Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Bài học cho Việt Nam trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
1. Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
1.1. Tổng quan ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
Thuật ngữ công nghiệp phụ trợ được quan tâm nhiều ở Việt Nam kể từ năm 2021 trở lại đây. Và kể từ đó đến nay, Chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn sơ khai, yếu kém, manh mún. Số lượng các doanh nghiệp phụ trợ nội địa mới chỉ dừng lại ở khâu sản xuất các chi tiết, linh kiện đơn giản .
Nhìn chung, tình trạng ngành công nghiệp phụ trợ của ta hiện nay còn yếu, cả về các doanh nghiệp phụ trợ lẫn các sản phẩm phụ trợ.
- Các doanh nghiệp phụ trợ
Cho đến nay, công nghiệp phụ trợ chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp và giá thành cao( do công nghệ lạc hậu, quản lý kém… ) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nhà nước. Một bộ phận khác là các hộ kinh doanh cá thể( phần lớn sản xuất những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp) đang gặp khó khăn về vốn và công nghệ.
Kể từ khi Luật doanh nghiệp năm 2018 và Luật doanh nghiệp sửa đổi năm 2023 được thi hành, nhờ sự tự do hơn và đơn giản hơn trong các thủ tục, quy định thì đã có nhiều doanh nghiệp mới thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, con số vẫn còn rất hạn chế.
Do việc tiếp cận nguồn vốn gặp quá nhiều trở ngại do giá trị thế chấp nhỏ, không có khả năng bảo lãnh tín dụng, … đã khiến cho các doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu hoặc trung bình dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, thậm chí rất thấp, không đảm bảo yêu cầu của các nhà lắp ráp. công nghiệp phụ trợ cho ngành lắp ráp là một ví dụ. Theo thống kê của Bộ Công nghiệp, hiện nay có trên 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đạt trên 260 triệu USD, nhưng so sánh thì chất lượng kém hơn nhiều so với của Nhật, Thái Lan, Đài Loan. Ngoài ra hệ thống phân phối phụ tùng, chủng loại sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của các doanh nghiệp này cũng còn nhiều hạn chế. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Một tình trạng nữa cũng xảy ra là tình trạng một số doanh nghiệp làm ăn manh mún, nhỏ lẻ, chụp giật gây mất uy tín của các doanh nghiệp phụ trợ khác, làm ảnh hưởng xấu đến thị trường đầu ra cho cho sản phẩm của các doanh nghiệp làm ăn cẩn thận.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nội địa cũng đã đạt được một số thành công đáng kể trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo, giày dép, dụng cụ làm bếp…
- Sản phẩm phụ trợ
Hầu hết các ngành công nghiệp phụ trợ gần như chỉ mới phát triển ở khu vực hạ nguồn( lĩnh vực gia công công đoạn cuối của sản phẩm). Khu vực thượng nguồn, bao gồm các ngành sản xuất nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng còn kém phát triển. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp trong nước thiếu vốn và công nghệ nên chỉ tập trung sản xuất các linh kiện, phụ tùng có kích thước cồng kềnh, sử dụng công nghệ trung bình, không quá phức tạp, trong khi đó, các doanh nghiệp lắp ráp nhập khẩu linh kiện nhỏ gọn từ các công ty nước ngoài vừa đảm bảo chất lượng mà vẫn đảm bảo tính kinh tế. Hiện tượng này có thể thấy rõ trong một số ngành tiêu biểu sau:
CNPT lắp ráp: Chúng ta có một số công ty và doanh nghiệp có công nghệ và đang sản xuất phụ tùng lắp ráp. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp ứng được yêu cầu ( đặc biệt là cho các nhà lắp ráp nước ngoài) do chất lượng kém, độ chính xác thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn đối tác. Câu chuyện về cái ốc vít như là một điển hình cho sự yếu kém này của công nghiệp phụ trợ Việt Nam. Ông Trần Quang Hùng, Tổng thư ký hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết, công ty Canon đã khảo sát hơn 20 doanh nghiệp sản xuất ốc vít trong nước nhưng không tìm được loại ốc vít đạt yêu cầu. Một doanh nghiệp FDI ô tô khác vài năm trước cũng đã lặn lội đến 64 doanh nghiệp chỉ để tìm nhà cung cấp ốc vít đạt tiêu chuẩn cũng không có. Có thể nói, công nghiệp phụ trợ cho ngành lắp ráp Việt Nam còn quá yếu.
CNPT đúc nhựa: Có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đúc nhựa nhưng chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng thông thường. Trong ngành công nghiệp điện hiện nay có rất ít doanh nghiệp có khả năng sản xuất các linh kiện nhựa đúc dùng trong sản phẩm công nghiệp, chúng ta vẫn phải sử dụng sản phẩm chế tạo từ nước ngoài để sản xuất thiết bị điện gia dụng và văn phòng.
CNPT dệt may: là ngành có thị trường lớn nhưng do chưa có chính sách khuyến khích phù hợp nên lĩnh vực công nghiệp phụ trợ vẫn chậm phát triển. Hàng năm, ngành may sử dụng không dưới 500 triệu mét vuông vải để làm hàng xuất khẩu nhưng đến 80% vải cung cấp cho ngành may xuất khẩu lại đến từ nước ngoài. Hơn nữa, trên 80% nguyên phụ liệu cho ngành may được nhập khẩu do trong nước không đáp ứng và do được miễn thuế hoàn toàn.
1.2. Chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Chính sách nội địa hoá
Nội địa hoá được hiểu là quá trình sản xuất ra các sản phẩm để thay thế cho nhập khẩu. Xét về bản chất, nội địa hoá không thể tách rời với nâng cao năng lực công nghệ sản xuất và trình đội sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước. Đẩy mạnh nội địa hóa sản xuất cũng có nghĩa là đặt những bước đi đầu tiên, hướng các doanh nghiệp quan tâm cách tiếp cận mới, điều chỉnh lại cơ cấu sản phẩm và đầu tư cho phù hợp với trình độ công nghệ mới trên thế giới.
Mặt khác, chính sách nội địa hoá là một biện pháp giúp nâng cao tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước trước những doanh nghiệp phụ trợ nước ngoài, đồng thời bảo hộ nền sản xuất còn non trẻ trong nước.
Nhà nước ta đã đưa ra những quy định về tỷ lệ nội địa hóa, phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa, mục tiêu về tỷ lệ nội địa hoá cho từng ngành cụ thể, trong đó được quan tâm nhiều nhất là ngành chế tạo và lắp ráp. Phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hoá: căn cứ theo Quyết định số 27/2022/QĐ – BKHCN ban hành ngày 01/10/2022. Theo đó, tỷ lệ nội địa hoá là số điểm của linh kiện sản xuất trong nước so với tổng số điểm của sản phẩm hoàn chỉnh.
Như vậy, chính sách nội địa hoá buộc các doanh nghiệp lắp ráp phải tìm nguồn linh kiện trong nước, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ phát triển. Tuy nhiên, chính sách này hiện đang được thay dần bằng các quy định khác phù hợp hơn vì một số nguyên nhân:
- Chiến lược phát triển công nghiệp lấy phát triển công nghiệp phụ trợ làm trọng tâm thay vì chỉ lắp ráp như hiện nay
- Các quy định bắt buộc tỷ lệ nội địa hoá không phù hợp với các điều khoản tại Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại( TRIMS) Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Cách xác định số điểm cho linh kiện, phụ tùng là rất khó chính xác và phức tạp.
Chính sách về thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng Thuế nhập khẩu ảnh hưởng đến giá nhập khẩu linh phụ kiện do đó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp phụ trợ trong nước.
Việt Nam đánh thuế nhập khẩu đối với linh phụ kiện thấp hơn sản phẩm hoàn chỉnh và không khuyến khích việc nhập khẩu linh kiện, phụ tùng mà nước ta có thể sản xuất trong nước.
Trước đây, thuế nhập khẩu đối với linh phụ kiện được tính theo tỷ lệ nội địa hóa theo đó tỷ lệ nội địa hoá càng cao thì thuế suất càng giảm, nếu doanh nghiệp nào không đăng ký tỷ lệ nội địa hoá thì không được nhập khẩu linh kiện. Theo Thông tư liên tịch số 176/2016/TTLT- BTC- BCN- TCHQ, thuế suất thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá được áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh thuộc ngành cơ khí- điện-điện tử( có thuế suất thuế nhập khẩu từ 30% trở lên); lắp ráp phụ tùng của các sản phẩm hoàn chỉnh nêu trên( có thuế suất nhập khẩu từ 30% trở lên). Nay theo Quyết định số 43/2024/ QĐ- BTC các lô hàng linh kiện, phụ tùng nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp thuộc các ngành trên có Tờ khai hải quan đăng kỹ với cơ quan hải quan kể từ ngày 1/10/2024 sẽ áp dụng chính sách thuế nhập khẩu theo quy định hiện hành. Tuy nhiên mức thuế này vẫn còn rất cao so với các nước khác trong khu vực. Căn cứ theo Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam để thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc( ban hành kèm theo Quyết định số 26/2025/QĐ- BTC ngày 16/04/2025 của Bộ trưởng Bộ tài chính thì các bộ phận, linh kiện phụ tùng cho một số loại xe vẫn ở mức cao. Ví dụ như bộ chế hoà khí, bộ ly hợp, hộp số, hệ thống khởi động, nan hoa, mũ nan hoa, … là 40%. Hiện nay Chính phủ đang xem xét tiếp tục giảm thuế nhập khẩu đối với linh, phụ kiện trong thời gian tới để phù hợp với các cam kết song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia ký kết.
2. Thực trạng công nghiệp phụ trợ ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
2.1. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Cũng giống như nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong đó có Trung Quốc, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam mới được thừa nhận địa vị pháp lý và vị trí của mình từ sau khi nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. Nó đóng vai trò quan trọng, góp phần gìn giữ và phát triển những ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm và thu hút các nguồn lực trong dân một cách linh hoạt, hiệu quả.
Theo thống kê của Tổng cục thống kê, tính đến tháng 6 năm 2023 nước ta có 125.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ với tổng số vốn đăng ký là 243.387 tỷ đồng, chiếm 96% tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay là thuộc sở hữu tư nhân. Năm 2024 các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp 26% tổng sản phẩm xã hội, 31% tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Về vấn đề việc làm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần tạo ra 49% việc làm ở khu vực phi nông nghiệp và thu hút 26% lực lượng lao động cả nước.
Hiện nay, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhà nước có xu hướng giảm nhưng tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ không ngừng gia tăng. Năm 2019, tốc độ gia tăng số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ là 25,52%, đến năm 2022 đã tăng lên 29,2%. Điều này cho thấy sự phát triển không ngừng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo chỉ đạo của Chính phủ, đến năm 2028, cả nước hướng tới sẽ có 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo việc làm cho khoảng 20 triệu người.
2.2. Thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ
Về số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành công nghiệp phụ trợ: Hiện nay cơ cấu các loại hình công ty tham gia công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam gồm 3 loại hình doanh nghiệp cơ bản là:
- Doanh nghiệp nhà nước Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Doanh nghiệp ngoài nhà nước ( bao gồm doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn)
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài( gồm liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài)
Trong số các loại hình này, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ. Nguyên nhân muôn thuở vẫn là vốn nhỏ, công nghê, trình độ quản lý, marketing hạn chế và sự đòi hỏi khắt khe của các nhà lắp ráp. Có thể nói ước mơ có được một văn phòng công nghiệp phụ trợ của người Việt trên Internet để hàng ngày cập nhật thông tin về nhà cung cấp linh phụ kiện cho các ngành công nghiệp và nhu cầu của các doanh nghiệp lắp ráp vẫn còn ở rất xa. So sánh với các nước khác để thấy được tỷ trọng quá nhỏ bé của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong ngành công nghiệp phụ trợ: ở Nhật Bản hay Đài Loan số các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia công nghiệp phụ trợ chiếm tới trên 95%, trong khi ở Việt Nam để phục vụ cho hàng trăm doanh nghiệp lắp ráp chỉ có vài chục doanh nghiệp phụ trợ mà chủ yếu lại là liên doanh nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dường như không có thị phần gì trong ngành này. Theo ông Sachio Kagayama, tổng giám đốc công ty Canon Việt Nam: “ Điều rất đáng tiếc là có quá ít doanh nghiệp Việt Nam làm công nghiệp phụ trợ, nếu có thì chủ yếu tham gia khâu đóng gói, bao bì còn cung cấp những linh- phụ kiện hỗ trợ chủ yếu cho chúng tôi lại không có mấy. Trên thực tế, nếu phải tiến hành nhập từ các quốc gia thứ ba như Trung Quốc hay Thái Lan thì chắc chắn giá thành sẽ bị đẩy lên cao. Do đó, nhất thiết phải có các nhà cung cấp của Việt Nam. Hiện tại, 99% nhà cung cấp cho chúng tôi đều là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Một ví dụ trong ngành công nghiệp ô tô là công ty Xuân Kiên, một công ty lớn với số vốn 400 tỷ đồng và mức tiêu thụ 3-4 nghìn xe/ năm, vậy mà chỉ có 1 nhà cung cấp linh kiện trong nước ( ắc quy GS) còn lại đều nhập khẩu từ nước ngoài.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang hoạt động trong môi trường kinh tế chưa hoàn toàn thuận lợi cả tầm vĩ mô và vi mô. Trong đó gặp nhiều khó khăn về công nghệ sản xuất kinh doanh, mô hình quản lý, tiến bộ, kỹ năng của đội ngũ lãnh đạo và tay nghề của người lao động, phương thức tiếp thị sản phẩm đặc biệt là sự tiếp cận thông tin và dịch vụ tài chính, vốn đầu tư….Theo anh Vũ Hồng Quân, giám đốc công ty TNHH Thiết bị, máy văn phòng Việt Quang Q&Q thì khó khăn lớn nhất của Q&Q cũng như nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ chính là vấn đề vốn, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm. Bởi lẽ, công ty anh sản xuất bánh răng, nhông xích các loại… đã được 5 năm nhưng phần lớn chỉ bán được cho tư nhân và chỉ khi nào không tìm được sản phẩm của các hãng lớn trên thị trường.
Về sản phẩm của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ: Do yếu kém về công nghệ và hạn chế về vốn, các doanh nghiêp phụ trợ vừa và nhỏ Việt Nam chủ yếu sản xuất các sản phẩm đơn giản, đòi hỏi ít vốn và công nghệ thấp. Các mặt hàng chủ yếu hiện nay là săm lốp, ghế ngồi, dây điện, một số sản phẩm nhựa, ốc vít, … Các sản phẩm đòi hỏi trình độ công nghệ cao như bộ chế hoà khí, bộ ly hợp, hộp số,… dùng cho ô tô xe máy, vi mạch điện tử,… chủ yếu vẫn nhập khẩu từ nước ngoài.
Về lao động: Khả năng giải quyết việc làm cho người lao động của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ nước ta chưa cao( bình quân 1DNVVN ở nông thôn sử dụng khoảng 30 lao động). Trình độ người lao động cũng như năng lực và trình độ quản lý của đội ngũ chủ doanh nghiệp rất thấp( người lao động có trình độ trung học phổ thông 35%, nghệ nhân 0,06%, trung cấp trở lên 9,8%). Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Về đóng góp GDP: Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ ngày càng đóng góp nhiều hơn tổng sản phẩm quốc nội tuy nhiên tỷ lệ này còn hạn chế: ở con số dưới 10%; tỷ trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp phụ trợ rất nhỏ: thiết bị văn phòng, máy tính chỉ chiếm 0,4%; sản xuất thiết bị điện, điện tử viễn thông chiếm 4,7%; sản xuất thiết bị chính xác chiếm 0,2%. Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, nhất là các ngành sản xuất máy móc phát triển chậm, phần lớn vẫn dừng ở việc sản xuất những máy móc và phụ tùng thông thường, tỷ trọng trong toàn ngành chỉ từ 1,5-1,6%.
Nhìn chung, ở nước ta, quy mô doanh nghiệp phụ trợ còn hạn chế, công nghê lạc hậu, khả năng cạnh tranh rất thấp, sản xuất kinh doanh mang tính chất tự phát, thiếu định hướng mất cân đối, phân bổ không đều, tổ chức kinh doanh thiếu chặt chẽ, rất ít doanh nghiệp áp dụng phương thức quản lý- kinh doanh hiện đại, bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh, tình trạng thiếu vốn hoạt động, mặt bằng sản xuất và thông tin còn phổ biến. Khoảng 60% doanh nghiệp không đủ vốn pháp định theo luật định, 50% không đủ vốn lưu động tương ứng với quy mô hoạt động. Khoảng 66,7% doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất. Khoảng 20% doanh nghiệp tiếp cận được thông tin từ các thương vụ mà chủ yếu là thông qua internet nên chất lượng thông tin không cao.
Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Việt Nam hiện đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức trong kinh doanh, cần được hỗ trợ về nhiều mặt để có thể vượt qua các rào cản, phát huy tính tích cực của mình, đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế và xây dựng nên nền công nghiệp phụ trợ tiên tiến, hiện đại trong khu vực.
3. Đánh giá chung quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Cả công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đều còn rất non trẻ. Chính phủ nước ta cũng đã có những chính sách thiết thực để phát triển ngành công nghiệp non yếu này cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quá trình đó cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định song cũng còn nhiều hạn chế cần khắc phục.
3.1. Thành tựu
CNPT Việt Nam thời gian qua đã đạt được một số thành công bước đầu:
- Các cơ sở công nghiệp phụ trợ đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ bước đầu phát triển phục vụ cho nhu cầu lắp ráp các sản phẩm tiêu thụ nội địa.
- Nhiều doanh nghiệp đã có xu hướng đầu tư chiều sâu, chuyển sang sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chất lượng sản phẩm nâng cao dần.
- Một số doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tham gia và đứng vững trong dây chuyền sản xuất mang tính toàn cầu của các tập đoàn nước ngoài.
3.2. Hạn chế
- Sức cạnh tranh của sản phẩm phụ trợ nội địa thấp do năng suất lao động thấp, giá thành cao, chất lượng không ổn định, thời hạn giao hàng không đảm bảo.
- Kinh tế thị trường chậm phát triển, môi trường kinh tế chưa tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ mạnh dạn đầu tư vào các khâu sản xuất phụ trợ với định hướng phát triển lâu dài, bền vững.
- Văn hoá kinh doanh của các doanh nghiệp chưa cao, thiếu sự phối hợp và chuyên môn hoá, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thiếu lành mạnh
- Thiếu sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước với các công ty lắp ráp nước ngoài, giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cùng ngành.
II. Bài học kinh nghiệm từ trung quốc trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng, chẳng hạn như chưa có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh do mới được thừa nhận vai trò của mình từ sau cải cách kinh tế, có cơ cấu các loại hình doanh nghiệp, sử dụng lợi thế so sánh tương tự nhau, đều gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và trình độ … Nhưng vượt qua khó khăn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng khâm phục trong nhiều lĩnh vực, điều mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa làm được.
Trong quá trình hội nhập và đổi mới các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc không những bảo vệ đựoc thị trường nội địa mà còn chiếm lĩnh thị trường thế giới, không chỉ trong những ngành có lợi thế so sánh như dệt may, da giày,… mà cả trong những ngành trước đây bất lợi thế so sánh như lắp ráp, chế tạo, công nghệ thông tin… đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu và tổng sản phẩm quốc dân, giải quyết được vấn đề sức ép về lao động dư thừa ở nông thôn và lực lượng thất nghiệp do cải cách doanh nghiệp, góp phần đưa nền công nghiệp phụ trợ Trung Quốc từ chỗ không có gì đến chỗ là nền công nghiệp phụ trợ phát triển bậc nhất trong khu vực. Tính đến tháng 6 năm 2022, Trung Quốc có 3,2 tỷ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó 23 triệu doanh nghiệp tham gia sản xuất công nghiệp và thương mại, đóng góp trên 1/2 GDP của cả nước. Điều gì đã làm nên thành công của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc. Sau đây là một số bài học được đúc rút từ chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Trung Quốc.
1. Thống nhất nhận thức, quan điểm về phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trước khi thực hiện cải cách kinh tế, công nghiệp phụ trợ cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những khái niệm dường như không được biết đến ở Trung Quốc. Thực tế, trước thời kỳ mở cửa, ở Trung Quốc chỉ cho phép tồn tại một loại hình sở hữu duy nhất là sở hữu công cộng dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Tất cả các nhà máy, cơ sở sản xuất trước cách mạng đều bị quốc hữu hoá và việc quốc hữu hoá có thể diễn ra bất cứ lúc nào bởi mệnh lệnh hành chính. Doanh nghiệp tư nhân từng bị coi là “cái đuôi của chủ nghĩa tư bản”, từng bị cấm thành lập.Trải qua các quá trình phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ được coi như thành phần “bổ sung” cho các doanh nghiệp nhà nước rồi được coi trọng và “cùng phát triển” với các thành phần kinh tế khác. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
CNPT cũng có chỉ mới được hình thành và phát triển ở Trung Quốc trong những năm gần đây. Có thời kỳ, công nghiệp phụ trợ chỉ được coi như một ngành sản xuất ăn theo, sản xuất những mặt hàng còn thiếu cho ngành gia công, lắp ráp đơn thuần còn con đường để thực hiện công nghiệp hoá đất nước là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Thế nhưng hiện nay, phát triển công nghiệp phụ trợ được coi là mũi đột phá chiến lược trong chính sách phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư của Trung Quốc.
Vậy điều gì đã làm nên những thay đổi đó. Đó chính là vấn đề nhận thức. Chúng ta đều biết đến mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa nhận thức và thực tiễn. Nhận thức đóng vai trò soi đường cho thực tiễn và thực tiễn kiểm chứng tính đúng đắn của lý luận nhận thức. Nhận thức đúng sẽ chỉ ra con đường đi đến thành công. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc ra chính sách, hoạch định chiến lược hay ban hành luật. Bởi chính sách không phải chỉ đi truớc thực tiễn (thậm chí có khi thực tiễn rất lâu sau mới xảy ra) mà còn phải dẫn đường và kiểm soát thực tiễn. Điều này rất dễ nhận thấy ở những nước đang phát triển, đang trong quá trình đổi mới. Ví dụ như với chính sách về công nghiệp phụ trợ có từ những năm thập niên 90 nhưng đến gần đây công nghiệp phụ trợ Trung Quốc mới thực sự lớn mạnh. Nếu không có chính sách chung soi đường chẳng phải công nghiệp phụ trợ Trung Quốc đến giờ sẽ vẫn phát triển một cách tự phát và manh mún hay sao?
Ngay sau khi nhận thức được vai trò của công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phát triển kinh tế, Trung Quốc thực hiện sự nhất quán trong toàn Đảng, toàn dân và thông qua các kỳ Đại hội Đảng để thường xuyên thống nhất lại quan điểm phát triển. Tất cả các cấp chính quyền từ địa phương đến Trung Ương, tất cả các thành phần kinh tế đều thống nhất chung một quan điểm. Đây là điểm mà Việt Nam chưa làm được khi mà bước đầu phát triển công nghiệp phụ trợ khái niệm công nghiệp phụ trợ được hiểu theo nhiều cách khác nhau, rất mơ hồ thậm chí cho đến nay một số cơ quan nhà nước hữu quan cũng chưa thật sự hiểu rõ về bản chất của ngành công nghiệp phụ trợ. Thống nhất quan điểm, quán triệt tư tưởng phát triển chính là tạo nên sức mạnh tập thể đoàn kết thống nhất để hoàn thành tốt mục tiêu.
Trung Quốc cho đến nay đang kiên trì thực hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và đổi mới nền kinh tế dựa trên cơ sở lý luận Đặng Tiểu Bình. Riêng về phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo lý luận đó, Trung Quốc tập trung thực hiện công nghiệp hoá mới bằng cách đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại, lấy tin học hoá để thúc đẩy công nghiệp hoá, phát triển một nền công nghiệp phụ trợ vững mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thế giới; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các thành phần kinh tế, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiến tới hình thành các tập đoàn doanh nghiệp lớn… Có thể nói hầu như tất cả người dân Trung Quốc đều nắm được quan điểm phát triển này của đất nước nên họ ra sức đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước. Đối với những người muốn kinh doanh, đầu tư, đi đến đâu họ cũng nhận được một quan điểm hướng dẫn chung, bên cạnh đó, các doanh nghiệp luôn được chỉ đạo bởi một hệ thống luật chung, thống nhất, ổn định như Luật công ty, luật đầu tư, luật phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ,… nên có thể yên tâm đầu tư mà không lo ngại gì. Hiện nay các chính sách không còn là vấn đề mới đối với bất cứ nền kinh tế nào. Nhưng nếu xét ở giai đoạn những năm 1980 thì có thể nói chính cái nhìn chung, thống nhất về phát triển công nghiệp phụ trợ của các nhà lãnh đạo đã làm nên bộ mặt mới cho ngành công nghiệp này ở Trung Quốc.
2. Triển khai đồng bộ và nhanh chóng đồng thời các biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia công nghiệp phụ trợ. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Chúng ta đã biết công nghiệp phụ trợ là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao. Đây lại là những điểm hạn chế nhất của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì thế để phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể chỉ giúp vốn hay công nghệ mà phải đồng thời thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ khác nhau. Điều này chính phủ Trung Quốc đã làm rất tốt từ trung ương đến địa phương. Trung Quốc đã đưa ra cùng lúc và triển khai kịp thời các chính sách như hỗ trợ vốn, công nghệ, thông tin,mặt bằng sản xuất, môi trường kinh doanh, thị trường đầu ra … Để thực hiện đồng thời cùng lúc nhiều chính sách như vậy, đòi hỏi Chính phủ phải có tiềm lực lớn và khả năng kiểm soát tốt. Về điều này, nước ta còn nhiều thua kém và hạn chế so với nước bạn.
2.1. Hỗ trợ về vốn
Theo kết quả điều tra của Lin Hanchuan thuộc Học viện kinh tế xã hội Trung Quốc, 53,8% doanh nghiệp được hỏi chọn “khan hiếm vốn” là khó khăn lớn nhất đối với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn trên thị trường tài chính và lượng vốn huy động được không cao. Chính Phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ. Cụ thể, các DN được hỗ trợ về nguồn vốn, lượng vốn vay, các thủ tục để tiếp cận vốn và các biện pháp bảo đảm tín dụng.
Về nguồn vốn, Trung Quốc khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn của ngân hàng, vốn cổ phần tư nhân, vốn trên thị trường chứng khoán. Nhà nước dành 20% tổng số vốn vay của 4 ngân hàng nhà nước lớn trong nguồn tín dụng chính thức cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này còn có thể vay vốn từ các tổ chức hợp tác tín dụng nông thôn (RCCs). Kể từ tháng 3/2018, “ Uỷ ban quản lý chứng khoán Trung Quốc” công bố xoá bỏ hạn ngạch về niêm yết. Cho đến nay, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển thị trường chứng khoán, đưa thị trường này trở thành thị trường hấp dẫn đầu tư nhất ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương trong nhiều năm, góp phần thu hút một lượng vốn khổng lồ về Trung Quốc. Những hỗ trợ đó đã mở rộng các kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giải quyết những khó khăn ban đầu cho doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Chính phủ còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được vay với lượng vốn lớn thông qua việc thành lập các tổ chức bảo lãnh tín dụng và các tổ chức đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp nhằm tạo đảm bảo khả năng thanh toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ này với ngân hàng tạo điều kiện để vay được lượng vốn lớn. Chính phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp để các ngân hàng tin tưởng vào doanh nghiệp mà cho vay thay vì ra quyết định buộc các ngân hàng tạo ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn lớn như cũ. Đây thực sự là một biện pháp quản lý mang lại hiệu quả cao. Nó thể hiện sự chuyển đổi từ cách quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang cách quản lý dựa trên sự vận động của thị trường. Trung Quốc cũng dành cho các doanh nghiệp này nhiều ưu đãi về lãi suất vốn vay, giá trị tài sản thế chấp, thủ tục đăng ký vay vốn, các tiêu chuẩn đánh giá để được vay.
Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng nỗ lực thu hút các ngân hàng nước ngoài vào Trung Quốc đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước mình. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc hiện bắt đầu được các ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ với nhiều ưu đãi. Tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới Citigroup đang mong muốn thu hút thêm doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành khách hàng tiềm năng nhân dịp Hội trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài Citigroup, các ngân hàng nước ngoài khác như Standard Chartered Bank và HSBC cũng đã bắt đầu cung cấp những dịch vụ với nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó Standard Chartered Bank là ngân hàng nước ngoài đầu tiên ở Thượng Hải cấp những khoản vay không cần thế chấp cho các doanh nghiệp này.
Về điểm này Việt Nam chúng ta đã cũng đã có nhiều cố gắng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hiện cơ chế cho vay thương mại đã được chỉnh sửa nhiều, nhất là việc tháo gỡ sự can thiệp hành chính của Nhà nước đối với việc cho vay của các tổ chức tín dụng. Nhằm đẩy mạnh việc đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng tăng cường huy động vốn trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức. Trong một văn bản gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư về tình thình thực hiện Nghị định 90 của Chính phủ( trợ giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ), Ngân hàng Nhà nước cho biết tới đây sẽ tiếp tục nghiên cứu, xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành những văn bản mới về cơ chế cho vay, cơ chế bảo đảm tiển vay thanh toán quản lý ngoại hối… để tạo điều kịên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn vay và sử dụng các dịch vụ ngân hàng được nhiều hơn. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Các ngân hàng thương mại cũng đang phối hợp với các quỹ bảo lãnh để mở rộng cho vay với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp tục rà soát các cơ chế chính sách để đơn giản thủ tục cho vay. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động hiệu quả nhờ phương pháp quản lý- kinh doanh hiện đại, có chiến lược phát triển lâu dài nên thu hút không ít nhà đầu tư nước ngoài đến liên kết, liên doanh, hợp tác đầu tư. Đó là đối tượng mà các ngân hàng nhắm đến. Năm 2022, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn ngân hàng đã tăng lên đáng kể. Trong cơ cấu tín dụng, nhiều ngân hàng đã đầu tư cho khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với tỷ lệ ngang bằng các doanh nghiệp quốc doanh. Điển hình như các ngân hàng Incombank, Á Châu, Đông Á, Sacombank,… Để đưa nguồn vốn lớn hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều ngân hàng đã xây dựng chiến lược cho vay vốn riêng dành cho các đối tượng này như xây dựng cơ chế ưu đãi hơn so với bình thường, thủ tục đảm bảo tiền vay linh hoạt, cho phép doanh nghiệp được thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay. Ngoài ra, niều ngân hàng còn cho doanh nghiệp tự chủ về mức độ thế chấp tài sản, nghĩa là doanh nghiệp không bị động trong việc đánh giá tài sản thế chấp như lâu nay. Những ưu đãi trên cho thấy cái nhìn thoáng hơn của các ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nguồn vốn của Ngân hàng “bơm” cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn rất ít so với nhu cầu, còn khá nhiều doanh nghiệp chưa được vay vốn do lãi suất còn khá cao ở mức 18% đến 20%, thực sự là một gánh nặng đối với các doanh nghiệp này. ở một số địa phương, quỹ bảo lãnh tín dụng đã được thành lập, nhưng đến nay chưa có quỹ nào đi vào hoạt động do một số quy định còn vướng mắc, như yêu cầu về vốn lên đến 30 tỷ đồng, trong đó bắt buộc ngân sách địa phương phải chiếm đến 30%, điều kiện bảo lãnh vay vốn khó khăn( được bảo lãnh 80% tổng số vốn vay, nhưng 70% trong đó phải có tài sản thế chấp). Trong khi còn nhiều gian nan trong việc vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hi vọng tìm kiếm được nguồn vốn từ thị trường chứng khoán( TTCK). Theo kết quả thăm dò về “ khả năng tham gia TTCK của doanh nghiệp vừa và nhỏ” của UBCKNN mới đây cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều muốn huy động vốn qua TTCK. Nhưng dường như thị trường này luôn từ chối họ. Theo TS. Vũ Bằng- Phó chủ tịch UBCKNN, hiện nay tổng số các doanh nghiệp vừa và nhỏ cả nước chiếm khoảng 75% tổng số doanh nghiệp và tạo ra 25% GDP hàng năm, do vậy rất cần xây dựng một thị trường chứng khoán cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi phần lớn các doanh nghiệp cổ phần, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu huy động vốn qua thị trường chứng khoán nhưng vì họ không đủ điều kiện để được niêm yết trên thị trường tập trung nên họ không có khả năng tiếp cận thị trường này. Bên cạnh đó, sau vài năm hoạt động TTCK Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy được vai trò tích cực của mình trong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp. Do đó, chúng ta cần học hỏi từ Trung Quốc trong việc xây dựng TTCK và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua thị trường này.
2.2. Hỗ trợ về công nghệ Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Muốn thành công trong công nghiệp phụ trợ nhất thiết phải ứng dụng công nghệ hiện đại. Nhưng do thiếu vốn nên sở hữu công nghệ tiên tiến là điều rất khó khăn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã tìm mọi cách để có thể giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của mình trong ngành công nghiệp phụ trợ về mặt công nghệ, kỹ năng quản lý- kinh doanh thông qua các quy định trong “ Luật thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ” và “ Chính sách công nghệ công nghiệp quốc gia”, Trung Quốc tập trung phát huy cả công nghệ nhập và phát triển công nghệ trong nước.
- Đối với công nghệ nhập
Trung Quốc thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua một số biện pháp như:
Thu hút đầu tư nước ngoài để thông qua đó giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển giao công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý- kinh doanh hiện đại của các công ty nước ngoài.
- Hỗ trợ vốn bằng cách cho vay ưu đãi khi nhập công nghệ, máy móc hiện đại cho ngành sản xuất phụ trợ.
- Không đánh thuế nhập khẩu đối với trường hợp các doanh nghiệp phụ trợ nhập khẩu máy móc, dây chuyền công nghệ làm tài sản cố định.
Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm hiểu và mua công nghệ phù hợp và cải tiến kỹ thuật sau khi du nhập công nghệ về thông qua các Viện nghiên cứu, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, các trung tâm tư vấn công nghệ và các trường Đại học.
- Đối với công nghệ trong nước.
Không chỉ tập trung sử dụng công nghệ nước ngoài mà Trung Quốc còn rất khuyến khích phát triển khoa học công nghệ trong nước. Bên cạnh các chính sách phát triển khoa học công nghệ cả nước trên tất cả các lĩnh vực nói chung, các cấp chính quyền từ địa phương đến Trung ương đều tạo điều kiện phát triển công nghệ trong nước. Cụ thể:
- Chính phủ Trung Quốc rất khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển khoa học công nghệ, tạo ra công nghệ của riêng mình phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của doanh nghiệp.
- Thành lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, các trung tâm tư vấn công nghệ cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ.
- Khuyến khích hình thành mối liên kết giữa các tổ chức như các Viện nghiên cứu, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, các trung tâm tư vấn công nghệ và các trường Đại học với doanh nghiệp trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trên cơ sở học hỏi từ trường hợp của các doanh nghiệp hương trấn với các trường đại học địa phương.
- Thu hút và điều động lực lượng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào những lĩnh vực phát triển công nghệ công nghiệp phụ trợ.
- Đào tạo nhân lực theo hướng cung cấp nguồn lao động trình độ cao cho các ngành công nghiệp nói chung, công nghiệp phụ trợ nói riêng. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đào tạo kỹ năng quản lý- kinh doanh cho đội ngũ quản lý, công nhân viên.
