Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán báo cáo tài chính do chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng thực hiện này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nền kinh tế thế giới đang từng bước đi lên. Cùng với sự thay đổi đó, bước vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX nền kinh tế Việt Nam cũng có những sự biến chuyển mạnh mẽ. Việc Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế quốc dân. Đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc chuyển đổi nền kinh tế này hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng ngày càng tự khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc quản lý nền kinh tế quốc gia. Hoạt động kiểm toán độc lập ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các ý kiến tư vấn về công tác quản lý kế toán, tài chính, thuế quản trị điều hành của các doanh nghiệp. Hoạt động kiểm toán độc lập góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế tài chính của tổ chức, doanh nghiệp; góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý, công tác điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính thể hiện kết quả, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong những vấn đề trên BCTC luôn được các nhà quản lý quan tâm đó chính là tiền lương và lao động. Tiền lương là một khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao thì cần có tổ chức nhân sự hợp lý và xây dựng hệ thống tiền lương phù hợp. Đội ngũ công nhân làm việc có hiệu quả hay không đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý và mức lương mà họ được trả cho phần công sức và thời gian họ bỏ ra làm việc cho doanh nghiệp đó chính là tiền lương. Tiền lương liên quan đến một số chỉ tiêu trên BCTC như: nợ phải trả, hàng tồn kho…trên bảng cân đối kế toán, chỉ tiêu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cụ thể là chỉ tiêu tiền đã trả cho công nhân viên hoặc chỉ tiêu tăng giảm khoản phải trả, các chỉ tiêu chi phí và lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy kiểm toán tiền lương là một phần quan trọng không thể thiếu khi thực hiện một cuộc kiểm toán.
Nhận thức được tầm quan trọng của chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán nên trong quá trình thực tập tại Chi Nhánh Công ty TNHH Kiểm Toán VACO tại Hải Phòng em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán Báo cáo tài chính do chi nhánh công ty TNHH Kiểm Toán VACO tại Hải Phòng thực hiện”
Nội dung khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm các chương sau:
- Chương 1: Lý luận chung về công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC.
- Chương 2: Thực trạng công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC do Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm Toán VACO tại Hải Phòng thực hiện.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC do Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm Toán VACO tại Hải Phòng thực hiện.
Chương 1: Lý luận chung về công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán báo cáo tài chính.
1.1. Tổng quan về chu kỳ tiền lương và lao động.
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về tiền lương và các khoản trích theo lương.
1.1.1.1. Khái niệm tiền lương và quỹ lương trong doanh nghiệp.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trính sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả cuối cùng. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị các loại sản phẩm, dịch vụ. Nó là số tiền cần thiết cho bản thân người lao động tái sản xuất sức lao động, đảm bảo các nhu cầu ăn ở sinh hoạt cần thiết cho bản thân người lao động và gia đình họ. Tiền lương thực chất là giá cả của sức lao động. Mặt khác, tiền lương còn là đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần hăng hái lao động. Do đó việc chi trả tiền lương hợp lý, phù hợp có tác dụng tích cực thúc đẩy người lao động hăng say trong công việc, tăng năng suất lao động, đẩy mạnh tiến bộ khoa học kĩ thuật. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
- Quỹ lương trong doanh nghiệp.
Qũy tiền lương của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương mà doanh nghiệp trả cho các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý. Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản chủ yếu sau:
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế
- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Tiền ăn trưa, ăn
- Các loại phụ cấp thường xuyên
Để phục vụ cho công tác kế toán tiền lương trong doanh nghiệp có thể chia tiền lương thành hai loại:
- Tiền lương chính là tiền lương doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và phụ cấp kèm theo như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên,…
- Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất… được hưởng theo chế độ.
1.1.1.2. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp.
Tùy từng tính chất công việc mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình các hình thức trả lương khác nhau
- Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tác quản lý.Tiền lương trả theo thời gian có thể tính theo thời gian giản đơn hay tính theo thời gian có thưởng.
- Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn:
Trả lương theo thời gian giản đơn = Lương căn bản + Phụ cấp theo chế độ khi hoàn thành công việc và đạt yêu cầu
Tiền lương tháng là tiền lương đã được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương, được tính và trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động. Lương tháng tương đối ổn định và được áp dụng khá phổ biến đối với công nhân viên chức. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
- Tiền lương phải trả trong tháng đối với doanh nghiệp nhà nước:
Lương tháng = Mức lương tối thiểu theo ngạch bậc x (Hệ số lương + Tổng hệ số các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định)
- Tiền lương phải trả trong tháng đối với các đơn vị khác:
Lương tháng = [(Mức lương tối thiểu theo ngạch bậc x (Hệ số lương + Hệ số các khoản phụ cấp được hưởng theo quy định) / Số ngày làm việc trong tháng theo quy định] x Số ngày làm việc thực tế trong tháng
- Lương tuần là tiền lương được tính và trả cho một tuần làm việc:
Lương tuần = (Mức lương tháng x 12)/52
Lương ngày là tiền lương được tính và trả cho một ngày làm việc, áp dụng cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian hoặc trả lương cho nhân viên trong thời gian học tập, hội họp, hay làm nhiệm vụ khác, được trả cho hợp đồng ngắn hạn.
Lương ngày = Mức lương tháng / Số ngày làm việc trong tháng theo quy định (22 hoặc 26)
Lương giờ là tiền lương trả cho 1 giờ làm việc, thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trực tiếp không hưởng lương theo sản phẩm hoặc làm cơ sở để tính đơn giá tiền lương trả theo sản phẩm.
Lương giờ = Mức lương ngày / Số giờ làm việc theo quy định
- Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Là hình thức trả lương theo thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền lương trong sản xuất kinh doanh như: thưởng do nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu… nhằm khuyến khích người lao động hoàn thành tốt các công việc được giao.
Trả lương theo thời gian có thưởng = Lương trả theo thời gian giản đơn + Các khoản tiền thưởng
- Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương tính trả cho người lao động theo kết quả lao động, khối lượng sản phẩm và lao vụ đã hoàn thành, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng đã quy định và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đó. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Tiền lương tính theo sản phẩm có thể được thực hiện theo những cách sau:
- Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp:
Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất. Theo cách tính này, tiền lương được lĩnh căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành và đơn giá tiền lương, không hạn chế khối lượng sản phẩm, công việc là vượt hay không vượt mức quy định.
Tiền lương được lĩnh trong tháng = Số lượng sản phẩm, công việc hoàn thành x Đơn giá tiền lương
- Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:
Hình thức này thường áp dụng để trả lương cho công nhân phụ, làm những công việc phục vụ cho công nhân chính như sửa chữa máy móc thiết bị trong các phân xưởng sản xuất, bảo dưỡng máy móc thiết bị… Tiền lương theo sản phẩm gián tiếp cũng được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động. Theo cách tính này, tiền lương được lĩnh căn cứ vào tiền lương theo sản phẩm của bộ phận trực tiếp sản xuất và tỷ lệ tiền lương của bộ phận gián tiếp do doanh nghiệp xác định. Cách tính lương này có tác dụng làm cho những người phục vụ sản xuất quan tâm đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh vì gắn liền với lợi ích kinh tế của bản thân họ.
Tiền lương được lĩnh trong tháng = Tiền lương được lĩnh của bộ phận trực tiếp sản xuất x Tỷ lệ tiền lương của bộ phận gián tiếp
- Tiền lương theo sản phẩm có thưởng:
Là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp, kết hợp với chế độ khen thưởng do doanh nghiệp quy định như thưởng do tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu…
- Tiền lương tính theo sản phẩm lũy tiến:
Ngoài việc trả lương theo sản phẩm trực tiếp, doanh nghiệp còn căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động để tính thêm một số tiền lương theo tỷ lệ vượt lũy tiến. Số lượng sản phẩm hoàn thành vượt định mức càng cao thì số tiền lương tính thêm càng nhiều. Lương theo sản phẩm lũy tiến có tác dụng kích thích mạnh mẽ việc tăng năng suất lao động nên được áp dụng ở những khâu quan trọng, cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất… Việc trả lương này sẽ làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm.
- Hình thức trả lương khoán.
Tiền lương khoán là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
1.1.1.3. Quy định hiện hành về các khoản trích theo lương.
- Bảo hiểm xã hội. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Theo Luật Bảo hiểm xã hội Số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Để được hưởng khoản trợ cấp này, người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại đơn vị phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Toàn bộ quỹ này do cơ quan BHXH quản lý, doanh nghiệp sử dụng người lao động có trách nhiệm trích nộp và chi hộ cho người lao động.
Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 24% trên tổng số tiền lương cấp bậc phải trả hàng tháng (17% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 7% còn lại do người lao động đóng góp).
- Bảo hiểm y tế
Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12.
Quỹ BHYT là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế.
Theo nghị định số 62/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27/7/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2009) của Thủ tướng Chính phủ quy định mức trích lập BHYT từ 1/1/2013 như sau:
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công; cán bộ, công chức, viên chức thì mức trích lập BHYT bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người sử dụng lao động đóng góp 3% và người lao động đóng góp 1,5%.
