Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Dap -Vinachem này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
Doanh nghiệp sản xuất là đơn vị trực tiếp tiến hành các hoạt động tạo ra sản phẩm. Một doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, có tính canh tranh cao phải sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng cao và giá cả hợp lý. Như vậy doanh nghiệp phải khai thác tốt các nguồn lực tài chính, phải quản lý và sử dụng có hiệu quả những nguồn nguyên liệu. Bởi nguyên vật liệu là một trong những nhân tố chính để tạo ra sản phẩm. Một sản phẩm tốt phải làm ra từ nguyên vật liệu có chất lượng tuân theo đúng một quy trình và quy cách tạo ra sản phẩm. Ngược lại nguyên vật liệu không được bảo quản ở điều kiện quy định đem vào sản xuất sẽ tạo ra sản phẩm kém chất lượng. Nếu sản phẩm tốt giá thành thấp thì doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được sản phẩm và ngược lại. Nếu lãng phí nguyên vật liệu sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng, thiếu nguyên vật liệu sẽ làm cho quá trình sản xuất ngưng lại. Doanh nghiệp có thể không hoàn thành được hợp đồng đã ký với đối tác dẫn đến làm ăn thua lỗ. Để khắc phục tất cả những ảnh hưởng của nguyên vật liệu đối với chất lượng sản phẩm và quá trình sản xuất kinh doanh, cần phải tổ chức tốt công tác kế toán nguyên vật liệu. Vì kế toán nguyên vật liệu nhằm cung cấp thông tin một cách có khoa học cho công tác quản lý nguyên vật liệu cả về mặt giá trị và hiện vật ở tất cả các khâu mua sắm, dự trữ, bảo quản và sử dụng.
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh tế, được tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì thế, doanh nghiệp phải tự quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải đưa ra thị trường những sản phẩm có tính cạnh tranh cao về giá cả, chất lượng và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Một câu hỏi lớn nhất bao trùm đối với các doanh nghiệp là: Làm thế nào để doanh nghiệp luôn luôn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường? Không một doanh nghiệp nào có thể phủ nhận rằng “để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường mang đầy tính cạnh tranh không còn con đường nào khác là phải nâng cao khả năng cạnh tranh qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Với những kiến thức đã được trang bị trong suốt quá trình học tập, em đã chọn Công ty Cổ phần DAP-VINACHEM để thực tập và tìm hiểu về phần hành kế toán nguyên vật liệu và chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP DAP – VINACHEM” làm khóa luận tốt nghiệp cho mình, cùng với sự hướng dẫn tận tình của Thạc sỹ Nguyễn Văn Thụ cùng các cô chú, anh chị trong phòng kế toán của công ty đã giúp em có thêm nhiều kiến thức để hoàn thành bài Khóa luận tốt nghiệp này. Nhưng do kiến thức còn nhiều hạn chế, em rất mong nhận được sự đóng góp và giúp đỡ của cô giáo để em có thể hoàn thành tốt nhất bài báo cáo của mình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận tốt nghiệp của em gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
- Chương 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP DAP-VINACHEM
- Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thành công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP DAP-VINACHEM
Do thời gian và trình độ có hạn nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
1.1. Những vấn đề chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
Nguyên vật liệu là một đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa. Nguyên vật liệu chiếm một vị trí hết sức quan trọng bởi nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản xuất. Nguyên vật liệu là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó chiếm phần lớn chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến lợi nhuận, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy nguyên vật liệu phải được quan tâm đúng mức và sử dụng có hiệu quả.
Nguyên vật liệu được mua từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi loại nguyên vật liệu lại có những vai trò, công dụng khác nhau đối với từng sản phẩm, nên việc hạch toán nguyên vật liệu là vấn đề cần được ưu tiên trong doanh nghiệp.
Hạch toán nguyên vật liệu từ chi tiết đến tổng hợp, từ khâu thu mua, bảo quản đến khâu tiêu thụ là rất cần thiết. Nếu thực hiện tốt hạch toán này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu
- Khái niệm Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là phải có đối tượng lao động. Nguyên vật liệu là một đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa như sắt, thép… trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, bông trong doanh nghiệp dệt…dưới sự tác động của con người.Trong các DN, NVL được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng, cho quản lý DN.
- Đặc điểm của nguyên vật liệu
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, NVL mang những đặc điểm rất riêng so với những yếu tố đầu vào khác như:
- Về mặt hiện vật: Trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu được tiêu dùng toàn bộ.
- Về mặt giá trị: Giá trị của nguyên vật liệu chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới được tạo ra.
1.1.3. Vai trò của nguyên vật liệu
Từ đặc điểm cơ bản của nguyên vật liệu, ta có thể thấy nguyên vật liệu được xếp vào tài sản lưu động, giá trị nguyên vật liệu thuộc vốn lưu động. Nguyên vật liệu có nhiều loại, thứ khác nhau, bảo quản phức tạp. Nguyên vật liệu thường được nhập xuất hàng ngày.
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm được sản xuất. Thông thường trong các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nên việc tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng đúng mục đích, đúng kế hoạch có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ giá thành sản phẩm và thực hiện tốt kết quả sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của nguyên vật liệu đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu ở tất cả các khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng. Trong một chừng mực nào đó, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu là cơ sở để tăng thêm sản phẩm mới cho xã hội, tiết kiệm được nguồn tài nguyên vốn không phải vô tận.
1.1.4. Phân loại, đánh giá nguyên vật liệu
Phân loại:
- Căn cứ vào vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất, nguyên vật liệu được chia làm những loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm.
- Vật liệu phụ Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của người lao động .
- Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh, phục vụ cho công nghệ sản xuất, phương tiện vận tải, công tác quản lý. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn hay thể khí như than, củi, xăng, dầu, hơi đốt, khí đốt,… Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
- Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật tư được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt cho công trình xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như các loại phế liệu, nguyên vật liệu thu hồi do thanh lý tài sản cố định.
Căn cứ vào nguồn gốc nguyên vật liệu được chia thành:
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự chế biến, gia công
- Nguyên vật liệu từ các nguồn khác: biếu tặng, liên doanh, cấp phát…
Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng nguyên vật liệu được chia thành:
- Nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh
- Nguyên liệu, vật liệu dùng cho công tác quản lý
- Nguyên liệu, vật liệu dùng cho các mục đích khác
Tính giá nguyên vật liệu:
Tính giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị của nguyên vật liệu ở những thời điểm nhất định và theo những nguyên tắc nhất định.
Theo chuẩn mực kế toán 02-Hàng tồn kho thì vật liệu phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc giá gốc:Giá gốc hay được gọi là trị giá vốn thực tế của vật liệu là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được những vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì được tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
- Nguyên tắc thận trọng: Vật liệu được đánh giá theo giá gốc, từng trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể được thực hiện. Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.
- Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong đánh giá vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán. Tức là kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán . Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp đã chọn, nhưng phải đảm bảo phương pháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lý hơn, đồng thời phải giải thích được ảnh hưởng của sự thay đổi đó.
Sự hình thành trị giá vốn thực tế của vật liệu được phân biệt ở các thời điểm khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Thời điểm mua xác định trị giá vốn thực tế hàng mua.
- Thời điểm nhập kho xác định trị giá vốn thực tế hàng nhập.
- Thời điểm xuất kho xác định trị giá vốn thực tế hàng xuất.
- Thời điểm tiêu thụ xác định trị giá vốn thực tế hàng tiêu thụ.
Vật liệu trong các doanh nghiệp có thể được đánh giá theo trị giá gốc ( hay còn gọi là giá vốn thực tế ) và giá hách toán.
a) Tính giá nguyên vật liệu theo giá thực tế
- Đánh giá giá trị của NVL nhập kho
- Đối với nguyên vật liệu nhập kho do mua ngoài:
Trong đó:
- Giá mua ghi trên hóa đơn: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì giá trị của nguyên liệu, vật liệu mua vào được phản ánh theo giá mua chưa có thuế GTGT.
Trường hợp doanh nghiệp mua nguyên liệu, vật liệu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, hoặc dùng cho hoạt động sự nghiệp, phúc lợi, dự án thì giá trị của nguyên liệu, vật liệu mua vào được phản ánh theo tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ (nếu có).
Đối với nguyên liệu, vật liệu mua bằng ngoại tệ thì phải được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ.
- Các loại thuế không hoàn lại như: thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…
- Chi phí liên quan trực tiếp gồm: chi phí vận chuyển, bốc dỡ…
- Các khoản chiết khấu, giảm giá gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại.
Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự gia công chế biến: Giá thực tế của nguyên liệu xuất chế biến và chi phí chế biến.
Chi phí chế biến nguyên vật liệu bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất như: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định. Chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chế biến nguyên vật liệu.
- Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến:
Giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến, chi phí vận chuyển vật liệu đến nơi chế biến và từ nơi chế biến về đơn vị, tiền thuê ngoài gia công chế biến.
- Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh, cổ phần:
Là giá trị được các bên tham gia góp vốn liên doanh thống nhất đánh giá chấp nhận cộng với các khoản chi phí có liên quan.
- Đối với nguyên vật liệu do được biếu tặng, tài trợ, viện trợ
- Đối với nguyên vật liệu được cấp
- Đối với nguyên vật liệu xuất kho
Theo chuẩn mực kế toán số 02 – hàng tồn kho, tính trị giá vật liệu xuất kho được thực hiện theo các phương pháp sau:
- Phương pháp tính theo giá đích danh
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước xuất trước
- Phương pháp nhập sau xuất trước
Phương pháp tính theo giá đích danh:
Theo phương pháp này khi xuất kho vật liệu thì căn cứ vào số lượng xuất kho thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
- Ưu điểm: Đây là phương án tốt nhất, xác định chính xác giá của giá vật liệu xuất.
- Nhược điểm: Với những doanh nghiệp có nhiều mặt hàng, nhập xuất thường xuyên thì khó theo dõi, công việc kế toán chi tiết vật liệu rất phức tạp.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và nhận diện được từng lô hàng.
Phương pháp bình quân gia quyền
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều. Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ kế toán xác định được giá bình quân của một đơn vị NVL. Căn cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế xuất trong kỳ.
Giá đơn vị bình quân của 1 đơn vị NVL được xác định bằng nhiều cách:
- Phương pháp bình quân gia cả kỳ dự trữ:
Theo phương pháp này đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của NVL xuất kho trong kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán NVL tồn kho căn cứ vào giá mua, giá nhập, số lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá của NVL xuất kho.
- Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết nguyên vật liệu, không phụ thuộc vào số lần nhập xuất của từng danh điểm vật tư.
- Nhược điểm: Độ chính xác không cao. Hơn nữa, công việc tính toán dồn vào cuối tháng, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm nguyên vật liệu và số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Phương pháp bình quân cuối kỳ trước:
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên giá thực tế và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn vị bình quân nói trên và lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá thực tế NVL xuất kho theo từng danh điểm.
- Ưu điểm: Khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động NVL trong kỳ.
- Nhược điểm: Không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả NVL kỳ này.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều danh điểm NVL, số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Phương pháp bình quân liên hoàn( bình quân sau mỗi lần nhập):
Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập, kế toán phải xác định giá bình quân của từng danh điểm NVL. Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và lượng NVL xuất kho giữa 2 lần nhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế NVL xuất kho.
- Ưu điểm: Khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên nên đưa ra giá NVL xuất kho chính xác, phản ánh được sự biến động giá cả, công việc tính giá được tiến hành đều đặn.
- Nhược điểm: Tốn nhiều công sức tính toán.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này chỉ sử dụng được ở những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL và số lần nhập mỗi loại là không nhiều.
Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định là lô NVL nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng NVL xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính giá thực tế của lần nhập đó.
- Ưu điểm: Cho phép kế toán có thể tính giá NVL xuất kho kịp thời.
- Nhược điểm: Tính giá theo từng danh điểm NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá nên tốn nhiều công sức. Ngoài ra, phương pháp này làm cho giá nguyên vật liệu của doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều. Và thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định là lô NVL nào nhập vào kho sau sẽ được xuất dùng trước, vì vậy việc tính giá xuất của NVL được làm ngược lại với phương pháp nhập trước – xuất trước.
- Ưu điểm: Giúp cho giá nguyên vật liệu của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL.
- Nhược điểm: Làm cho thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong kỳ lạm phát và giá trị vật liệu có thể bị đánh giá giảm trên bảng cân đối kế toán so với giá trị thực của nó.
- Phạm vi áp dụng: Phương pháp thích hợp trong trường hợp lạm phát.
b) Tính giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, giá cả thường xuyên biến động, nghiệp vụ nhập – xuất vật liệu diễn ra thường xuyên thì việc hạch toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không thực hiện được. Do đó, việc hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán là loại giá ổn định, doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời gian dài để hạch toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu trong khi chưa tính được giá thực tế của nó.
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại NVL và đội ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao.
1.2. Nội dung công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
1.2.1. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu đòi hỏi phản ánh cả về giá trị, số lượng, chất lượng của từng thứ nguyên vật liệu theo từng kho và từng người phụ trách vật chất. Trong thực tế hiện nay có 3 phương pháp:
- Phương pháp thẻ song song
Phương pháp thẻ song song là phương pháp mà tại kho và tại bộ phận kế toán đều sử dụng thẻ để ghi sổ nguyên vật liệu.
- Tại kho: Hàng ngày, thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào thẻ kho, cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu số tồn trên thẻ kho và số thực tế có trong kho.
- Tại phòng kế toán:Kế toán NVL cũng dựa trên chứng từ nhập, xuất NVL để ghi số lượng và tính thành tiền NVL nhập, xuất kho vào “Sổ chi tiết vật liệu” ( mở tương ứng với thẻ kho ).
Cuối tháng, từ “Sổ chi tiết vật liệu”, kế toán lấy số liệu để ghi vào “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật liệu” theo từng danh điểm, từng loại NVLvà tiến hành:
- Đối chiếu số liệu trên “Sổ chi tiết vật liệu” với “Thẻ kho” của thủ kho.
- Đối chiếu số liệu dòng tổng cộng “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn vật liệu” với số liệu “Sổ kế toán tổng hợp”.
Điều kiện áp dụng: cho những doanh nghiệp có ít chủng loại vật tư, hàng hóa, khối lượng nhập, xuất không nhiều và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán không cao.
- Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, đảm bảo độ tin cậy cao, có khả năng cung cấp thông tin nhanh cho kế toán quản trị.
- Nhược điểm: Khối lượng công việc ghi chép lớn, ghi chép trùng lặp giữa thủ kho và kế toán.
Sơ đồ 1.1:Sơ đồ kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp ghi thẻ song song
Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng ngày tình hình nhập xuất, tồn giống như phương pháp thẻ song song.
- Tại phòng kế toán: Kế toán chỉ mở sổ “Sổ đối chiếu luân chuyển NVL” theo từng kho. Hàng ngày, trên cơ sở phân loại chứng từ nhập, xuất theo từng danh điểm NVL và theo từng kho, kế toán lập “Bảng kê nhập vật liệu”, “Bảng kê xuất vật liệu”.
=>Và cuối tháng, dựa vào các bảng kê này để ghi vào “Sổ đối chiếu luân chuyển NVL”. Đồng thời từ “Sổ đối chiếu luân chuyển NVL” lập “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn kho vật liệu”
- Khi nhận được thẻ kho, kế toán tiến hành đối chiếu tổng lượng nhập, xuất của từng thẻ kho với “Sổ luân chuyển NVL”.
- Đối chiếu số liệu “Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn kho vật liệu” với số liệu “Sổ kế toán tổng hợp vật liệu”.
- Điều kiện áp dụng: Phù hợp với những doanh nghiệp có ít chủng loại nguyên vật liệu, không có điều kiện ghi chép xuất nhập hàng ngày.Phương pháp này thường ít áp dụng trong thực tế.
- Ưu điểm: Khối lượng ghi chép của kế toán được giảm bớt do chỉ ghi một lần vào cuối tháng.
- Nhược điểm: Việc ghi sổ bị trùng lặp giữa thủ kho và phòng kế toán do việc kiểm tra đối chiếu số lượng chỉ được tiến hành vào cuối tháng nên vẫn hạn chế trong kiểm tra. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
Tại kho:Theo định kỳ sau khi ghi Thẻ kho, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng NVL. Sau đó, lập Phiếu giao nhận chứng từ và nộp cho kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất NVL. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng NVL tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm NVL vào Sổ số dư. Sổ số dư được kế toán mở cho từng kho NVL và dùng cho cả năm, trước ngày cuối tháng, kế toán giao cho thủ kho để ghi vào sổ. Ghi xong, thủ kho phải gửi Sổ số dư về phòng kế toán để kiểm tra và tính thành tiền.
Tại phòng kế toán:Không cần mở thẻ chi tiết cho từng loại, từng thứ vật liệu mà chỉ mở “Bảng kê lũy kế nhập xuất tồn kho” phản ánh trị giá hạch toán của hàng nhập, xuất, tồn kho theo nhóm vật liệu ở từng kho. Cuối tháng, căn cứ “Bảng kê lũy kế nhập xuất tồn” lập “Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn” theo chỉ tiêu giá trị, chi tiết từng nhóm với số liệu hạch toán nghiệp vụ ở kho hàng.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này sử dụng cho các doanh nghiệp dùng giá hạch toán để hạch toán vật liệu nhập-xuất-tồn kho.
- Ưu điểm: Hạn chế việc ghi chép trùng lặp giữa thủ kho và phòng kế toán, cho phép kiểm tra thường xuyên công việc ghi chép ở kho, đảm bảo số liệu kế toán kịp thời, chính xác.
- Nhược điểm: Việc kiểm tra, đối chiếu và phát hiện sai sót gặp nhiều khó khăn đòi hỏi yêu cầu trình độ quản lý của thủ kho và kế toán phải khá nếu không sẽ dẫn đến sai sót.
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp sổ số dư
1.2.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
Nguyên vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp. Việc mở các tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán cũng như việc xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị xuất xuất dùng tùy thuộc vào việc kế toán hàng tồn kho theo phương pháp nào.
- Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn vật liệu trên sổ kế toán. Trong trường hợp này các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để dùng để phản ánh số liệu có tình hình biến động tăng giảm của vật liệu tồn kho trên sổ kế toán có thể xác định tại bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế toán theo công thức: Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
- Chứng từ sử dụng:
Hệ thống chứng từ NVL theo chế độ kế toán đã ban hành bao gồm:
- Phiếu nhập kho Mẫu số 01 – VT
- Phiếu xuất kho Mẫu số 02 – VT
- Biên bản kiểm nhiệm Mẫu số 03 – VT
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ Mẫu số 04 – VT
- Biên bản kiểm kê vật tư Mẫu số 05 – VT
- Hóa đơn GTGT Mẫu số 01GTKT – 3LL
- Hóa đơn bán hàng thông thường Mẫu số 02GTGT – 3LL
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Mẫu số 03PXK – 3LL
- Bảng kê mua hàng Mẫu số 06 – VT
- Bảng phân bổ NVL Mẫu số 07 – VT
Tài khoản kế toán sử dụng
Để hạch toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế toán sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
Tài khoản 152 – Nguyên vật liệu: Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguyên vật liệu theo giá thực tế. Tài khoản 152 có thể mở chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ vật liệu tùy theo yêu cầu và phương tiện thanh toán.
- Kết cấu và nội dung phản ánh của Tài khoản 152:
Bên Nợ:
- Trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu nhập kho do mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công, chế biến, nhận góp vốn hoặc từ các nguồn khác.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê.
Bên Có:
- Trị giá thực tế của nguyên liệu, vật liệu xuất kho dùng vào sản xuất kinh doanh, để bán, thuê ngoài gia công, chế biến hoặc đưa đi góp vốn.
- Trị giá thực tế của nguyên vật liệu trả lại người bán hoặc được giảm giá hàng mua.
- Chiết khấu thương mại nguyên liệu, vật liệu khi mua được hưởng.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu hao hụt, mất mát phát hiện khi kiểm kê.
Số dư bên Nợ:
- Phản ánh trị giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho (đầu kỳ hoặc cuối kỳ).
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
Qua các phần trình bày trên, có thể khẳng định hạch toán nguyên vật liệu có tác dụng to lớn trong việc quản lí kinh tế và quản trị doanh nghiệp. Thông qua công tác hạch toán nguyên vật liệu, các đơn vị sản xuất kinh doanh đảm bảo nguyên vật liệu an toàn, phòng ngừa mất mát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Thực tế hạch toán nguyên vật liệu tại Công ty có ảnh hưởng to lớn đến công tác quản lý nguyên vật liệu và quản lí Công ty. Hạch toán nguyên vật liệu là công cụ đắc lực giúp lãnh đạo Công ty nắm bắt tình hình và chỉ đạo sản xuất. Hạch toán nguyên vật liệu có phản ánh chính xác và đầy đủ tình hình thu mua, sử dụng và dự trữ nguyên vật liệu thì lãnh đạo Công ty mới có biện pháp chỉ đạo đúng đắn. Do đó, hạch toán nguyên vật liệu nói riêng và hạch toán kế toán nói chung tại Công ty phải không ngừng được hoàn thiện.
Là một Công ty nhạy bén với sự thay đổi của cơ chế mới và sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường. Công ty luôn nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường công tác quản lí. Một trong những yêu cầu quan trọng đề ra là phải biết tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty, em đã hiểu được tầm quan trọng của hạch toán nguyên vật liệu đối với công tác lãnh đạo Công ty, em mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty CP DAP-VINACHEM”.
Trong thời gian thực tập tại đây, Công ty đã giúp em rất nhiều trong việc củng cố lại kiến thức đã học. Em đã thấy rõ kiến thức về lí thuyết là chưa đủ mà phải biết vận dụng linh hoạt vào thực tế. Để đạt được điều đó, em đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anh chị trong phòng kế toán và sự chỉ đạo tận tình của Giảng viên Th.S.Nguyễn Văn Thụ.
Vì thời gian tìm hiểu tại Công ty không nhiều nên những vấn đề đưa ra chắc chắn không tránh khỏi những thiếu xót. Em mong rằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của cô giáo hướng dẫn, của các cô chú trong phòng kế toán để bài Khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Vinachem.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty vận tải Hợp Thành


Pingback: Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty thủy lợi