Với những hỗ trợ như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ Trung Quốc như được tiếp thêm sức mạnh để tăng tốc, đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế. Việt Nam chúng ta thì sao? Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, phần lớn công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam đều lạc hậu nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới, do đó hạn chế khả năng sản xuất những sản phẩm có tính cạnh tranh.Việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn cần được tháo gỡ. Doanh nghiệp thiếu hiểu biết về thị trường nhưng hành trình tìm mua công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam gần như chưa có sự hỗ trợ nào từ phía Nhà nước. Doanh nghiệp thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp do không tiến hành các nghiên cứu hệ thống về công nghệ, công tác nghiên cứu thị trường còn yếu kém. Trong khi thị trường vốn trung và dài hạn trong nước gần như chưa phát triển lại không được hỗ trợ từ phía chính phủ nên doanh nghiệp gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn ngân hàng với lãi suất cao nên khó lòng mua được những công nghệ hiện đại. Mức trang bị, công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá thấp. Bình quân một cơ sở sản xuất công nghiệp đầu năm 2023 chỉ có 6,4 lao động; 0,99 tỷ đồng vốn; 0,54 tỷ đồng tài sản cố định; mức trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động chỉ đạt 84,4 triệu đồng. Bên cạnh đó, thủ tục đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian vì cần quá nhiều cấp xét duyệt gây lãng phí tiền bạc, đôi khi mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, trình độ công nghệ của độ ngũ quản lý và người lao động còn yếu kém song chưa nhận được sự giúp đỡ tích cực từ phía các tổ chức đào tạo để nâng cao trình độ. Chính những yếu kém về công nghệ đã làm giảm tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ. Xem ra, với trình độ công nghệ như hiện nay thì đây quả là con đường gập ghềnh nhiều gian nan cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa làm phụ trợ để có thể bứt phá giữa yêu cầu cao của các hãng chính và thực trạng thấp kém của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các linh kiện. Chúng ta cần học hỏi nhiều từ Trung Quốc để nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước nhà trong ngành công nghiệp phụ trợ, góp phần thúc đẩy công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng phát triển.
2.3. Hỗ trợ về thông tin và thị trường Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Từ năm 2019 Trung Quốc đã thành lập quỹ phát triển thị trường quốc tế cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ. Đồng thời Chính phủ cũng tổ chức nhiều cuộc triển lãm công nghệ ở trong và ngoài nước để họ có điều kiện tìm hiểu thị trường và tạo các cơ hộ kinh doanh, ký kết hợp đồng( Cho đến năm 2022, đã có hơn 2018 cuộc triển lãm được tổ chức hàng năm ở Trung Quốc). Đặc biệt, Nhà nước Trung Quốc luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mối liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm công nghiệp phụ trợ trong nước với các công ty đa quốc gia, các tập đoàn nước ngoài đang đầu tư tại Trung Quốc để tận dụng những lợi thế về công nghệ, kỹ năng kinh doanh của các đối tượng này đồng thời đây cũng là những khách hàng chính của các doanh nghiệp phụ trợ. Các trung tâm thông tin tư vấn và cung cấp thông tin về bên mua, bên bán cũng như cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ được chính quyền các cấp thành lập đã giúp các doanh nghiệp phụ trợ rút ngắn con đường đến với người mua, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Thông qua Cục xúc tiến thương mại, các trung tâm tư vấn ở trong và ngoài nước, các DN phụ trợ Trung Quốc cũng nhận được nhiều ưu đãi trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Có thể nói, trong thời đại thông tin này thời đại mà chậm một giây là có thể mất đi cơ hội kinh doanh thì chính những thông tin quý báu đó đã góp phần đáng kể giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ Trung Quốc thành công.
Ngược lại, thông tin lại là thứ mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang rất thiếu. Khoảng 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được thông tin từ các thương vụ; thông tin mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ có được chủ yếu khai thác từ Internet, do đó chất lượng thông tin chưa cao. Việc triển khai thương mại điện tử còn rất hạn chế. doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận thị trường và khai thác thị trường nước ngoài do khả năng tiếp thị kém, trình độ của đội ngũ nhân viên làm công tác xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp này còn thấp. Những doanh nghiệp này, dường như lại không nhận được sự hỗ trợ nào từ phía Chính phủ. Thực tế là chúng ta đã có tổ chức một số cuộc triển lãm công nghệ nhưng chưa thực sự phát huy hiệu quả của chúng. Cách đây 2 năm tại thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tổ chức “ hội chợ ngược” lần thứ nhất về công nghiệp phụ trợ mà ở đó các hãng chính đến và đưa các linh kiện đặt hàng để tìm các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam có đủ khả năng sản xuất được thì ký hợp đồng nhưng cho đến nay chưa hợp đồng nào được ký. Cả nhà cung cấp nội địa và lắp ráp, sản xuất nước ngoài đều thừa nhận tình trạng thiếu thông tin và sự hiểu biết lẫn nhau: thiếu kênh thông tin giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài/ nhà lắp ráp và các doanh nghiệp có năng lực trong nước, và các quan hệ hợp tác nước ngoài; thiếu các cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về các nhà sản xuất trong nước để cung cấp cho các nhà lắp ráp có vốn đầu tư nước ngoài; cuối cùng và không kém phần quan trọng là thiếu các mối liên kết đa dạng giữa các doanh nghiệp lắp ráp và nhà sản xuất trong nước cung cấp linh kiện, phụ kiện. Trên thực tế là ở Việt Nam, đến các cơ quan hiện hành, hỏi ai phụ trách việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều không ai trả lời. Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Việt Nam cực kỳ thiếu thông tin nên con đường để các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm phụ trợ có thể “ chen chân” vào chuỗi giá trị toàn cầu của các hãng lớn còn rất gập ghềnh. Để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ này, theo GS, TS. Phan Đăng Tuất, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp, Bộ Công thương thì Chính phủ cần nhận diện lại vấn đề, vào cuộc một cách đồng bộ và mạnh mẽ, tham gia tích cực vào cuộc chơi này bằng cách lập ra một cơ quan đầu mối để mối lái cho các doanh nghiệp cung cấp chi tiết, linh kiện; chấm dứt tình trạng tổ chức các hội chợ ngược. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
2.4. Hỗ trợ về mặt bằng sản xuất.
Về điểm này, có thể nói không ở đâu tạo điều kiện thuận lợi như ở Trung Quốc, đặc biệt là trong các đặc khu kinh tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn khan hiếm vốn nên để thuê hoặc mua được mặt bằng thuận lợi là hết sức khó khăn. Hiểu được điều này Chính phủ Trung Quốc đã tạo rất nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như đơn giản hoá các thủ tục xin cấp hoặc cho thuê mặt bằng. Chính phủ Trung Quốc trao quyền cho các cấp chính quyền địa phương được thẩm tra, xét duyệt các dự án đầu tư nên các thủ tục hành chính được cắt giảm nhiều, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Đặc biệt trong các đặc khu kinh tế hoặc các khu trung tâm tập trung doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp được thuê đất với giá rẻ, thời gian lâu dài vì thế tạo tâm lý yên tâm cho doanh nghiệp. Thông qua chính sách “ tam thông nhất bằng” Trung Quốc đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đồng thời cũng thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước mạnh dạn mở xưởng sản xuất kinh doanh cung ứng cho các doanh nghiệp lắp ráp vì đã được đảm bảo cả về mặt bằng sản xuất lẫn đầu ra cho sản phẩm.
Ở Việt Nam chúng ta thì ngược lại, đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có hiệu quả mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng đều nằm trong tình trạng thiếu đất để làm mặt bằng. Theo khảo sát của công ty Tài chính quốc tế (IFC) về kinh nghiệm tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy cứ 4 doanh nghiệp thì chỉ có 1 doanh nghiệp được giao đất hay thuê đất trực tiếp từ Nhà nước. Đứng trước khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như vậy nhưng thực sự Nhà nước ta chưa có biện pháp và chính sách hiệu quả để hỗ trợ họ. Quỹ đất, thủ tục cấp đất và quy hoạch sử dụng đất cảu Nhà nước cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều còn nhiều bất cập.
Về quỹ đất: Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn được giao đất từ Nhà nước để yên tâm đầu tư sản xuất nhưng quỹ đất công hạn chế và kênh giao đất hay thuê đất trực tiếp từ chính quyền tỉnh hầu như chỉ dành cho các doanh nghiệp lớn( đa phần là các dự án đầu tư nước ngoài có nhu cầu lớn về diện tích). Không nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ năng lực và chiến lược phát triển dài hạn để có thể sử dụng các diện tích đất lớn trong các khu công nghiệp vì vậy họ chủ yếu sử dụng đất sở hữu gia đình hoặc thuê lại của tư nhân hay các doanh nghiệp nhà nước không sử dụng đến với giá cao, thời hạn không đảm bảo và rất dễ bị thu lại. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Về thủ tục cấp đất: Quá trình tìm mặt bằng sản xuất là phức tạp nhất, kéo dài nhất và cũng tốn kém không ít trong các thủ tục hành chính để thành lập doanh nghiệp. Việc xin cấp đất, hoặc thuê đất của doanh nghiệp vừa và nhỏ bị cản trở bởi hồ sơ, thủ tục khá phức tạp. Theo một khảo sát của GTZ, thông thường, để được Nhà nước giao đất, doanh nghiệp phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình mất khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan. Bên cạnh đó là quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn quá rườm rà, phức tạp và mất thời gian.
Về quy hoạch sử dụng đất: đây cũng là mối lo ngại lớn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Theo ông Trương Thái Sơn, Phó tổng giám đốc Công ty địa ốc Hoàng Quân, hiện nay công tác quy hoạch chưa tốt vì hệ thống đăng ký và thông tin cơ sở( thông tin kinh tế xã hội, tài nguyên, dự báo phát triển) cho việc ra quyết định quy hoạch là không đầy đủ. việc đưa ra quy hoạch nhiều khi chỉ dựa trên các định hướng từ bên trên và dựa vào báo cáo không chính xác từ bên dưới, không có sự tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp cũng như người dân, do đó dẫn đến tình trạng quy hoạch phải thay đổi liên tục, không sát thực tiễn, chạy theo sau nhu cầu của doanh nghiệp.
Chúng ta muốn thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chúng ta cố gắng mở ra một con đường cho họ nhưng lại xây quá nhiều rào cản trong vấn đề mặt bằng thì làm sao doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Việt Nam có thể đi lên được.
III. Một số giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ nước ta đang còn quá yếu kém về nhiều mặt, không đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài hay những doanh nghiệp lớn. Đặc biệt, khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, hàng rào thuế quan giảm xuống và các chi tiết cùng linh kiện theo đó cũng được giảm thuế. Chi phí trở nên rẻ hơn, do đó các nhà đầu tư lắp ráp thường đi mua các chi tiết linh kiện từ bên ngoài, cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành công nghiệp phụ trợ sẽ mất dần. Vậy chúng ta phải làm gì để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước nhà? Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ, đồng bộ của cả 4 chủ thể: Chính phủ, các doanh nghiệp lắp ráp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tổ chức hỗ trợ. Căn cứ bài học từ nước bạn Trung Quốc, dưới đây là một số giải pháp đối với 2 chủ thể chính là Chính phủ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta.
1. Về phía Chính phủ.
Để thực hiện mục tiêu xây dựng một nền công nghiệp phụ trợ hiện đại và thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ cần phải thống nhất nhận thức từ trung ương đến địa phương cũng như trong tất cả các thành phần kinh tế về công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực nhất bằng cách: hoàn thiện hệ thống chính sách và thống nhất nhận thức, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tinh thần kinh doanh
1.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách và thống nhất nhận thức
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
Về nguyên tắc, một môi trường kinh doanh ổn định có nghĩa là ít có sự thay đổi về chính sách. Tuy nhiên, Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền nên các chính sách đều chưa hoàn thiện, thêm vào đó là việc tham gia các cam kết đa phương và song phương nên việc sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp với các cam kết đã ký là đòi hỏi mang tính khách quan. Nhưng theo phản ánh của các doanh nghiệp, hiện nay các chính sách thay đổi quá nhanh đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các doanh nghiệp nhất là những DN phụ trợ vừa và nhỏ vì đây là ngành đòi hỏi đầu tư lớn, chịu ảnh hưởng sâu sắc của các chính sách. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế được những ảnh hưởng của việc thay đổi chính sách đối với hoạt động của doanh nghiệp? Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Lập kế hoạch xây dựng mới và/ hoặc sửa đổi, bổ sung các luật, các văn bản pháp quy,trong đó chi tiết về dự kiến loại văn bản ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung; thời gian ban hành; thời gian văn bản có hiệu lực; hướng sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới; đối tượng điều chỉnh. Kế hoạch này được phổ biến công khai để các đối tượng chịu ảnh hưởng có thể tiên liệu được để họ có thời gian lập kế hoạch điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp cho phù hợp.
Trong quá trình xây dựng pháp luật cần có sự tham gia rộng rãi của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, các nhà khoa học các nhà nghiên cứu và đặc biệt là sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp, doanh nhân. Công khai các chính sách, quy định mới và tiến hành đánh giá tác động của các chính sách đó tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Ban hành chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ một cách đồng bộ và chi tiết
Việt Nam phải có quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho từng ngành hàng, trong đó xác định các lĩnh vực ưu tiên. Nếu không có sự quy hoạch rõ ràng, sẽ dễ dẫn đến tình trạng sản xuất không cân đối theo kiểu có những sản phẩm doanh nghiệp nào cũng sản xuất trong khi có sản phẩm lại không có doanh nghiệp nào làm cả, từ đó dễ dẫn đến tình trạng làm ăn “ chộp giật” của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện nay, Việt Nam đã có chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp ô tô đến 2040 khá chi tiết và cụ thể song quy hoạch này vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Để các chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ thực sự đi vào hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì cần phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, ngành cũng như có sự tham vấn của chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Biện pháp đưa ra là Chính phủ cần tổ chức thăm dò ý kiến của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước, hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như có sự nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng trước khi ban hành chính sách, quy hoạch phát triển.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu bước đầu trong việc cải cách hành chính nhưng nhìn chung công tác hành chính ở nước ta vẫn tồn tại nhiều bất cập, năng lực của bộ máy quản lý nhà nước vẫn là khâu yếu, chậm thay đổi nhất. Có những công chức, kể cả thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp chưa nắm được những thay đổi cơ bản trong nội dung Luật doanh nghiệp, có những cán bộ đầu ngành ở tỉnh cũng không nắm được tác động của việc phát triển công nghiệp phụ trợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; trong một số cơ quan chức năng, vẫn còn không ít những công chức vừa kém năng lực vừa kém đạo đức đã gây nhiều cản trở đến hoạt động của các doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Những tồn tại trên đã và đang gây khó khăn và tăng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi phải được nhìn nhận khách quan để khắc phục nhằm đẩy nhanh hơn, mạnh hơn công tác cải cách hành chính trong thời gian tới theo hướng thân thiện hơn với doanh nghiệp.
Đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp giảm chi phí khởi sự doanh nghiệp đến mức cạnh tranh nhất so với các nước trong khu vực như tổ chức và thường xuyên duy trì đối thoại trực tuyến với doanh nghiệp, qua đó có thể nhận được những tham vấn về kinh doanh, nộp hồ sơ, thực hiện thủ tục hoàn thuế và khai thác thông tin sơ cấp một cách nhanh và rẻ nhất; giảm nhẹ thủ tục đăng ký kinh doanh thông qua việc thiết lập hệ thống nối mạng đăng ký kinh doanh toàn quốc.
- Hoàn thiện chính sách tài chính
Điều chỉnh hệ thống thuế phù hợp nhằm khuyến khích khởi sự doanh nghiệp, khuyến khích phát triển kinh doanh nhỏ và tạo việc làm. Đồng thời, thực hiện đổi mới chế độ kế toán thống kê theo khuynh hướng đơn giản hoá, khuyến khích doanh nghiệp tự kê khai và nộp thuế.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, đơn giản hoá phương pháp và căn cứ tính thuế; giảm các trường hợp ưu đãi thuế để đơn giản hoá chính sách ưu đãi, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ tiếp cận và hưởng các ưu đãi, thu hẹp khoảng cách giữa đối tượng nộp thuế theo thu nhập, dần hạn chế áp dụng chế độ khoán thuế và tiến tới áp dụng chế độ thuế phù hợp hơn, khuyến khích các hộ kinh doanh thực hiện đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp.
Sửa đổi quy định về thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu theo hướng xác định các tiêu chí minh bạch, rõ ràng, phù hợp với các hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký. Đặc biệt đối với thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận, chúng ta nên cho nhập khẩu tự do để giảm giá thành sản phẩm, duy trì khả năng cạnh tranh với các nước ASEAN khác, chứ không nên dùng biện pháp hành chính hay thuế quan ép buộc các công ty đa quốc gia tăng tỷ lệ nội địa hoá như lâu nay vẫn làm. Bởi lẽ nếu các doanh nghiệp phụ trợ trong nước có đủ khả năng cung cấp các sản phẩm phụ trợ một cách đầy đủ và kịp thời với giá rẻ và chất lượng cao thì tỷ lệ nội địa hoá của các doanh nghiệp lắp ráp tất yếu sẽ tăng.
- Cải cách chương trình đào tạo Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Nước ta cần có những chính sách và giải pháp đồng bộ trong phát triển giáo dục đào tạo nhằm hướng tới hình thành một nguồn nhân lực có tri thức và thể chất đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Để thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là nâng cao trình độ công nghệ cho nguồn nhân lực, chúng ta cần:
- Nâng cao chất lượng toàn diện các cấp học. Cải cách triệt để đào tạo đại học theo cả 2 hướng, phần cứng và phần mềm hướng đến có một khối lượng lớn kỹ sư có đủ năng lực làm việc trong các ngành công nghiệp phụ trợ.
- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các trường dạy nghề và các trung tâm dạy nghề. Đào tạo nghề cần được coi là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương.
- Có chính sách huy động để khai thác khả năng đào tạo nghề của các trường địa học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các cơ sở đào tạo đặc biệt là trường dạy nghề và cơ sở đào tạo của doanh nghiệp trên địa bàn.
- Thành lập hệ thống các trung tâm đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật bậc cao, cho phép thành lập các hiệp hội ngành nghề.
- Thực hiện chính sách đào tạo hợp tác quốc tế để mở trường đào tạo kỹ sư và cán bộ quản lý, cán bộ công nghệ.
- Có chính sách đào tạo nghề và sử dụng lao động đã qua đào tạo nghề. Dạy nghề phải gắn với giải quyết việc làm, đào tạo gắn với sử dụng, thu nhập phải tương đương với trình độ đào tạo.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách sử dụng nguồn nhân lực như đa dạng hoá hình thức tuyển dụng lao động, thưc hiện chính sách tiền lương gắn với thị trường…
- Có chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các viện nghiên cứu, trường đại học trong việc nghiên cứu và triển khai công nghệ.
1.2. Đồng bộ hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Thực hiện chính sách phù hợp để cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, đồng thời bảo vệ môi trường.
Trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước được giao đất và sử dụng không có hiệu quả , đất đai bỏ hoang hoặc sử dụng không mục đích thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng kinh doanh với chi phí rất lớn. Ngay cả khi doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất thì việc lo đủ các thủ tục cần thiết để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để có thể thế chấp cầm cố cũng đòi hỏi phải tốn nhiều tiền bạc và công sức. Điều này đã làm hạn chế nguồn vốn đầu tư vốn đã hạn hẹp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để tạo điều kiện cho các DN phụ trợ vừa và nhỏ trong việc tiếp cận đất và có thể sử dụng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn từ các tổ chức tín dụng, trong thời gian tới bên cạnh việc áp dụng Luật đất đai và Nghị định 180/2022/ NĐ- CP cần tập trung giải quyết một số vấn đề:
Đổi mới các thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thủ tục giao dịch có liên quan đến quyền sử dụng đất theo hướng cải cách thủ tục hành chính; thiết lập một hệ thống cơ quan đăng ký đất đai thống nhất trên toàn quốc với chức năng đăng ký và đăng ký lại các giao dịch về đất, hoặc khi có sự thay đổi trong hồ sơ địa chính do các quyết định hành chính gây ra.
Hình thành một hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo tính ổn định, chắc chắn, công khai, minh bạch đáp ứng yêu cầu của người sử dụng đất, đồng thời giúp nhà nước quản lý được đất đai thông qua việc xác định mục đích sử dụng đất; xây dựng được hệ thống tổ chức phát triển quỹ đất, giải quyết những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư và thu hồi đất đối với những khu vực sử dụng đất sai mục đích, không có hiệu quả, lãng phí tài nguyên đất.
- Tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho DN phụ trợ vừa và nhỏ
Trong khi các ngân hàng thương mại đều cho rằng họ không thiếu vốn để cho vay nhưng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể xây dựng kế hoạch khả thi thuyết phục được ngân hàng cho vay vốn. Còn các doanh nghiệp thì lại cho rằng họ rất khó khăn trong việc tiếp cận vay vốn tín dụng. Vấn đề ở đây là cung và cầu chưa gặp nhau và vai trò của nhà nước là hỗ trợ tạo điều kiện để cung và cầu về tiền cho sản xuất- kinh doanh gặp được nhau. Cụ thể là:
- Về phía Nhà nước: Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Xây dựng, phát triển hệ thống các quỹ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ với những tiêu chí riêng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nới lỏng các điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia thị trường chứng khoán nhằm đa dạng hoá hình thức huy động vốn trên thị trường tài chính
- Về phía doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Nhà nước hỗ trợ đào tạo cho doanh nghiệp có khả năng thành lập được những kế hoạch kinh doanh có tính khả thi để thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn; khuyến khích các doanh nghiệp cùng góp vốn hình thành các quỹ trợ giúp nhau…
- Về phía ngân hàng:
Nhà nước cần nghiên cứu áp dụng chính sách ưu đãi, bảo đảm lợi nhuận mà các ngân hàng thương mại thu được từ khoản vay của các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, nhà nước có chính sách khuyến khích: thành lập những quỹ, công ty bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các quỹ đầu tư mạo hiểm, phát triển lĩnh vực cho thuê và cho vay không cần thế chấp, phát triển các mô hình tài chính vi mô bền vững về mặt tài chính và được quản lý một cách chuyên nghiệp theo hướng thị trường…
- Hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ và đổi mới
Công nghệ lạc hậu chính là thực trạng đáng buồn của hầu hết các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam. Vì vậy để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, chính phủ cần áp dụng một số biện pháp như:
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn ưu đãi khi mua công nghệ mới, không đánh thuế nhập khẩu đối với máy móc nhập làm tài sản cố định trong các xí nghiệp phụ trợ.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các dự án chuyển giao công nghệ vào Việt Nam. Hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển công nghiệp phụ trợ.
- Khuyến khích các viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai nghiên cứu thực nghiệm các đề tài, dự án gắn với nhu cầu phát triển sản xuất các chủng loại vật liệu, chi tiết, linh kiện, phụ tùng… phục vụ phát triển công nghiệp phụ trợ.
- Phát triển công nghiệp thượng nguồn để tạo nguồn cung cấp vật tư sản xuất linh kiện.
- Thành lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật để giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tư vấn và cung cấp dịch vụ kỹ thuật( hiện nay nước ta mới chỉ có 3 trung tâm hỗ trợ kỹ thuật đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh)
Xây dựng cơ chế quản lý chất lượng hàng hoá nhằm giúp các doanh nghiệp nhận tức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm và rút ngắn tiến tới xoá bỏ khoảng cách chênh lệch về tiêu chuẩn chất lượng giữa doanh nghiệp trong nước và các nhà lắp ráp nước ngoài. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
- Hỗ trợ về thông tin
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất yếu trong khâu tiếp thị, marketing, nhất là các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam hiện nay rất thụ động trong kinh doanh. Đứng trước những thách thức trong hội nhập chính phủ cần phải hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm thông tin bằng cách:
- Thành lập một cơ quan đầu mối để mối lái cho các doanh nghiệp phụ trợ trong nước với các nhà lắp ráp.
- Tổ chức các triển lãm công nghiệp ở trong và ngoài nước để giới thiệu về sản phẩm và doanh nghiệp phụ trợ trong nước , đặc biêt ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Hoàn thiện hệ thống thông thông tin doanh nghiệp bằng cách tăng cường hoạt động của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam(VCCI), Công đoàn hiệp hội công nghiệp và thương mại(UAIC), trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư(ITPC).
- Trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận thương mại điện tử nhằm giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm thông tin để mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế
- Tăng cường công tác thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ để làm cơ sở cho việc giới thiệu, tìm kiếm các mối liên kết ngang.
- Xúc tiến liên kết giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước với các doanh nghiệp FDI, các công ty đa quốc gia nhằm củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà lắp ráp.
1.3. Thúc đẩy tinh thần kinh doanh Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Bất kỳ chính phủ nào muốn thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ cũng cần thực thi những chính sách giúp doanh nhân ít phải mạo hiểm hơn nhưng lại thu được nhiều lợi hơn. Có như vậy sự thành công của doanh nghiệp nhỏ mới là sự thành công của chính mình, từ đó thúc đẩy mọi người thành lập doanh nghiệp và tích cực trong kinh doanh. Để làm được điều này Chính phủ cần dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng thời triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến tinh thần doanh nghiệp, ý chí kinh doanh và làm giàu tới mọi đối tượng, đặc biệt là thí điểm thực hiện việc đưa các bài học kinh doanh voà chương trình học ở phổ thông, đại học, dạy nghề; đẩy mạnh triển khai trợ giúp đào tạo khởi sự doanh nghiệp; khen thưởng những doanh nghiệp nhỏ thành công trong ngành công nghiệp phụ trợ.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh một bộ phận doanh nghiệp tuy hiểu biết về pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm thì vẫn còn diễn ra tình trạng một số doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp không có kiến thức về pháp luật nên đã vô tình vi phạm pháp luật trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, cần phải phát triển văn hoá kinh doanh trong thời gian tới.
2. Về phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.
Với một thực trạng còn chưa sáng sủa của công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong khi sự liên kết giữa các doanh nghiệp còn yếu và yêu cầu về công nghiệp phụ trợ chính là một nền tảng căn bản nhất cho một nền công nghiệp thực sự phát triển thì có được một quy hoạch tổng thể cho phát triển công nghiệp phụ trợ và sự hỗ trợ của Chính phủ không thôi chưa đủ mà còn cần sự tham gia tích cực của chính các doanh nghiệp phụ trợ.Thực tế cho thấy, nếu chỉ có quy hoạch tổng thể không thôi thì dù chi tiết đến đâu cũng khó lòng thực hiện khi bản thân doanh nghiệp chưa thực sự xắn tay vào công việc. Kinh nghiệm từ ngành công nghiệp ô tô cho thấy, đã có cả một chiến lược dài hơi đến 2040 và Bộ Công nghiệp cũng đã vạch ra quy hoạch khá chi tiết cho công nghiệp phụ trợ song hiện đa số các dự án được cấp phép hoặc đang xin phép lại là lắp ráp, tức là bắt đầu đi ngược từ “ngọn”. Nguyên nhân là do quy mô và tiềm lực của đa số doanh nghiệp Việt Nam còn yếu nên dẫn đến một tâm lý chung là doanh nghiệp nào cũng “ ngại” nghĩ đến việc chuyên môn hoá khi phải bỏ vốn đầu tư lớn và rủi ro cao do tuổi đời sản phẩm ngắn. Vì vậy, để có thể phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chính các doanh nghiệp phải tự cải cách mình. Dưới đây là một số đề xuất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm phụ trợ trong nước:
2.1. Tăng cường chuyên môn hoá Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Một sản phẩm công nghiệp cần phải có hàng chục thậm chí hàng trăm nhà cung cấp. Ví dụ như chiếc máy tính IBM nhưng ổ cứng là Seagate, màn hình Samsung, main của Intel, chưa kể đến chiếc ốc vít cũng phải có một nhà cung cấp chuyên nghiệp. Mỗi doanh nghiệp chỉ làm chuyên một vài sản phẩm mới có thể cải tiến được với khoản đầu tư không quá sức. Tuy nhiên do thói quen sản xuất tích hợp theo chiều dọc và khả năng hạn chế về vốn và công nghệ nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta chưa đẩy mạnh chuyên môn hoá. Để thay đổi tình trạng này các doanh nghiệp cần:
- Tăng cường nghiên cứu thị trường, đầu tư công nghệ hiện đại vào sản xuất sản phẩm có được từ kết quả nghiên cứu đó để đáp ứng đúng cái mà thị trường cần.
- Liên kết với các doanh nghiệp trong cùng ngành để hợp tác trong việc phân công, chuyên môn hoá hợp lý.
- Tham gia tích cực vào các hiệp hội ngành nghề, các câu lạc bộ doanh nghiệp để nắm bắt được thông tin về tình hình các doanh nghiệp phụ trợ khác từ đó điều chỉnh hướng đi của doanh nghiệp mình cho phù hợp.
2.2. Nỗ lực đầu tư, chuyển giao công nghệ
Hiện nay đa số công nghệ sử dụng tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ là công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Để có thể đứng vững trên thị trường nhất là trong giai đoạn hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực, các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam cần phải đổi mới công nghệ thông qua các con đường như:
Tận dụng nguồn công nghệ tiên tiến thông qua liên doanh, liên kết, hợp tác với nước ngoài đặc biệt là các công ty đa quốc gia, các tập đoàn lớn có tiềm lực mạnh về công nghệ và nghiên cứu &triển khai.
- Chủ động tìm kiếm và lựa chọn đối tác chuyển giao công nghệ và hợp tác kinh doanh. Không thể bị động trông chờ các đối tác tìm đến với mình mà phải chủ động tìm kiếm đối tác thông qua các kênh thông tin khác nhau từ Internet, Phòng thương mại và công nghiệp,…
- Tuỳ thuộc vào yêu cầu và hoàn cảnh của doanh nghiệp mà tìm nguồn công nghệ phù hợp chứ không nhất thiết phải là công nghệ hiện đại nhất, đầu tư cao mà không tính đến hiệu quả.
- Thường xuyên duy tu bảo trì máy móc, công nghệ đồng thời luôn tìm kiếm, nghiên cứu, sáng tạo những cải tiến kỹ thuật phù hợp với thực tế sản xuất của doanh nghiệp mình. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
2.3. Tăng cường xây dựng mối liên kết với các doanh nghiệp lắp ráp.
Các nhà lắp ráp là những người đặt ra hợp đồng, đặt ra bài toán và họ là những người có năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa trong việc cung cấp linh kiện. Do vậy, để tận dụng được sự hỗ trợ của bộ phạn này các doanh nghiệp phải xây dựng các chương trình xúc tiến liên kết với các hãng lớn( đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia) thông qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp, chuyến thăm cơ sở, hội chợ, triển lãm… nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ với các nhà lắp ráp đồng thời tạo niềm tin nơi họ.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam rất thụ động trong việc này. Họ thường chờ đợi các nhà lắp ráp đến hỏi hàng, đặt hàng rồi mới sản xuất, rất hiếm khi thấy các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam đi mời chào sản phẩm của mình. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta còn yếu về khả năng tiếp thị và tiếp cận thông tin. Để thay đổi tình trạng này, các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ nước ta cần:
- Chủ động, nhiệt tình thiết lập các mối quan hệ, mối liên kết với các doanh nghiệp lắp ráp. Như ông Tổng Giám đốc công ty Canon đã nhấn mạnh: “ Hiếm khi thấy các công ty Việt Nam đến mời chào sản phẩm của mình. Có thể do yêu cầu của chúng tôi quá chênh lệch với khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, tôi hi vọng các doanh nghiệp sẽ mạnh dạn và tích cực hơn”
- Tích cực tham gia hội chợ, triển lãm, các chương trình liên kết đào tạo ví dụ như chương trình liên kết đào tạo giữa Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
- Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh nhất là đội ngũ marketing, nghiên cứu thị trường.
2.4. Nâng cao ý thức kinh doanh của các doanh nghiệp Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Tinh thần và ý chí kinh doanh là một yếu tố rất qua trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Minh chứng là cách đây 40 năm Sony và Toyota cũng chỉ là những doanh nghiệp nhỏ. Nhưng với sự nỗ lực của bản thân hiện nay họ đã trở thành những công ty đứng trong hàng ngũ hàng đầu thế giới. Theo ông Kenichi Kohata, chuyên gia của JICA tại cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: “ ở Nhật bản chúng tôi sự liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các công ty xuyên quốc gia rất chặt chẽ. Để có được điều này thách thức lớn nhất là các doanh nghiệp phải có ý chí kinh doanh và nỗ lực của bản thân”. Do đó muốn phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chính các doanh nghiệp phải nỗ lực thay đổi chính mình bằng cách chấm dứt kiểu làm ăn chộp giật như hiện nay, tập trung sống chết với sản phẩm của mình, xây dựng niềm tin nơi khách hàng, tạo chữ tín trong kinh doanh và luôn lấy chữ tín làm đầu. Bên cạnh đó, không ngừng trau dồi kiến thức về công nghệ, quản lý, hợp tác và hội nhập, chuyên môn hoá,… để không bị lạc hậu về công nghệ và thông tin.
Bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ và sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp, sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp lắp ráp và các tổ chức hỗ trợ cũng không kém phần quan trọng.
- Về phía các doanh nghiệp lớn:
Các doanh nghiệp lắp ráp cần hết sức kiên nhẫn và tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp phụ trợ vừa và nhỏ Việt Nam vì để có được một nhà cung cấp chuyên nghiệp cần ít nhất 2 năm cho việc chuẩn bị như lên kế hoạch bố trí sản xuất, mua sắm công nghệ trang thiết bị, đào tạo nhân lực,…
Các công ty lắp ráp đóng vai trò là người ra đề cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên trong bối cảnh mà các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém như hiện nay, thiết nghĩ các doanh nghiệp lắp ráp nên đặc biệt quan tâm hỗ trợ về mặt công nghệ và cung cấp các thông tin cần thiết cho doanh nghiệp để tăng cường mối liên kết 2 chiều giữa các công ty lắp ráp và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng chặt chẽ hơn.
- Về phía các tổ chức hỗ trợ:
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ của chính phủ, doanh nghiệp rất cần đến sự hỗ trợ từ nhiều phía, trong đó phải kể đến các cơ quan công quyền địa phương nơi doanh nghiệp phụ trợ đang hoạt động, các hiệp hội ngành nghề, các câu lạc bộ doanh nghiệp, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, các tổ chức hợp tác nước ngoài và các trung tâm tư vấn,…
Chính quyền địa phương các cấp nơi trực tiếp quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải có chính sách khuyến công chi tiết cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp phụ trợ nhỏ như bài học thành công của chính quyền các đặc khu kinh tế hay khu tập trung doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc đã thực hiện; thường xuyên tiếp xúc với các doanh nghiệp nhất là thông qua mạng trực tuyến để giúp cung cấp thông tin và tư vấn cho các doanh nghiệp; học tập phương châm “ dịch vụ một cửa” của Trung Quốc để đơn giản hoá các thủ tục hành chính; đồng thời cần xây dựng hệ thống đánh giá doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mỗi quận, huyện và chính quyền của các tỉnh thành trên cả nước.
Các tổ chức khác cũng cần phát huy hơn nữa vai trò của mình, đặc biệt là các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật, trung tâm tư vấn và các hiệp hội nơi mà các doanh nghiệp chia sẻ với nhau những kinh nghiệm quý báu trong kinh doanh. Lấy mô hình như hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà nội làm mô hình thí điểm để xây dựng nhiều hơn các hiệp hội và câu lạc bộ dạng này.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
Như đã phân tích ở trên, công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. công nghiệp phụ trợ phát triển thúc đẩy các ngành công nghiệp chính phát triển, nhu cầu về các nhà cung cấp gia tăng do đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ có cơ hội phát triển, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khẳng định vị trí của mình. Ngược lại, khi bộ phận doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia tích cực vào các ngành công nghiệp phụ trợ thì với lợi thế của mình chúng thúc đẩy sự chuyên môn hoá ngày càng sâu sắc trong các ngành công nghiệp phụ trợ từ đó đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ.
Từ việc nghiên cứu các chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trung Quốc trên đây, em hi vọng có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như mối liên kết giữa chúng, đồng thời kiến nghị một số giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam bởi lẽ phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là mũi đột phá chiến lược trong chiến lược phát triển kinh tế nước ta trong thời gian tới. Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Hiện tại, tất cả các loại hình đầu tư và hợp tác sản xuất trong lĩnh vực này được nhà nước khuyến khích. Tuy cho đến nay vẫn chưa có một chính sách lâu dài và ổn định để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng trong thời gian tới chính phủ sẽ tìm được giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ trong nước. Khóa luận: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho DN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phát triển công nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp

