Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả từng hoạt động tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các doanh nghiệp bán hàng là khâu cuối cùng trong khâu sản xuất kinh doanh nên nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Mọi hoạt động công tác khác đều nhằm mục đích là bán được hàng hoá và chỉ có bán hàng mới thực hiện được mục tiêu trước mắt đó là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra từ khâu bán hàng, hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành và tiếp tục vòng mới, doanh nghiệp tiếp tục đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy hoạt động bán hàng là hoạt động nghiệp vụ cơ bản nhất, nó chi phối và quyết định các nghiệp vụ khác của doanh nghiệp.
Nếu khâu bán được tổ chức tốt, hàng hoá bán ra được nhiều sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên và ngược lại. Tổ chức tốt khâu bán hàng làm tăng lượng hàng hoá bán ra, tăng khả năng thu hồi vốn nhanh, từ đó làm tăng vòng quay của vốn lưu động cho phép tiết kiệm một khoản vốn đầu tư sản xuất kinh doanh hàng hoá khác, hoặc cho phép mở rộng quy mô kinh doanh hàng hoá của doanh nghiệp.
Qua thời gian thực tập tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải, kết hợp với những kiến thức có được trên giảng đường, những hiểu biết về các nghiệp vụ kinh tế cùng với việc đi sâu nghiên cứu trong quá trình thực tập em đã chọn đề tài: “Tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả từng hoạt động tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải”.
Thông qua kết quả nghiên cứu này, em hi vọng sẽ góp phần giúp công ty hoàn thiện hơn trong việc tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhằm xác định chính xác kết quả từng hoạt động tại công ty.
2. Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Về mặt thực tiễn: Mô tả thực trạng công tác tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xác định chính xác kết quả từng hoạt động tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
- Đối tượng nghiên cứu: công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải .
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
- Về thời gian: từ ngày 21/04/2014 đến ngày 30/07/2014.
- Về dữ liệu nghiên cứu: được thu thập vào năm 2013 từ phòng kế toán của Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Kết quả của từng hoạt động bán hàng trong DN được xác định như thế nào?
- Tại công ty Cổ phần Chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải đã xác định kết quả bán hàng cho từng hoạt động chưa và biện pháp nào để xác định chính xác kết quả bán hàng?
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu kế thừa thành tựu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Các PP kế toán
6. Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài
- Đóng góp về mặt khoa học, phục vụ công tác đào tạo:
Là tài liệu chuyên ngành kế toán và quản trị phục vụ cho các môn học như: kế toán tài chính, kế toán quản trị, quản trị tài chính, phân tích hoạt động kinh doanh…
- Những đóng góp liên quan đến doanh nghiệp:
Những giải pháp đưa ra trong công trình nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện công tác kế toán nói chung và công tác kế toán nguyên vật liệu nói riêng trong doanh nghiệp. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
7. Nội dung, kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Chương 2: Mô tả và phân tích thực trạng tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty Cổ phần Chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
- Chương 3: Các giải pháp nhằm xác định chính xác kết quả từng hoạt động tại công ty Cổ phần Chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
Mặc dù được sự hướng dẫn tận tình của Th.S Phạm Văn Tưởng và các anh chị trong phòng kế toán tại Công ty đã giúp em hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, song do khả năng còn hạn chế và kinh nghiệm thực tế còn ít ỏi, đề tài của em chắc chắn không tránh khỏi sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô để đề tài nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Những vấn đề chung về tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1.1 Bán hàng và các phương thức bán hàng
Bán hàng: Là quá trình người bán chuyển giao quyền sở hữu về số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người mua. Đồng thời người bán có quyền thu tiền về số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã chuyển giao cho người mua. ( Bài giảng Kế toán tài chính 2 ) [4]
- Các phương thức bán hàng: Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Bán hàng trực tiếp: Là phương thức giao hàng trực tiếp cho người mua tại kho, tại quầy, hay tại phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp. Sau khi người mua đã nhận đủ hàng và ký vào hóa đơn bán hàng thì số hàng đã bàn giao chính thức được coi là tiêu thụ.
Bán hàng theo phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận: Căn cứ vào hợp đồng đã ký, đến ngày giao hàng, doanh nghiệp sẽ xuất kho để chuyển hàng cho bên mua bằng phương tiện của mình hoặc đi thuê ngoài đến địa điểm đã ghi trong hợp đồng, chi phí vận chuyển này do bên nào chịu tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên và được ghi trong hợp đồng kinh tế. Hàng gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi người mua thông báo đã được nhận hàng và chấp nhận thanh toán thì số hàng đó được coi là tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán và doanh thu.
Bán hàng qua các đại lý (ký gửi): Là phương thức mà bên chủ hàng ( gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho bên nhận đại lý (bên đại lý) để bán. Hàng hoá gửi đại lý bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và chưa được coi là tiêu thụ.Doanh nghiệp chỉ được hạch toán vào doanh thu khi bên nhận đại lý thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Bán hàng trả góp, trả chậm: Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Số tiền trả chậm phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu lượng hàng đó.
Bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng: Là phương thức bán hàng mà người bán đem sản phẩm, hàng hóa của mình đi đổi lấy vật tư, hàng hóa của người khác.
Bán hàng theo phương thức tiêu thụ nội bộ: Là việc mua bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ giữa các đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một công ty, tập đoàn, liên hiệp các xí nghiệp… Ngoài ra, coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm các khoản sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất biếu, tặng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất kết quả tiêu thụ hàng hoá.
1.1.1.2 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Theo chuẩn mực kế toán số 14 – “Doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) ( Bộ tài chính 2009 )[1]
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu ngoài giá bán ( nếu có).
1.1.1.3 Các khoản giảm trừ doanh thu Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Thuế xuất khẩu: Được đánh vào tất cả các mặt hàng, dịch vụ trao đổi với nước ngoài, khi xuất khẩu ra khỏi biên giới Việt Nam.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế được đánh vào doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu những mặt hàng, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích sản xuất, tiêu dùng như: hàng xa xỉ, rượu, bia, thuốc lá, …
Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: Được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá tình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT của doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp phải nộp tương ứng với số doanh thu đã xác định trong kỳ.
- Doanh thu thuần: Số chênh lệch giữa tổng doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu
1.1.1.4 Chi phí giá vốn hàng bán
Theo chuẩn mực kế toán số 01 – “Chuẩn mực chung” (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) ( Bộ tài chính 2009 ) [1]
Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Giá vốn hàng bán: Là trị giá hàng hóa, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ
- Đối với thành phẩm, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá vốn hàng bán là giá thành sản phẩm hay chi phí sản xuất.
- Đối với hàng hóa tiêu thụ giá vốn hàng bán bao gồm trị giá mua hàng của hàng đã tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng đã tiêu thụ.
1.1.2. Ý nghĩa của việc hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của từng hoạt động trong doanh nghiệp.
- Nắm và đánh giá được hiệu quả sản xuất của từng hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp.
- Đưa ra được những giải pháp sản xuất, kinh doanh hợp lý dựa trên các thông tin thu thập được.
- Đưa ra những phương thức bán hàng mới hoặc những sáng kiến làm tăng hiệu quả kinh doanh từ các phương thức cũ.
CHƯƠNG 2. MÔ TẢ VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN DỊCH VỤ THỦY SẢN CÁT HẢI
2.1. Khái quát chung về công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải
- Tên công ty: Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải
- Tên giao dịch quốc tế: Cat Hai Joint – Stock Aquatic Processing And Services Company
- Tên viết tắt: Cat Hai JSC
- Địa chỉ: Thị trấn Cát Hải – huyện Cát Hải – thành phố Hải Phòng Mã số thuế: 0200432014
- Hình thức sở hữu vốn: Cổ phần Vốn điều lệ: 5.300.000.000VNĐ Điện thoại: 031.388.6258
- Giấy CNĐKKD số: 0203000088 cấp ngày 24/7/2001 Lĩnh vực kinh doanh: Gia vị – Chế Biến và Kinh Doanh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Lịch sử hình thành và phát triển Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Xí nghiệp nước mắm Cát Hải nay là Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải được thành lập ngày 23/10/1959.
Từ giữa năm 1959 tới hết năm 1960 công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản doanh diễn ra rất sôi nổi, Huyện ủy, Ủy ban hành chính huyện Cát Hải tổ chức học tập, giáo dục chính trị và đường lối cải tạo XHCN của Đảng đối với các nhà tư bản, tiểu chủ sản xuất nước mắm, vận động họ góp vốn, công sức vào sản xuất tập thể. Xí nghiệp công ty hợp danh nước mắm Cát Hải ra đời từ đó. Ngày 23/10/1959 Ủy ban hành chính thành phố Hải Phòng ra quyết định số 357/QĐ-UB thành lập xí nghiệp công ty hợp danh nước mắm Cát Hải.
Cuối năm 1995, UBND thành phố đã chấp nhận đề nghị của Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp thành phố, Giám đốc sở thủy sản Hải Phòng ra quyết định số 1835/QĐ – Đổi mới doanh nghiệp ngày 7/11/1995 đổi tên xí nghiệp thành Công ty chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
Ngày 11/7/2001 UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định số 1477/QĐ-UB thành lập Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải.
2.1.2 Tình hình tài chính của công ty
- Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh
2.2. Thực trạng tổ chức hạch toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Bán hàng là khâu cuối cùng trong khâu sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu cũng như lợi nhuận của công ty, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
Các phương thức bán hàng mà công ty đang áp dụng:
- Phương thức bán hàng trực tiếp: Khách hàng có thể đến công ty mua hàng và thanh toán trực tiếp tại quầy bán hàng của công ty.
- Phương thức gửi đại lý: Công ty xuất hàng chuyển cho các chi nhánh đại lý của công ty, cuối tháng tập hợp doanh thu của các chi nhánh để tính doanh thu tổng hợp của công ty.
2.2.1 Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp
Chứng từ sử dụng
- Hợp đồng mua bán hàng hoá
- Hoá đơn GTGT
- Phiếu xuất kho
- Phiếu thu, giấy báo có, …
- Các chứng từ khác liên quan
Ví dụ minh họa
Nhân viên bán hàng lập hóa đơn GTGT số 0001281( Biểu 2.1 ). Căn cứ vào hóa đơn và các chứng từ khác có liên quan, kế toán vào Bảng kê bán hàng hóa, dịch vụ tại công ty (Biểu 2.2 ). Cuối tháng, vào Bảng tổng hợp doanh thu tháng 4 ( Biểu 2.8 ).
Từ Bảng kê bán hàng hóa, dịch vụ tại công ty (Biểu 2.2 ), kế toán vào Chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.10 ). Từ Chứng từ ghi sổ vào Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ (Biểu 2.14 ) và Sổ cái tài khoản 511 ( Biểu 2.15 ).
Khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng, nhân viên bán hàng lập Phiếu xuất kho ( Biểu 2.3 ) chuyển cho Thủ kho làm căn cứ xuất hàng giao cho khách. Căn cứ vào Phiếu xuất kho, kế toán vào Bảng kê xuất kho bán thành phẩm ( hàng hóa ) ( Biểu 2.4 ). Cuối tháng, kế toán vào Bảng tổng hợp giá vốn ( Biểu 2.9 ) Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Căn cứ vào Bảng kê xuất kho bán thành phẩm ( hàng hóa ), kế toán vào Chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.11 ). Từ Chứng từ ghi sổ vào Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.14 ) và Sổ cái tài khoản 632 ( Biểu 2.16 ).
- Mắm Cốt Quẩn 0.30 tồn đầu kỳ: số lượng 12.276 chai – trị giá 072.000đ
- Sản xuất trong kỳ: số lượng 502 chai – trị giá 481.266.000đ
Áp dụng phương pháp Bình quân gia quyền cả kỳ, kế toán tính đơn giá hàng xuất kho của mắm Cốt Quẩn 0.30:
2.2.2. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi đại lý
Chứng từ sử dụng
- Hóa đơn GTGT
- Phiếu xuất kho
- Phiếu thu, giấy báo có, …
- Các chứng từ khác có liên quan
Ví dụ minh họa
Nhân viên bán hàng tại trung tâm lập hóa đơn GTGT số 0007251 (Biểu 2.5). Căn cứ vào hóa đơn, kế toán vào Bảng kê bán hàng tháng 4 tại trung tâm ( Biểu 2.6 ).
Cuối tháng, Trung tâm Máy Chai chuyển Bảng kê bán hàng tháng 4 về công ty, kế toán tại công ty căn cứ vào Bảng kê bán hàng tháng 4 sẽ tổng hợp vào Bảng tổng hợp doanh thu tháng 4 ( Biểu 2.8 ).
Từ các Bảng kê bán hàng của các chi nhánh đại lý gửi về, kế toán vào Chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.10 ). Từ Chứng từ ghi sổ vào Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.14 ) và Sổ cái tài khoản 511 ( Biểu 2.15 ).
Khi phát sinh nghiệp vụ bán hàng, nhân viên bán hàng lập hóa đơn GTGT. Căn cứ vào hóa đơn GTGT, nhân viên kinh tế tại trung tâm tổng hợp vào Bảng kê xuất kho bán thành phẩm ( hàng hóa ) ( Biểu 2.7 ) cuối tháng gửi về công ty.
Kế toán công ty căn cứ vào Bảng kê xuất kho bán thành phẩm ( hàng hóa ) của các đơn vị gửi về lập Bảng tổng hợp giá vốn ( Biểu 2.9 ).
Từ các Bảng kê xuất kho bán thành phẩm ( hàng hóa ), kế toán vào Chứng từ ghi sổ ( Biểu 2.11 ). Từ Chứng từ ghi sổ vào Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ (Biểu 2.14 ) và Sổ cái tài khoản 632 ( Biểu 2.16 ).
Đơn giá xuất kho Mắm mực 0.30 tháng 4 được tính như sau:
- Mắm mực 30 tồn đầu kỳ: số lượng 6.156 chai – trị giá 135.432.000đ
- Sản xuất trong kỳ: số lượng 368 chai – trị giá 358.572.000
Áp dụng phương pháp Bình quân gia quyền cả kỳ, kế toán tính đơn giá hàng xuất kho của mắm Mực 0.30:
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM XÁC ĐỊNH CHÍNH XÁC KẾT QUẢ TỪNG HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN DỊCH VỤ THỦY SẢN CÁT HẢI Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
3.1. Đánh giá chung về phương pháp kê toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty.
Qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn, song với chiến lược sản xuất kinh doanh nhạy bén và đúng đắn, sự nỗ lực của Ban lãnh đạo công ty cùng với cán bộ công nhân viên, công ty đã có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Công ty từ khi chuyển sang công ty cổ phần đã gặp không ít khó khăn, nhiều lúc tưởng chừng như khó có thể vượt qua được nhưng với tư duy nhạy bén của bộ máy lãnh đạo cùng với sự đoàn kết nhất trí cao của cán bộ công nhân viên Công ty đã dần dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. Sản phẩm nước mắm Cát Hải với hương vị riêng biệt đã ngày càng trở lên quen thuộc và được người tiêu dùng tin cậy, xứng đáng với danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao.
Công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng đã và đang không ngừng được củng cố và hoàn thiện, thực sự trở thành công cụ đắc lực trong quản lý kinh tế và hạch toán kinh doanh của Công ty, góp phần không nhỏ vào việc khẳng định tên tuổi của Công ty trên thị trường.
Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải, được sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo và các phòng ban, đặc biệt là phòng kế hoạch – kế toán đã tạo điều kiện cho em từng bước tiếp cận với thực tế công tác kế toán tại doanh nghiệp. Với kiến thức được học trong nhà trường kết hợp với việc liên hệ và tìm hiểu thực tế công tác kế toán nói chung và công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nói riêng tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải có những ưu điểm và những hạn chế sau:
3.1.1. Ưu điểm
- Về tổ chức bộ máy kế toán
Để phù hợp với đặc điểm tổ chức và quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty, bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung, toàn bộ công việc kế toán được tập trung tại phòng Kế hoạch – kế toán. Việc vận dụng hình thức này có ưu điểm là đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, đảm bảo chức năng cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức thống nhất từ kế toán trưởng xuống các nhân viên kế toán. Phòng kế toán có quy chế làm việc rõ ràng, mỗi kế toán viên đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng. Thêm vào đó đội ngũ nhân viên phòng kế toán là những người có năng lực, có chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức thực tế và tinh thần trách nhiệm cao. Mỗi kế toán viên phụ trách một số phần hành khác nhau nên tạo điều kiện đi sâu vào công việc được giao, có điều kiện phát huy hết khả năng. Cũng vì vậy mà yêu cầu các nhân viên kế toán phải có sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn, linh hoạt tạo một môi trường làm việc đoàn kết và hiệu quả. Do vậy phòng kế toán đã làm tốt những nhiệm vụ được giao và làm tham mưu đắc lực cho ban giám đốc về công tác điều hành quản lý.
Công ty chú trọng đến vấn đề nâng cao công tác kế toán, thường xuyên tạo điều kiện cử cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ kế toán.
- Về hình thức kế toán áp dụng.
Hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán tại công ty đang áp dụng theo đúng chế độ kế toán hiện hành. Hệ thống chứng từ được lập, kiểm tra, luân chuyển phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Đồng thời phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác, đảm bảo nhanh chóng phản ánh tình hình biến động của công ty. Hình thức kế toán công ty áp dụng là hình thức Chứng từ ghi sổ. Đây là hình thức đơn giản phù hợp với quy mô, đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Hệ thống sổ sách báo cáo của công ty cũng khá linh hoạt và đầy đủ phù hợp với chế độ quy định của nhà nước.
- Về chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng.
Hệ thống chứng từ kế toán sử dụng trong hạch toán phù hợp với yêu cầu kinh tế, pháp lý của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Bên cạnh những mẫu sổ kế toán được quy định, kế toán còn sáng tạo, tìm tòi, lập ra những sổ kế toán mới phù hợp với đặc điểm kinh doanh, tình hình thực tế, yêu cầu quản lý của công ty nhưng vẫn tuân thủ theo đúng quy định, phản ánh đúng, chính xác, minh bạch nội dung nghiệp vụ kinh tế, tăng hiệu quả giám sát, quản lý, đối chiếu.
- Về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
Trong kỳ, khi phát sinh các nghiệp vụ bán hàng, ghi nhận doanh thu đều được kế toán phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời, đảm bảo nguyên tắc phù hợp khi ghi nhận doanh thu, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho ban quản lý công ty.
Công ty tiến hành tổng hợp doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh theo từng tháng, điều này đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời về hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định về kinh doanh, xử lý các sự cố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng lợi nhuận. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Hiện công ty áp dụng hai phương thức bán hàng là bán trực tiếp và gửi đại lý, phù hợp với quy mô của công ty. Ngoài ra, để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ, khuyến khích tiêu thụ sản phẩm ở các đại lý, năm 2014 đã ra Quy chế thực hiện chiết khấu đối với khách hàng tiêu thụ sản phẩm.
3.1.2. Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải còn tồn tại những hạn chế nhất định.
- Về hệ thống sổ sách sử dụng
Công ty kinh doanh nhiều mặt hàng đa dạng nhưng lại không mở sổ chi tiết bán hàng cho từng mặt hàng làm cho việc xác định lợi nhuận của từng mặt hàng rất khó khăn, ảnh hưởng đến việc ra quyết định quản trị của ban lãnh đạo.
Hiện nay khoản chi phí bán hàng trong doanh nghiệp vẫn chỉ được phản ánh một cách tổng quát, chưa đi vào chi tiết, chưa phục vụ tốt cho công tác quản trị và ra quyết định trong công ty.
- Về việc luân chuyển chứng từ
Việc luân chuyển chứng từ giữa phòng kinh doanh, phòng kế toán và thủ kho diễn ra thường xuyên, tuy nhiên, giữa các bộ phận, phòng ban này đều không có biên bản giao nhận, dễ xảy ra tình trạng mất mát chứng từ. khi xảy ra mất mát chứng từ lại không biết quy trách nhiệm cho ai để xử lý, làm cho cán bộ công nhân viên thiếu trách nhiệm, buông lỏng việc quản lý chứng từ.
- Về công tác kế toán quản trị
Hầu hết công tác kế toán tại công ty chỉ dừng lại ở giác độ kế toán tài chính mà chưa chú trọng đến công tác kế toán quản trị. Do đó, việc lập và phân tích các số liệu kế toán về doanh thu, chi phí,… chưa được quan tâm thực hiện. Điều này làm giảm chức năng tham mưu cho các nhà quản trị để có thể đưa ra được các quyết định đúng đắn, giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Về việc quảng bá sản phẩm
Hiện công ty mới chỉ phân phối sản phẩm đến một số tỉnh thành thuộc khu vực miền Bắc qua hệ thống các của hàng đại lý. Công ty chưa tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng để đưa thông tin sản phẩm đến với người tiêu dùng. Công ty nên có các biện pháp thúc đẩy bán hàng, và mở rộng thị trường hơn nữa.
3.2. Một số kiến nghị nhằm tăng hiệu quả bán hàng và hạch toán bán hàng, xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
- Kiến nghị 1 : Về việc hoàn thiện hệ thống sổ sách
- Về việc mở sổ chi tiết bán hàng
Công ty nên mở “Sổ chi tiết bán hàng” mẫu số S17 –DNN theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Công ty kinh doanh nhiều mặt hàng đa dạng, trong đó mỗi mặt hàng có mức chi phí sản xuất, doanh thu và sản lượng tiêu thụ khác nhau nhưng hiện tại công ty vẫn chưa theo dõi riêng việc sản xuất và tiêu thụ này cho từng sản phẩm, điều đó cũng gây khó khăn, ảnh hưởng đến quyết định quản trị của ban lãnh đạo công ty. Việc sử dụng “Sổ chi tiết bán hàng” giúp cho kế toán nắm được doanh thu tiêu thụ cũng như lợi nhuận gộp đối với từng mặt hàng. Từ đó các nhà quản trị có thể xác định việc sản xuất kinh doanh nên chú trọng vào mặt hàng nào hoặc đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ các mặt hàng tiềm năng, cho lợi nhuận cao.
Bên cạnh đó cũng nên lập “Bảng tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh” để tổng họp, đưa ra cái nhìn tổng quan về hoạt động bán hàng của từng sản phẩm trong công ty. Nên phân bổ chi phí bán hàng theo tỷ lệ lãi gộp để xác định chính xác kết quả hoạt động bán hàng mà sản phẩm đó mang lại.
- Kiến nghị 2 : Về việc luân chuyển chứng từ
Công ty nên lập sổ giao nhận chứng từ khi luân chuyển chứng từ giữa các phòng ban, bộ phận. Mỗi khi luân chuyển chứng từ thì các bên giao và nhận chứng từ đều phải ký vào sổ. Nếu xảy ra mất mát chứng từ cũng dễ quy trách nhiệm cho đúng người, đúng bộ phận để có biện pháp xử lý. Việc làm này giúp quản lý chặt chẽ các chứng từ của công ty, hơn nữa cũng nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ công nhân viên đối với việc quản lý chứng từ nói riêng và công việc nói chung.
- Kiến nghị 3 : Về công tác kế toán quản trị
Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Công tác kế toán tài chính có nhiệm vụ chính là hạch toán, cung cấp thông tin có liên quan và đưa ra kết quả kinh doanh cuối cùng cho ban lãnh đạo và những đối tượng liên quan. Bên cạnh đó, kế toán quản trị có thể dự đoán trước được tình hình sản xuất dựa vào thông tin qua các năm trước, đưa ra những ý kiến để góp phần nâng cao kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Kế toán quản trị trực tiếp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong tổ chức kinh tế – người có trách nhiệm điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó, đồng thời việc đưa ra quyết định của họ tác động đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Như vậy, kế toán quản trị là một bộ phận đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống kế toán.
Cả kế toán tài chính và kế toán quản trị đều giúp quản lý doanh nghiệp. Kế toán tài chính quản lý trên toàn công ty, kế toán quản trị quản lý trên từng bộ phận cho tới người cuối cùng có trách nhiệm với các chi phí. Như vậy, việc tổ chức kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một bộ máy kế toán doanh nghiệp sẽ mang tính khoa học, hợp lý và có tính thuyết phục cao.
Vì vậy, công ty nên xây dựng bộ máy kế toán quản trị trong phòng kế toán để đạt hiệu quả cao nhất trong quản lý kinh doanh.
- Kiến nghị 4 : Về việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
- Đẩy mạnh quảng cáo, giới thiệu sản phẩm
Công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải là một trong số những công ty ít góp mặt trong việc quảng cáo trên các phương tiện truyền thông như Đài phát thanh, truyền hình,… Công ty chủ yếu chỉ dùng các pano, áp phích ở các địa điểm bán sản phẩm của công ty. Mặc dù chi phí cho hoạt động quảng cáo trên các Đài phát thanh, truyền hình là không nhỏ nhưng mang lại lợi ích lớn. Nhờ đó mà người tiêu dùng ở khắp nơi trên cả nước có thể biết đến sản phẩm và thương hiệu của công ty.
Tuy nhiên, công ty cần phải có những chiến lược hợp lý. Đối với các phương tiện quảng bá ít tốn kém như pano, áp phích công ty nên sử dụng thưởng xuyên. Đối với phương tiện quảng bá có chi phí lớn như Đâì phát thanh, truyền hình,… công ty nên thực hiện theo từng đợt như: các dịp khuyến mại, giới thiệu sản phẩm mới, thay đổi mẫu mã sản phẩm, …
- Áp dụng chính sách khen thưởng cho nhân viên bán hàng
Công ty nên áp dụng chính sách khen thưởng cho các nhân viên bán hàng của các đại lý. Nếu đại lý nào được xác nhận là đạt tiêu chuẩn mà công ty đưa ra về số lượng tiêu thụ và doanh thu bán hàng ở tháng nào thì công ty nên trích khoản tiền thưởng cho nhân viên đại lý đó tỷ lệ trên phần trăm doanh thu bán hàng trong tháng đó. Nó sẽ là đòn bẩy thúc đẩy tinh thần trách nhiệm của các nhân viên, phát huy được tính sáng tạo và năng lực làm việc của họ.
Bên cạnh đó, cũng cần đưa ra các mức phạt với những nhân viên thiếu trách nhiệm, hay vi phạm nội quy của công ty, với những đại lý làm việc ỷ lại, không đảm bảo mức doanh thu tối thiểu mà công ty đề ra. Có như vây, từ mỗi nhân viên cho đến các đại lý mới phấn đấu làm việc hết sức mình, góp phần vào lợi ích chung của công ty, làm tăng lợi nhuận của công ty.
- Tổ chức công tác điều tra, nghiên cứu thị trường Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Công ty nên mở các cuộc điều tra, nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm của mình theo hướng “Bán cái thị trường cần chứ không phải bán cái mà mình có”. Nó sẽ giúp công ty nắm bắt được nhu cầu và sức mua của thị trường, biết được tình hình cạnh tranh cũng như tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Công ty cũng có thể áp dụng biện pháp đơn giản để thu thập thông tin là đặt các hòm thư góp ý tại các địa điểm phân phối của công ty. Với các thông tin thu thập được, công ty nên phân loại theo nhu cầu: nhu cầu thực tế và nhu cầu tiềm ẩn. Từ đó đưa ra các chiến lược sản xuất, kinh doanh hợp lý.
- Mở rộng hệ thống phân phối sản phẩm
Hiện tại công ty vẫn tập trung phân phối sản phẩm ở địa phận các tỉnh miền Bắc như Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Lạng Sơn, … Trong thời gian tới, công ty nên mở rộng thị trường phân phối vào các tỉnh miền Trung và miền Nam. Nhưng công ty cũng cần điều tra và phân tích chi tiết thị trường về đối thủ cạnh tranh, thói quen tiêu dùng, địa điểm tiềm năng, … trước khi thực hiện mở đại lý.
- Áp dụng thêm các hình thức bán hàng
Trong thời đại internet và mạng xã hội bùng nổ, công ty nên tận dụng các cơ hội để quảng bá, giới thiệu sản phẩm, và bán sản phẩm qua mạng. Công ty có thể liên kết bán hàng với các trang web bán hàng trực tuyến được nhiều người quan tâm như: www.vatgia; www.muachung; www.chotot; www.giamchung, … Hiện nay, mạng xã hội cũng rất được ưa chuộng bởi nhiều lứa tuổi và là công cụ có sức lan tỏa lớn. Công ty có thể mở những trang giới thiệu sản phẩm trên các mạng xã hội để giới thiệu và tư vấn khách hàng. Chi phí cho biện pháp này rất ít mà hiệu quả mang lại khá cao.
Công ty cũng có thể gửi bán các sản phẩm ở các siêu thị lớn như Big C, Intimex, Metro, … Tổ chức các chương trình dùng thử sản phẩm miễn phí và các dịch vụ tư vấn khách hàng để đem lại hiệu quả bán hàng cao hơn. Tuy ban đầu sẽ phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng về lâu dài sẽ đưa công ty đến gần hơn với người tiêu dùng, góp phần làm tăng khả năng bán hàng cũng như lợi nhuận của công ty.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
1. Kết luận
Đề tài đã hệ thống hóa được lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả từng hoạt động bán hàng. Đề tài đã mô tả và phân tích thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng từng hoạt động tại Công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định 48/2006/ QĐ-BTC Ban hành ngày 14/9/2006 của Bộ tài chính.
Qua quá trình thực tập được tiếp cận thực tế tại công ty, em nhận thấy công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng của công ty có một số ưu điểm và hạn chế sau:
- Ưu điểm
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình tập trung, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, chức năng cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty.
Công ty áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, đơn giản phù hợp với quy mô, đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Hệ thống sổ sách báo cáo của công ty cũng khá linh hoạt và đầy đủ phù hợp với chế độ quy định của nhà nước.
Bên cạnh những mẫu sổ kế toán được quy định, kế toán còn sáng tạo, tìm tòi, lập ra những sổ kế toán mới phù hợp với đặc điểm kinh doanh, tình hình thực tế, yêu cầu quản lý của công ty nhưng vẫn tuân thủ theo đúng quy định, phản ánh đúng, chính xác, minh bạch nội dung nghiệp vụ kinh tế, tăng hiệu quả giám sát, quản lý, đối chiếu.
Về công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty được phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác. Công ty tiến hành tổng hợp doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh theo từng tháng, điều này đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời về hiệu quả kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định về kinh doanh, xử lý các sự cố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng lợi nhuận. Có chính sách chiết khấu để khuyến khích tiêu thụ sản phẩm.
- Hạn chế Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
Công ty mới chỉ theo dõi các hoạt động bán hàng cũng như các sản phẩm một cách tổng hợp, khái quát, chưa đi vào tập hợp số liệu và phân tích chi tiết. Việc luân chuyển chứng từ giữa các bộ phận, phòng ban diễn ra thường xuyên, tuy nhiên, chưa có biên bản giao nhận, dễ xảy ra tình trạng mất mát chứng từ.
Công ty chưa ứng dụng tốt công tác kế toán quản trị trong công ty để phân tích, đánh giá số liệu, phục vụ cho việc ra quyết định quản trị Công ty chưa chú trọng nhiều đến hoạt động quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu và mở rộng thị trường. Chưa ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quá trình bán hàng.
2. Kiến nghị
Từ thực trạng nêu trên, đề tài đã đưa ra được một số kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhằm tăng cường quản lý chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải, cụ thể:
- Công ty nên mở Sổ chi tiết bán hàng mẫu S17 – DNN theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC để có thể theo dõi chi tiết tình hình tiêu thụ của từng mặt hàng.
- Công ty nên mở sổ giao nhận chứng từ khi giao nhận chứng từ giữa các phòng ban, bộ phận.
- Công ty nên tạo điều kiện ứng dụng hơn nữa công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
- Đưa ra một số biện pháp có thể áp dụng tại công ty để thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa, mở rộng thị trường.
Các kiến nghị đưa ra đều xuất phát từ thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty và hy vọng sẽ góp phần giúp công ty nâng cao hiệu quả công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Khóa luận: Hạch toán bán hàng và XĐKQ bán hàng thủy sản.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán quản lý nguyên vật liệu tại Công ty Gốm


Pingback: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất giá thành sản phẩm tại Cty VIC