Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Sự hình thành và phát triển công nghiệp phụ trợ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ của trung quốc
1. Nguyên nhân phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
1.1. Nguyên nhân khách quan
- Hợp tác hoá và chuyên môn hoá- tất yếu khách quan của sự ra đời và phát triển của công nghiệp phụ trợ Trung Quốc.
Thực hiện đổi mới nền kinh tế từ sau năm 1978, Trung Quốc đã hoà chung vào bối cảnh của thế giới tức là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra sôi nổi trên khắp các quốc gia. Toàn cầu hoá nảy sinh hai xu hướng trái ngược nhau song lại bổ sung cho nhau đó là hợp tác hoá và chuyên môn hoá. Hợp tác hoá là sự liên kết giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp để cùng phát triển. Chuyên môn hoá thể hiện qua sự phân công lao động quốc tế sâu sắc. Chuyên môn hoá giúp mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp tận dụng tối đa được lợi thế so sánh của mình. Chuyên môn hoá không thể tách rời hợp tác hoá mà luôn gắn liền nhau. Chẳng hạn, các quốc gia phương Tây có lợi thế về vốn, công nghệ còn các nước đang phát triển có lợi thế về tài nguyên và lao động. Nếu thực hiện phân công tốt, các nước phát triển chuyên sản xuất các phần, bộ phận, linh kiện có hàm lượng vốn và công nghệ cao còn các nước đang phát triển chuyên sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động cao, sau đó hợp tác với nhau để cho ra sản phẩm cuối cùng thì sẽ phát huy tối đa lợi thế của các bên. Lấy ví dụ hãng Boeing của mỹ, để sản xuất một chiếc máy bay nó đã mua linh kiện từ hàng chục quốc gia khác nhau và chỉ nắm giữ công nghệ lắp ráp và một số công nghệ đặc biệt khác. Chuyên môn hoá và hợp tác hoá phát triển thúc đẩy phân công lao động kéo theo sự phát triển công nghiệp phụ trợ bởi bản chất của công nghiệp phụ trợ chính là tham gia vào các khâu trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Trung Quốc hội nhập với thế giới thì cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của 2 xu hướng đó. Có thể nói, công nghiệp phụ trợ Trung Quốc hình thành theo đúng tất yếu khách quan của 2 xu hướng hợp tác hoá và chuyên môn hoá khi Trung Quốc tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với đặc điểm ngành công nghiệp phụ trợ
Trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, yếu tố chuyên môn hoá quyết định tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp lớn không thể tận dụng được lợi thế về vốn và công nghệ, kinh nghiêm quản lý( điều mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ bất lợi thế so sánh) nếu như phải chia nhỏ các nguồn lực ra để giải quyết tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, từ nguyên vật liệu, linh phụ kiện, phụ tùng, phụ liệu, lắp ráp, kho bãi, phân phối… Lấy ví dụ để sản xuất một chiếc ô tô, hãng Toyota cần có 1.600 nhà cung cấp các loại chi tiết, linh kiện. Hãng Meccedes cũng có khoảng 1.400 doanh nghiệp cung cấp. Như vậy, chỉ cần vài hãng lắp ráp cuối cùng nhưng họ cần hàng ngàn doanh nghiệp sản xuất trước đó. Một chuỗi các hoạt động của ngành công nghiệp phụ trợ này chủ yếu do các doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm nhận.
Nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia cạnh tranh trên thị trường mà chỉ dựa vào sức mạnh của bản thân họ để sản xuất các thành phẩm thì họ sẽ phải đối mặt với vấn đề tồn tại hoặc bị loại bỏ do bị hạn chế bởi vốn và công nghệ. Do đó tốt hơn hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hợp tác với các doanh nghiệp lớn dựa trên mối quan hệ như là một “ đội chuyên chở máy bay” hay các vệ tinh của doanh nghiệp lớn trong việc cung cấp phụ kiện, thực hiện các hợp đồng gia công… – điều là lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hơn nữa, như đã biết công nghiệp phụ trợ và FDI có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu dựa trên hai hình thức:
- Hình thức tổ chức kiểu “ cái ô”, công ty mẹ được phân thành hệ thống các công ty con có quan hệ với công ty mẹ theo hình cái ô; mỗi công ty con chịu trách nhiệm sản xuất một số bộ phận phụ tùng chuyển về công ty mẹ lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm .
- Hình thức tổ chức “ mắt xích”, tập đoàn sản xuất bao gồm nhiều công ty được liên kết với nhau theo kiểu mắt xích dựa trên cơ sở hợp đồng hoặc thị trường.
Cả hai hình thức tổ chức doanh nghiệp nêu trên đều phù hợp với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong các ngành công nghiệp phụ trợ:
Thứ nhất, có thể sử dụng các loại máy móc, thiết bị sản xuất trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết vị kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí; có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi.
Thứ hai, nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tận dụng được các nguồn nguyên liệu, nhân lực tại chỗ.
Thứ ba, dễ dàng duy trì sự tự do cạnh tranh, làm vệ tinh gia công, chế tác cho các doanh nghiệp lớn. doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể len lỏi, xâm nhập vào các thị trường ngách và dễ dàng tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền trong lãnh thổ một quốc gia.
1.2. Nguyên nhân chủ quan: công nghiệp phụ trợ là nhu cầu bức thiết mà nội tại nền kinh tế Trung Quốc đòi hỏi Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Mở cửa nền kinh tế, mở cửa lĩnh vực ngoại thương và tạo nhiều chính sách ưu đãi cùng với lợi thế về tài nguyên và lao động rẻ, dồi dào Trung Quốc đã thu hút được các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài rất lớn.
Thời gian đầu của thập kỷ 80 các doanh nghiệp FDI này vào Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các sản phẩm công nghiệp nhẹ. Các công ty nước ngoài, cụ thể là các công ty của Hồng Kông và Nam Á đã kết hợp sức mạnh trong việc tiếp cận thị trường và kỹ năng quản lý của họ với lợi thế của Trung Quốc về chi phí đất đai và lao động thấp để đạt được những lợi thế cạnh tranh mới. Trong thập kỷ 90, các công ty đa quốc gia phương tây đã chuyển bộ phận sản xuất và lắp ráp sang hoạt động ở Trung Quốc; trong khi đó, Đài Loan và một số nước Nam Á cũng thành lập những cơ sở sản xuất của họ ở Trung Quốc trong ngành công nghệ thông tin và sản phẩm công nghệ cao. Những thay đổi này cho phép kết hợp việc nghiên cứu và triển khai(R & D) ở nước ngoài và chi phí lao động, nguyên liệu thấp ở Trung Quốc còn tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn hơn. Với phương châm “ mượn gà đẻ trứng” và khẩu hiệu “ xây tổ đón phượng hoàng” Trung Quốc đã thu hút được hàng tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài hàng năm. Từ năm 1989 đến năm 2019 tổng vốn FDI đã thực hiện của Trung Quốc là 400 tỷ USD. Qui mô trung bình của các dự án FDI cũng tăng từ 0,97 triệu USD năm 1989 lên 2,6 triệu USD năm 2019. FDI cũng chuyển từ việc tập trung vào lĩnh vực sản xuất thông thường sang các ngành công nghiệp ưu tiên, lĩnh vực hạ tầng và công nghệ cao. Do đó nhu cầu về công nghiệp phụ trợ là rất lớn. Có thể nói FDI đi trước và lôi kéo, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ Trung Quốc phát triển, thể hiện là:
Trước khi FDI vào đã có công ty trong nước sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất công nghiệp phụ trợ phát triển mạnh hơn nhờ tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI. Chính nhờ chuyển giao công nghệ từ các công ty đa quốc gia tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành hiện thực. công nghiệp phụ trợ Trung Quốc bước đầu hình thành và phát triển.
Đồng thời với sự gia tăng của FDI nhiều doanh nghiệp bản xứ ra đời trong các ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI. công nghiệp phụ trợ lại có thêm nhiều nhà cung cấp, và bước thêm một bước nữa.
Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với lượng sản xuất ngày càng mở rộng, tạo thị trường ngày càng lớn cho công nghiệp phụ trợ, nhiều công ty nhỏ và vừa ở nước ngoài sẽ đến đầu tư. Đó là biểu hiện cho thấy công nghiệp phụ trợ đã bắt đầu lớn mạnh. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Từ phân tích ở trên, cho thấy việc ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ là mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của nền công nghiệp Trung Quốc. Với cố gắng lớn và với các ưu tiên về chính sách Trung Quốc đã đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. Các ngành này phát triển sẽ tiếp tục thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia tầm cỡ lớn. Hơn nữa việc Nhà nước dồn hết nỗ lực tập trung phát triển ngành này tự nó gây được niềm tin của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường đầu tư Trung Quốc. Nói cách khác, do nhu cầu cắt giảm chi phí của các doanh nghiệp FDI và của nền sản xuất nói chung mà Nhà nước Trung Quốc phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ. Khi công nghiệp phụ trợ đã hình thành và phát triển nó tác động trở lại đến môi trường đầu tư, nó khiến thị trường Trung Quốc trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết với các nhà đầu tư nước ngoài. công nghiệp phụ trợ và vốn đầu tư nước ngoài tác động qua lại bổ sung cho nhau tạo nên động lực thúc đẩy công nghiệp phụ trợ phát triển.
2. Sự hình thành và phát triển của công nghiệp phụ trợ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
Sự hình thành và phát triển của công nghiệp phụ trợ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc có thể được tóm tắt qua 3 giai đoạn: giai đoạn sơ khai, giai đoạn hình thành và phát triển, giai đoạn tăng trưởng mạnh.
2.1. Giai đoạn sơ khai (Trước năm 1978)
Từ những năm 1960 cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã diễn ra mạnh mẽ và cuốn hút tất cả các nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc tạo ra khả năng hợp tác hoá và chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế ngày càng phong phú. Trước tình hình đó các nước không thể đóng cửa nền kinh tế mà phải mở cửa với thế giới, chuyển xung lực từ bên ngoài thành động lực đưa kết cấu ngành trong nước phát triển lên trình độ cao.
Trong khi đó, từ trước những năm 70 nền kinh tế Trung Quốc cùng hệ thống thương mại truyền thống của nó đã bộc lộ sự không phù hợp với xu hướng phát triển nền kinh tế mở của thế giới. Trước năm 1978, chính sách kinh tế của trung Quốc là tự cung tự cấp và hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, thực hiện công nghiệp hoá bằng nội lực và sự trợ giúp của các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược công nghiệp hoá của Trung Quốc là phát triển nông nghiệp thành nền tảng và công nghiệp thành mũi nhọn của nền kinh tế quốc gia với ưu tiên được giành cho việc phát triển công nghiệp nặng. Các ngành như cơ khí, luyện kim… được ưu tiên hàng đầu. Nền kinh tế Trung Quốc gần như hoàn toàn đóng cửa, ngoại thương và một số ngành then chốt chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Với chính sách như vậy suốt thập kỉ 70 và 80, sản xuất công nghiệp và phát triển kinh tế Trung Quốc hoàn toàn chịu kiểm soát của kế hoạch quốc gia hàng năm; hầu hết giá cả của các yếu tố sản xuất được chính quyền trung ương xác định; chỉ có một vài cải cách nhằm vào doanh nghiệp nhà nước. Ngược lại với mong muốn và chính sách của Chính quyền Trung Quốc bấy giờ nền công nghiệp không những không đạt được thành tựu mà còn như giậm chân tại chỗ. Do chỉ chú trọng phát triển công nghiệp nặng mà không quan tâm phát triển một cách toàn diện nên các khái niệm công nghiệp phụ trợ khi đó còn rất mơ hồ, ngành công nghiệp phụ trợ còn rất sơ khai, số các doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ cũng rất hạn chế và chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước đảm nhận. Các ngành phụ trợ này cung cấp sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao do công nghệ lạc hậu, quản lý kém… nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cũng vì dùng những sản phẩm phụ trợ này mà các sản phẩm lắp ráp, các loại máy móc hoàn thành tại các công ty nhà nước cũng không có sức cạnh tranh. Đó là một sự liên kết kém hiệu suất và bó chân lẫn nhau. Cũng trong thời gian này các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc bị kiềm chế do cơ chế hoạt động cũ của nền kinh tế do vậy công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ dường như không hề phát triển.
2.2. Giai đoạn hình thành và phát triển (Từ sau năm 1978 đến những năm đầu thế kỷ XXI)
Trong bối cảnh chung của tình hình thế giới, Trung Quốc phải lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình, phải tìm cách tạo cho mình lợi thế so sánh. Đứng trước đòi hỏi đó, năm 1978 Quốc vụ viện và Uỷ ban cải cách kinh tế Trung Quốc đã thống nhất thông qua chính sách cải cách kinh tế gắn liền với mở cửa dựa trên quan điểm của Đặng Tiểu Bình: muốn đẩy nhanh nhịp độ phát triển công nghiệp thì cần phải nhập khẩu có chọn lọc công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, nguồn tài chính phục vụ cho nhập khẩu công nghệ dựa vào tăng nhanh xuất khẩu các sản phẩm khai khoáng và tận dụng các khoản vay dài hạn của thế giới. Tuy nhiên với đặc điểm là một nước lớn, dân số đông, diện tích rộng với nhiều tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc không thực hiện chính sách hướng về xuất khẩu hoàn toàn như một số nước Đông Á khác mà có tập trung phát triển công nghiệp trong nước.
Dưới sự ảnh hưởng của chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với sự nới lỏng những giới hạn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính Phủ, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, những năm đầu sau cải cách là thời kỳ ổn định trật tự xã hội, kiến tạo những thể chế chính sách mới cho phù hợp với kinh tế thị trường, công nghiệp phụ trợ mới bắt đầu hình thành và phát triển nên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với công nghiệp phụ trợ còn chưa thật sự rõ ràng. So với trước năm 1978, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên đáng kể. Năm 1980, Trung Quốc có khoảng 377.300 doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu tập thể của các làng, trấn(xí nghiệp hương trấn) trong đó có 1.400 doanh nghiệp lớn, 3.400 doanh nghiệp vừa và 372.500 doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ này chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp truyền thống hoặc các dịch vụ phục vụ trực tiếp đời sống. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ làm công nghiệp phụ trợ dường như đếm trên đầu ngón tay mà chất lượng sản phẩm cung cấp cũng còn rất thấp.
Từ năm 1980 đến đầu những năm 1990, cùng với sự gia tăng của các công ty nước ngoài tại Trung Quốc, “thời của công nghiệp phụ trợ Trung Quốc” đã bắt đầu . Tuy nhiên trong giai đoạn này cả các doanh nghiệp nội địa lẫn các công ty nước ngoài đều chỉ chú tâm vào sản xuất những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, thuộc da, chế biến thực phẩm, đồ gỗ, cao su, sản phẩm nhựa nên công nghiệp phụ trợ không mấy phát triển. Bên cạnh đó, Chính sách của Chính Phủ trong thời gian này là sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, Trung Quốc lúc này chỉ quan tâm làm sao để thúc đẩy xuất khẩu, thu hút thật nhiều FDI, mà chưa có các chính sách cụ thể để tăng tính hấp dẫn cho môi trường đầu tư một cách bền vững, lâu dài. Do đó doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn này vẫn chỉ hoạt động trong một số lĩnh vực hạn hẹp, chủ yếu nhằm thoả mãn nhu cầu trong nước, còn cung cấp sản phẩm phụ trợ cho các doanh nghiệp FDI chủ yếu vẫn là các công ty con của họ hoặc các công ty nước ngoài của Đài Loan hay Nhật Bản. Giai đoạn này Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu phần lớn các linh kiện, phụ tùng.
Giai đoạn này, kinh tế Trung Quốc vẫn duy trì xu hướng phát triển nhanh và ổn định, quy mô của toàn bộ nền kinh tế không ngừng được mở rộng. Số doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tăng lên, tuy nhiên so sánh về tỷ lệ thì tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô nhỏ giảm đi 10% do một số nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Số lượng doanh nghiệp lớn và vừa tăng sau khi điều chỉnh cơ cấu, hợp nhất, sáp nhập
- Thay đổi quy định về quy mô doanh nghiệp nên một số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước đây không được thống kê do quy mô quá nhỏ
- Việc đẩy mạnh chính sách mở cửa và cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ quốc doanh bị cắt giảm rất nhiều.
Tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung giảm trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ lại tăng. Nguyên nhân là do: Đây là giai đoạn Nhà nước đặc biệt quan tâm cải thiện môi trường đầu tư và thu hút FDI. Do vậy một loạt luật lệ mới ra đời, trong đó phải kể đến “Luật phát triển công nghiệp”, các ưu đãi về thuế đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển, tự động hoá sản xuất, bảo vệ môi trường, các chính sách khuyến khích công nghiệp phụ trợ… Phát triển công nghiệp phụ trợ trở thành hướng ưu tiên chiến lược trong phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Trung Quốc sau một thời gian đã chuyển giao công nghệ và kỹ năng kinh doanh cho các doanh nghiệp bản xứ. Do đó, cùng với cơ chế hoạt động linh hoạt của mình nay được hỗ trợ về vốn, công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm từ phía các doanh nghiệp FDI, lại nhận thức được nhu cầu thị trường vô cùng lớn về sản phẩm phụ trợ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc đã mạnh dạn và an tâm tham gia công nghiệp phụ trợ. Hơn nữa như đã phân tích ở trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp có thể nói là thích hợp nhất trong ngành công nghiệp phụ trợ do yêu cầu về phân công lao động và chuyên môn hoá của ngành này. Vì thế cho nên số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm công nghiệp phụ trợ đã tăng lên nhanh chóng.
2.3. Giai đoạn tăng trưởng mạnh (từ năm 2019 trở lại đây) Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Giai đoạn này được tính từ sau khi Trung Quốc trở thành viên chính thức của WTO năm 2019. Gia nhập WTO và tổ chức hai kỳ Đại hội Đảng thành công là Đại hội lần thứ XVI và lần XVII nền kinh tế Trung Quốc đã thực sự khởi sắc và có thể nói bước đầu thực hiện công nghiệp hoá thành công.
Kể từ năm 2019, tốc độ tăng trưởng thực tế của Trung Quốc đạt bình quân gần 9% năm. Theo thống kê của WTO, chỉ riêng tổng giá trị thương mại hàng hoá của Trung Quốc đã chiếm khoảng 64% GDP của nước này trong năm 2023 và 6,7% tổng giá trị thương mại hàng hoá của toàn thế giới năm 2022, đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 6( năm 2019) trở thành quốc gia hiện nay có tổng kim ngạch mậu dịch lớn thứ 3 toàn cầu, chỉ sau EU( 14,5%) và Hoa Kỳ( 13,6%), vượt qua Nhật bản( 5,9%). FDI vào Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh. Năm 2023, nước này thu hút được 72,4 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, so với con số 46,6 tỷ USD năm 2019. Lượng vốn FDI tăng mạnh không chỉ thể hiện nhận định của các doanh nghiệp nước ngoài về tiềm năng to lớn của Trung Quốc với vai trò như một công xưởng giá thành rẻ của thế giới cũng như một thị trường tiêu dùng đang bùng nổ mà còn đánh dấu sự ghi nhận những tiến bộ vượt bậc trong môi trường kinh doanh của nước này, trong đó phải kể đến sự đóng góp của ngành công nghiệp phụ trợ. Trong một số mặt hàng, ví dụ như thiết bị gia đình, hàng tá các công ty trong và ngoài nước đã mọc lên(thường với sự ủng hộ từ các chính quyền địa phương) sau khi chứng kiến sự thành công của những nhà sản xuất đầu tiên. Ví dụ như, gần 2/3 năng suất sản xuất máy tính xách tay của thế giới đã được chuyển về Suzhou chỉ trong vòng 18 tháng. Ngành công nghiệp ô tô, với sự trợ giúp của công nghiệp phụ trợ cũng đạt được những thành tựu lớn. Hiện Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và trở thành nhà sản xuất ô tô lớn thứ hai trên thế giới, với các tên tuổi như SAIC hay Nam Kinh Auto.
Những năm gần đây công nghiệp phụ trợ Trung Quốc thực sự phát triển và trở thành yếu tố hấp dẫn nhất thu hút đầu tư nước ngoài. Cùng với thành công của ngành công nghiệp phụ trợ, kể từ tháng 1 năm 2021 “ Luật thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” chính thức có hiệu lực đã xác định các tiêu chí của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như mục tiêu chính sách phát triển kinh doanh nhỏ, do vậy đã góp phần làm tăng đáng kể số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung cũng như các doanh nghiệp phụ trợ nói riêng.Từ giữa năm 2020 và 2021, các doanh nghiệp nước ngoài đã xây 60.000 nhà máy sản xuất ở Trung Quốc. Các công ty hóa chất châu Âu, các công ty sản xuất ô tô Nhật Bản và các tập đoàn công nghiệp Mỹ đang tiến hành xây dựng (hoặc đã công bố ý định xây dựng) các nhà máy ở Trung Quốc nhằm cung cấp hàng hoá xuất khẩu khắp thế giới. Từ đó đến nay, với sự hỗ trợ và tạo điều kiện của Chính Phủ, sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, sự gia tăng các luồng vốn đầu tư FDI, sự lớn mạnh của nền công nghiệp phụ trợ và sự tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp phụ trợ thời gian qua cùng với sự nhạy bén của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc ngày càng hăng hái hơn tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay chuyển ưu tiên sang sản xuất các sản phẩm có kỹ thuật cao như ô tô, tivi, đồng hồ điện tử, máy điều khiển kỹ thuật số, máy vi tính… Những sản phẩm này phần lớn thuộc dạng lắp ráp và gia công nên các công đoạn gia công đều do các doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm nhận, các doanh nghiệp lớn chỉ thực hiện hoạt động lắp ráp sau cùng. Vị trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được nâng cao do chúng có thể sản xuất theo từng đơn hàng số lượng sản phẩm ít nhưng đa dạng và phong phú về mẫu mã và chủng loại, được đánh giá cao trên thị trường thế giới. Trong các ngành truyền thống như may mặc, da giày, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tiếp tục khẳng định được chỗ đứng của mình thể hiện là họ có thể sản xuất được từ mũi, chỉ, da,… đạt 80% nguyên phụ liệu. Hầu hết các ngành sản xuất Trung Quốc không những không còn phụ thuộc vào nguồn linh phụ kiện, phụ liệu nhập khẩu mà còn xuất khẩu một lượng lớn. Lấy ví dụ về các sản phẩm công nghệ thông tin, trong 3 năm liền từ 2020 đến 2021 sản phẩm máy móc thiết bị điện luôn đứng đầu trong danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc với kim ngạch tương ứng là 65.119,4 triệu USD; 88.997,6 triệu USD; 129.663,7 triệu USD.
II. Chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện các chính sách hỗ trợ thông qua các quy định, văn bản pháp luật như “ Luật thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ” năm 2021, “ Chính sách công nghiệp công nghệ quốc gia” năm 2020, “ Chính sách phát triển công nghiệp ô tô” , “ Kế hoạch công nghiệp ô tô giai đoạn 2024- 2028”. Nội dung của các chính sách thể hiện:
1. Cải tạo và phát triển các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ ở thành phố và thị trấn dưới nhiều hình thức.
DNVVN Trung Quốc hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ gồm 3 thành phần chính: các doanh nghiệp tập thể, các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp phi công hữu thoả mãn các quy định của Chính Phủ về tiêu chuẩn doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1. Đối với các doanh nghiệp tập thể
Để thúc đẩy các doanh nghiệp tập thể phát triển, Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu doanh nghiệp và cơ cấu hàng hoá. Phương pháp điều chỉnh cơ cấu là:
- Khuyến khích liên hợp, hợp nhất, tổ chức liên hợp lớn trong nội bộ ngành nghề không kể khu vực, không kể chế độ sở hữu, căn cứ vào yêu cầu của quy mô kinh tế mà liên hợp. Phương pháp này nhằm làm giảm số doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ hoặc làm ăn không hiệu quả đồng thời liên kết chúng lại với nhau để tận dụng tính kinh tế nhờ quy mô.
- Đối với ngành nghề mà khả năng sản xuất dư thừa thì chia nhỏ ra lấy một bộ phận trong đó đưa vào ngành nghề được xem là điểm tăng trưởng mới và các ngành nghề có liên quan khác sẽ sản xuất những linh kiện, bộ phận hoặc tham gia kinh doanh sản phẩm có liên quan đến sản phẩm chủ đạo của ngành nghề này.
- Thực hiện chế độ hợp tác cổ phần. Chế độ này thích hợp nhất với những doanh nghiệp nhỏ có dưới 100 người.
Một bộ phận quan trọng của các doanh nghiệp tập thể Trung Quốc, tham gia hoạt động rất có hiệu quả trong ngành công nghiệp phụ trợ là các doanh nghiệp hương trấn. Để phát huy tính tích cực của bộ phận này trong phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp phụ trợ nói riêng, bên cạnh những chính sách áp dụng cho doanh nghiệp tập thể như chế độ hợp tác cổ phần; tiến hành đồng bộ các biện pháp cải cách như khoán, cho thuê, sáp nhập, bán… Trong “Chính sách công nghiệp quốc gia năm 2020” Nhà nước đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp hương trấn dựa vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, coi trọng quản lý khoa học, nâng cao chất lượng và hiệu quả doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này đã liên kết “ sản xuất- học tập- nghiên cứu” với các viện, các trường đại học ở địa phương. Các đơn vị nghiên cứu có khoa học, có chuyên gia, có kỹ thuật, các doanh nghiệp hương trấn có vốn, có mặt bằng. Họ liên kết khiến cho những thành quả nghiên cứu khoa học nhanh chóng chuyển hoá thành sức sản xuất. Tuy rằng, những nghiên cứu ở mức độ này và tiềm lực vốn của các doanh nghiệp hương trấn không thể tạo ra công nghệ thay thế công nghệ hiện đại trong sản xuất công nghiệp phụ trợ nhưng nó cũng góp phần cải tiến trong quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
1.2. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước.
Trong ngành công nghiệp phụ trợ vốn đã quen sản xuất theo kiểu tích hợp từ trên xuống nên chất lượng sản phẩm các doanh nghiệp này cung cấp không được chấp nhận trên thị trường, thường chỉ tiêu thụ nội bộ. Chính vì vậy Trung Quốc đã đưa ra một loạt các chính sách nhằm cải cách khu vực này, đi sâu cải cách doanh nghiệp quốc hữu loại nhỏ.
Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2010 chỉ rõ: “ Có thể cho thuê hoặc bán một số doanh nghiệp quốc hữu loại nhỏ cho tập thể, cá nhân kinh doanh”. Hội nghị TW 3 khoá XIV năm 2011 nhấn mạnh: “Các doanh nghiệp quốc hữu loại nhỏ có thể thực hiện chế độ khoán kinh doanh, cho thuê vốn kinh doanh, có thẻ chuyển sang chế độ hợp tác cổ phần, cũng có thể bán cho tập thể hoặc cá nhân”. Sau Hội nghị TW 7 khoá XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trung quốc thực hiện bỏ quyền sở hữu tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các lĩnh vực cạnh tranh thông thường để tập trung vào chuyển đổi cơ chế kinh doanh các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, xây dựng chế độ kinh doanh hiện đại. Chủ trương này nhanh chóng lan ra trên diện rộng, trở thành lựa chọn đầu tiên của cải cách doanh nghiệp tập thể.
Hiện nay chủ yếu các đơn hàng do các doanh nghiệp lớn đảm nhận sau đó phân ra cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ dựa trên cơ sở hợp đồng. Chính sách trên đã kết thúc kiểu sản xuất bó chân lẫn nhau của các doanh nghiệp Nhà nước trước đây trong ngành công nghiệp phụ trợ.
1.3. Đối với các doanh nghiệp phi công hữu
Dưới chế độ bao cấp kế hoạch hoá trước năm 1978, chế độ phi công hữu bị coi là đối lập, không thể cùng tồn tại với chế độ công hữu. Việc không cho phép phát triển kinh tế tư nhân dẫn tới nền kinh tế trì trệ trong một thời gian dài, nguồn lực bị lãng phí nghiêm trọng. Từ sau khi tiến hành cải cách mở cửa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của “ sự bổ sung cần thiết” là thành phần kinh tế phi công hữu. Các chính sách lần lượt được đưa ra để hỗ trợ sự phát triển của khu vực kinh tế này. Các doanh nghiệp phi công hữu dần từng bước phát triển trở thành điểm tăng trưởng kinh tế quan trọng, góp phần giải quyết những khó khăn ngành nghề, nâng cao mức sống nhân dân.
2. Tạo dựng môi trường pháp lý bình đẳng. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Trước đây, các nhà đầu tư rất ngại đầu tư tại Trung Quốc do sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Kể từ sau khi cải cách kinh tế, đặc biệt là để thu hút đầu tư nước ngoài và đàm phán gia nhập WTO, Trung Quốc đã nỗ lực xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn thông qua môi trường pháp lý bình đẳng. Điều này tạo thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là các doanh nghiệp tư nhân. Các chính sách cơ bản mà Chính Phủ đưa ra thông qua “ Luật doanh nghiệp”: Bảo đảm quyền lợi tài sản tư hữu như tài sản công hữu, không ai được xâm phạm; thu thuế công bằng; thực hiện bình đẳng về mọi mặt; xoá bỏ những lo lắng cho khu vực doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ, khuyến khích tăng đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cấp doanh nghiệp. Với chính sách như vậy, khu vực tư nhân từ chỗ bị coi là “cái đuôi của chủ nghĩa tư bản” chuyển sang “ cùng phát triển” với kinh tế công hữu. Đây quả là một bước tiến lớn đối với các doanh nghiệp tư nhân. Nhờ an tâm quyền lợi tài sản được đảm bảo, các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ chuyên tâm vào sản xuất, phát huy tính tích cực, sáng tạo và nhạy bén của mình mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội và chính bản thân doanh nghiệp.
3. Ưu đãi về thuế
Thuế chính là công cụ điều tiết và kiểm soát hiệu quả của Nhà nước. Cuối năm 2017 và đầu năm 2018, Bộ tài chính và Cục thuế nhà nước đưa ra thông báo về việc thu thuế khuyến khích các doanh nghiệp “ tăng cường sáng tạo kỹ thuật, phát triển kỹ thuật cao, thực hiện nâng cấp ngành nghề”. Tháng 7 năm 2018, các cơ quan này lại dưa ra những khích lệ phát triển như: miễn giảm thuế doanh nghiệp, tăng tỷ lệ thuế giá trị gia tăng và thuế bán lẻ,…
Các địa phương cũng đưa ra những chính sách ưu đãi ở địa phương mình như chính sách thu hút nhân tài, hạ thấp những chỉ tiêu đăng ký của các doanh nghiệp, khích lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ kỹ thuật cao phát triển, tăng đầu tư tài chính, xây dựng ngân sách dành cho sáng tạo khoa học kỹ thuật cao, tiến hành cấp giấy phép phát minh và phụ cấp thêm để duy trì hoạt động sáng tạo kỹ thuật… Các ưu đãi ở đặc khu kinh tế còn lớn hơn nữa.
Cụ thể về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất nhập khẩu như sau:
3.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Năm 2012, mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 33%. Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống còn 18% nếu như lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp ít hơn 30.000 NDT, và 27% nếu lợi nhuận lớn hơn 30.000 NDT nhưng nhỏ hơn 100.000 NDT.
Từ tháng 7 năm 2016, các doanh nghiệp nhỏ có doanh thu hàng năm ít hơn 1,8 triệu NDT thì mức thuế giá trị gia tăng sẽ được giảm từ 4% trở lên theo quy định( mức thuế giá trị gia tăng trước thời điểm đó là 17% ). Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp hiện bị tính thuế giá trị gia tăng cao hơn giá trị gia tăng thực tế và không được hoàn thuế. Trong thời gian tới,Trung Quốc sẽ đưa ra quy định tính thuế giá trị gia tăng định hướng tiêu dùng thay vì định hướng sản xuất như hiện nay để khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất công nghiệp phụ trợ.
Căn cứ theo điều 24, Luật thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2021 thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ sẽ được giảm thuế và miễn thuế nhiều hơn các doanh nghiệp ngoài ngành công nghiệp phụ trợ từ 2-3 năm. Nếu như doanh nghiệp tạo được việc làm cho những người thất nghiệp và số người thất nghiệp đó chiếm hơn 60% tổng số công nhân của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 3 năm.
Đặc biệt, nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ này đầu tư vào đặc khu kinh tế thì thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ chỉ còn là 15 %. Nếu doanh nghiệp có trên 70% sản phẩm xuất khẩu thì được giảm thêm 5% nữa. Nếu thời gian kinh doanh tại đặc khu lớn hơn 10 năm thì thời gian miễn thuế là 5 năm theo phương thức 2 + 3 tức là doanh nghiệp được miễn thuế trong 2 năm đầu và 3 năm tiếp theo được giảm 50% thuế thu nhập.
3.2. Thuế xuất nhập khẩu
Giảm thuế quan sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chi phí của các nhà lắp ráp và có thể biến quốc gia thành cơ sở xuất khẩu những thành phẩm. Hơn thế nữa, không phải quốc gia nào cũng sở hữu đầy đủ các loại nguyên liệu thô, do đó việc giảm thuế nhập khẩu các nguyên liệu thô sẽ góp phần giảm chi phí cho các doanh nghiệp phụ trợ.
Để thúc đẩy các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ, Trung Quốc đã đưa ra nhiều ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được tính theo nguyên tắc: thuế đối với nguyên liệu thô thấp, thuế nhập khẩu linh kiện phụ tùng sẽ thấp hơn thuế đánh vào sản phẩm hoàn chỉnh, thực hiện tự do hoá nhập khẩu linh kiện… Hiện nay, mức thuế trung bình cho các loại linh, phụ kiện nhập khẩu chỉ xoay quanh con số 9%. Các mặt hàng xuất khẩu thuế suất thường chỉ từ 0% đến 5%.
4. Ưu đãi về tài chính, tín dụng Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
4.1. Hỗ trợ về tài chính
Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ thì vốn và tiếp cận các nguồn vốn trực tiếp từ thị trường tài chính được xem là khó khăn lớn nhất. Tuy nhiên, trên 80% doanh nghiệp không thể vay được vốn từ các ngân hàng. Do vậy, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích các DN phụ trợ vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn vốn khác nhau:
Nguồn vốn ngân hàng: Theo công bố của Ngân hàng nhân dân Trung Hoa, 3/4 các khoản cho vay từ các tổ chức tài chính của Trung Quốc được xếp vào loại các khoản vay lưu động. Trong đó tỷ lệ các khoản vay lưu động của các ngân hàng và các tổ chức tài chính dành cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ đã tăng lên đáng kể. Nhà nước dành 20% tổng vốn cho vay của 4 ngân hàng nhà nước lớn trong nguồn tín dụng chính thức cho khu vực tư nhân. Tuy nhiên các ngân hàng rất ngần ngại khi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vì một số nguyên nhân: Thứ nhất, số tiền vay nhỏ nên các ngân hàng không kiếm được nhiều lợi nhuận từ hoạt động cho vay đó: Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có sổ sách tài chính minh bạch, không được kiểm toán nên chi phí liên quan đến việc xác định chính xác thông tin tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là doanh nghiệp tư nhân rất cao, đôi khi lớn hơn với doanh nghiệp lớn: Thứ ba, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn tài sản hạn chế nên nguồn thế chấp cũng hạn chế. Điều này khiến các ngân hàng e ngại về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cũng chính vì những vấn đề này, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ nhất là các doanh nghiệp tư nhân cần phải có một chế độ kế toán minh bạch, thống nhất theo tiêu chuẩn, thực hiện các dự án đầu tư có tính thuyết phục cao và xây dựng uy tín trên thương trường để vay được các khoản vay tín chấp từ ngân hàng.
Nguồn vốn cổ phần tư nhân: Vốn cổ phần tư nhân, đặc biệt là thị trường vốn đầu tư mạo hiểm là một kênh cung cấp vốn còn rất mới song đem lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc. Chính những khó khăn trong việc tiếp cận vốn nhà nước đã khiến các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc tìm cách tiếp cận tới nguồn vốn này. Gần đây, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã thành lập quỹ vốn đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ thêm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, các công ty kinh doanh chứng khoán, các sở giao dịch tài sản, các quỹ tín dụng uỷ thác và các công ty đầu tư đã tạo điều kiện để đầu tư tư nhân tham gia vào việc cấp vốn cổ phần cho các doanh nghiệp tư nhân một cách có tổ chức và dài hạn. Không chỉ vậy các doanh nghiệp nhà nước lớn được niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng tham gia cung cấp vốn kinh doanh mạo hiểm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, đang tăng trưởng.
Vốn trên thị trường chứng khoán: Đặc điểm lớn nhất của thị trường chứng khoán là khả năng tập hợp nhiều nguồn tiền nhỏ để cung cấp cho một nhu cầu tiền lớn cùng một lúc, nó có thể tạo ra sự thu hút vốn lớn cho các dự án khổng lồ mà không một ngân hàng nào có thể tự đứng ra cho vay. Do đó thị trường chứng khoán luôn là kênh huy động vốn rất hiệu quả đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tiếp cận nguồn vốn này còn nhiều khó khăn do hệ thống hạn ngạch và các đòi hỏi về quy mô. Mặc dù không có điều nào trong Luật chứng khoán và các quy định hành chính công khai ngăn cản các doanh nghiệp vừa và nhỏ niêm yết ra công chúng nhưng trên thực tế thị trường chứng khoán Trung Quốc chủ yếu cấp vốn cho các doanh nghiệp quốc hữu để cải cách các doanh nghiệp này. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể huy động được vốn trên TTCK, gần đây Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một số quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tháng 12 năm 2016, Luật Chứng khoán Trung Quốc được ban hành. Những quy tắc mới trong Luật đã mở đường cho các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước mua cổ phiếu loại A, dẫn đến sự có mặt nhiều hơn các tổ chức đầu tư. Tháng 3 năm 2018, “ Uỷ ban quản lý chứng khoán Trung Quốc” công bố xoá bỏ hệ thống hạn ngạch về niêm yết và người bảo lãnh phát hành sẽ quyết định thời điểm và việc định giá các chứng khoán mới. Chủ trương này đã tạo ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn lớn và dài hạn trên TTCK.
Năm 2019, Chính Phủ Trung Quốc đã sửa đổi hệ thống tiếp cận tín dụng trên toàn quốc giành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ thống này giúp lựa chọn, đánh giá và báo cáo tình hình tín dụng của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ.
Cuối năm 2019, Phòng doanh nghiệp vừa và nhỏ đã công bố bản dự thảo về những hoạt động thử nghiệm trong việc hỗ trợ phát triển tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và chỉ ra những vấn đề mà các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ đang gặp phải.
Một hỗ trợ khác nữa từ phía Chính phủ đó là luật “Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Luật này chỉ ra rằng: vấn đề doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ được đưa vào ngân sách tài chính quốc gia và sẽ có các nguồn vốn đặc biệt được giành riêng cho việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay, hàng năm Chính phủ Trung Quốc chi 1 tỷ NDT để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển sản phẩm mới, áp dụng công nghệ, kỹ thuật và thiết bị sản xuất hiện đại. Chính Phủ cũng chi 500 triệu NDT cho việc thành lập quỹ phát triển thị trường để hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp phụ trợ chủ động tiếp cận thị trường thế giới, tham gia cạnh tranh quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường hợp tác và trao đổi kỹ thuật, công nghệ với nước ngoài. Những hỗ trợ này không những giúp khắc phục những điểm yếu của các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư mà cả trong hành trình đổi mới công nghệ bởi lẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp do không tiến hành các nghiên cứu hệ thống về công nghệ, công tác nghiên cứu thị trường còn yếu kém.
Theo Thứ trưởng tài chính Zhu Zhigang, năm 2024 Chính phủ Trung Quốc đã dành 3 tỷ NDT( 375 triệu USD) để hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và hiện nay Bộ tài chính đang xem xét thông qua chính sách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ nhiều hơn nữa để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩt sự phát triển của khu vực kinh tế này.
4.2. Hỗ trợ về đảm bảo tín dụng Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Không những khó khăn về việc tiếp cận nguồn vốn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp nhiều vấn đề nan giải trong việc bảo đảm tín dụng như các khoản thế chấp hay khi bảo lãnh phát hành cổ phiếu… Hiện nay hệ thống tín dụng của các DN phụ trợ vừa và nhỏ có 3 hình thức: các tổ chức bảo lãnh tín dụng do chính phủ bảo trợ, các quỹ bảo lãnh tín dụng do các doanh nghiệp vừa và nhỏ lập ra để tương trợ nhau, các công ty bảo lãnh thương mại do tư nhân đầu tư. Trong đó các tổ chức tín dụng do chính phủ bảo trợ chiếm vai trò quan trọng nhất và chiếm tới 90% nguồn tín dụng được bảo lãnh.
Trong năm 2019, Trung quốc đã thông qua một số đạo luật và quy định, trong đó phải kể đến “ quy định tạm thời về hệ thống bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” và “ các phương pháp quản lý bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Đến cuối năm đó, Trung Quốc đã có 528 tổ chức bảo lãnh tín dụng vừa và nhỏ, tăng tổng nguồn vốn lên 15,53 tỷ NDT và bảo lãnh cho 17.897 doanh nghiệp với khoản vốn được bảo lãnh là 39,3 tỷ NDT. Các doanh nghiệp được bảo lãnh đã tăng 2,7 tỷ NDT lợi nhuận trước thuế và 146.000 lao động mới, giảm nhẹ những khó khăn của DN về tài chính ở một mức độ nào đó.
Đến năm 2021, Trung Quốc đã thiết lập gần 1000 tổ chức bảo lãnh tín dụng cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ với tổng nguồn vốn là 28,7 tỷ NDT, cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho 50.000 DN với tổng giá trị bảo lãnh lên gần 120 tỷ NDT ( tương đương 14,5 tỷ USD).
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc còn có các hỗ trợ khác như thông thoáng các thủ tục trong việc xin cấp đất hoặc thuê đất để làm mặt bằng, nới lỏng các quy định thế chấp, cho phép các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ dùng mặt bằng kinh doanh để thế chấp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận và vay vốn.
5. Hỗ trợ kỹ thuật Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Một thách thức có tính nội tại nhưng không phải là nhỏ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là công nghệ lạc hậu và khả năng của người lao động về công nghệ kỹ thuật hiện đại không cao. Do vậy hỗ trợ kỹ thuật ở đây bao hàm cả hỗ trợ về mặt công nghệ và hỗ trợ về kỹ năng kỹ thuật.
5.1. Chính sách hỗ trợ về công nghệ.
Để góp phần giúp các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ tháo gỡ những khó khăn về công nghệ, từ đầu những năm 1990 đến nay, các cơ quan Trung Quốc và các ban ngành hữu quan ở địa phương đã hỗ trợ các DN phụ trợ vừa và nhỏ tìm mua hoặc chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nước ngoài thông qua hỗ trợ vốn, cung cấp thông tin, thành lập những trung tâm hỗ trợ dịch vụ để tư vấn và giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc cải tiến công nghệ đã mua hay nhận chuyển giao đó sao cho phù hợp với tình hình sản xuất thực tế, khuyến khích đầu tư vào các ngành khoa học kỹ thuật.
Từ năm 2015 Trung Quốc đã thiết lập được các trung tâm kỹ thuật ở địa phương hoặc trung tâm chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ ở Thanh Đảo, Hà Bắc, Liêu Châu và các thành phố khác. Trung Quốc cũng đồng thời thiết lập và nâng cấp các chi nhánh dịch vụ hỗ trợ cải tiến kỹ thuật. Từ năm 2016, Trung Quốc đã trích quỹ 1 tỷ NDT và khoản vốn 2 tỷ NDT để hỗ trợ các hoạt động đổi mới và cải tiến kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ. Năm 2017, chương trình quỹ cải tiến cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lần thứ 3 đã cấp 2,12 triệu NDT cho 277 dự án cải tiến liên quan đến DN phụ trợ vừa và nhỏ. Năm 2020, Trung Quốc công bố “ Chính sách công nghiệp quốc gia” với mục tiêu hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ cao, trong đó có các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ tăng nguồn vốn trên thị trường chứng khoán và tăng cường khả năng công nghệ bằng các biện pháp tài chính như các ưu đãi về dịch vụ công cộng và thuế. Trong vòng 5 năm từ 2018- 2023, Uỷ ban kinh tế và thương mại nhà nước đã cấp khoảng 3,7 tỷ NDT cho hoạt động cải tiến công nghệ, hỗ trợ khoảng 12.500 dự án cải tiến công nghệ. Điều 30, luật “ Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” chỉ rõ các cơ quan chức năng liên quan sẽ phải thiết lập các chính sách hỗ trợ các DN về lập kế hoạch, sử dụng đất, về tài chính và thuế để thúc đẩy việc thành lập các tổ chức dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thành lập các trung tâm xúc tiến sản xuất. Cho đến năm 2023, Trung Quốc đã có 40 trung tâm hỗ trợ cải tiến kỹ thuật, 500 trung tâm hỗ trợ tăng năng suất lao động và hơn 100 trung tâm công nghệ cao, gần 100 trang web cung cấp dịch vụ kỹ thuật. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Trung Quốc tập trung vào thành lập hệ thống dịch vụ công cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách xây dựng các khu doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung, ví dụ như khu DN phụ trợ vừa và nhỏ tập trung Thiên Tân. Các DN trong khu tập trung này chủ yếu cung cấp bộ phận, linh kiện và các dịch vụ cho các công ty đa quốc gia nằm trong Khu Kinh tế và Công nghệ Thiên Tân.
Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc cũng đưa ra các chính sách nhằm thúc đẩy việc thành lập các tổ chức dịch vụ trung gian, các hiệp hội công nghiệp, các doanh nghiệp định hướng khoa học và công nghệ để cung cấp các dịch vụ liên quan đến thông tin công nghệ, tư vấn, chuyển giao, các dịch vụ phát triển sản phẩm và công nghệ.
Ngoài ra còn nhiều hỗ trợ khác như t hu hút và điều động lực lượng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào những lĩnh vực phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ và mở rộng, thu hút đầu tư cho khoa học kỹ thuật. Chính phủ đã có những chính sách cụ thể đề cập tới các vấn đề như ưu đãi thuế, quản lý tài sản nhà nước, chế độ bảo hiểm xã hội, cải cách chế độ nhân sự, xây dựng chế độ quản lý nội bộ, mở rộng hơn nữa tỷ lệ đầu tư cổ phần vào việc nghiên cứu những khoa học kỹ thuật cao, thúc đẩy những sáng tạo mới trong khoa học và tạo ra những bước đột phá trong cơ cấu ngành nghề.
Nhà nước còn cho phép các trường đại học, cao đẳng và những cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật có những nhân viên kỹ thuật kiêm chức hoặc có thể được rời bỏ chức vụ hiện có để tham gia vào việc thành lập doanh nghiệp mới, khích lệ một số lượng lớn nhân viên khoa học kỹ thuật tham gia vào việc cơ cấu lại ngành nghề. Năm 2017, Quốc vụ viện đã đưa ra văn kiện “ quy định tạm thời về ngân sách dành cho sáng tạo khoa học kỹ thuật của các doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Theo quy định này, các doanh nghiệp khoa học kỹ thuật vừa và nhỏ được giúp đỡ trên các mặt như vốn đầu tư, viện trợ không hoàn lại hay đầu tư vào những hạng mục có sức cạnh tranh trên thị trường và những ngành nghề có tiềm lực khoa học kỹ thuật cao.
5.2. Hỗ trợ về phát triển các kỹ năng khác.
Kiến thức thị trường, khả năng tìm hiểu và nghiên cứu thông tin, khả năng quản lý kinh doanh trong môi trường quốc tế của đội ngũ quản lý và trình độ công nghệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân là một yếu tố quan trọng trong việc thành bại của một doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ. Thế nhưng đó lại là những điểm yếu của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung, ở Trung Quốc nói riêng. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Để khắc phục những nhược điểm này Trung Quốc đã đưa ra một số chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, cải thiện và phát triển các kỹ năng cho đội ngũ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 2021, Bộ Tài Chính Trung Quốc đã tổ chức một loạt chương trình đào tạo, tập trung những kiến thức cơ bản về quản lý kinh doanh, hệ thống tín dụng, thông tin và mạng lưới công nghệ, phát triển công nghiệp với sự tham gia của 2200 DN phụ trợ vừa và nhỏ. Cũng trong năm đó, Chính Phủ Trung Quốc đã phân bổ các nguồn quỹ đặc biệt để phát triển DN phụ trợ vừa và nhỏ, cung cấp dịch vụ đào tạo cho hơn 2018 chủ doanh nghiệp, thành lập một hệ thống đánh giá mức độ tín dụng cho hơn 400 doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ ở 5 thành phố lớn và giúp đỡ hơn 100 doanh nghiệp ở các thành phố khác như Thượng Hải, Trùng Khánh bắt đầu kinh doanh. Năm 2023, số tiền được phân bổ cho các hoạt động trên lên đến con số 5 tỷ NDT.
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc rất khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiết lập mối quan hệ với các trường đại học, các viện nghiên cứu cùng tham gia các hoạt động cải tiến công nghệ, hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D). Trung Quốc cũng hết sức quan tâm đầu tư cho giáo dục để tạo nguồn nhân lực cao cấp, tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thật các ngành thiết kế, chế tạo máy, luyện kim, điều khiển tự động, điện tử tin học. Đồng thời, Chính Phủ và chính quyền các địa phương thường xuyên hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động như mở các lớp thực tập ngắn hạn, nang cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ kinh doanh và người lao động.
6. Chính sách phát triển thị trường
6.1. Thành lập quỹ phát triển thị trường quốc tế.
Năm 2019 Chính phủ Trung Quốc đã thành lập Quỹ phát triển thị trường quốc tế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nguồn quỹ này đã hỗ trợ hàng tỷ NDT cho hơn 40.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ để thực hiện các dự án trên thị trường quốc tế. Trong một chừng mực nào đó, nguồn hỗ trợ này đã giảm bớt sự yếu kém của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc trong việc tìm kiếm và phát triển thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp phụ trợ đương nhiên được hưởng lợi từ nguồn hỗ trợ này.
6.2. Tổ chức các cuộc triển lãm.
Chính Phủ Trung Quốc cũng thường xuyên tổ chức các triển lãm công nghiệp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ giới thiệu về công ty và sản phẩm của mình. Cho đến năm 2025, đã có gần 1000 cuộc triển lãm công nghiệp phụ trợ dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được tổ chức bởi các tổ chức có liên quan hoặc các nhà tổ chức triển lãm. Đồng thời, có khoảng 510 cuộc triển lãm quốc tế được tổ chức ở nước ngoài mỗi năm với diện tích khu vực triển lãm lên tới 140.000km2. Các cuộc triển lãm này đã giúp các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ tiếp cận với thị trường thế giới, tạo cơ hội và điều kiện cho việc bán hàng và ký hợp đồng kinh doanh.
6.3. Xúc tiến liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp FDI, các công ty đa quốc gia. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Trong phát triển kinh tế thế giới ngày nay, các tập đoàn xuyên quốc gia, đa quốc gia có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế quốc tế. Với nguồn lực to lớn về tài chính, khoa học và công nghệ, các tập đoàn này có mạng lưới sản xuất và phân phối rộng với chiến lược phát triển và thương hiệu thống nhất, các bộ phận trong mạng lưới chuyên môn hoá cao. Đặc biệt, các tập đoàn này là những bậc thầy về R&D. Hoạt động R&D của họ là một dự án chứ không đơn thuần là một bộ phận hay phòng ban. Khi đầu tư vào một nước, họ cần những nhà cung ứng tham gia vào việc hình thành chuỗi giá trị toàn cầu của mình. Do vậy, để thúc đẩy công nghiệp phụ trợ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần phải tận dụng những lợi thế của các tập đoàn.
Theo chương V, luật “ Thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” năm 2021, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích và hỗ trợ việc thành lập quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên quan đến việc cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, phát triển công nghệ và cải tiến kỹ thuật trên cơ sở thị trường phân bổ các nguồn lực nhằm tạo động lực để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các ngành, các cấp chính quyền địa phương đặc biệt là ở các đặc khu kinh tế, các trung tâm tập trung doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương mình bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có:
- Tạo cơ sở dữ liệu về công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm công nghiệp phụ trợ ở địa phương mình một cách đầy đủ và chính xác để giới thiệu và tạo điều kiện giúp các công ty lớn dễ dàng tìm được nhà cung cấp sản phẩm phụ trợ
- Cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước về các nhà lắp ráp để tạo ra sự cân bằng vị trí đàm phán giữa người mua và người bán.
6.4. Hướng dẫn và giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng cường xuất khẩu và trao đổi sản phẩm
Thường xuyên tổ chức triển lãm công nghiệp ở trong và ngoài nước, cung cấp thông tin về thị trường, đặt các cục xúc tiến thương mại tại các nước trên thế giới, giảm thuế xuất nhập khẩu đối với các linh kiện phụ tùng, giảm bớt các thủ tục hải quan, nới lỏng các quy định trong hoạt động ngoại thương, trao đặc quyền cho ban quản lý các đặc khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao trong hoạt động xuất nhập khẩu… là những nỗ lực mà Trung Quốc thực hiện nhằm thúc đẩy hoạt động ngoại thương, thu hút đầu tư và phần nào giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu sản phẩm.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN công nghiệp phụ trợ Ở TRUNG QUỐC Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
1. Tác động của công nghiệp phụ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
Đặc điểm nổi bật nhất của các ngành công nghiệp phụ trợ là tính chuyên môn hoá cao. Chính đặc tính này sinh ra mối quan hệ tác động qua lại giữa các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ với lợi thế về lao động và cơ chế hoat động linh hoạt sẽ tập trung chuyên môn để sản xuất từng bộ phận, thiết bị nhỏ, khắc phục mâu thuẫn về yêu cầu vốn lớn trong ngành công nghiệp phụ trợ và khả năng hạn chế của các doanh nghiệp. Ngược lại các doanh nghiệp lớn với thế mạnh về vốn và công nghệ sẽ nắm giữ việc sản xuất các linh kiện phức tạp cũng như công nghệ lắp ráp và các bí quyết kỹ thuật quan trọng. Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là hết sức cần thiết.
Ở Trung Quốc chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ đã có ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên nhiều mặt.
Về số lượng doanh nghiệp: công nghiệp phụ trợ phát triển đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp mới ra đời theo đúng quy luật cung cầu. Khi FDI vào Trung Quốc ngày môt nhiều thì các doanh nghiệp sản xuất- lắp ráp cũng như nhu cầu về nguyên phụ liệu, linh kiện phụ tùng không ngừng tăng. Cầu tăng đòi hỏi cung tăng. Do vậy hàng loạt doanh nghiệp phụ trợ được thành lập. Các nhà máy, xí nghiệp hương trấn, xưởng sản xuất nhỏ mạnh dạn vay vốn đầu tư. Các xưởng may gia công thiếu việc làm chuyển sang sản xuất phụ liệu cho các nhà máy lớn, có tên tuổi. Tính đến năm 2025 Trung Quốc có hàng trăm ngàn doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ, trong đó khoảng 4000 doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp linh kiện ô tô, 7000 doanh nghiệp cung cấp nguyên phụ liệu dệt may,…
Về doanh thu: Cùng với số lượng không ngừng gia tăng, doanh thu của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ cũng ngày càng lớn. Trước đây khi chủ yếu gia công cho nước ngoài hay cung ứng các thành phẩm giá rẻ, các sản phẩm phụ trợ đơn giản các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc không tạo ra được nhiều giá trị gia tăng trong sản phẩm nên doanh thu thấp. công nghiệp phụ trợ phát triển, đầu tư và bán những sản phẩm giá cao nên doanh thu thu về lớn hơn trước nhiều. Lấy ví dụ doanh nghiệp Wan Xiang, một thành công điển hình trong ngành cung cấp phụ tùng ô tô. Những năm 70,80 chỉ là một doanh nghiệp nhỏ, Wan Xiang thu lãi bình quân 10.000 NDT mỗi ngày, đến năm 2024 doanh thu của doanh nghiệp này đã lên đến con số 3,3 tỷ Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ trong giai đoạn 2018- 2023 tăng 31,82%
Về sản phẩm: Giai đoạn đầu các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ của Trung Quốc chủ yếu sản xuất các sản phẩm đơn gian, hàm lượng công nghệ thấp, chủ yếu tận dụng giá nhân công rẻ với mục tiêu đáp ứng nhu cầu trong nước là chính, chủ yếu là phụ liệu cho các sản phẩm tiêu dùng như các bộ phận nhựa, sản phẩm phụ liệu ngành may, ốc vít, ắc quy, dây điện, một số chi tiết nhỏ khác,… Đến nay với chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản phẩm của các doanh nghiệp này đã rất da dạng. Bộ phận này đã có thể cung ứng cả những sản phẩm phức tạp với độ chính xác cao như vi mạch điện tử, bộ chế hoà khí, bộ ly hợp cho động cơ,… các khuôn mẫu và máy móc để sản xuất các thiết bị này. Ví dụ, ngành dệt may đã có thể đáp ứng 100% nguyên phụ liệu trong nước. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Về khả năng cạnh tranh: Nói về khả năng cạnh tranh có thể dẫn ví dụ về Wan Xiang làm minh chứng cho tác động của công nghiệp phụ trợ đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc. Có thể nói, trong những năm thập niên 90 đổ về trước, các nhà sản xuất phụ tùng Trung Quốc trong đó có cả Wan Xiang vẫn chưa được coi là đối thủ xứng tầm trước các hãng sản xuất phụ kiện lớn ngoại quốc thì tới nay nhờ đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm Wan Xiang đã trở thành nhà cung cấp đáng tin cậy cảu hầu hết các doanh nghiệp ô tô trong nước. Hiện nay Wan Xiang đang đàm phán mua lại Automotive Components Holdings- một tổ hợp công nghiệp lớn gồm 17 nhà máy và 6 xí nghiệp. Hiện tượng Wan Xiang cũng như nhiều doanh nghiệp phụ trợ nhỏ khác của Trung Quốc mua lại các công ty nước ngoài đến nay không còn là hiếm đã chứng tỏ khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ Trung Quốc ngày càng được nâng cao.
Về giảm giá thành: Nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ giá thành các sản phẩm phụ trợ do các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc cung cấp thấp hơn hẳn so với các nước khác do tận dụng được cả lợi thế giá lao động và chi phí linh kiện rẻ. Hệ thống các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ Trung Quốc liên kết rất chặt chẽ với nhau nên đạt được hiểu quả tối đa trong phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất, nhờ đó sản phẩm làm ra với giá thành thấp. Đặc biệt trong điều kiện giá lao động ở Trung Quốc đang có xu hướng tăng thì giảm giá thành sản phẩm chủ yếu là nhờ giảm chi phí linh phụ kiện, phụ tùng. Nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm giảm từ 70- 80% giá thành phẩm. Riêng đối với ngành xe máy, không một nước nào cung cấp phụ tùng rẻ như các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc. Năm 2013 giá một chiếc xe máy Trung Quốc là 700 USD thì đến năm 2023 chỉ còn 200 USD, chính là nhờ giảm giá linh kiện. Các doanh nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may cũng có được những thành công tương tự.
Về hạn chế nhập khẩu, tăng xuất khẩu: Nhờ chính sách tăng cường công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến nay các doanh nghiệp này đã không còn phải nhập khẩu các sản phẩm phụ trợ phục vụ tiêu dùng nữa, hạn chế nhập các sản phẩm trong nước đã sản xuất được, nhập khẩu có chọn lọc công nghệ hiện đại và đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 2025 các doanh nghiệp phụ trợ Trung Quốc đã xuất khẩu 11,5 tỷ USD các đồ linh kiện ô tô, phụ tùng và động cơ ô tô là 30 tỷ USD, tăng 56,67% kể từ năm 2021 tới Các chuyên gia của ngành dự kiến xuất khẩu phụ tùng ô tô sẽ tăng 35% trong năm 2026- 2027
Về thu hút FDI: Với nhiều chính sách cải thiện môi trường đầu tư, Trung Quốc hiện đang là nước thu hút FDI lớn nhất trên thế giới. Trước đây các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc chủ yếu là phải tự đáp ứng các sản phẩm phụ trợ bằng cách xây các nhà máy hoặc mua từ các hãng nước ngoài khác. Đến nay, nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lực lượng nhà cung cấp phụ trợ đã trở nên đông đảo, các doanh nghiệp lắp ráp nước ngoài chuyển sang ký kết hợp đồng cung ứng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ này, nhờ thế giá thành sản phẩm hạ. Có thể nói chính các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Trung Quốc đã tạo nên sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2019 FDI vào Trung Quốc là 46,6 tỷ USD, năm 2020 là 50 tỷ USD, năm 2023 là 72,4 tỷ USD, riêng tháng 3 năm 2026 con số này là 9,28 tỷ USD. Theo các chuyên gia kinh tế, FDI tiếp tục tăng cho thấy Trung Quốc vẫn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bất chấp thuế áp dụng cho những công ty nước ngoài tăng, đó là do các nhà đầu tư an tâm rằng mình sẽ có lãi nhờ có được nguồn cung cấp các sản phẩm phụ trợ tại chỗ với giá rẻ, chất lượng đảm bảo từ phía các doanh nghiệp phụ trợ nhỏ nước này.
Về cải tiến công nghệ: Năm 1980 Trung Quốc có 375.400 doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này chủ yếu sử dụng công nghệ lạc hậu và hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp truyền thống. Đến nay, tham gia vào công nghiệp phụ trợ, đòi hỏi tất yếu phải đầu tư cho công nghệ nên mức trang bị công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc không ngừng được cải thiện. Thể hiện qua mức trang bị công nghệ và đầu tư cho tài sản cố định bình quân của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ từ 70- 90% tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Về đóng góp vào GDP và giải quyết việc làm: Nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ doanh thu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên đạt mức từ 1- 3 tỷ USD/ năm, nhờ đó đóng góp đáng kể vào GDP. Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Trung Quốc hiện đóng góp khoảng 10- 15% GDP cả nước. Các doanh nghiệp này cũng giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, chủ yếu là lao động ở nông thôn ra thành phố hay các khu chế xuất, khu công nghiệp làm việc. Tính đến năm 2023 các doanh nghiệp này đã tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp, thu hút 26% lực lượng lao động.
2. Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số ngành Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
2.1. Ngành ô tô, xe máy
- Đối với ngành ô tô
Chính phủ Trung Quốc luôn coi trọng việc phát triển ngành công nghiệp ô tô cho nước nhà. Ngay từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, để thực hiện tham vọng chính đáng đó, chính quyền Bắc Kinh đã tạo điều kiện bảo hộ và ưu ái hết mức ngành công nghiệp thời thượng này. Tuy nhiên, mọi việc không diễn ra đúng như những gì họ mong muốn. Chỉ được lác đác vài doanh nghiệp tạm gọi là lớn mạnh trong số hơn 2.500 công ty ôtô và linh kiện phụ trợ được nhà nước bảo hộ.
Cho đến giữa những năm 1980, với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt hấp dẫn, đã có nhiều hãng xe danh tiếng thế giới đầu tư vào Trung Quốc như Volkswagen của Đức, GM và Ford của Mỹ, Toyota của Nhật, Peugeot- Citroen và Fiat của Châu Âu. Tuy nhiên, thời gian đầu mới đầu tư vào Trung Quốc do công nghiệp phụ trợ chưa phát triển nên chủ yếu các doanh nghiệp này vẫn phải nhập khẩu linh kiện từ các nước có nền công nghiệp phụ trợ phát triển khác trong đó phải kể đến Nhật. Chính điều này đã làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Trung Quốc, khiến một thời gian sau đó nhiều nhà đầu tư muốn tháo lui.
Trong vài năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ngành chế tạo xe hơi Trung Quốc đạt được những tiến bộ đáng khâm phục. Giá trị xuất khẩu năm 2023 đạt 10,9 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2022. Hiện nay, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản và trở thành nước sản xuất ô tô lớn thứ 2 trên thế giới với tổng số xe sản xuất mỗi năm hơn 7,2 triệu chiếc. GM hiện là nhà sản xuất ô tô hàng đầu tại Trung Quốc. Năm 2024, GM bán được 876.747 xe; Volkswagen, liên doanh cả với SAIC và FAW, bán được 711.000 xe; Ford đối tác của Changan Auto, đạt mức tăng bán hàng kỷ lục, 87% với 166.722 xe; các nhà sản xuất xe Nhật Bản khác như Toyota, Honda, Nissan cũng đều đạt được mức tăng trưởng 2 con số. Đến hết năm 2025 đã có tổng cộng 47 triệu chiếc xe các loại lăn bánh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, với mức trung bình 44 chiếc/ 1000 dân. Các chuyên gia cho rằng công nghiệp ô tô Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới.
Trong số các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Trung Quốc hiện nay có khoảng 20% là các nhà sản xuất xe nội địa với các tên tuổi như Great Wall, SAIC, FAW, Changan Auto, Nam Kinh Auto,…Những công ty này cũng đã bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu để khẳng định ưu thế về thiết kế, công nghệ và đa dạng hoá sản phẩm với những chiếc xe mang bản sắc riêng của mỗi hãng. Mặc dù các kiểu dáng xe, phần lớn là “nhái” theo các mẫu xe của các hãng lớn do công nghiệp ô tô của Trung Quốc còn rất non trẻ nhưng xe Trung Quốc đã bắt đầu thách thức cả xe Âu Mỹ trên thị trường quốc tế do giá cả cạnh tranh, chất lượng chấp nhận được và mẫu mã đẹp. Theo đánh giá của một tạp chí của Mỹ, Trung Quốc có 10 mẫu xe được xem là có sức cạnh tranh cao và có thể bành trướng trên thị trường đó là: Great Wall Hover TT, Geely HQ, JAC A108, BYD F8, Lifan 620, SAIC Roewe 550, MG TF, Chery QQ3, Brilliance Junjie Wagen, Geely Tiger GT. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Những con số trên đây cho thấy, công nghiệp ô tô Trung Quốc tuy còn rất mới mẻ song đang có một đà tăng trưởng mãnh liệt. Trung Quốc đang trở thành miền đất hứa cho các tập đoàn chế tạo ô tô. Mặc dù còn nhiều hạn chế về chất lượng nhưng với giá rẻ và mẫu mã phong phú, xe nội địa Trung Quốc đang ngày càng chiếm lĩnh thị phần lớn.
Làm được điều này chính là nhờ các doanh nghiệp lắp ráp trong nước có được nguồn cung các linh kiện phụ tùng tại chỗ trong nước với chất lượng chấp nhận được và giá thành rất rẻ từ phía các nhà cung ứng nội địa nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay Trung Quốc có tới 4.172 hãng cung cấp đồ linh kiện ô tô( các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ 70%), với tổng doanh thu lên tới 550 tỷ NDT( 74,40 Tỷ USD). Năm 2025, Trung Quốc xuất khẩu 11,5 tỷ USD các đồ linh kiện ô tô, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước. Theo thống kê tại thị trường Mỹ quý I/ 2025, các hãng phụ tùng Trung Quốc đạt doanh số 1,936 tỷ USD tăng 27,4% so với năm 2024 và cao hơn các công ty Đức 2 triệu USD. Doanh thu kỷ lục này cao gấp 6 lần mức của 5 năm trước và còn có thể cao hơn nữa. Đến năm 2026, Trung Quốc đã đạt được thành công lớn khi tổng giá trị xuất khẩu xe hơi và phụ tùng ô tô đạt đến con số 120 tỷ USD, giúp Trung Quốc chiếm 10% thị phần xe hơi toàn cầu. Đây là thành quả xứng đáng cho những cố gắng của các công ty Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khả năng cạnh tranh của các công ty Trung Quốc nhờ sử dụng dây chuyền sản xuất giá rẻ, tận dụng nhân công phổ thông là không lâu dài bởi trên thực tế lợi nhuận trên từng thiết bị của Đức cao hơn nhiều.
Ngoài ra, sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp phụ trợ ở đất nước đông dân nhất thế giới này chủ yếu phụ thuộc vào giá nhân công thấp, nguyên vật liệu rẻ và công nghệ sản xuất lạc hậu làm ảnh hưởng lớn tới môi trường. Vì vậy, nếu bắt buộc phải tăng lương hay Chính phủ kiểm soát chất lượng môi trường cũng như tài nguyên thì những hãng này sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn trước sức ép công nghệ cao cấp của Nhật Bản và Đức.
- Đối với ngành xe máy Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
20 năm trước, Trung Quốc hầu như không có chuyên môn trong nước để sản xuất xe gắn máy cao cấp. Đầu những năm 1950, các xe máy Trung Quốc được hướng theo nhu cầu quân sự thô kệch. Những năm 1980, những công ty Nhật Bản như Honda, Yamaha và Suzuki mới lần đầu tiên được phép bước vào thị trường Trung Quốc. Từ đó đến nay, với sự nỗ lực học hỏi của mình, Trung Quốc đã tạo cho mình một ngành công nghiệp lắp ráp và chế tạo xe máy rất phát triển trong khu vực.
Xe máy không được coi là ngành trọng yếu trong công cuộc phát triển công nghiệp quốc gia, Chính Phủ Trung Quốc đã lấy nó làm thử nghiệm chính sách tự do kinh doanh. Khi các luật định nới lỏng những năm 1990, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân bước vào ngành công nghiệp này với tốc độ thịnh nộ và chẳng bao lâu qua mặt luôn các nhà máy quốc doanh trong cả việc sản xuất phụ tùng lẫn lắp ráp xe máy. Trong khi các nhà máy quốc doanh có xu hướng hợp tác thân thiện với người Nhật, các hãng tư nhân mới lại không có xu hướng đó. Các nhà chế tạo xe Trung Quốc đã bỏ nhiều năm để làm chủ công nghệ Nhật Bản. Nhiều công nhân Trung Quốc đã học gần như kịp thời các kỹ thuật sản xuất, vốn được trang bị bằng một nguồn lớn các tài năng địa phương có kỹ năng điều hành các cơ sở sản xuất cao cấp. Lifan là một trong nhiều công ty đã lợi dụng tình hình này để phát triển nhanh, từ một tiệm sửa xe với 9 nhân viên trở thành một nhà sản xuất 9.000 công nhân và có kim ngạch 7,3 tỷ NDT, sản xuất hơn 700.000 chiếc xe và phụ tùng cho khách hàng ở 12 nước. Trong nhiều năm, xe máy Trung Quốc chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam nhờ giá rẻ và mẫu mã đẹp. Các nhà chế tạo xe máy cũng như ô tô nước ngoài nhận định: họ không thể cạnh tranh nổi với xe Trung Quốc vì giá quá rẻ, gần như chạm sàn. Làm được điều này là nhờ hầu hết linh kiện của xe máy Trung Quốc đều được sản xuất trong nước và được cung cấp với giá cực rẻ bởi 100% các nhà sản xuất trong nước trong đó gần như tất cả là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sau 10 năm kể từ năm 2013 đến 2023 giá xe máy sản xuất ở Trùng Khánh để xuất khẩu cho Châu Á đã giảm từ 700 USD xuống còn 200 USD/ chiếc.
Năm 2022, các hãng xe máy Trung Quốc đã bán ra 15 triệu chiếc. Đến năm 2023, xuất khẩu xe máy Trung Quốc đạt 7 triệu chiếc/ năm. Xe máy Trung Quốc đã đe doạ các thị trường xuất khẩu châu á mà Honda, Yamaha và Suzuki từng thoải mái thống trị. Chỉ trong vòng chưa tới 10 năm, Honda, Yamaha, Suzuki đã mất hơn 40% thị phần vì các công ty Trung Quốc. Ngày nay, Trung Quốc còn sản xuất xe máy cho ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Việt Nam và gần như chiếm lĩnh một phần thị trường Châu Á. Lifan, Zongshen, Longxin, Jialing, Jianshe, Dachangjiang là những công ty đã giúp Trung Quốc trở thành vua của ngành công nghiệp này. Sản lượng xe máy Trung Quốc đã chiếm khoảng 50% chiếc bánh toàn cầu. Ngành công nghiệp xe máy Trung Quốc là một ví dụ tuyệt vời về cách sản xuất phân tán và ngang hàng kiểu như bách khoa trực tuyến Wikipedia.
Tuy nhiên, do quá chú trọng đến giảm giá thành mà xe máy Trung Quốc thường gặp các sự cố do các nhà lắp ráp tận dụng linh kiện không đồng bộ, phụ tùng bị sử dụng lẫn lộn giữa các kiểu xe và khung xe khác nhau, không đúng thiết kế ban đầu của nhà sản xuất. Một số loại phụ tùng trong xe Trung Quốc do thông số kỹ thuật không phù hợp, có sai lệch về kích thước nên chỉ được gá tạm vào xe. Nhiều loại bóng đèn lái, xi nhan không đạt công suất tiêu chuẩn. Ăcquy, IC, nhông xích, cam và tải, cụm phanh… cũng có rất nhiều lỗi. Kiểu sản xuất ồ ạt theo dạng suy luận ngược để bắt chước các thiết kế của Nhật mà không chú ý đảm bảo chất lượng đã làm cho xe Trung Quốc đang mất dần thị trường.
Nhìn chung, ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành xe máy Trung Quốc rất phát triển nhưng còn thiếu về chiều sâu, công nghệ đa số là công nghệ lạc hậu.
2.2. Ngành dệt may Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Trung Quốc đã cải cách ngành dệt may từ hơn 2 thập kỷ trước. Khi nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu mở cửa vào đầu thập kỷ 80, các công ty may mặc Hồng Kông đã di dời cơ sở sản xuất của họ sang vùng đất lân cận- Thẩm Quyến- chỉ cách Hồng Kông có một chuyến phà. Sau đó, lần lượt các nhà đầu tư Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc cũng chen chân nhau đen Trung Quốc.
Các nhà đầu tư nước ngoài, theo Luật đầu tư nước ngoài của Trung Quốc, phải thành lập liên doanh với các doanh nghiệp Trung Quốc mà phần lớn trong số đó là các doanh nghiệp nhà nước. Đến giữa thập kỷ 90, Trung Quốc đã trở thành nhà xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, đồng thời phải đối mặt với vấn đề dư thừa năng lực sản xuất trầm trọng. Trong vòng 3 năm, chính phủ phá bỏ gần 10 triệu trục kéo sợi, làm cho hơn 1 triệu công nhân thất nghiệp.
Ngày nay, có khoảng 300.000 nhà xuất khẩu hàng dệt may ở Trung Quốc. Các doanh nghiệp nước ngoài và tư nhân chiếm 4/5 trị giá xuất khẩu mặt hàng này. Hiện Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may. Ngành dệt may Trung Quốc phát triển quá nhanh khiến chính phủ nước này phải tăng thuế xuất khẩu đối với mặt hàng này để kiềm chế xuất khẩu nhằm tránh những biện pháp đối kháng xuất phát từ nỗi e ngại về dệt may Trung Quốc của các nước khác.
Ngành dệt may Trung Quốc vốn là một ngành truyền thống nên các doanh nhân Trung Quốc rất có kinh nghiệm trong kinh doanh mặt hàng này. Bên cạnh đó, giá nhân công và nguyên liệu rẻ cùng với sự hỗ trợ của các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu trong nước chính là các yếu tố quan trọng làm nên thành công của dệt may Trung Quốc. Cho đến nay, Trung Quốc có hàng ngàn doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí có những xí nghiệp quy mô rất nhỏ cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho ngành dệt may. Trung Quốc đã sản xuất được trên 80 % nguyên phụ liệu cho ngành này. Điều này là lợi thế hơn hẳn của Trung Quốc so với các nước có lợi thế tương tự về lao động, trong đó có Việt Nam. Chúng ta hàng năm phải nhập từ 70- 80% nguyên phụ liệu cho ngành dệt may.
Sức cạnh tranh của ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may có được một phần là nhờ phương cách one- stop- shopping, theo đó các nhà máy nối kết với nhau, sử dụng nguyên liệu có sẵn để thực hiện tất cả các khâu: kéo sợi, dệt, nhuộm, cắt và may.
Hiện nay, để tăng sức cạnh tranh và chống lại những biện pháp “trả đũa” của các nước phương tây, Trung Quốc hiện đang giảm sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng dệt may giá rẻ, chuyển dần sang sản xuất các sản phẩm cao cấp. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ cũng không ngừng đổi mới để theo kịp và hỗ trợ tốt nhất cho ngành dệt may. Theo đó, chỉ riêng trong 2 năm 2020- 2021, các công ty dệt Trung Quốc đã đầu tư tới 25 tỷ USD để nâng cấp công nghệ và hợp lý hóa sản xuất cho các doanh nghiệp ngành may và doanh nghiệp nhỏ phụ trợ cho ngành này.
2.3. Ngành điện điện tử Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Nhiều thập kỷ trước người tiêu dùng thế giới chỉ quen với các sản phẩm điện, điện tử của các nước như Nhật Bản, Đức, Mỹ,… Trung Quốc thậm chí phải nhập khẩu với lượng lớn các sản phẩm này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Sau khi các tập đoàn lớn đầu tư vào Trung Quốc thì bộ mặt ngành điện, điện tử Trung Quốc đã có những thay đổi khác hẳn. Sản phẩm điện, điện tử có mác “ made in China” có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là ở những nước đang phát triển. Thời kì đầu các sản phẩm này chủ yếu là đồ gia dụng và những sản phẩm yêu cầu công nghệ trung bình và thấp. Trong những năm gần đây, các thiết bị điện, điện tử Trung Quốc càng ngày càng có hàm lượng và trình độ công nghệ cao. Các sản phẩm như ti vi, tủ lạnh, máy tính, máy điều khiển tự động,… đang ngày càng chiếm thị phần lớn trên thế giới, ngay tại những thị trường mà trước đây Nhật bản được coi là nhà cung cấp duy nhất và số một.
Các nhà chế tạo chủ chốt của ngành điện tử và thông tin Trung Quốc đã đạt giá trị sản lượng 1.060 tỷ NDT( 151 Tỷ USD) trong quý I/ 2026, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của ngành điện tử và thông tin Trung Quốc đang có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong 3 tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp điện tử chủ chốt ở Trung Quốc đã đầu tư 50,79 tỷ NDT vào các tài sản cố định, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào ngành này trong quý I/ 2026 là 46,9 tỷ USD. Chiếm tỷ trọng lớn trong các số vốn đầu tư trên là đầu tư cho máy móc và công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm mà vẫn đảm bảo giá thành chấp nhận được nhờ tăng cường cho công nghiệp phụ trợ.
Để tạo điều kiện cho ngành điện tử phát triển, năm 2022 Trung Quốc đã có 3 công viên phần mềm quan trọng là: Qilu Software Park tại Sơn Đông, Shanghai’s Pudong Software Park, Yangtze River Software Belt với số vốn đầu tư lần lượt là 2,5 tỷ USD, 300 triệu USD, 277 triệu USD. Ba công viên phần mềm này đã hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp điện tử Trung Quốc.
Hiện nay ngành điện tử Trung Quốc tập trung sản xuất 3 loại sản phẩm là sản phẩm trung gian, máy tính và thiết bị truyền thông. Đặc biệt, kể từ năm 2018, với sự ra đời của “chiến lược đầu tư phát triển sản xuất thiết bị điện tử và bán thành phẩm” thì ngành công nghiệp phụ trợ cho điện tử Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cho tới nay, Trung Quốc đã có trên 2018 doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho các nhà sản xuất lớn. Chẳng hạn như hãng điện thoại danh tiếng thế giới Nokia, đã đầu tư 1,2 tỷ USD để xây dựng 15 nhà máy ở Bắc Kinh với doanh thu hàng năm lên đến 6 tỷ USD. Các hãng điện tử khác như Toshiba, Matsushita, Mitsubisi, NEC cũng đã tìm được các nhà cung cấp linh kiện nội địa đáng tin cậy là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp phụ trợ cho ngành điện tử hiện nay chủ yếu dựa vào công nghệ của Hoa Kỳ, hoạt động sản xuất chủ yếu dựa trên hình thức liên kết với các OEM đến từ Đài Loan, Nhật Bản hay Mỹ do vậy chưa có đủ tính tự lập, rất phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài. Vì vậy, để đảm bảo một sự phát triển bền vững, các doanh nghiệp phụ trợ trong ngành điện- điện tử nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải chủ động hơn trong việc ứng dụng công nghệ, tách dần khỏi sự phụ thuộc vào nước ngoài. Có như vậy, sự thành công của công nghiệp phụ trợ mới thực sự mang lại lợi ích lâu dài cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
III. Đánh giá chung về thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc
1. Những thành công đạt được
Trong những năm qua, Trung Quốc được đánh giá là quốc gia thành công nhất tại khu vực trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ một cách nhanh chóng để thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế đất nước. Nhờ phát triển công nghiệp phụ trợ mà Trung Quốc đã biến những ngành công nghiệp như ô tô, xe máy, điện tử… đi từ không đến có, đi từ chỗ phải nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước đến chỗ chiếm lĩnh thị trường thế giới.
Giai đoạn đầu, để thực hiện phát triển công nghiệp phụ trợ, Trung Quốc chủ yếu sử dụng các công nghệ vay mượn của các nước phát triển thông qua các liên doanh. Trong các ngành như ô tô, dệt may,… thời gian đầu khi đầu tư vào Trung Quốc các nhà đầu tư bắt buộc phải liên doanh với các công ty nội địa. Một thành công nữa là việc nhập khẩu có chọn lọc các dây chuyền công nghệ cũng như một số mặt hàng cần thiết để xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ.
Nói chung, chỉ sau một thời gian phát triển, ngành công nghiệp phụ trợ đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của mình cũng như của ngành công nghiệp nói chung, đưa Trung Quốc thực sự trở thành một công xưởng khổng lồ của thế giới. công nghiệp phụ trợ đã trở thành lựa chọn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc hiện nay khi đăng ký ngành nghề kinh doanh. Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ hiện nay đang không ngừng lớn mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng.
Các doanh nghiệp phụ trợ Trung Quốc ngày càng hướng tới đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm để đứng vững trên thị trường. Hiện nay, các doanh nghiệp Trung Quốc nói chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng đều đã nhận thức rằng thời kỳ bành trướng thị trường bằng giá rẻ đã qua, giờ là lúc phải khẳng định chỗ đứng của mình trên thương trường bằng chất lượng và uy tín. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia và đứng vững trong dây chuyền sản xuất mang tính toàn cầu của các tập đoàn nước ngoài.
2. Những hạn chế. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Tuy đã gặt hái được nhiều thành công song việc phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc vẫn còn một số hạn chế nhất định. Mặc dù Trung Quốc rất mạnh trong nhiều ngành công nghiệp phụ trợ song có chưa nhiều những công ty Trung Quốc có thể tự tạo được sự nổi tiếng. Gần 60% hàng xuất khẩu được sản xuất bởi các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Nói chung, các công ty này tiến hành các hoạt động như nghiên cứu, phát triển, kinh doanh, vận chuyển và phân phối sản phẩm bên ngoài Trung Quốc. Trung Quốc vẫn chưa phát triển được những kỹ năng và năng suất để đáp ứng được các thị trường quốc tế, để sáng tạo công nghệ và phát triển hệ thống dịch vụ với quy mô của một nước tư bản tiên tiến. Vai trò công nghiệp của Trung Quốc như là một máy xử lý các nguyên liệu đầu vào nhập từ các nước khác tạo ra giá trị gia tăng tương đối thấp.
Thứ nữa là vấn đề chất lượng của các sản phẩm công nghiệp phụ trợ Trung Quốc còn thấp. Trung Quốc chủ yếu dựa vào giá lao động rẻ, tài nguyên sẵn có để cắt giảm giá thành còn phần lớn vẫn đang dùng công nghệ lạc hậu. Tình trạng này không thể đem lại sự phát triển lâu dài, bền vững. Khóa luận: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN


Pingback: Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp