môi trường kinh doanh đầy hấp dẫn nhưng cũng nhiều thử thách đó, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng được cơ hội để mở rộng và phát triển kinh doanh, tạo được những thành công và mang lại lợi ích cho xã hội cũng như bản thân doanh nghiệp. Nhưng bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và đầy quyết liệt đã khiến nhiều doanh nghiệp không theo kịp bước tiến của nền kinh tế thời mở cửa dẫn đến tình trạng khó khăn, trì trệ, thậm chí là khủng hoảng hay phá sản.

Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá cũng không phải là một ngoại lệ. Song với nỗ lực tìm ra cho mình một hướng đi riêng trên con đường phát triển trong suốt hơn 13 năm qua, Công ty đã đạt được những bước tiến nhất định của mình.

2.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty trong giai đoạn hiện nay Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

2.2.1. Ngành nghề kinh doanh :

Các ngành kinh doanh của công ty :

(theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203000123 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Thành Phố Hải Phòng cấp)

  • Dịch vụ xếp dỡ hàng hoá tại cảng biển
  • Kinh doanh kho bãi
  • Vận tải và dịch vụ vận tải thuỷ,bộ
  • Dịch vụ đại lý vận tải đường biển, đại lý Hàng Hải
  • Dịch vụ lai dắt,hỗ trợ tàu biển
  • Dịch vụ Logictisc

2.2.2. Mục tiêu chủ yếu của Công ty

Đầu tư hoàn chỉnh và đồng bộ hệ thống công nghệ xếp dỡ, nâng cao năng suất, chất lượng các dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng sản xuất kinh doanh và phát triển thị phần, cải tiến quy trình phục vụ khách hàng theo hướng an toàn, chính xác, áp dụng công nghệ mới nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ và giảm giá thành. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 6% – 8%.

Công ty tiếp tục củng cố tổ chức, đào tạo bổ sung lực lượng trẻ, nâng cao tay nghề CNV đồng thời tăng cường công tác quản lý và quản trị công ty. Bên cạnh đó, Công ty tiếp tục đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, phát triển các loại hình dịch vụ có khả năng sinh lời cao như dịch vụ bến bãi, xếp dỡ, vận chuyển container.

2.2.3.Chiến lược phát triển trung và dài hạn

  • Khai thác tối đa nguồn lực hiện tại của Công ty
  • Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh phù hợp hướng phát triển của ngành, của Nhà nước và của khu vực.
  • Đầu tư hoàn chỉnh và nâng cao năng lực hệ thống cơ sở hạ tầng và dây chuyền xếp dỡ container.
  • Hoàn thiện và nâng cao khả năng áp dụng công nghệ thông tin trong điều hành và quản lý doanh nghiệp.

2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá

Cùng với việc thực hiện chức năng – nhiệm vụ của mình, Công ty đã hoàn thiện bộ máy quản lý về nhân sự, quản lý kinh doanh cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh và địa bàn hoạt động của đơn vị mình. Hiện nay, hoạt động và tổ chức của Công ty tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp hiện hành và Điều lệ của Công ty, cụ thể như sau.

Nhìn vào sơ đồ ta có thể nhận thấy bộ máy quản lý của Công Ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá được tổ chức theo mô hình quản lý trực tuyến – chức năng. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Ưu điểm : theo mô hình này bộ máy quản lý được chia ra thành các bộ phận có chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng cụ thể, như vậy việc truyền thông tin trong nội bộ công ty, giữa lãnh đạo và nhân viên cấp dưới diễn ra một cách nhanh chóng và chính xác, tránh được sự chồng chéo rối loạn góp phần quan trọng trong việc đưa ra các quyết định quản lý hợp lý, kịp thời có hiệu quả.

Nhược điểm : các phòng ban được tổ chức theo chức năng đa dạng dễ dẫn tới sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, sự phối hợp giữa các phòng ban có thể bị hạn chế bởi tính chất cục bộ. Do vậy, Công ty cần có sự phân công và hiệp tác lao động rõ ràng cụ thể và minh bạch.

2.3.1.Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban và Ban Giám Đốc

  • Đại hội đồng Cổ đông:

Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết định mọi vấn đề quan trọng của công ty theo Luật Doanh Nghiệp và Điều Lệ Công Ty.ĐHĐCĐ là cơ quan thông qua chủ trương, chính sách đầu tư ngắn và dài hạn trong việc phát triển công ty, quyết định cơ cấu vốn, bầu ra ban quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của công ty.

  • Hội đồng quản trị:

Là cơ quan thay mặt ĐHĐCĐ quản lý Công ty giữa hai kỳ Đại Hội, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của công ty. Trừ những vấn đề thuộc ĐHĐCĐ quyết định,định hướng các chính sách tồn tại và phát triển thông qua việc hoạch định các chính sách, ra nghị quyết hành động cho từng thời điểm phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.

  • Ban kiểm soát:

Có nhiệm vụ thay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành Công ty nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp cho các cổ đông. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

  • Ban điều hành:

Giám đốc: là người điều hành cao nhất mọi hoạt động hàng ngày của Công ty và cũng là người chịu trách nhiệm cao nhất trước Hội đồng quản trị và Đại hội đồng Cổ đông. Tất cả các phòng ban, chi nhánh, đại diện đều thuộc quyền quản lý của giám đốc.

Phó giám đốc: là người giúp việc và có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc. Cả 2 Phó giám đốc đều có thể ký kết hợp đồng theo sự uỷ quyền của giám đốc và trực tiếp quản lý một số phòng ban với từng loại hình kinh doanh.

Kế toán trưởng: là người giúp việc cho giám đốc về các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực tài chính, tiền tệ và thuế khoá của Công ty. Điều hành nghiệp vụ kế toán của Công ty theo các nguyên tắc được Pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống tài khoản kế toán quốc gia.

  • Các bộ phận thuộc quản lý của Ban điều hành:

Phòng Tổ chức tiền lương – hành chính: có nhiệm vụ tham mưu cho Ban giám đốc về tổ chức bộ máy quản lý,quy hoạch, bổ nhiệm và đào tạo cán bộ. Tổ chức, quản lý lao động, quản lý sản xuất,giải quyết các chế độ chính sách cho người lao động và những vấn đề về nhân sự trong công ty như đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ của Công ty.

Phòng tài chính – kế toán: có chức năng tham mưu cho Ban Giám Đốc chỉ đạo các đơn vị thực hiện các chế độ quản lý tài chính, tiền tệ tuân thủ theo đúng chế độ và thể lệ kế toán của Nhà Nước. Tổ chức và thực hiện chế độ quản lý sử dụng vốn, các quỹ và tài sản để phục vụ nhu cầu trong sản xuất kinh doanh theo quy định của Nhà nước và điều lệ của Công ty theo nguyên tắc bảo toàn và sinh lãi.

Phòng kế hoạch – kinh doanh: là phòng tham mưu cho Ban Giám Đốc trong công tác xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất phục vụ SXKD và phát triển của công ty, báo cáo, tổng hợp tình hình trong quá trình thực hiện kế hoạch, phân tích kết quả SXKD của công ty theo định kỳ tháng, quý, năm.

Phòng khai thác : tham mưu cho Ban Giám Đốc trong lĩnh vực tiếp thị tìm kiếm thu hút nguồn hàng, tổ chức triển khai thực hiện công tác khai thác cầu tầu, kho tàng bến bãi và các dịch vụ khác đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Tổ chức và thực hiện công tác bảo hộ lao động. Kiểm tra đôn đốc việc chấp hành nội quy kỷ luật lao động, an ninh trật tự, PCCC và vệ sinh môi trường trong công ty.

Phòng kỹ thuật công nghệ : có chức năng tham mưu cho Ban Giám Đốc công ty về các mặt kỹ thuật,đầu tư đổi mới công nghệ, phương tiện, công cụ xếp dỡ, các định mức tiêu hao nhiên liệu, vật tư…

Phòng bảo vệ và an ninh Cảng biển : có chức năng tham mưu cho Ban Giám Đốc về công tác An ninh cảng biển, bảo vệ giữ gìn an ninh trật tự, công tác quân sự và phòng chống cháy nổ.

2.4. Những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

2.4.1.Thuận lợi:

Các hoạt động khai thác Cảng và giao nhận vận chuyển hàng hoá là 1 lĩnh vực hoạt động thiết yếu, phục vụ cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hàng năm, tỷ trọng hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển chiếm khoảng 80% toàn bộ lượng hàng hoá xuất nhập khẩu. Đây là 1 trong những nhân tố quan trọng hàng đầu có ảnh hưởng tích cực đến lượng hàng hoá thông qua cảng Đoạn Xá, tạo điều kiện nâng cao doanh thu cho cảng.

Theo xu hướng toàn cầu hoá và việc Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, đặc biệt Việt Nam đang trong lộ trình gia nhập tổ chức thương mại Thế Giới WTO, trong tương lai lượng hàng hoá xuất nhập khẩu vào Việt Nam chắc chắn sẽ tăng mạnh và lợi thế về địa điểm, kho bãi và dịch vụ xếp dỡ truyền thống sẽ tăng trưởng mạnh từ đó tạo điều kiện thuận lợi nâng cao sản lượng hàng hoá thông qua cảng Đoạn Xá.

Bên cạnh đó, quan hệ đối tác của Cảng với các hãng tàu đang trong quá trình phát triển, do đó sự ảnh hưởng theo chiều hướng xấu với các đối tác trong thời gian tới là rất ít xảy ra.

Công ty có khả năng cạnh tranh cao nhờ quá trình cung cấp dịch vụ được tổ chức khép kín, quy trình khai thác giao nhận: tiếp nhận – thu gom- lưu kho bãi- vận chuyển, trong đó thế mạnh của công ty là hệ thống kho bãi rộng lớn( 65.000 m2 bãi chứa container và 2.900 m2 kho).

Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá có ban lãnh đạo giỏi về nghiệp vụ, từng trải về kinh nghiệm, “có bước đột phá trong khâu quản lý điều hành”. Đội ngũ công nhân viên tay nghề cao, tự giác, nghiêm túc làm việc, luôn tìm tòi sáng tạo cải tiến kỹ thuật,nâng cao trình độ chuyên môn, không sợ khó, sợ khổ để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Với những điều kiện thuận lợi về mặt địa lý, trong thời gian qua Công ty đã đầu tư mới, nâng cao năng lực xếp dỡ và kho bãi với tổng giá trị đầu tư gần 100 tỷ đồng, bao gồm: cải tạo, nâng cấp cầu tàu cho tàu 10.000 DTW, lắp đặt 2 cần trục chân đế 40 tấn, đầu tư thiết bị xếp dỡ, phương tiện vận tải và 1 số tài sản, thiết bị quản lý … nâng cao năng lực xếp dỡ, vận chuyển và giao nhận hàng hoá của công ty. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Các điều kiện nêu trên là những cơ sở thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của Cảng trong những năm tới đây.

2.4.2. Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, Cảng Đoạn Xá còn phải đối mặt với 1 số khó khăn thách thức còn tồn tại. Do hoạt động khai thác cảng gắn liền với sự tăng trưởng về xuất nhập khẩu và chính sách phát triển kinh tế, do đó khi chính sách xuất nhập khẩu thay đổi đặc biệt về cơ cấu ngành hàng thì sẽ có tác động trực tiếp đến kim ngạch xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Cảng.

Điểm bất lợi khác nữa là khi Việt Nam gia nhập WTO, các mảng dịch vụ đại lý, dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hoá… công ty đang triển khai sẽ vấp phải sự cạnh tranh trực tiếp khi các hãng tàu nước ngoài trực tiếp thực hiện các dịch vụ này.

Khách hàng của Cảng chủ yếu là khách hàng nước ngoài nên doanh thu của công ty tính bằng ngoại tệ rất lớn, thêm vào đó ngoại trừ những khoản đầu tư mua sắm trang thiết bị chuyên dùng hầu hết chi phí của công ty là đồng Việt Nam, do đó chênh lệch tỷ giá hối đoái giữa đồng việt Nam và ngoại tệ cũng là 1 rủi ro của công ty.

2.4.3. Định hướng phát triển trong tương lai:

  • Kế hoạch kinh doanh ngắn hạn:
  • Tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã ký kết.

Tăng cường công tác Marketing, tìm kiếm khách hàng mới, giữ vững khách hàng truyền thống. Đề ra chính sách giá cả hợp lý để tạo điều kiện cho các nghiệp vụ gia tăng sản lượng và doanh thu một cách có hiệu quả. Điểm quan trọng hiện tại là nâng cao chất lượng xếp dỡ và rút ngắn thời gian giải phóng tàu.

  • Việc mở rộng thị phần tiến hành theo 3 hướng:

Khẳng định vị thế trong khai thác vùng chuyển tải. Phối hợp với Cảng Quảng Ninh trong công đoạn xếp dỡ, vận tải hàng từ Cảng Cái Lân về Đoạn Xá và giao cho chủ hàng. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Mở tuyến vận tải, gom hàng Container từ khu vực Ninh Bình, Thanh Hoá chuyển về Đoạn Xá hoặc chuyển thẳng ra khu vực chuyển tải.

Phát triển các loại hình dịch vụ Hàng hải dựa trên các lợi thế của công ty như: Cung ứng nước ngọt, nhiên liệu, vận tải bộ, uỷ thác giao nhận vận tải,…

Thường xuyên chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, tinh gọn bộ máy quản lý điều hành. Tổ chức huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có đầy đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu kinh doanh, có khả năng hoàn thành tốt công việc và trung thành với lợi ích của công ty.

  • Quy hoạch lại các hệ thống kho bãi, khai thác triệt để diện tích kho bãi, cầu cảng Container.
  • Tăng cường công tác quản lý kĩ thuật, công nghệ, công tác quản lý tài chính, …
  • Bảo toàn, tích luỹ và phát triển nguồn vốn kinh doanh, tiết kiệm, giảm chi phí tối đa.
  • Kế hoạch dài hạn :
  • Khai thác tối ưu năng lực hiện tại của công ty.
  • Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh phù hợp hướng phát triển của ngành, của Nhà nước và của khu vực.
  • Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh và nâng cao năng lực hệ thống cơ sở hạ tầng và dây chuyền xếp dỡ Container.
  • Xúc tiến 2 phương án đầu tư mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh:
  • Phối hợp với công ty Công trình thuỷ Hải Phòng xây dựng 40m cầu tàu phía thượng lưu . Dự án hoàn thành cho phép tiếp nhận một lúc 02 tàu Container vào khai thác.
  • Đầu tư 01 bến cảng Container tại Đình Vũ, đây là hướng mở rộng phát triển kinh doanh, tháo dỡ khó khăn của công ty trong tương lai khi quy mô tăng lên.

PHẦN III PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải đặc biệt quan tâm tới nguồn huy động vốn ngoài nguồn tự có, phân phối và sử dụng vốn một cách có hiệu quả để kịp thời đáp ứng nhu cầu kinh doanh. Đồng thời cơ cấu giữa tài sản và nguồn vốn có hợp lý hay không, thể hiện chính sách kinh doanh qua đó quyết định tới thành công của doanh nghiệp.

Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá:

3.1.Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

  • Phần Tài sản

Qua bảng cân đối kế toán của Công ty có thể thấy được tài sản của công ty đã có sự thay đổi cụ thê là: năm 2007 : Tổng tài sản của Công ty là : 102.987.975.098 VNĐ trong đó: Tài sản ngắn hạn : 21.729.976.826 VNĐ tương ứng với tỷ lệ là 21,1 %

Tài sản dài hạn :  81.257.998.272 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 78,9% năm 2008 : Tổng tài sản của Công ty là : 123.643.198.244 VNĐ trong đó: Tài sản ngắn hạn : 32.082.359.039 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 25,95% Tài sản dài hạn : 91.560.839.250 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 74,05 %

Như vậy là trong thời gian qua từ năm 2007 đến năm 2008 thì tổng tài sản của Công ty năm 2008 tăng so với năm 2007 từ 102.987.975.098 VNĐ lên 123.643.198.244 VNĐ tức là tăng lên 20.655.223.144 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 20,06 %.Trong đó :

Tài sản ngắn hạn năm 2008 tăng so với năm 2007 là10.352.382.213VNĐ tức là tăng với tỉ lệ là 47,64%.Nguyên nhân chủ yếu là ro :

Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2008 tăng so với năm 2007 là 5.709.584.822 VNĐ tương ứng với tỉ lệ tăng là 112%.Có thể nói trong năm 2008 lượng tiền mặt tồn quỹ của công ty là khá lớn sẽ làm tăng tính chủ động của doanh nghiệp, tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến công hạn. Tuy nhiên, công ty nên gửi tiền vào ngân hàng hoặc huy động một phần tiền vào kinh doanh trong kỳ để tạo ra các khoản lãi và tăng năng lực cho hoạt động kinh doanh sẽ hiệu quả hơn.

Các khoản phải thu ngắn hạn : Qua bảng cân đối kế toán ta cũng thấy được các khoản phải thu năm 2008 tăng so với năm 2007 từ 12.527.406.377VNĐ đến 14.593.770.376 VNĐ tức là tăng 2.066.364.001 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 16,49 %. Điều này chứng tỏ trong năm 2008 các khoản phải thu của Công ty còn đọng rất nhiều, vì vậy công ty cần phải có chính sách đôn đốc khách hàng thanh toán đúng hạn, bởi nếu tình trạng này kéo dài thì sẽ dẫn đến nguồn vốn của công ty bị chiếm dụng, có thể nằm trong tình trạng phụ thuộc vào khách hàng. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:năm 2008 các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của công ty tăng lên 20% từ 2.500.000.000VNĐ lên 3.000.000.000VNĐ

Hàng tồn kho : So với năm 2007 lượng hàng tồn kho của công ty năm 2008 giảm 94.080.604 VNĐ tương ứng với tỉ lệ giảm là 17,33%. Do hàng tồn kho của công ty chủ yếu là nhiên liệu và công cụ dụng cụ phục vụ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nên việc hàng tồn kho giảm là một tín hiệu tốt.

Tài sản ngắn hạn khác : trong năm 2008 công ty đã đầu tư khá nhiều vào tài sản ngắn hạn khác cụ thể là tài sản ngắn hạn khác năm 2008 tăng so với năm 2007 là 2.170.513.996 VNĐ tương ứng với tỉ lệ tăng là 204,48%.

Tài sản dài hạn năm 2008 tăng so với năm 2007 là 10.302.840.933 VNĐ tức là tăng với tỉ lệ là 12,68%. Nguyên nhân chủ yếu là do:

Tài sản cố định : việc tài sản dài hạn tăng lên chính là do tài sản cố định của công ty tăng lên từ 75.389.877.272 VNĐ đến 82.961.215.455 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 10,04%. Điều này chứng tỏ Công ty đang trên đà hoàn thiện và phát triển, tài sản cố định tăng lên là do công ty đang tập trung vào việc đầu tư máy móc,thiết bị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Các khoản đầu tư tài chính dài hạn : năm 2008 các khoản đầu tư tài chính của công ty tăng 2.700.000.000 tương ứng với tỉ lệ tăng 46,55%. Đây là các khoản đầu tư tương ứng với 550.000 cổ phần chiếm 2,84% vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Cảng Đình Vũ với giá trị 5.500.000.000 đồng; và 30.000 cổ phần chiếm 2,5% vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Hàng Hải Hải Phòng với giá trị 3.000.000.000 đồng.

  • Nguồn vốn

Tình hình sử dụng nguồn vốn của Cảng Đoạn Xá qua 2 năm 2007 và 2008:

Tổng Nguồn vốn năm 2007 là 102.987.975.098 VNĐ. Trong đó: Nợ phải trả là : 39.068.890.360 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 37,9% Vốn chủ sở hữu là : 63.919.084.738 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 62,07%

Tổng Nguồn vốn năm 2008 là 123.643.198.244VNĐ. Trong đó: Nợ phải trả là : 40.097.039.155 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 32,43% Vốn chủ sở hữu là : 83.546.159.089 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 67,57% Như vậy tổng nguồn vốn năm 2008 tăng hơn so với năm 2007 là 20.655.223.144 VNĐ tương ứng với tỉ lệ là 20,06 %.Nhưng bên cạnh đó :

  • Nợ phải trả năm 2008 lại tăng so với năm 2007 là 1.028.148.790 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 2,63%.Trong đó:

Nợ ngắn hạn tăng từ 12.235.732.279 VNĐ đến 23.883.413.614 VNĐ tức là tăng lên 11.647.681.335 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 95,2%. Nguyên nhân chủ yếu là do tăng các khoản phải trả người bán, phải trả người lao động và các khoản phải trả phải nộp khác. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Với việc vay nợ dài hạn giảm từ 26.833.158.081 VNĐ xuống còn 16.213.625.541 VNĐ tức là giảm 10.619.532.540 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 39,58 % đã chứng tỏ rằng Công ty đã thanh toán được các khoản nợ dài hạn phải trả, việc sử dụng nguồn vốn của Công ty đã có hiệu quả.

Vốn chủ sở hữu năm 2008 tăng so với năm 2007 từ 63.919.084.738 VNĐ đến 83.546.159.089 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 30,7 %. Như vậy vốn chủ sở hữu của công ty đã tăng lên đang kể, chứng tỏ trong năm qua công ty đã chú ý đến vấn đề huy động nguồn vốn chủ sở hữu.

Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng lên là một dấu hiệu tốt, công ty đã tăng được nguồn vốn tự có của mình, khả năng độc lập tài chính tương đối cao, nâng cao niềm tin cho các chủ nợ.Tuy nhiên, do vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn 68% sẽ dẫn đến chi phí sử dụng vốn lớn, sức sinh lời sẽ giảm.

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.

  • TÀI SẢN LƯU ĐỘNG + ĐẦU TƯ NGẮN HẠN > NỢ NGẮN HẠN

Điều này chứng tỏ 1 phần tài sản ngắn hạn của công ty được tài trợ bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Tuy điều này tạo được sự an toàn cho công ty nhưng chi phí sử dụng vốn lại cao.

TÀI SẢN CỐ ĐỊNH + ĐẦU TƯ DÀI HẠN < NỢ DÀI HẠN + VỐN CSH Điều này cho thấy toàn bộ tài sản dài hạn của công ty đều được tài trợ bởi nguồn vốn chủ sở hữu và vay nợ dài hạn. Tuy điều này là an toàn nhưng lợi nhuận lại thấp.

3.2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cảng

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một trong những nguồn cung cấp các thông tin tài chính quan trọng không chỉ đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn được rất nhiều đối tượng khác quan tâm như: các nhà đầu tư, khách hàng, Chính phủ,… Điều đó càng làm cho khả năng sinh lời, kết quả kinh doanh trở thành mục tiêu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hai năm qua của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá  được thể hiện qua bảng sau:

Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Cảng năm 2008 và năm 2007 ta thấy lợi nhuận chưa phân phối :

  • Năm 2007 là : 15.312.383.368 VNĐ
  • Năm 2008 là : 30.233.413.727 VNĐ

Như vậy lợi nhuận năm 2008 tăng so với năm 2007 cụ thể là 14.921.030.359 VNĐ tương ứng với tỷ lệ là 97,4 % đã cho thấy được năm 2008 Công ty kinh doanh rất hiệu quả,phản ánh được sự phát triển của Cảng.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2008 tăng lên so với năm 2007 là 25.175.189.471 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 34,48%. Nguyên nhân là do sự tăng trưởng của hàng hoá mà chủ yếu là hàng container, đây là mặt hàng có giá cước cao so với các mặt hàng khác. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Giá vốn hàng bán năm 2008 tăng hơn năm 2007 là 7.286.988.044 VNĐ tương ứng với tỷ lệ 14,4 % . Như vậy tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nghĩa là hiệu quả sản xuất kinh doanh của Cảng đã được cải thiện.Chính vì vậy lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2008 so với năm 2007 tăng 17.888.201.427 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 79,7 %

Chi phí quản lý doanh nghiệp : so với năm 2007,năm 2008 chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 1.225.088.346 VNĐ tương ứng với tỉ lệ 21,4%, nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu (34,48%). Xét tỉ số giữa tốc độ tăng chi phí quản lý doanh nghiệp với tốc độ tăng doanh thu là 0,62% tức là nhỏ hơn 1. Điều đó cho thấy công ty đã tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp nhằm nâng cao lợi nhuận.

Doanh thu tài chính : so với năm 2007 doanh thu tài chính năm 2008 tăng lên một lượng đáng kể 2.479.712.273 VNĐ chủ yếu là lợi nhuận doanh nghiệp thu được từ các khoản lãi ngân hàng,lãi cho vay, được hưởng cổ tức,lợi nhuận được chia.

Nhìn chung, năm 2008 kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tương đối tốt. Điều đó nói lên sự nỗ lực, cố gắng của Ban giám đốc Công ty cũng như toàn thể cán bộ – công nhân viên Công ty trong những năm qua.

PHẦN IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ

4.1 Đánh giá chung tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá

Là một doanh nghiệp tiền thân là xí nghiệp Xếp Dỡ Cảng Đoạn Xá, là đơn vị trực thuộc Cảng Hải Phòng với số vốn ít ỏi ban đầu đến nay quy mô của công ty đã được mở rộng,hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng cao, nguồn lực về mặt tài chính cũng như về con người ngày càng mạnh mẽ, công ty đã dần tìm được chổ đứng thực sự cho mình. Đó là kết quả của sự phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Trong đó yếu tố mang ý nghĩa quyết định bao trùm hơn cả là khả năng quản lý, sắp xếp, phân bổ nguồn lực tài chính tại công ty. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Qua tìm hiểu tình hình tài chính tại công ty có thể nhận thấy một số điểm sau.

Ưu điểm :

  • Tình hình tài chính của công ty phát triển ổn định
  • Khả năng thanh toán tốt,rủi ro thanh toán giảm dần
  • Độ tự chủ về tài chính của công ty ngày càng cao
  • Hoạt động kinh doanh có hiệu quả, khả năng sinh lời ngày càng tăng.

Hạn chế :

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên,tình hình tài chính của doanh nghiệp vẫn còn một số hạn chế sau:

  • Các khoản phải thu tăng cao chứng tỏ công ty đang bị khách hàng chiếm dụng một khoản vốn lớn
  • Tình hình đầu tư chưa hiệu quả máy móc thiết bị chưa đáp ứng được hết các đơn đặt hàng,nhu cầu mới.

4.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả tài chính tại Công ty Cố Phần Cảng Đoạn Xá

  • Giám sát, kiểm tra chặt chẽ tình hình tài chính thông qua tình hình thu chi và các chỉ tiêu tài chính cơ bản.
  • Kế hoạch hoá tình hình tài chính, nâng cao tính chủ động và chuyên nghiệp hoá các hoạt động tài chính.
  • Chủ động xây dựng kế hoạch huy động vốn,tiếp tục đầu tư đổi mới máy móc,thiết bị công nghệ hiện đại.

4.3. Một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

Việc nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết.Nó sẽ giúp cho các nhà quản trị đưa ra những hướng giải quyết hợp lí tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Trên cơ sở đó doanh nghiệp nào nắm bắt và áp dụng đúng một cách linh hoạt sẽ đem lại kết quả cao.

Với mội doanh nghiệp thì khả năng tài chính là khác nhau,vấn đề đặt ra là đi sâu phát huy khả năng tài chính nào sẽ có tác dụng cụ thể và đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh, phù hợp với điều kiện vốn có của doanh nghiệp. Từ đó có những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này kết hợp với việc tìm hiểu thực tế, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và tình hình tài chính của doanh nghiệp nói riêng, với vốn kiến thức và thời gian còn hạn chế em xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty Cổ Phần Cảng Đoạn Xá như sau:

  • Biện pháp 1 : Biện pháp đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ
  • Biện pháp 2 : Biện pháp đầu tư bến bãi mới.

4.3.1. Biện pháp đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ

  • Cơ sở thực hiện biện pháp

Trong quá trình kinh doanh, số dư các khoản phải thu càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn càng nhiều do đó sẽ bất lợi đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Việc đưa ra các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm thu hồi công nợ sẽ giúp công ty có thêm nguồn vốn đầu tư vào các hoạt động khác.

Bên cạnh đó, một bài toán được đặt ra trong nền kinh tế hiện nay là việc doanh nghiệp sử dụng vốn chủ hay vốn vay kinh doanh, đầu tư sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Qua thực nghiệm ta có thể thấy với điều kiện hiện nay thì các doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn chủ sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn so với một đồng vốn vay mang lại. Do đó, các nhà quản lý doanh nghiệp thường có xu hướng thu hồi các phần vốn bị chiếm dụng về để trang trải phần vốn vay của mình, đồng thời có những kế hoạch huy động vốn chủ sao cho có hiệu quả nhất.

  • Thực trạng công nợ của doanh nghiệp.

Qua phân tích ở phần 3 có thể thấy kỳ thu tiền bình quân của công ty trong năm 2008 có giảm đi so với năm 2007. Năm 2007 là 59.9 ngày sang năm 2008 chỉ còn 49.7 ngày (giảm đi 10.2 ngày). Điều này chứng tỏ công ty có tích cực trong công tác thu hồi công nợ, hạn chế bị chiếm dụng vốn, điều này có ảnh hưởng tốt tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động, dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng cao. Tuy nhiên, năm 2006 cơ cấu các khoản phải thu chiếm 12,16% trong tổng tà sản ngắn hạn, sang đến năm 2007 giảm xuống còn 11,8% nhưng vẫn cao.Vì vậy công ty cần có biện pháp tích cực trong việc thu hồi các khoản phải thu để giảm bớt phần vốn bị chiếm dụng, huy động một phần vốn vào đầu tư sản xuất mới để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, biện pháp này cần được thực hiện một cách khéo léo và linh hoạt vì nếu không sẽ làm giảm lượng khách hàng do thu hồi các khoản nợ quá gắt gao.

Nhìn vào bảng cân đối kế toán có thể thấy khoản phải thu của công ty chủ yếu là các khoản phải thu khách hàng và phải thu khác. Qua điều tra sơ bộ có thể thấy nhứng khách hàng còn đang nợ công ty đều là các hãng tàu, doanh nghiệp thuộc diện có khả năng thanh toán nhưng họ vẫn chưa thanh toán nhằm chiếm dụng vốn của công ty.Có thể phân loại sơ bộ khách hàng đang nợ công ty thành 2 nhóm khách hàng sau : Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

  • Nhóm 1: khách hàng lâu năm :38%
  • Nhóm 2: khách hàng có tỉ lệ nợ cao : 62%
  • Nội dung thực hiện và dự kiến kết qủa đạt được

Với tình hình thực tế hiện nay, để thu hồi được hết các khoản nợ của khách hàng về là một bài toán khó không chỉ đối với riêng doanh nghiệp mà nó là thực trạng chung của tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần có một chính sách bán chịu với mức chiết khấu và lãi trả chậm cũng như thời gian trả nợ hợp lý để khuyến khích khách hàng trả tiền sớm.

  • Thứ nhất :

Để nhanh chóng thu hồi được các khoản phải thu trước hạn công ty nên áp dụng chính sách lãi suất chiết khấu để khuyến khích khách hàng thanh toán trước hạn.Hiện nay doanh nghiệp thường gia hạn cho khách hàng thời gian thanh toán hợp đồng là trong vòng 3 tháng sau ngày thực hiện hợp đồng và đang được hưởng mức chiết khấu là 3-5% trên tổng giá trị hợp đồng, nay doanh nghiệp có thể cho họ hưởng thêm tỉ lệ chiết khấu nếu các khách hàng này trả tiền trước hạn quy định

Ngoài ra công ty cần tính lãi với các khoản nợ đã quá hạn với mức lãi suất bằng lãi vay của ngân hàng hay thậm chí cao hơn lãi vay của ngân hàng ở thời điểm tính toán. Điều này sẽ thúc đẩy việc khách hàng phải nhanh chóng hoàn trả các khoản nợ cho công ty.

KẾT LUẬN

Tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển của doanh nghiệp. Nó gắn liền với tất cả các khâu của quá trình kinh doanh từ huy động vốn cho tới khi phấn phối lợi nhuận. Ngoài ra thông qua nó người ta có thể giải quyết các mối quan hệ phát sinh cũng như đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.

Thời gian vừa qua tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá đã có những biến đổi để thích ứng được với cơ chế thị trường nhưng bên cạnh đó vẫn còn những yếu tố tác động đến tình hình hoạt động của công ty. Điều đó đòi hỏi công ty cần có những biện pháp để có thể khắc phục được nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh của công ty.

Qua thời gian học tập ở trường và đi sâu tìm hiểu thực tế tại công ty. được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn ThS. Lã Thị Thanh Thuỷ cùng với các cô chú,ban lãnh đạo công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá cùng với sự nỗ lực của bản thân đến nay em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.

Tuy đề tài đã được hoàn thành nhưng vì kiến thức còn hạn chế, thời gian tiếp xúc thực tế có hạn nên không tránh khỏi những thiếu xót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn sinh viên để bài khoá luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa. Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Tái cấu trúc vốn với chiến lược kinh doanh ở Cảng

One thought on “Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Cảng

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp cải thiện tình hình tài chính ở Công ty Vận tải

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537