- Bảo hiểm thất nghiệp
Bao gồm các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm cho người thất nghiệp.Theo điều 102 Luật BHXH 2008, nguồn hình thành quỹ như sau:
Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Hàng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
- Kinh phí công đoàn Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Là khoản tiền để duy trì hoạt động các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động. Quỹ này hình thành bằng cách trích 2% trên tổng số lương phải trả cho người lao động và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của đơn vị. Quỹ này do cơ quan công đoàn quản lý.
1.1.2. Phương pháp kế toán tiền lương trong doanh nghiệp.
1.1.2.1 Chứng từ liên quan đến tiền lương và các khoản trích theo lương.
Chứng từ sử dụng gồm:
- Mẫu số 01-LĐTL: Bảng chấm công
- Mẫu số 02- LĐTL: Bảng thanh toán tiền lương
- Mẫu số 03- LĐTL: Phiếu thanh toán tiền lương
- Mẫu số 04- LĐTL: Phiếu nghỉ ốm hưởng BHXH
- Mẫu số 05- LĐTL: Phiếu thanh toán tiền thưởng
- Mẫu số 06- LĐTL: Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn chỉnh
- Mẫu số 07- LĐTL: Phiếu báo làm thêm giờ
- Mẫu số 08- LĐTL: Hợp đồng giao khoán
- Mẫu số 09- LĐTL: Biên bản điều tra tai nạn lao động
- Mẫu số 10- LĐTL: Bảng kê các khoản trích nộp theo lương
- Mẫu số 11- LĐTL: Bảng phân bổ tiền lương và BHXH
Ngoài ra còn một số giấy tờ khác như: phiếu chi, giấy nghỉ phép…
1.1.2.2. Tài khoản kế toán sử dụng
- TK 334: Phải trả người lao động :
Tài khoản này dùng phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, và bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả thuộc về thu nhập của người lao động.
- Tài khoản 334 – Phải trả người lao động, có 2 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 3341 – Phải trả công nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên của doanh nghiệp về tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, bảo hiểm xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của công nhân viên.
Tài khoản 3348 – Phải trả người lao động khác: Phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động khác ngoài công nhân viên của doanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng (nếu có) có tính chất về tiền công và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động.
- TK 338: “Phải trả và phải nộp khác” Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản phải trả phải nộp ngoài nội dung đã phản ánh ở các tài khoản thuộc nhóm 33 ( từ TK331 đến TK337). Tài khoản này cũng được dùng để hạch toán doanh thu nhận trước về các dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng, chênh lệch đánh giá lại tài sản đưa đi góp vốn và các khoản chênh lệch phát sinh trong giao dịch bán thuê lại tài sản là thuê tài chính hoặc thuê hoạt động.
Tài khoản 338 – Phải trả, phải nộp khác, có 8 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 3381 – Tài sản thừa chờ giải quyết
- Tài khoản 3382 – Kinh phí công đoàn
- Tài khoản 3383 – Bảo hiểm xã hội
- Tài khoản 3384 – Bảo hiểm y tế
- Tài khoản 3385 – Phải trả về cổ phần hoá
- Tài khoản 3386 – Nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn
- Tài khoản 3387 – Doanh thu chưa thực hiện
- Tài khoản 3388 – Phải trả, phải nộp khác
1.1.3. Đặc điểm chu kì tiền lương và lao động trong doanh nghiệp ảnh hưởng tới công tác kiểm toán.
Chu kì tiền lương có mối quan hệ mật thiết với các chu kì khác như: hàng tồn kho- chi phí- giá thành, bán hàng và thu tiền. Sự chính xác của các khoản mục tiền lương và các khoản trích theo lương có ảnh hưởng rất lớn tới tính chính xác của chi phí, giá thành cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chu kì này liên quan đến nhiều chỉ tiêu và thông tin tài chính trong các báo cáo tài chính hiện hành của doanh nghiệp. Tiền lương và các khoản trích theo lương là một trong những khoản chi quan trọng, chiếm tỉ trọng tương đối lớn ở đa số các doanh nghiệp. Nó có liên quan đến chi phí sản xuất dở dang, thành phẩm và nợ phải trả của công nhân viên trên bảng cân đối kế toán, có thể gây sai sót trọng yếu với các chỉ tiêu này. Chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương có liên quan đến giá vốn hàng bán ( giá thành sản phẩm), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, do đó nó cũng liên quan đến các chỉ tiêu chi phí và kết quả trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Tiền lương và các khoản trích theo lương là một khoản liên quan đến thu nhập của người lao động cũng như một khoản liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người lao động. Do đó, nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế đơn thuần mà còn mang ý nghĩa về mặt xã hội. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Tiền lương của đơn vị có thể bị lãng phí do công tác quản lý không hiệu quả hay do biển thủ thông qua các hình thức gian lận
Việc chi trả lương và các khoản trích theo lương có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ (cụ thể là chỉ tiêu tiền đã trả cho công nhân viên). Việc tính, thanh toán lương và các khoản trích theo lương không đúng đắn có thể gây sai sót trọng yếu đối với chỉ tiêu này.
Kiểm toán chu kì tiền lương và lao động sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện ra những sai sót trọng yếu nếu có đối với các chỉ tiêu nói trên. Đồng thời cũng phát hiện ra những lãng phí hay sai phạm trong quản lý và sử dụng lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương đã gây ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp và người lao động, phát hiện việc không tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành về quản lý tiền lương, lao động cũng như tính toán không đúng khoản thuế và các khoản phải nộp liên quan đến lương và các khoản thu nhập khác của người lao động, không tuân thủ đúng luật lao động.v.v..
Chu kì tiền lương và lao động được bắt đầu từ thời điểm tiếp nhận lao động vào làm việc đến việc theo dõi thời gian làm việc hoặc sản phẩm hoàn thành; tính lương phải trả cho người lao động, các khoản trích theo lương; thanh toán tiền lương và các khoản khác cho công nhân viên và cuối cùng là xem xét việc chấm dứt hợp đồng lao động và giải quyết các chế độ cho người lao động.
Như vậy, chu kì tiền lương và lao động tác động đến rất nhiều thông tin được phản ánh trên BCTC như: Tiền, các khoản phải trả công nhân viên, bảo hiểm, chi phí… Tuy nhiên, trong phạm vi chương này, kiểm toán viên chủ yếu kiểm tra, thu thập bằng chứng và đưa ra kết luận cho các thông tin liên quan đến các nghiệp vụ và số dư về tiền lương và các khoản trích theo lương.
1.2. Nội dung công tác kiểm toán chu kì tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
1.2.1. Khái quát chung về kiểm toán BCTC.
1.2.1.1. Khái niệm kiểm toán BCTC
Kiểm toán BCTC là hoạt động của các KTV độc lập có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các BCTC được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực hợp lý của BCTC được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập.
1.2.1.2. Mục tiêu kiểm toán BCTC
Đối tượng của kiểm toán BCTC là các thông tin trên BCTC được kiểm toán. Dựa trên các bằng chứng thu thập được, đối chiếu với các tiêu chuẩn, chuẩn mực, những quy định pháp lý về kế toán và các quy định có khác có liên quan, KTV phải đi đến và đạt được ý kiến của mình về độ trung thực hợp lý của các BCTC được kiểm toán. Do vậy mục tiêu tổng quát của kiểm toán BCTC là “giúp KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Ngoài ra, “ mục tiêu kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu kiểm toán trên đây được biểu hiện thông qua kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán BCTC đó là báo cáo kiểm toán và thư quản lý”. Hướng tới mục tiêu cuối cùng là đưa ra kết luận BCTC có trung thực hợp lý hay không và đưa ra một bản báo cáo kiểm toán thích hợp.
1.2.2. Mục tiêu và căn cứ kiểm toán của chu kì tiền lương và lao động
1.2.2.1. Mục tiêu kiểm toán chu kì tiền lương và lao động
Công việc của kiểm toán viên trong kiểm toán chu kì tiền lương và lao động là nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp liên quan đến quá trình xử lý các sự kiện, các nghiệp vụ về tiền lương và lao động. Qua đó, kiểm toán viên có đầy đủ căn cứ để đưa ra ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý của các chỉ tiêu liên quan trên báo cáo tài chính như các khoản chi phí về lương và các khoản phải thanh toán cho công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp tính theo lương. Đồng thời làm cơ sở tham chiếu để kết luận về các chỉ tiêu có liên quan khác như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí nhân viên quản lý, nợ phải trả công nhân có liên quan khác. Mục tiêu kiểm toán đối với chu kỳ tiền lương và lao động như sau:
- Xác minh tính có thật và có căn cứ hợp lý
KTV kiểm tra xác minh các ghi chép về tiền lương và các khoản trích, tình hình thanh toán tiền lương các khoản trích theo lương các khoản thu nhập khác cho người lao động được thể hiện trên sổ sách và BCTC phải dựa trên cơ sở có thật, thực tế đã xảy ra đã được phê duyệt đầy đủ. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
- Xác minh tính đầy đủ
KTV xác minh các nghiệp vụ có liên quan đến tiền lương, các khoản trích theo lương, thanh toán tiền lương, thu nhập của lao động.. phait được ghi chép đầy đủ vào sổ sách, BCTC.
- Sự đánh giá và chính xác số học
KTV cần kiểm tra xác minh về việc tính lương phân bổ vào chi phí, thanh toán lương có đảm bảo chính xác về số học hợp lý không.
- Sự phân loại
KTV kiểm tra các nghiệp vụ liên quan đến tiền lương các khoản trích theo lương có được phân loại đúng đắn khi ghi chép vào sổ kế toán có đảm bảo tính thông nhất.
- Tính đúng kì
KTV Kiểm tra việc tính lương các khoản trích theo lương phải được tính vào chi phí có được phản ánh vào đúng kì phát sinh.
- Cộng dồn và chuyển sổ
KTV phải xem xét việc chuyển sổ kế toán giữa các kì liên quan đến tiền lương và các khoản trích theo lương có đảm bảo sự chính xác hợp lý.
- Trình bày và công bố
KTV xem xét các thông tin về tiền lương và các khoản trích theo lương trên BCTC có phù hợp với thông tin trên sổ kế toán và được trình bày một cách công khai không.
1.2.2.2. Căn cứ để kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động
Nội dung công việc kiểm toán của kiểm toán viên bao gồm khảo sát về hoạt động kiểm soát nội bộ đối với chu kì và khảo sát để đánh giá các thông tin tài chính có liên quan đến chu kì. Các nguồn thông tin, tài liệu để làm căn cứ kiểm toán chu kì này chủ yếu gồm:
Các quy định, quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ như quy chế tuyển dụng và phân công lao động; quy định về quản lý và sử dụng lao động, quy chế tiền lương, tiền thưởng, quy định về tính lương, ghi chép lương, phát lương cho người lao động, nguyên tắc phân công phân nhiệm trong việc thực hiện các chức năng của chu kì; quy định về quản lý và lưu trữ hồ sơ nhân viên. V..v..
Các tài liệu làm căn cứ pháp lý cho các nghiệp vụ phát sinh thuộc chu kì như: hợp đồng lao động, thanh lý hợp đồng lao động, các tài liệu về định mức lao động, tiền lương; kế hoạch (dự toán) chi phí nhân công….
Các chứng từ kế toán có liên quan như: Bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, phiếu hưởng BHXH, phiếu báo làm đêm, làm thêm giờ, biên bản điều tra tai nạn lao động…; Bảng thanh toán lương, bảng thanh toán BHXH, bảng kê thanh toán tiền thưởng và các khoản khác cho công nhân viên, bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương; phiếu chi lương và các khoản trích theo lương…
Sổ kế toán tổng hợp và sổ chi tiết của các tài khoản liên quan như: Sổ kế toán cái và sổ chi tiết của các tài khoản TK 334, TK 338 (3382, 3383, 3384, 3389); TK 622, 6271, 6411, 6421; TK 333; TK 111, TK112; TK 138…
Chương 2 Thực trạng công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán báo cáo tài chính do chi nhánh công ty TNHH Kiểm Toán Vaco Tại Hải Phòng Thực Hiện. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
2.1. Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm Toán VACO.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty.
Công ty TNHH Kiểm toán VACO tiền thân là Công ty TNHH kiểm toán Việt Nam – VACO (nay là Công ty TNHH Deloitte Việt Nam), là Công ty chuyên ngành kiểm toán, tư vấn tài chính kế toán, VACO đã và đang cung cấp dịch vụ kiểm toán cho nhiều khách hàng, với nhiều loại hình doanh nghiệp, trên mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế với chất lượng cao. Ngày 13/05/1991, theo giấy phép số 957/PPLT của Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Tài Chính đã ký quyết định số 165_TC/QĐ/TCCB thành lập công ty kiểm toán Việt Nam gọi tắt là VACO.
- Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH kiểm toán VACO. Tên nước ngoài: VACO Auditing Company Limited. Tên viết tắt: VACO LLC Co.,Ltd
- Từ năm 1992 VACO đã bắt đầu hợp tác với các hãng Kiểm toán danh tiếng trên thế giới như Deloitte Touche Tohwatsu (DTT), anthur auderser (aa) , Pricewater house cooper (PUC), KPMG….
Tháng 4/ 1994 VACO đã liên doanh với DTT thành lập Công ty liên doanh VACO –DTT, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành Kiểm toán Việt Nam. Công ty xây dựng trụ sở chính và hai chi nhánh tại Hải Phòng và TP.Hồ Chí Minh.
Từ ngày 2/ 10/ 1997 VACO đã mua lại cổ phần của DTT trong liên doanh để trở thành Công ty Kiểm toán đầu tiên được công nhận là thành viên của hãng Kiểm toán hàng đầu thế giới, có chuyên gia nước ngoài làm thuê cho VACO.
Từ đó đến nay rất nhiều khách hàng trong và ngoài nước tìm đến ký kết hợp đồng với VACO ngày một nhiều. Trong năm 1995, Công ty đã thực hiện 235 hợp đồng Kiểm toán, năm 2000 là gần 500 hợp đồng dịch vụ, năm 2001 được ước tính là trên 500 hợp đồng. VACO có rất nhiều khách hàng có mối quan hệ lâu dài, thường xuyên như các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh…
2.1.2. Các loại hình dịch vụ công ty TNHH kiểm toán VACO cung cấp cho khách hàng.
Công việc của công ty là kiểm toán báo cáo tài chính theo luật định, soát xét báo cáo tài chính, rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng với mục đích tư vấn nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán, quản lý tài chính của doanh nghiệp… Công ty tiến hành cung cấp các dịch vụ cho khách hàng như :
- Dịch vụ kiểm toán độc lập Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Công ty TNHH kiểm toán VACO có bề dày kinh nghiệm và danh tiếng trong việc cung cấp các dịch vụ như kiểm toán tình hình hàng năm, soát xét định kỳ, và kiểm toán tổng hợp cho các Công ty đa Quốc gia đến các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Công ty cổ phần. Các dịch vụ kiểm toán của công ty bao gồm:
- Kiểm toán báo cáo tài chính theo luật định
- Kiểm toán báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán tuân thủ
- Kiểm toán quyết toán vốn đầu tư hoàn thành
- Kiểm toán các công trình xây dựng cơ bản
- Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án
- Soát xét thông tin trên báo cáo tài chính
- Kiểm tra thông tin trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước
Dịch vụ kế toán
VACO chuyên cung cấp các dịch vụ kế toán cho khách hàng, đồng thời VACO cũng hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc chuyển đổi các báo cáo tài chính được lập theo hệ thống kế toán Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận.
Cụ thể, các dịch vụ kế toán bao gồm:
- Ghi sổ kế toán
- Lập báo cáo tài chính
- Soát xét công tác kế toán, hệ thống kế toán
- Đào tạo và hội thảo
Dịch vụ tư vấn thuế
VACO có kinh nghiệm trong việc áp dụng các quy trình tư vấn và gợi ý các giải pháp thiết thực về thuế phù hợp với các đối tượng khách hàng:
- Soát xét tính tuân thủ luật thuế của doanh nghiệp
- Tính và lập tờ khai các loại thuế
- Tư vấn thuế cho chuyên gia nước ngoài
- Hỗ trợ nhà đầu tư tham gia thị trường
- Hoạch định chiến lược thuế
- Cơ cấu kinh doanh có hiệu quả cho mục đích tính thuế
- Tư vấn cơ cấu tối ưu hoá thuế đa quốc gia
Dịch vụ kiểm soát rủi ro doanh nghiệp ERS
- Soát xét và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
- Kiểm toán nội bộ
- Kiểm soát, đánh giá rủi ro hệ thống công nghệ thông tin
- Các dịch vụ kiểm soát và tư vấn rủi ro khác
Dịch vụ tư vấn và giải pháp doanh nghiệp
- Tư vấn huy động vốn
- Tư vấn doanh nghiệp
- Soát xét toàn diện hoạt động doanh nghiệp
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp
- Tư vấn mua bán, tách, sáp nhập, giải thể doanh nghiệp
- Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
Dịch vụ kiểm toán các công trình xây dựng cơ bản
- Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành các hạng mục công trình, dự án.
- Kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm của các Ban quản lý.
- Kiểm toán xác định giá trị quyết toán công trình.
Dịch vụ kiểm toán dự án
- Kiểm toán độc lập
- Soát xét hệ thống kiểm soát nội bộ
- Kiểm soát tính tuân thủ của dự án
- Đánh giá khả năng thực hiện dự án
- Hướng dẫn quản lý dự án.
Dịch vụ đào tạo và quản lý nguồn nhân lực
- Tổ chức đào tạo và hội thảo
- Quản lý nguồn nhân lực
2.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty .
- Sơ đồ 2.1 : Tổ chức bộ máy hoạt động của công tyTNHH kiểm toán VACO
VACO được chia thành 9 phòng, các phòng được phân công nhiệm vụ theo từng loại hình khách hàng và loại dịch vụ.
Phòng nghiệp vụ I II III có nhiệm vụ thực hiện các cuộc kiểm toán cho các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt các tổng công ty 90, 91. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Phòng nghiệp vụ IV thực hiện kiểm toán các dự án đầu tư nước ngoài, các hợp đồng kinh doanh
Phòng đào tạo ngoài việc đào tạo nghiệp vụ cho các nhân viên mới và tổ chức các khóa học nâng cao kiến thức cho cán bộ nhân viên công ty, Phòng cũng thực hiện kiểm toán chung với các công ty kiểm toán khác cho doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ( các công ty bảo hiểm, các ngân hàng…),
Phòng dịch vụ quốc tế ( ISD), thực hiện kiểm toán các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Phòng tư vấn và giải pháp tiến hành công việc tư vấn cho khách hàng trên nhiều lĩnh vực như thuế, tư vấn tài chính – kế toán, giải pháp quản lý, giải pháp hệ thống máy tính…
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản chuyên kiểm toán các doanh nghiệp, dự án hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
Phòng hành chính tổng hợp đồng thời là phòng tài chính kế toán của công ty, là nơi quản lý nhân sự, các thủ tục hành chính, quản lý sổ sách kế toán của công ty.
Các phòng nghiệp vụ đươc chuyên môn hóa nhưng trong một số cuộc kiểm toán lớn, có thể sử dụng nhân viên ở nhiều phòng cùng tham gia kiểm toán.
2.1.4. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty
- Chế độ kế toán áp dụng hiện nay : Chế độ kế toán Doanh nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
- Niên độ kế toán : Bắt đầu từ ngày 1/1 kết thúc ngày 31/12 hàng năm. Kì kế toán là từng tháng trong năm.
- Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán : Đồng Việt
- Phương pháp tính thuế GTGT : Phương pháp khấu trừ.
- Hình thức ghi sổ kể toán : Nhật kí chung
- Phương pháp tính khấu hao :
Nguyên tắc xây dựng nguyên giá TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình : xác định theo nguyên giá và GTCL của tài sản.
Phương pháp tính khấu hao TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình : phương pháp khấu hao đường thẳng.
2.2. Thực trạng công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC do Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng Thực hiện. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
2.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán
2.2.1.1. Xem xét chấp nhận hợp đồng
Đây là công việc kiểm toán được công ty TNHH kiểm toán VACO thực hiện nhằm xác định có thể tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng cũ hay thực hiện một hợp đồng kiểm toán với khách hàng mới. Trên cơ sở đó kiểm toán viên sẽ xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Hội Đồng Quản Trị công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy và cổ đông mong muốn BCTC được kiểm toán bởi VACO để tăng tính tin cậy với BCTC. Yêu cầu soát xét BCTC 6 tháng đầu năm và Kiểm toán BCTC cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2013. Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy là khách hàng lâu năm của VACO, công ty niêm yết trên sàn từ tháng 3/2011. Tính chính trực của Ban Giám đốc được đánh giá cao. Cơ cấu quản lý tổ chức, loại hình kinh doanh và đặc thù công tác kiểm toán tại công ty không có lưu ý đặc biệt. Căn cứ vào hồ sơ kiểm toán của năm trước và dựa vào những hiểu biết sơ bộ về quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, công ty quyết định ký kết hợp đồng thực hiện kiểm toán BCTC Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy cho năm 2013.
Công ty kiểm toán VACO xem xét những yêu cầu của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và phân công lao động phù hợp cho cuộc kiểm toán. Số lượng, chất lượng của cuộc kiểm toán phụ thuộc vào độ phức tạp của công việc, quy mô của đơn vị khách hàng và yêu cầu cụ thể của từng khách hàng. Nhóm kiểm toán tại công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy gồm:
Nhóm kiểm toán tiến hành từ ngày 04/01/2014 đến 06/01/2014, nhóm kiểm toán kiểm tra tính độc lập khách quan trước khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Chất lượng kiểm toán được điều khiển bởi Lương Thị Thúy– Phó giám đốc chi nhánh cùng Giám đốc.
- Cam kết về tính độc lập của thành viên nhóm kiểm toán
Để đảm bảo không tồn tại các yếu tố trọng yếu có thể ảnh hưởng đến tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán tham gia nhóm kiểm toán cần thực hiện thủ tục soát xét các yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên. Sau khi thực hiện thủ tục soát xét kiểm toán viên và nhóm kiểm toán lập Bản cam kết về tính độc lập.
2.2.1.2. Thu thập thông tin khách hàng
- Thông tin cơ bản: Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy là Doanh nghiệp cổ phần được thành lập theo Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 0203004289 ngày 10/05/2008 do Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hải Phòng cấp và thay đổi lần 1 ngày 30/05/2008, thay đổi lần 2 ngày 25/12/2008, thay đổi lần 3 ngày 07/05/2009, thay đổi lần 4 ngày 12/11/2010; thay đổi lần 5 ngày 28/03/2011; thay đổi lần thứ 6 ngày 10/07/2012; thay đổi lần thứ 7 ngày 13/09/2012; thay đổi lần thứ 8 ngày 22/07/2013.
Trụ sở chính: Số 116 Nguyễn Đức Cảnh – Phường Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.
Vốn Điều lệ theo Đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 8 là: 382.499.675.000 đồng.
- Hoạt động chính của Công ty là:
Kinh doanh ô tô con, ô tô tải, cho thuê văn phòng, xây dựng và kinh doanh nhà các loại. Loại hình kinh doanh : Thương mại dịch vụ.
Công ty Cổ phần Thương mại Hưng Việt do cùng chịu sự kiểm soát của các cổ đông chính. 75% vốn tại Công ty Cổ phần Thương mại Hưng Việt do Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy góp vốn.
Công ty TNHH Dongfeng Motors Engineering cung cấp trên 50% nguyên liệu, hàng hoá cho Công ty.
Công ty là đại diện chính thức phân phối xe tải của hang Dongfong- Trung Quốc, do đó không có đối thủ cạnh tranh, chỉ ảnh hưởng bởi các hãng xe khác.
Ngày 10/ 08/ 2009, Công ty đã ký kết Hợp đồng Liên doanh với Công ty TNHH Pruksa International dự kiến thành lập Công ty TNHH Pruksa Việt Nam để thực hiện dự án nhà ở thu nhập thấp tại An Đồng, An Dương, Hải Phòng. Theo đó, vốn điều lệ và vốn đầu tư của Công ty TNHH Pruksa Việt Nam lần lượt là 10.000.000 USD và 40.000.000 USD (trong đó, tỷ lệ vốn góp của Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy và Công ty TNHH Pruksa International lần lượt là 15% và 85%).
Công ty Cổ phần Đầu tư dịch vụ tài chính Hoàng Huy cùng chịu sự kiểm soát của các cổ đông chính.
Danh sách cổ đông lớn tại ngày 31/12/2013 như sau:
Tổng số nhân viên của Công ty tại ngày 31/12/2013 là 20 người (tại ngày 01/01/2013 là 22 người).
- Tổ chức công tác kế toán.
Niên độ kế toán: Niên độ kế toán năm của Công ty bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: Đồng Việt Nam (VNĐ)
Chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Tuyên bố về việc tuân thủ Chuẩn mực kế toán: Công ty đã áp dụng các Chuẩn mực kế toán Việt Nam và các văn bản hướng dẫn Chuẩn mực do Nhà nước đã ban hành. Các báo cáo tài chính được lập và trình bày theo đúng mọi quy định của từng chuẩn mực, thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực.
Hình thức kế toán áp dụng: Nhật ký chung
Tóm tắt các chính sách kế toán chủ yếu
- Ước tính kế toán Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Việc lập báo cáo tài chính tuân thủ theo chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam và các quy định pháp lý có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính yêu cầu Ban Giám đốc phải có những ước tính và giả định ảnh hưởng đến số liệu báo cáo về công nợ, tài sản và việc trình bày các khoản công nợ và tài sản tiềm tàng tại ngày lập báo cáo tài chính cũng như các số liệu báo cáo về doanh thu và chi phí trong suốt năm tài chính. Mặc dù các ước tính kế toán được lập bằng tất cả sự hiểu biết của Ban Giám đốc, số thực tế phát sinh có thể khác với các ước tính, giả định đặt ra.
- Đầu tư vào công ty liên kết
Công ty liên kết là một công ty mà Công ty có ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải là công ty con hay công ty liên doanh của Công ty. Ảnh hưởng đáng kể thể hiện ở quyền tham gia vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt động của bên nhận đầu tư nhưng không có ảnh hưởng về mặt kiểm soát hoặc đồng kiểm soát những chính sách này.
- Công cụ tài chính Ghi nhận ban đầu
Tài sản tài chính: Tại ngày ghi nhận ban đầu, tài sản tài chính được ghi nhận theo giá gốc cộng các chi phí giao dịch có liên quan trực tiếp đến việc mua sắm tài sản tài chính đó. Tài sản tài chính của Công ty bao gồm tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu khách hàng, phải thu khác, các khoản ký quỹ, các khoản đầu tư tài chính và các công cụ tài chính phái sinh.
Công nợ tài chính: Tại ngày ghi nhận ban đầu, công nợ tài chính được ghi nhận theo giá gốc cộng các chi phí giao dịch có liên quan trực tiếp đến việc phát hành công nợ tài chính đó. Công nợ tài chính của Công ty bao gồm các khoản phải trả người bán, phải trả khác, các khoản chi phí phải trả, các khoản nợ thuê tài chính, các khoản vay và công cụ tài chính phái sinh.
- Đánh giá lại sau lần ghi nhận ban đầu
Hiện tại, chưa có quy định về đánh giá lại công cụ tài chính sau ghi nhận ban đầu.
- Tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi không kỳ hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn, có khả năng thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi thành tiền và ít rủi ro liên quan đến việc biến động giá trị.
- Dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng phải thu khó đòi được trích lập cho những khoản phải thu đã quá hạn thanh toán từ sáu tháng trở lên, hoặc các khoản phải thu mà người nợ khó có khả năng thanh toán do bị thanh lý, phá sản hay các khó khăn tương tự.
- Hàng tồn kho Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Hàng tồn kho được xác định trên cơ sở giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp và chi phí sản xuất chung, nếu có, để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Giá gốc của hàng tồn kho được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền. Giá trị thuần có thể thực hiện được được xác định bằng giá bán ước tính trừ các chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm cùng chi phí tiếp thị, bán hàng và phân phối phát sinh.
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho của Công ty được trích lập theo các quy định kế toán hiện hành. Theo đó, Công ty được phép trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho lỗi thời, hỏng, kém phẩm chất và trong trường hợp giá gốc của hàng tồn kho cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được tại ngày kết thúc niên độ kế toán.
- Tài sản cố định hữu hình và khấu hao
Tài sản cố định hữu hình được trình bày theo nguyên giá trừ giá trị hao mòn lũy kế. Nguyên giá tài sản cố định hữu hình bao gồm giá mua và toàn bộ các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Tài sản cố định hữu hình được khấu hao theo phương pháp đường thẳng dựa trên thời gian hữu dụng ước tính, cụ thể như sau:
- Các khoản trả trước dài hạn
Các khoản chi phí trả trước dài hạn bao gồm giá trị công cụ, dụng cụ, linh kiện loại nhỏ đã xuất dùng, các chi phí quảng cáo và chi phí đào tạo phát sinh trong giai đoạn trước khi Công ty đi vào hoạt động chính thức và được coi là có khả năng đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho Công ty với thời hạn từ một năm trở lên. Các chi phí này được vốn hóa dưới hình thức các khoản trả trước dài hạn và được phân bổ vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, sử dụng phương pháp đường thẳng theo thời gian sử dụng hữu ích ước tính.
- Ghi nhận vốn chủ sở hữu
Vốn đầu tư của chủ sở hữu được phản ánh là số vốn góp thực góp của các cổ đông. Vốn bổ sung hàng năm từ Lợi nhuận của Công ty và vốn bổ sung theo các quyết định đầu tư hàng năm của Công ty.
Phân phối lợi nhuận của Công ty được thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
- Ghi nhận doanh thu Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau:
- Công ty đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
- Công ty không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Công ty sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; và Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Lãi tiền gửi được ghi nhận trên cơ sở dồn tích, được xác định trên số dư các tài khoản tiền gửi và lãi suất áp dụng. Lãi từ các khoản đầu tư được ghi nhận khi Công ty có quyền nhận khoản lãi.
- Ngoại tệ
Công ty áp dụng xử lý chênh lệch tỷ giá theo hướng dẫn của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 (VAS 10) “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái” về ghi nhận, đánh giá, xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái trong doanh nghiệp. Theo đó, các nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ được chuyển đổi theo tỷ giá tại ngày phát sinh nghiệp vụ. Số dư các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại ngày kết thúc niên độ kế toán được chuyển đổi theo tỷ giá tại ngày này. Chênh lệch tỷ giá phát sinh được hạch toán vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Lãi chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các số dư tại ngày kết thúc niên độ kế toán không được dùng để chia cho cổ đông.
- Các khoản dự phòng
Các khoản dự phòng được ghi nhận khi Công ty có nghĩa vụ nợ hiện tại do kết quả từ một sự kiện đã xảy ra, và Công ty có khả năng phải thanh toán nghĩa vụ này. Các khoản dự phòng được xác định trên cơ sở ước tính của Ban Giám đốc về các khoản chi phí cần thiết để thanh toán nghĩa vụ nợ này tại ngày kết thúc niên độ kế toán.
- Thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp thể hiện tổng giá trị của số thuế phải trả hiện tại và số thuế hoãn lại.
Số thuế phải trả hiện tại được tính dựa trên thu nhập chịu thuế trong năm. Thu nhập chịu thuế khác với lợi nhuận thuần được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vì thu nhập chịu thuế không bao gồm các khoản thu nhập hay chi phí tính thuế hoặc được khấu trừ trong các năm khác và ngoài ra không bao gồm các chỉ tiêu không chịu thuế hoặc không được khấu trừ.
Thuế thu nhập hoãn lại được tính trên các khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và cơ sở tính thuế thu nhập của các khoản mục tài sản hoặc công nợ trên báo cáo tài chính và được ghi nhận theo phương pháp bảng cân đối kế toán. Thuế thu nhập hoãn lại phải trả phải được ghi nhận cho tất cả các khoản chênh lệch tạm thời còn tài sản thuế thu nhập hoãn lại chỉ được ghi nhận khi chắc chắn có đủ lợi nhuận tính thuế trong tương lai để khấu trừ các khoản chênh lệch tạm thời.
Thuế thu nhập hoãn lại được xác định theo thuế suất dự tính sẽ áp dụng cho năm tài sản được thu hồi hay nợ phải trả được thanh toán. Thuế thu nhập hoãn lại được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và chỉ ghi vào vốn chủ sở hữu khi khoản thuế đó có liên quan đến các khoản mục được ghi thẳng vào vốn chủ sở hữu.
Tài sản thuế thu nhập hoãn lại và nợ thuế thu nhập hoãn lại phải trả được bù trừ khi Công ty có quyền hợp pháp để bù trừ giữa tài sản thuế thu nhập hiện hành với thuế thu nhập hiện hành phải nộp và khi các tài sản thuế thu nhập hoãn lại và nợ thuế thu nhập hoãn lại phải trả liên quan tới thuế thu nhập doanh nghiệp được quản lý bởi cùng một cơ quan thuế và Công ty có dự định thanh toán thuế thu nhập hiện hành trên cơ sở thuần. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Theo Quyết định số 2206/QĐ-UBND của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng ngày 22/12/2008 về việc công nhận cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật và Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011, Công ty được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm theo điều kiện miễn giảm thuế cho “Cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật”.
Việc xác định thuế thu nhập của Công ty căn cứ vào các quy định hiện hành về thuế. Tuy nhiên, những quy định này thay đổi theo từng thời kỳ và việc xác định sau cùng về thuế thu nhập doanh nghiệp tùy thuộc vào kết quả kiểm tra của cơ quan thuế có thẩm quyền.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán chu kì tiền lương và lao động trong kiểm toán bctc do chi nhánh công ty TNHH Kiểm Toán Vaco Tại Hải Phòng Thực Hiện
3.1. Kết quả đạt được trong công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC do chi nhánh công ty TNHH kiểm toán VACO thực hiện.
Về quy trình kiểm toán do VACO xây dựng tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán quốc tế được chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam. Với các bước trong quy trình chung là lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, kết thúc kiểm toán Công ty đã vận dụng linh hoạt để hoàn thiện quy trình, từ đó nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán.
Đi sâu vào từng giai đoạn trong quy trình kiểm toán chu kì tiền lương và lao động có thể nhận thấy một số ưu điểm của Công ty như sau:
3.1.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Công ty TNHH Kiểm toán VACO đã xây dựng một chương trình kiểm toán chuẩn áp dụng cho các cuộc kiểm toán. Chương trình kiểm toán được xây dựng cho các chu kì kiểm toán một cách hợp lý giúp cho KTV dễ dàng trong quá trình thực hiện kiểm toán. Tuy nhiên, đây chỉ là cơ sở để KTV có thể thực hiện cuộc kiểm toán, các KTV trong Công ty luôn kết hợp giữa chương trình kiểm toán và điều kiện thực tế tại đơn vị khách hàng, đặc điểm về chu kì tiền lương và lao động của họ. Từ đó, KTV thiết lập thêm các thủ tục kiểm toán chi tiết phù hợp với từng khách hàng cụ thể. Điều đó có nghĩa là chương trình kiểm toán của Công ty được các KTV áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi khách hàng chứ không máy móc, dập khuôn. Nhờ đó, chất lượng cuộc kiểm toán được nâng cao.
Để đảm bảo việc thực hiện công việc hợp lý và tránh được rủi ro, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán sau khi thu thập các thông tin của khách hàng thì công ty tiến hành tiếp thủ tục đánh giá hệ thống KSNB; thủ tục phân tích sơ bộ Báo cáo tài chính; đánh giá tính trọng yếu và rủi ro xảy ra sai sót trong BCTC của khách hàng. Bước công việc này đã được công ty đưa vào thực hiện có tầm quan trọng với chất lượng của cuộc kiểm toán.
3.1.2. Thực hiện kiểm toán Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Trong quá trình kiểm toán, KTV đã kết hợp giữa các phần hành kiểm toán giúp công việc kiểm toán hiệu quả hơn. Khi thực hiện kiểm toán chu kì tiền lương và lao động, KTV đã thực hiện việc đối chiếu kết quả với các phần hành kiểm toán như: chi phí nhân công, doanh thu,… Nó giúp KTV giảm thiểu khối lượng công việc cần làm, không bị trùng lặp trong công việc. Hay với kiểm toán những vấn đề như thanh toán lương, KTV có thể sử dụng kết quả kiểm toán của các phần hành tiền, chi phí…
3.1.3. Kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán nhằm tổng hợp công việc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán.
Công ty luôn chú trọng công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán trong toàn bộ cuộc kiểm toán và đặc biệt là trong giai đoạn kết thúc kiểm toán. Việc kết thúc kiểm toán cũng được kiểm tra cơ bản, tuân thủ theo quy định chung của ngành kiểm toán độc lập cung như quy định của Công ty. Cụ thể, cuối mỗi ngày làm việc giấy tờ làm việc đều được nộp cho trưởng nhóm kiểm toán để soát xét nắm bắt được tiến độ công việc từ đó có thể điều chỉnh chương trình kiểm toán cho phù hợp với thực tế hoạt động.
Chính nhờ phương pháp và cách thức làm việc có kỉ luật và khoa học trên, tất cả các công việc được giao tại cuộc kiểm toán do công ty TNHH Kiểm toán VACO thực hiện đã hoàn thành đúng kế hoạch. Các giấy tờ làm việc của KTV được trình bày khoa học, hợp lý theo hồ sơ kiểm toán. Các KTV không ngừng nâng cao hiệu quả công việc ở mức tối đa nhưng vẫn đảm bảo thu thập bằng chứng kiểm toán một cách chất lượng. Nhờ đó kết quả kiểm toán chu kì tiền lương, lao động nói riêng và toàn bộ BCTC nói chung Công ty TNHH Kiểm toán VACO đã phản ánh trung thực và hợp lý về tình hình khách hàng.
3.1.4. Kiểm soát chất lượng kiểm toán
Quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán tại VACO được thiết kế khá chặt chẽ, theo hai cấp với sự phân công phân nhiệm rõ ràng: Trưởng nhóm kiểm toán, Ban giám đốc. Kết thúc quá trình kiểm toán trưởng nhóm có trách nhiệm soát xét các tổng hợp của kiểm toán viên, xem xét lại các bằng chứng kiểm toán đã thu thập cùng các nhận xét đánh giá của kiểm toán viên khác để đảm bảo tính chính xác của kết luận kiểm toán, sau đó chuyển Hồ sơ kiểm toán lên Ban giám đốc. Ban giám đốc là người soát xét cuối cùng và quyết định việc phát hành báo cáo kiểm toán. Do được kiểm soát chặt chẽ như vậy nên chất lượng hoạt động kiểm toán của công ty đã tạo được sự tin tưởng và đánh giá cao từ khách hàng.
3.1.5. Ghi chép, lưu trữ giấy tờ làm việc, hồ sơ kiểm toán Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Trong qúa trình tiến hành kiểm toán, KTV thể hiện các công việc mà mình thực hiện trên các giấy tờ làm việc. Do vậy giấy tờ làm việc có vai trò rất quan trọng, là cơ sở đảm bảo bằng chứng có tính thuyết phục cao. Nhận thức rõ điều đó nên tại Công ty VACO việc ghi chép lưu trữ giấy tờ làm việc được thực hiện nghiêm túc và khoa học. Giấy tờ làm việc của từng khách hàng được lưu vào file riêng theo trình tự tham chiếu Công ty đã quy ước. Ngoài gáy file có ghi rõ tên khách hàng, tên hồ sơ là Hồ sơ kiểm toán BCTC, năm được kiểm toán, Số thứ tự của file/tổng số file, bộ phận quản lý hồ sơ, rất thuận tiện cho việc tìm kiếm khi cần. Các giấy tờ làm việc trong một phần hành được đánh ký hiệu tham chiếu rõ ràng, tham chiếu đến các vấn đề có liên quan, giúp người đọc dễ dàng theo dõi. Các ký hiệu viết tắt giải thích các thủ tục kiểm toán đã thực hiện được ghi bằng màu mực khác với màu mực ghi chép số liệu để dễ nhận biết.
3.1.6. Đội ngũ nhân viên công ty
Đội ngũ nhân viên năng động nhiệt tình, yêu nghề, có trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ KTV nên Công ty rất chú trọng vấn đề đào tạo bồi dưỡng nhân tố này thông qua các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện, tài trợ cho nhân viên học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ như học lấy chứng chỉ kiểm toán viên, học cao học…
3.2. Những tồn tại trong công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC do chi nhánh công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng thực hiện.
Bên cạnh những ưu điểm trên, VACO vẫn còn một số tồn tại trong quy trình kiểm toán BCTC nói chung và kiểm toán chu tiền lương và lao động nói riêng.
3.2.1. Thủ tục khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu kỳ tiền lương và lao động
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Công ty mới đánh giá chung hệ thống KSNB của toàn Công ty khách hàng chứ chưa đánh giá cho từng chu kì, khoản mục. Khi thực hiện khảo sát hệ thống KSNB của từng chu kì, khoản mục sẽ giúp KTV nhận diện, đánh giá được những điểm mạnh điểm yếu của hệ thống KSNB. Trên cơ sở hiểu biết về hề thống KSNB KTV sẽ hình dung được khối lượng, độ phức tạp của công việc, đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát. Từ đó KTV xác định được phương hướng phạm vi kiểm tra, thiết kế các thủ tục kiểm toán. Tại VACO do công ty không thực hiện khảo sát hệ thống KSNB của từng khoản mục, chu kì nên đối với các khách hàng mới và nhiều trường hợp khác các KTV phải sử dụng các thủ tục thay thế đế tiến hành kiểm toán vì không có sơ sở tin tưởng vào hệ thống KSNB tại công ty khách hàng, điều này sẽ làm tốn thời gian và chi phí kiểm toán.
3.2.2. Thủ tục phân tích phải trả người lao động Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Ở VACO, thủ tục phân tích ít khi được chú trọng. Khi tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích, các KTV thường tiến hành so sánh khoản phải trả người lao động của năm nay so với năm trước, tính tỉ trọng tiền lương trong nợ phải trả, nợ ngắn hạn. Việc áp dụng thủ tục phân tích như vậy là rất máy móc và sơ sài, không có sự linh hoạt nên khó có thể thông qua thủ tục phân tích để phát hiện được những biến động bất thường làm cơ sở để xác định hướng kiểm tra chi tiết.
3.2.3. Sự thiếu hụt nhân viên
Sự thiếu hụt nhân viên của VACO Hải Phòng, đặc biệt là kiểm toán viên đã dẫn đến tình trạng khối lượng công việc của một người quá nhiều trong cùng một thời gian ngắn, khó đảm bảo độ chính xác cao trong công việc kiểm toán. Do đó dẫn đến tình trạng nhân viên phải làm việc ngoài giờ quá nhiều, không đảm bảo về sức khỏe cho nhân viên.
Thêm vào đó công ty có một nhân viên chuyên dịch các báo cáo sang tiếng Trung Quốc nhưng lại không có nhân viên chuyên dịch báo cáo sang tiếng Nhật hay Anh. Do vậy các báo cáo này do chính các nhân viên công ty tự dịch, do vậy không đảm bảo tính chính xác về ngữ pháp cũng như ngôn ngữ.
Ngoài ra sự thiếu hụt về nhân lực có thể dẫn đến sự hạn chế về số lượng khách hàng.
3.2.4. Phân bổ tính trọng yếu cho từng khoản mục
Hiện tại công ty không tiến hành phân bổ mức trọng yếu mà chỉ xác định mức trọng yếu tổng thể (PM) và mức trọng yếu thực hiện (MP) dùng cho tất cả các khoản mục trong BCTC. Chính vì thế, trong quá trình thực hiện, đối với các khoản mục nhận thấy có khả năng xảy ra sai sót trọng yếu cao, KTV phải mở rộng quy mô mẫu kiểm tra chi tiết dựa trên phán đoán nghề nghiệp của mình để đảm bảo không có sai sót trọng yếu trên BCTC của khách hàng, dẫn tới kéo dài thời gian, tăng chi phí cuộc kiểm toán
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC tại Chi nhánh công ty TNHH kiểm toán Vaco tại Hải Phòng Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
3.3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC tại Chi nhánh Công ty TNHH kiểm toán VACO tại Hải Phòng.
Theo NĐ 133/2005 – NĐ-CP Ban hành sửa đổi nghị định 105 thì tất cả công ty, doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán ( bao gồm công ty TNHH một thành viên và công ty nhà nước) cần phải sửa đổi sở hữu trước ngày 30/04/2007. Nghị định này đã tạo ra một thay đổi lớn trong ngành kiểm toán nước ta, hàng loạt nhóm kiểm toán của các công ty lớn thuộc sở hữu nhà nước như AASC, VACO đã tách ra khỏi công ty thành lập rất nhiều công ty kiểm toán mới. Hơn nữa với sự phát triển của thị trường chứng khoán, số người cần sử dụng thông tin đã được kiểm toán ngày càng tăng điều này đồng nghĩa với trách nhiệm pháp lý của các công ty ngày càng tăng. Trên cơ sở đó tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, đòi hỏi các công ty kiểm toán phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, giảm chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua hoàn thiện các chu kỳ kiểm toán. Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ công ty kiểm toán độc lập nào cũng là lợi nhuận, để đạt được mục tiêu này các công ty kiểm toán độc lập phải cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất và không ngừng hoàn thiện chất lượng dịch vụ một cách linh hoạt theo cơ chế thị trường. Vì vậy hoàn thiện quy trình kiểm toán BCTC nói chung và công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động nói riêng là một yêu cầu tất yếu đối với các công ty kiểm toán.
Số lượng các công ty kiểm toán trong nước đã tăng lên một cách nhanh chóng, các loại hình dịch vụ mà các công ty cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú và đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người sử dụng thông tin tài chính. Khách hàng của các công ty kiểm toán cũng ngày càng gia tăng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hợp tác phát triển kinh tế và sự ra đời của các khu công nghiệp. Để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, các công ty kiểm toán không còn con đường nào khác là không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện đổi mới các thủ tục, quy trình kiểm toán, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại sao cho đạt được hiệu quả cao nhất và tăng uy tín với khách hàng cũng như bạn bè đồng nghiệp.
Trong mọi cuộc kiểm toán, chu kỳ tiền lương và lao động cũng là một trong những chu kỳ được coi trọng nhất đòi hỏi phải được các KTV chú trọng. Kiểm toán chu kỳ này cũng chính là kiểm toán khoản mục chi phí nhân công trực tiếp góp phần tính giá vốn hàng bán và khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là những khoản chi phí quan trọng được Ban lãnh đạo các doanh nghiệp luôn quan tâm nghiên cứu để góp phần hoàn thiện các chính sách của công ty nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên lao động, hệ thống quản lý để đẩy mạnh hoạt động sản xuất và uy tín chất lượng của doanh nghiệp.
3.3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán chu kỳ tiền lương và lao động trong kiểm toán BCTC tại Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
3.3.2.1. Giải pháp Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu kỳ tiền lương và lao động.
Trong mỗi cuộc kiểm toán, khi kiểm toán chu kì tiền lương và các khoản trích theo lương việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát là vấn đề quan trọng và có ảnh hưởng đến việc áp dụng các thủ tục kiểm toán cần áp dụng. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng được đánh giá là có hiệu lực và mạnh thì kiểm toán viên sẽ thiết kế để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và trên các nghiệp vụ. Ngược lại kiểm toán viên sẽ không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ mà sẽ tăng cường các thử nghiệm cơ bản trên số dư và trên các nghiệp vụ.
- Cơ sở của biện pháp
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 –Đánh giá rủi ro và hệ thồng kiểm soát nội bộ“ KTV có quyền lựa chọn các kỹ thuật khác nhau để lưu trữ thông tin liên quan đến hệ thống kế toán và hệ thống KSNB. Hình thức và phạm vi lưu trữ tài liệu về đánh giá rủi ro kiểm soát tùy thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp của đơn vị và của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của đơn vị”. Chính vì vậy, tùy thuộc vào đặc điểm của từng khách hàng mà KTV cần quyết định sử dụng phương pháp mô tả hệ thống KSNB cho phù hợp.
- Biện pháp thực hiện
Tại VACO các KTV không tìm hiểu hệ thống KSNB của các chu kì mà chỉ khảo sát hệ thống KSNB toàn doanh nghiệp. Điều này sẽ làm cho các KTV phải tăng cường các thử nghiệm cơ bản trên số dư và trên các nghiệp vụ.
Để tìm hiểu và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm toán viên có thể lựa chọn nhiều cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạp của khách hàng.
Thông thường để mô tả và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng kiểm toán viên có thể sử dụng một trong ba phương pháp hoặc có thể kết hợp cả ba phương pháp tuỳ theo từng đặc điểm của đơn vị được kiểm toán.
- Bảng tường thuật: Là sự mô tả bằng văn bản về hệ thống KSNB của đơn vị.
Bảng tường thuật đúng cách cần trình bày đầy đủ bốn điểm sau:
- Nguồn gốc của mọi chứng từ và sổ sách trong hệ thống
- Tất cả các quá trình đã xảy ra
- Nêu rõ các hoạt động kiểm soát cần thiết để giúp cho quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát
Việc sử dụng bảng tường thuật rất thông dụng với các cơ cấu KSNB đơn giản và dễ mô tả. Nhưng bất lợi của chúng là khó có thể đáp ứng cả việc cung cấp đủ thông tin cần thiết mà vẫn phải diễn đạt bằng những từ ngữ đơn giản, và dễ hiểu nhất.
Lưu đồ: Là những hình vẽ biểu thị hệ thống thông tin kế toán và các hoạt động kiểm soát có kiên quan bằng những ký hiệu đã được quy ước. KTV thường trình bày lưu đồ theo hướng tổng quát là từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và trình bày riêng từng cột để mô tả những công việc diễn ra ở từng bộ phận chức năng hay từng nhân viên.
Lưu đồ cung cấp một cái nhìn khái quát và súc tích về hệ thống của khách hàng, cho thấy mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các chứng từ và sổ sách… và có tác dụng như một công cụ phân tích khi đánh giá. Tuy nhiên, mô tả bằng lưu đồ thường mất nhiều thời gian và trong một số trường hợp nó còn tùy thuộc vào khả năng mô tả của KTV
Bảng câu hỏi khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ: đây là một phương pháp phổ biến được áp dụng rộng rãi vì tính chất hiệu quả và đơn giản. Bảng câu hỏi thường được thiết kế dưới dạng câu hỏi đóng: có nghĩa là câu trả lời phía khách hàng chỉ có thể là “có” hoặc “không”. Đây là cách thức tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ khá đơn giản và ít tốn thời gian của Kiểm toán viên. Kiểm toán viên có thể kết hợp việc phỏng vấn và quan sát thực tế tại đơn vị của khách hàng. Qua đó Kiểm toán viên có thể đánh giá được điểm yếu, điểm mạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và kết luận hệ thống có đáng tin cậy hay không, đồng thời Kiểm toán viên xác định mức rủi ro kiểm soát phù hợp.
Ưu điểm của công cụ này là được lập sẵn nên KTV có thể tiến hành nhanh chóng và không bỏ sót các vấn đề quan trọng. Hơn nữa nó có thể được chuẩn bị riêng cho từng phần của mỗi chu kì nghiệp vụ, nên rất thuận lợi cho việc phân công cho các KTV cùng thực hiện. Tuy nhiên, do được thiết kế chung, nên bảng câu hỏi này không thể phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp. Ngoài ra, việc chuẩn bị các câu hỏi và hoàn tất chúng thông qua phỏng vấn là một công việc khó khăn và tốn khá nhiều thời gian; cũng như độ chính xác của các câu trả lời phụ thuộc vào sự trung thực, hiểu biết và thiện chí của người được phỏng vấn.
KTV có thể sử dụng “bảng câu hỏi khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu kì tiền lương và lao động” thông qua thực hiện phỏng vấn ban giám đốc, kế toán tiền lương, người lao động…
3.3.2.2. Thủ tục phân tích phải trả người lao động
- Cơ sở của biện pháp Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Thủ tục phân tích được sử dụng rộng rãi trong tất cả các giai đoạn của một cuộc kiểm toán đã giúp Kiểm toán viên nhận thấy được sự biến động bất thường của các chỉ tiêu, qua đó để tiến hành thực hiện các thủ tục bổ sung sao cho phát hiện được các sai phạm làm giảm thiểu tối đa rủi ro kiểm toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520- Thủ tục phân tích: “ Trong quá trình kiếm toán, nhằm giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC, KTV phải thực hiện quy trình phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặc kết hợp cả hai. Nhằm xác định thủ tục kiểm toán thích hợp cho một mục tiêu kiểm toán cụ thể, KTV phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán” Như vậy để nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán và giảm thiếu khối lượng công việc kiểm tra chi tiết, KTV cần vận dụng triệt để thủ tục phân tích trong giai đọan kiểm toán.
- Biện pháp thực hiện
Trên thực tế, khi xây dựng chương trình kiểm toán chu kì tiền lương và lao động VACO đã thiết kế các thủ tục phân tích như sau: So sánh chi phí tiền lương giữa kì này với kì trước, tính tỉ trọng tiền lương trong nợ phải trả.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán tiền lương và các khoản trích theo lương, VACO thực hiện thủ tục phân tích chủ yếu đối với các khoản mục trọng yếu. tuy nhiên hướng phân tích chưa sâu, mức độ còn đơn giản, sơ lược chưa bao hàm hết những vấn đề liên quan đến tiền lương do hạn chế về thời gian cũng như chi phí kiểm toán. Việc áp dụng thủ tục phân tích như vậy chưa thể đem lại hiệu quả cao cho cuộc kiểm toán vì thông qua những thủ tục phân tích như trên KTV không thể dễ dàng phát hiện ra những biến động bất thường và có phương pháp tiến hành thực hiện kiểm tra chi tiết nhằm hạn chế thời gian, chi phí cho cuộc kiểm toán.
Trong kiểm toán khoản mục tiền lương và các khoản trích theo lương thủ tục phân tích nên được áp dụng cho tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán để hỗ trợ cho kiểm toán viên nhận thấy những biến động bất thường đáng lưu ý. Theo riêng cá nhân em, khi thực hiện kiểm toán khoản mục tiền lương và các khoản trích theo lương VACO nên sử dụng rộng rãi và đa dạng hơn các thủ tục phân tích để có thể phát hiện ra những dấu hiệu bất thường. Có nghĩa là thủ tục phân tích không chỉ được áp dụng để phân tích chi phí tiền lương của toàn doanh nghiệp mà còn phải được áp dụng để phân tích chi phí tiền lương của từng bộ phận để có thể nhận ra nhiều biến động kiểm toán viên có thể lưu ý tập trung kiểm tra chi tiết.
Mặt khác, để thủ tục phân tích có thể đem lại hiệu quả trong cuộc kiểm toán, VACO nên bổ sung thêm các chỉ tiêu phân tích như:
So sánh tỉ lệ chi phí nhân công kỹ thuật trong giá thành sản xuất sản phẩm kì này với các kì trước (hoặc với kế hoạch, dự toán). So sánh tỷ lệ chi phí nhân viên bán hàng trong tổng số chi phí bán hàng kì này với các kì trước (hoặc với kế hoạch, dự toán). So sáng tỷ lệ chi phí nhân viên quản lý trong tổng số chi phí quản lý doanh nghiệp kì này với kì trước (hoặc với kế hoạch, dự toán). So sánh tỷ lệ thuế TNCN trên tổng số tiền lương của kì này với kì trước, thực hiện xem các ước tính kế toán…
Sự đa dạng của các chỉ tiêu phân tích sẽ giúp KTV nhận thấy những biến động bất thường của chi phí tiền lương trong quá trình kiểm toán để từ đó có hướng kiểm toán chi tiết phù hợp. Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Với số liệu thu thập được của Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy em xin được phân tích như sau:
- Bảng 3.2: Bảng tổng hợp phân tích tiền lương và thuế TNCN
Dựa vào bảng phân tích trên ta thấy không có sự biến động bất thường trong chi phí nhân viên các bộ phận.
3.3.2.3. Giải pháp phân bổ tính trọng yếu cho các khoản mục trong BCTC và chọn mẫu trong kiểm toán kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 320 – tính trọng yếu trong kiểm toán: “ KTV cần xem xét tính trọng yếu trên cả phương diện mức độ sai phạm tổng thể của BCTC trong mối quan hệ với mức độ sai sót chi tiết của số dư các tài khoản, của các giao dịch và các thông tin trình bày trên BCTC. Tính trọng yếu cũng có thể chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như các quy định pháp lý hoặc các vấn đề liên quan đến các khoản mục khác nhau của BCTC và mối liên hệ giữa các khoản mục đó”. Do đó, việc phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục trong BCTC là cần thiết để các KTV có hướng tập trung vào các khoản mục quan trọng đồng thời có kế hoạch xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sao cho phù hợp.
- Biện pháp thực hiện
Hiện nay, tại VACO không thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục mà giá trị mức trọng yếu sẽ đực sử dụng chung cho tất cả các khoản mục trên BCTC. Theo đó, sau khi xác định mức trọng yếu tổng thể (PM), KTV xác định mức trong yếu thược hiện MP=(50%-75%) PM. Nhược điểm của phương pháp này là mức trọng yếu này được áp dụng chung thống nhất cho tất cả các khoản mục khác nhau. Do vậy, tất cả các khoản mục, mặc dù có số dư hay bản chất khoản mục khác nhau đều được áp dụng một mức trọng yếu chung thống nhất cho toàn bộ cuộc kiểm toán.
Công ty có thể tham khảo việc phân bố mức trọng yếu theo giá trị của từng khoản mục như sau:
Tạm phân phối theo quy mô về giá trị của các khoản mục theo công thức sau.
Trên cơ sở đó, KTV có thể phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục trên BCTC đối với khách hàng là Công ty Cổ phần Đầu tư Dịch vụ Hoàng Huy như sau:
- Bảng 3.3: Bảng phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục
Sau khi phân bổ mức trọng yếu kiểm toán viên có thể dựa vào mức trọng yếu của từng khoản mục để xác định xem nên đi sâu kiểm tra chi tiết khoản mục nào, để có thể tập trung kiểm tra phát hiện sai sót.
3.3.2.4. Giải pháp tăng cường về số lượng chất lượng nhân viên
- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ KTV Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi công ty kiểm toán đó là chất lượng một cuộc kiểm toán, đây là yếu tố có tính chất quyết định ảnh hưởng tới uy tín, sự tồn tại và phát triển của công ty đó trong tương lai. Hiện nay, đội ngũ nhân viên của công ty vẫn còn có các trợ lý kiểm toán viên trẻ, vừa mới tốt nghiệp đại học nên chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như chưa hiểu biết về nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và chưa đạt được các chứng chỉ kiểm toán. Vì vậy, hàng năm công ty cần tăng cường các đợt thi, sát hạch nhằm đánh giá trình độ năng lực của KTV và trợ lý KTV. Từ đó sẽ có các kế hoạch để bồi dưỡng, Công ty cần tạo điều kiện cho nhân viên tham gia các khóa huấn luyện nâng cao trình độ, tham gia học và thi để đạt Chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp. Ngoài ra, công ty nên tạo điều kiện cho những nhân viên có năng lực tốt để đi học các lớp đào tạo chuyên sâu về kiểm toán ở nước ngoài.
Trình độ ngoại ngữ của các KTV còn hạn chế gây khó khăn cho các KTV trong việc tiếp cận các tài liệu chuyên môn bằng tiếng nước ngoài cũng như tham gia các khóa học đào tạo KTV tại nước ngoài. Điều này cũng gây khó khăn trong việc mở rộng thị trường kiểm toán ra các Công ty vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do vậy, Công ty cần tạo điều kiện khuyến khích các KTV tham gia các khóa đào tạo tiếng Anh, tiếng Nhật đặc biệt là các khóa đào tạo tiếng Anh, tiếng Nhật chuyên ngành kiểm toán.
- Giải pháp tăng cường số lượng KTV:
Hiện nay, tại Việt Nam đã có rất nhiều trường Đại học đào tạo về kiểm toán, Công ty có thể kết hợp với các trường đại học này nhằm phát hiện những sinh viên ưu tú và thu hút họ trở thành nhân viên của Công ty trong tương lai khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường. Việc này có thể được thực hiện thông qua việc liên kết đào tạo với các trường đại học. Công ty có thể cử các kiểm toán viên có kinh nghiệm trực tiếp tham gia giảng dạy cho sinh viên giúp sinh viên có những kiến thức sát với thực tế nhất và có thể thực hiện tốt công việc của mình sau khi ra trường. Công ty có thể tạo điều kiện cho các sinh viên trong giai đoạn thực tập tham gia thực tập tại Công ty, từ đó phát hiện những sinh viên có năng lực giữ lại làm việc tại Công ty.
Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, với sức hút hấp dẫn từ lĩnh vực ngân hàng, tài chính, chứng khoán thì sự thay đổi về nguồn nhân lực tại các công ty kiểm toán đang dần trở thành một vấn đề mà các nhà quản lý tại các công ty kiểm toán quan tâm hàng đầu. Do đó, để tránh tình trạng lao động thay đổi và có thể thu hút được nhiều nhân tài thì cần xây dựng một chế độ lương hấp dẫn, một môi trường nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu công khai, minh bạch, dân chủ, trong các mối quan hệ lợi ích, trong môi trường đó, chỉ có chỗ cho những người thạo việc và giữ vững đạo đức nghề nghiệp nhằm tạo cho đội ngũ nhân viên thấy yên tâm và gắn bó lâu dài với sự phát triển lớn mạnh của công ty.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kiểm toán
Trong những năm qua nền kinh tế thế giới không ngừng biến động, các nhà đầu tư luôn quan tâm đến các thông tin tài chính trong doanh nghiệp. Chính vì vậy hoạt động kiểm toán với chức năng bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính ngày càng được chú trọng. Nằm trong xu thế đó, sau nhiều năm xây dựng và phát triển không ngừng, công ty TNHH kiểm toán VACO Việt Nam đã tạo dựng được thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán trong nước.
Qua một thời gian thực tập tại Chi nhánh công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng, em đã có cơ hội được vận dụng những kiến thức mình được học ở trường vào một phần công việc đồng thời cũng nâng cao được hiểu biết của bản thân về quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty. Trong quá trình thực tập em đã được các anh chị trong Công ty tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ rất nhiệt tình. Chính vì vậy em đã có thể thực hiện tốt công việc của mình trong thời gian thực tập tại công ty. Đó cũng là cơ sở để em hoàn thiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong Chi nhánh công ty TNHH Kiểm toán VACO tại Hải Phòng và giáo viên theo dõi thực tập – Thạc sĩ Trần Thị Thanh Phương đã giúp em hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Cty Anh Hồng


Pingback: Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty Trương