Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
NỘI DUNG TÓM TẮT
BÙI NGỌC DIỄM, Tháng 6 năm 2025. “Phân Tích Những Ảnh Hưởng Của Khủng Hoảng Tài Chính Toàn Cầu Đến Nền Kinh Tế Việt Nam”.
BUI NGOC DIEM, June 2025. “Analyse Impacts of The global financial crisis to Vietnam Economy”.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu và những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng này đang là vấn đề nóng hổi đối với nhiều quốc gia trên thế giới không loại trừ Việt Nam. Khủng hoảng tài chính đã gây ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nhiều nước và do đó nó trở thành chủ đề của rất nhiều hội thảo, các cuộc tranh luận với sự tham gia của nhiều chuyên gia kinh tế, các nhà làm chính sách, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước hiện nay.
Việt Nam đang tham gia ngày một sâu và rộng hơn vào hệ thống thương mại thế giới. Vì thế, những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng tài chính lần này đã để lại cho nền kinh tế Việt Nam không ít những khó khăn và thách thức. Trước hết, đó là những khó khăn do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng suy giảm mạnh, tình hình sản xuất kinh doanh trong nước trì trệ, các chỉ tiêu kinh tế – xã hội ở mức đáng lo ngại cần phải có sự điều chỉnh kịp thời.
Bằng phương pháp mô tả và phân tích các số liệu, thông tin về hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đề tài “Phân Tích Những Ảnh Hưởng Của Khủng Hoảng Tài Chính Toàn Cầu Đến Nền Kinh Tế Việt Nam” được thực hiện nhằm làm rõ những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam thông qua thị trường xuất nhập khẩu, tình hình đầu tư, sự chu chuyển vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ thất nghiệp. Qua đó đề tài cũng thảo luận kỹ hơn về các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế đang được áp dụng hiện nay, những thành công và hạn chế của những chính sách này. Cuối cùng là những đề xuất về các giải pháp đối phó với khủng hoảng bao gồm chính sách nới lỏng tiền tệ, chính sách mở rộng tài khóa và chính sách tỷ giá linh hoạt.
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là tự do hóa thị trường tài chính đã trở nên phổ biến ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng nằm trong số những quốc gia này, Đảng và nhân dân ta đã và đang tích cực cải thiện và phát triển các định chế kinh tế để Việt Nam có thể trở thành một phần trong guồng máy thương mại thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực như dễ dàng tiếp cận và tận dụng được những kinh nghiệm, công nghệ cũng như những nguồn vốn hỗ trợ lớn từ các nước công nghiệp đã phát triển, chúng ta hiện phải đối mặt với những mặt tiêu cực của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa làm gia tăng tính phụ thuộc giữa các quốc gia với nhau; khi xảy ra những rủi ro tài chính ở một quốc gia nào đó hậu quả của nó không chỉ tác động đến nền kinh tế của nước này mà là hàng loạt những ảnh hưởng đến tất cả các nước khác có liên hệ và hợp tác với quốc gia đó, đặc biệt là khi khủng hoảng tài chính lại xảy ra ở Mỹ – nền kinh tế hùng mạnh nhất hành tinh. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Năm 2024 là năm thua lỗ nghiêm trọng của các tập đoàn tài chính lớn tại Mỹ. Đây là nguyên nhân dẫn tới sự chao đảo mạnh của hệ thống tài chính toàn thế giới, vì trong một thế giới mở như hiện nay, biên giới là thứ gần như không hề tồn tại trong ngành tài chính. Mặt khác, các loại chứng khoán bảo đảm bằng địa ốc có nguồn gốc tại Mỹ cũng được bán cho rất nhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới chứ không riêng gì ở nước này.
Đỉnh điểm của cơn khủng hoảng là vào tháng 9/2024 sau vụ phá sản của ngân hàng đầu tư Phố Wall Lehman Brothers và nguy cơ đổ vỡ của một loạt tập đoàn tài chính lớn của Mỹ, trong đó có hãng bảo hiểm AIG. Sau cơn hoảng loạn lan rộng khắp các châu lục là sự đóng băng của thị trường tín dụng vì các ngân hàng đã quá sợ cho vay, bất chấp những nỗ lực bơm vốn vào hệ thống tài chính của các chính phủ. Các công ty cạn vốn để làm ăn, dẫn tới sa thải hàng loạt. Người tiêu dùng vừa không thể vay tín dụng để chi tiêu, vừa mất việc, nên thắt lưng buộc bụng, khiến các ngành sản xuất càng gặp khó.v.v. Cứ thế, lần lượt các nền kinh tế đầu tàu: Mỹ, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu, Nhật Bản và Anh đã cùng tuyên bố suy thoái. Nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu ở châu Á thì chứng kiến tốc độ sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu và cũng có nguy cơ suy thoái theo. Thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất từ trước đến nay.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang gánh chịu những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Dấu hiệu suy giảm tăng trưởng lộ diện rõ nét khi tiêu dùng giảm mạnh, CPI ở mức âm 3 tháng liên tiếp, sản xuất kinh doanh đình đốn, kim ngạch xuất khẩu giảm sút. Nguồn thu ngân sách bị đe dọa do giá dầu thô sụt mạnh.
Chính phủ đã huy động mọi lực lượng chống suy thoái và tuyên bố chi 1 tỷ USD hỗ trợ nền kinh tế. Cộng với các khoản hỗ trợ vốn vay ưu đãi, giảm thuế, tổng gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng dự kiến lên tới 6 tỷ USD. Lần đầu tiên trong một năm Chính phủ hai lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP, từ 8-8,5% xuống 7% và hạ tiếp còn 6-6,5%. Tuy nhiên, tính chung cả năm 2024, GDP chỉ tăng 6,23%. Trong mấy tháng đầu năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam liên tục giảm, thị trường tài chính suy yếu, thể hiện qua sự sụt giảm của đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tỉ lệ lao động thất nghiệp tăng cao.v.v.
Những dấu hiệu trên cho thấy bất ổn kinh tế vĩ mô và sóng gió trên thị trường tài chính quốc tế đã, đang và sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian sắp tới. Để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích những ảnh hưởng của Khủng Hoảng Tài Chính đến Nền Kinh Tế Việt Nam trong năm 2024 và đầu năm 2025, từ đó đưa ra những giải pháp làm giảm thiểu tác động của khủng hoảng đến Việt Nam trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến nền kinh tế Việt Nam
- Thảo luận các chính sách vĩ mô đang được chính phủ Việt Nam áp dụng, đề xuất các giải pháp làm giảm ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến Việt Nam.
1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam từ tháng 8 năm 2024 đến hết quý 1 năm 2025 đồng thời thảo luận các chính sách vĩ mô đang được áp dụng trong thời gian này.
1.4. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm có 5 chương:
- Chương 1: Đặt vấn đề:
Nêu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận văn.
- Chương 2: Tổng quan
Khái quát tình hình kinh tế thế giới và diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu, một số nét về tình hình phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2002 đến nay đặc biệt là giai đoạn gần đây. Điểm lại các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế ở một số nước trên thế giới tiêu biểu là các nước Châu Á.
- Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài, các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính, mô hình lưu chuyển của chi tiêu và thu nhập, lý thuyết về mô hình tổng cung – tổng cầu (AS –AD), lý luận về các chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế hiện nay.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Mô tả, phân tích những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam, những chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế đang được thực hiện và đưa ra những giải pháp làm giảm thiểu tác động của khủng hoảng tới nền kinh tế Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
Khái quát một số nét về diễn biến kinh tế toàn cầu kể từ khi khủng hoảng tài chính bùng nổ; tình hình phát triển kinh tế nước ta từ năm 2002 đến đầu năm 2025 và nêu lên những vấn đề nổi bật của kinh tế Việt Nam trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, các chính sách nhằm làm giảm tác động của khủng hoảng tài chính đang được áp dụng ở một số nước trên thế giới là những bài học kinh nghiệm tốt để Việt Nam có những chính sách thích hợp nhất trong bối cảnh kinh tế hiện nay.
2.1. Một số vấn đề kinh tế thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây
2.1.1. Vấn đề kinh tế thế giới
Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ cuối năm 2023 đã lan nhanh và ảnh hưởng sâu rộng đến toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo. Năm 2024 cũng chứng kiến những nỗ lực chưa từng có để chống chọi với bão tài chính. Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn suy giảm nghiêm trọng trước cú sốc tài chính nguy hiểm nhất kể từ năm 1930 ở các thị trường lớn. Ngân hàng thế giới (WB) nhận định “ GDP toàn cầu năm nay sẽ giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giới lần 2”. Nửa đầu năm 2025, sản lượng công nghiệp thế giới sẽ thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm 2024. Thương mại thế giới giảm nhiều nhất, kim ngạch xuất khẩu tháng 1/ 2025 của Nhật Bản giảm 46,3%, Mỹ giảm 31%, Trung Quốc giảm 17,5%, Đài Loan giảm 42,9% so với tháng 1 năm 2024 (theo AFB, Reuteurs). Khủng hoảng tài chính đã chính thức trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hậu quả mà khủng hoảng kinh tế lần này gây ra thật khôn lường. Các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật, các nước EU lần lượt tuyên bố suy thoái, GDP toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, hàng loạt các tập đoàn tài chính, ngân hàng phá sản, hoạt động sản xuất ngưng trệ, tỉ lệ người thất nghiệp tăng đột biến kéo theo đó là những biến động sâu sắc trong xã hội. Số người thất nghiệp năm 2025 dự kiến sẽ tăng thêm 51 triệu người, làm cho toàn thế giới có tới 230 triệu người không có việc làm. Nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới dự báo đây là giai đoạn tồi tệ nhất của kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó cả thế giới đang cố gắng tìm mọi biện pháp nhằm chống lại suy thoái và kích thích tăng trưởng kinh tế. Chính phủ, NHTW các nước và các tổ chức khác đã phải hết sức khẩn trương thực hiện các biện pháp can thiệp, giải cứu thị trường như liên tục giảm lãi suất, bơm tiền vào hệ thống ngân hàng, giảm tỷ lệ DTBB, mua lại các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng, tung ra các gói giải pháp kích thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ tài chính nhằm đảm bảo lòng tin của công chúng và thị trường. Trong đó, giải pháp được nhiều Chính phủ lựa chọn là việc đưa ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế. Mỗi quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi nước đã đưa ra các gói kích cầu có quy mô, liều lượng và cách thức thực hiện khác nhau. Gói vốn khổng lồ của chính phủ Mỹ qua các đợt lên đến 2.250 tỷ USD, Trung Quốc 568 tỷ, các nước EU, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc…cũng đã nhanh chóng thông qua các gói vốn hỗ trợ cho Ngân hàng và các ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD. Tất cả các gói vốn khổng lồ này hầu hết tập trung vào cứu nguy cho hệ thống ngân hàng, các ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghiệp ô tô, ngành xây dựng, năng lượng và du lịch với mục tiêu kích cầu đầu tư và tiêu dùng, tạo diện mạo mới để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Nhiều hội nghị cấp cao của các bộ trưởng tài chính, các tổ chức quốc tế như IMF, WB đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng, gay cấn vì tính cấp bách của việc phục hồi tăng trưởng kinh tế thế giới. Để cứu nguy cho nền kinh tế toàn cầu, các nước đã cùng bắt tay thông qua chương trình hành động chung, thành lập các quỹ cứu trợ. Trước hết là biện pháp của Ngân hàng Trung ương các nước: trong vòng 15 ngày đầu: Fed phối hợp với NHTW các nước thực hiện thoả thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 620 tỷ USD cung ứng USD cho thị trường tiền tệ một số nước phát triển (EU, Nhật, Thuỵ Sỹ, Anh…). Tổng số tiền mà ngân hàng trung ương các nước như Nhật Bản, Anh, Thuỵ Sỹ, Australia… đã cung ứng khoảng 1.000 tỷ USD để tăng thanh khoản cho thị trường tiền tệ, ngăn chặn các cuộc đổ vỡ ngân hàng tiếp theo.
Tính đến cuối tháng 12 thì tổng cung ứng của FED là 1.200 tỷ USD ra thị trường tiền tệ với nhiều biện pháp vay khẩn cấp để đảm bảo thanh khoản của hệ thống ngân hàng, mở rộng danh mục giấy tờ có giá được cầm cố để vay vốn tại FED, thực hiện các khoản vay trên thị trường liên ngân hàng để tạo điều kiện cho các ngân hàng cho vay lẫn nhau; cho phép một số các ngân hàng đầu tư được phép huy động vốn như ngân hàng thương mại để giảm căng thẳng về vốn; thực hiện các cam kết hoán đổi tiền tệ với các NHTW các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Australia, Thuỵ Sỹ để đảm bảo cung ứng USD ra thị trường tiền tệ các nước. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Từ ngày 01/1/09 đến ngày 12/1/09, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tập trung vào việc thu hẹp chênh lệch lợi tức giữa Trái phiếu Kho bạc Mỹ và lãi từ hoạt động mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp và tiêu dùng vì động thái cắt giảm lãi suất xuống gần 0% đã không có tác dụng gì trong việc kích thích tín dụng. Fed cũng có những biện pháp mới kích thích tín dụng thông qua việc mua lại những khoản nợ và trái phiếu mà các nhà đầu tư không muốn mua. Ngày 05/01/2024, Fed đã bắt đầu mua lại những chứng khoán có tài sản đảm bảo do Fannie Mae, Freddie Mac và Ginnie Mae phát hành.
Một trong những giải pháp đang được FED xem xét là thực hiện kế hoạch mua lại tài sản trong chương trình TARP (Chương trình hỗ trợ các tài sản xấu) trị giá 700 tỉ USD kết hợp với việc bơm thêm vốn vào các ngân hàng, đồng thời giúp các chủ sở hữu nhà đất tránh được nguy cơ bị tịch biên.
Lãi suất điều hành của NHTW các nước cũng đã được điều chỉnh giảm liên tục từ khi bắt đầu khủng hoảng đến nay, cụ thể như: Ngân hàng Nhân Dân Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc giảm 5 lần, Ngân hàng Trung ương Anh giảm lãi suất 4 lần, FED, Ngân hàng Trung ương Châu Âu…
Đối với Chính phủ các nước: nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, Chính phủ nhiều nước đã ban hành các gói giải pháp để hỗ trợ thị trường tài chính và kích thích tăng trưởng kinh tế. Cũng trong vòng 15 ngày đầu, các giải pháp tình thế đã được tiến hành như quốc hữu hoá Công ty bảo hiểm AIG của Mỹ, Ngân hàng Fortis của Bỉ, Ngân hàng Bradford& Bingley của Anh; chuyển giao ngân hàng Washington Mutual Inc cho ngân hàng Jp Morgan Chase quản lý; cho phép Goldman Sachs, Morgan Stanley chuyển mô hình hoạt động, thành lập ngân hàng con để huy động vốn. Cơ quan chứng khoán Mỹ, Anh và một số nước phát triển đã ban hành lệnh cấm hoạt động bán chứng khoán đối với hàng trăm loại cổ phiếu…
Tiếp theo cho đến 12/01/2025, Chính phủ một loạt các nước đã đưa ra các giải pháp để hỗ trợ thị trường tài chính và kích thích tăng trưởng. Ngày 3/10, Quốc hội Mỹ thông qua điều luật giải cứu thị trường trị giá 700 tỷ USD, trong đó 250 tỷ USD sử dụng mua cổ phiếu của các ngân hàng lớn, 450 tỷ USD tiếp theo được sử dụng trong những trường hợp cụ thể, tăng mức bảo hiểm tối đa một tài khoản tiền gửi 100.000 USD lên 250.000 USD, áp dụng giảm thuế cho dân chúng;
Ngày 25/11/2024, Cục Dự trữ liên bang Mỹ công bố sẽ sử dụng khoảng 800 tỷ USD để cải thiện thị trường tín dụng cho những người mua nhà, người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ. Chính phủ Mỹ cũng đã đề xuất các gói hỗ trợ cho các tập đoàn công nghiệp ô tô vốn bị ảnh hưởng nặng từ cuộc khủng hoảng tài chính làm cho hạn chế khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng và sự suy thoái kinh tế làm giảm nhu cầu mua ô tô, hai hãng sản xuất ô tô hàng đầu của Mỹ là General Motors (GM) và Chrysler vừa được Chính phủ nước này quyết định cấp một khoản vay trị giá 13,4 tỷ USD (lấy từ gói hỗ trợ 700 tỷ USD) để duy trì hoạt động cho tới hết tháng 3/2025. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Chính phủ các nước Châu Âu có các kế hoạch tổng cộng khoảng 3.000 tỷ USD để mua lại nợ xấu, cơ cấu lại tài sản của các ngân hàng, mua cổ phần ngân hàng, cho các ngân hàng vay dài hạn để mua lại cổ phiếu của chính mình, điều chỉnh tăng tiền bảo hiểm tiền gửi.
Ngày 12/12/2024, Chính phủ Nhật Bản đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế bổ sung trị giá 23.000 tỷ Yên (242 tỷ USD) để giải quyết khó khăn thị trường việc làm; ngày 29/12/2024, thông qua ngân sách kỷ lục 88.500 tỷ Yên (980 tỷ USD) dành cho tài khoá năm 2025 (bắt đầu từ 4/2025). Hiện nay cả Chính phủ và Ngân hàng Trung ương nước này cũng đang cân nhắc cho khoảng 10.000 tỷ Yên (110 tỷ USD) để hỗ trợ các ngân hàng chống đỡ với các khoản nợ xấu và tài sản mất giá.
Chính phủ các nước G7-G20 đều tuyên bố sẽ sử dụng tất cả các biện pháp nhằm ổn định thị trường tài chính- tiền tệ. Tính đến hết năm 2024, có ít nhất 35 nước đã phải thực hiện cam kết thực hiện giải cứu kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo thanh khoản và cải cách hệ thống tài chính với qui mô hỗ trợ từ 0,1%GDP (Thuỵ Sỹ) đến 34,6%GDP (Áo) thông qua Bộ Tài Chính và Ngân hàng Trung ương. Tuy nhiên các nỗ lực này vẫn chưa đủ để có thể ngăn chặn được hoàn toàn những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng.
Các tổ chức khác như IMF, ADB, OPEC, … cũng tiến hành tham gia vào hoạt động ngăn chặn khủng hoảng, hạn chế tối đa những đổ vỡ. Sau khi một số nước đã phải đề nghị sự giúp đỡ từ IMF như Pakistan, Iceland, Ukraina và Hungary, IMF tham gia hỗ trợ cho các thành viên với số vốn khoảng 200 tỷ USD, đến nay đã có một số nước như Pakistan, Iceland, Ukraina, Hungary được IMF hỗ trợ. Cụ thể : Hungary đã được nhận 15,7 tỷ USD; Ukraina: 16,4 tỷ USD; Pakistan 7,6 tỷ USD; Latvia: 2,35 tỷ USD; Belarus: 2,46 tỷ USD, Ice land: 2,1 tỷ USD. Ngày 12/1, IMF tuyên bố cần tới khoản hỗ trợ khoảng 150 tỷ USD để hỗ trợ các nước nghèo và các thị trường mới nổi thoát khỏi khủng hoảng. Theo nhận định của tổ chức này mới đưa ra thì số tiền cần thiết để hồi sinh kinh tế thế giới phải là 4.000 tỷ USD, tương đương 7% GDP toàn cầu và lớn gấp 7 lần con số hiện tại; ADB kêu gọi các nhà chính sách Châu Á hành động để ngăn chặn việc thắt chặt hơn nữa các thị trường tín dụng, đảm bảo thanh khoản trong và ngoài nước. Các nền kinh tế các nước Đông Á- Trung quốc và ASEAN cũng đẩy mạnh hợp tác thúc đẩy thương mại chống khủng hoảng. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Do tình hình kinh tế thế giới suy giảm mạnh, giá dầu lửa tiếp tục có xu hướng giảm mạnh từ mức 101USD/thùng ngày 12/9 xuống mức thấp nhất khoảng 30,28 USD/thùng vào ngày 23/12/2024, mặc dù các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC đã tuyên bố cắt giảm sản lượng khai thác 2,46 triệu thùng/ngày áp dụng từ 1/2025. Đến ngày 12/1/2025 giá dầu lửa ở mức 40,01 USD/thùng.
Theo đánh giá của IMF, triển vọng kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm trong thời gian tới. Lòng tin kinh doanh và người tiêu dùng đều giảm mạnh. Kinh tế các nước phát triển tiếp tục giảm mạnh trong năm tới. Kinh tế các nước mới nổi cũng giảm nhưng vẫn đạt được 5% trong năm 2025. Kinh tế Mỹ và khu vực EURO giảm chủ yếu do giá tài sản tài chính giảm và thắt chặt các điều kiện cho vay. Kinh tế Nhật giảm chủ yếu là do giảm xuất khẩu ròng. Kinh tế Khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng ít hơn do được lợi từ việc giá hàng hoá giảm, đồng thời họ cũng đã bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô nới lỏng. Tuy nhiên vẫn phải có thời gian để những nỗ lực này phát huy tác dụng, và IMF cũng dự đoán là kinh tế có thể chuyển sang giai đoạn phục hồi vào cuối năm 2025 (xem Bảng 2.1).
- Bảng 2.1 Dự Báo Tốc Độ Tăng Trưởng Kinh Tế Một Số Nước Trên Thế Giới của IMF
Dự báo của Worldbank (WB): WB gần đây cũng dự báo kinh tế thế giới giảm, thậm chí mức tăng trưởng còn thấp hơn dự báo của IMF. Dự báo kinh tế thế giới và tất cả các nước đều có mức giảm hơn so với năm 2024 và mức giảm này vẫn tiếp tục trong năm 2025 (xem Bảng 2.2).
- Bảng 2.2 Dự Báo của WB
Về thời điểm phục hồi kinh tế thế giới: Đa số các nhà kinh tế đều cho rằng nền kinh tế thế giới chưa có dấu hiệu phục hồi trước năm 2026. Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 16 tại Lima (Peru), ngày 23-11, lãnh đạo các nước thành viên cho rằng trong 18 tháng tới (tức giữa năm 2026) thế giới sẽ vượt qua được “cơn bão” tài chính đang đe dọa nhấn chìm thế giới vào suy thoái kinh tế hiện nay. Theo Tổng giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết toàn bộ kinh tế thế giới sẽ tiếp tục suy thoái, năm 2025 sẽ là năm cực kỳ khó khăn và sẽ không có dấu hiệu phục hồi trước đầu năm 2026. Những cảnh báo kể trên của IMF là có cơ sở trong bối cảnh các nền kinh tế lớn trên thế giới đều đang lún sâu vào suy thoái, bất chấp hàng nghìn tỷ USD đã được sử dụng để chống khủng hoảng tài chính và kích cầu kinh tế. Kinh tế khu vực đồng Euro và Anh cũng đang ngày một lún sâu hơn vào suy thoái. Tính đến tháng 12/2024, toàn bộ 15 nước thành viên khối khu vực đồng Euro thông báo nền kinh tế của những nước này trong quý 3 đều trong tình trạng xấu nhất từ trước đến nay. Đến nay, các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế tư nhân tại khu vực đồng Euro đã tăng trưởng âm trong 7 tháng liên tục. GDP của khu vực này dự đoán sẽ tăng trưởng âm 0,6% trong quý 4/2024. Nền kinh tế khu vực xấu đi đã gây sức ép buộc Ngân hàng trung ương châu Âu phải xem xét khả năng tiếp tục cắt giảm mức lãi suất, trong khi mức lãi suất hiện đã giảm xuống còn 2,5%. Trước nguy cơ kinh tế toàn cầu suy thoái, WB cũng đã đưa ra cảnh báo tương tự như IMF và ADB. Trong những mối đe dọa lớn nhất dự kiến có thể xảy ra trong năm tới, có cả việc các hệ thống tín dụng không hiệu quả, nạn thất nghiệp gia tăng ở tất cả các nước và tình trạng khó khăn ngày càng nghiêm trọng hơn đối với các nước nghèo nhất thế giới.
2.2. Diễn biến và nguyên nhân của khủng hoảng tài chính toàn cầu Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ, bùng nổ từ ngày 15/9 đã leo thang và lan rộng, trở thành khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu. Cho đến nay, Mỹ và châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất; riêng Mỹ, IMF đã nâng mức dự báo về những thiệt hại do cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ gây ra lên đến 1.400 tỷ USD. IMF cũng cảnh báo sự suy giảm kinh tế thế giới trở nên trầm trọng hơn và hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2024 – 2025; một số nước khác có thị trường vốn liên thông với Mỹ và châu Âu chịu ảnh hưởng trực tiếp; thị trường tài chính các nước châu Á và Nam Mỹ cũng bị ảnh hưởng nhưng mức độ chưa lớn. Tính cho đến nay, có 14 ngân hàng, công ty bảo hiểm lớn ở Mỹ và châu Âu bị buộc phải phá sản, bị quốc hữu hoá hoặc bị các ngân hàng khác mua lại: Ngân hàng Lehman Brothers phá sản; các ngân hàng Bear Stearns, Merrill Lynch, Wachovia, Washington Mutual bị bán cho các ngân hàng khác; công ty bảo hiểm AIG của Mỹ, các ngân hàng Northern Rocks, Bradford&Bingley của Anh, ngân hàng Fortis, Dexia của Bỉ,… bị quốc hữu hoá hoặc nhận các khoản hỗ trợ tài chính từ Chính phủ các nước. Một số tổ chức tài chính và nhiều nhà kinh tế dự đoán Mỹ, EU, Nhật Bản sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề hơn trong năm 2025.
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã được đánh giá là do các nguyên nhân: (i) FED thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng” trong nhiều năm trước đây, lãi suất cho vay thấp đã thúc đẩy mở rộng cho vay mua bất động sản, đối với cả khách hàng không đủ điều kiện vay vốn; (ii) Thị trường tài chính, tín dụng ở Mỹ và châu Âu phát triển theo hướng tự do hoá nhưng thiếu lành mạnh; cho phép các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ; mở cửa tự do cho mọi loại công cụ tài chính mới xuất hiện, nhưng không có sự kiểm soát chặt chẽ; (iii) Lòng tin của các nhà đầu tư bị suy giảm đối với khả năng thanh toán của các ngân hàng và sự suy giảm mạnh của kinh tế Mỹ, châu Âu và thế giới đã kéo theo tình trạng bán tháo chứng khoán, hạn chế cho vay trên thị trường, tác động lan truyền và càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng.
Các biện pháp can thiệp thị trường, giải cứu ngân hàng của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương (NHTW) các nước và các tổ chức tài chính quốc tế.
Chính phủ các nước G7 và G20 đều tuyên bố sẽ sử dụng tất cả các biện pháp để ổn định thị trường tài chính – tiền tệ, bảo đảm thanh toán tiền gửi tiết kiệm của người dân, tiến hành quốc hữu hoá các ngân hàng có nguy cơ phá sản, cung cấp vốn vay không giới hạn bằng USD cho các ngân hàng. Bên cạnh đó, IMF tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ cho các thành viên trong trường hợp cần thiết, với nguồn vốn khoảng 200 tỷ USD.
Chính phủ Mỹ đã triển khai kế hoạch giải cứu thị trường trị giá 700 tỷ USD, Chính phủ các nước EU tuyên bố đưa ra các kế hoạch tổng cộng khoảng 3.000 tỷ USD và giải cứu thị trường bằng biện pháp mua lại nợ xấu, cơ cấu lại tài sản của các ngân hàng. Hiện nay Chính phủ Mỹ cũng đang bàn biện pháp hỗ trợ ngành sản xuất ô tô trong nước để tránh bị phá sản với 14 tỷ USD. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
FED thực hiện trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc cho các ngân hàng để tăng tiền dự trữ bắt buộc của các ngân hàng tại FED, có nguồn cho vay các ngân hàng khác. FED cũng thực hiện bảo lãnh các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng để ổn định thị trường tiền tệ trong điều kiện các ngân hàng không thực hiện cho vay lẫn nhau do lo ngại rủi ro mất vốn.
NHTW nhiều nước bơm thêm các khoản tiền lớn nhằm tăng thanh khoản cho thị trường: các NHTW đã đưa ra thị trường khoảng 2.200 tỷ USD, NHTW các nước phát triển cũng tuyên bố sẽ cung ứng tiền không có giới hạn, phối hợp điều chỉnh giảm lãi suất chủ đạo để tác động trực tiếp làm giảm lãi suất thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế: FED giảm từ 2%/năm xuống 1,5%/năm.
Do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, trong đó một số nước bị ảnh hưởng khá nặng nề. Trung Quốc đã dành hơn 1.000 tỷ USD để kích thích nền kinh tế…, Liên minh châu Âu đang phải gồng mình chống lại những ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính đang tác động tới khu vực này và đã có rất nhiều cuộc họp cấp Bộ trưởng và Thượng đỉnh để tìm giải pháp cứu nguy các nền kinh tế đang bị đe dọa. Tại cuộc họp thượng đỉnh liên minh châu Âu (EU) tại Brusel (Bỉ) diễn ra trong 2 ngày 11 và 12/12/2024 các nước đã thoả thuận bước đầu về kế hoạch thúc đẩy kinh tế trị giá 264,3 tỷ USD, tương đương 1,5% GDP nhằm khôi phục nhanh chóng nền kinh tế, tăng trưởng và tạo việc làm.
2.3. Khái quát tình hình phát triển kinh tế từ năm 2002 đến năm 2025 Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Giai đoạn 2002 – 2006. Đây là giai đoạn đầu thời kỳ Đổi Mới với việc chủ yếu là đổi mới cơ chế quản lý. Trong giai đoạn này nền kinh tế vẫn gặp phải nhiều khó khăn nghiêm trọng, lạm phát vẫn tiếp tục gia tăng. Song đến năm 2006 nhờ áp dụng chính sách đổi mới, tình hình kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến rõ rệt. Năm 2004, Việt Nam đưa ra chế độ khoán nông nghiệp, giúp Việt Nam từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới vào năm 2006. Giá trị sản lượng công nghiệp tăng trung bình hàng năm 5,9%. Kinh tế đối ngoại đã được cải thiện: năm 2002 xuất khẩu đạt 439 triệu rúp/USD và 384 triệu USD, đến năm 2006 đạt 1919 triệu rúp/USD và 1170 triệu USD.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bước đầu hình thành. Một thành công lớn khác là siêu lạm phát đã được kiểm soát tốt (năm 2002 lạm phát là 774,7%, thì năm 2003 là 223,1%, 2005 là 36% và 2006 là 67,1%). Nhìn chung, kết quả đạt được trong giai đoạn này là sản xuất được phục hồi, kinh tế tăng trưởng, lạm phát bị đẩy lùi.
Giai đoạn 2007 – 2011. Giai đoạn này nền kinh tế vẫn bị bao vây, cấm vận, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Nền kinh tế xuất hiện nhiều thành phần, trong đó kinh tế ngoài quốc doanh chiến 60% tổng sản phẩm trong nước.
Trong 5 năm (2007-2011), GDP bình quân tăng 8,2%/ năm, tốc độ tăng trưởng qua các năm: 2007 (5,8%), 2008 (8,7%), 2009 (8,1%), 2010 (8,8%) và 2011 (9,5%). Sản xuất trong nước đã có tích luỹ, đảm bảo trên 90% quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng hàng năm. Tốc độ tăng bình quân giá trị sản lượng nông nghiệp là 5,8%, sản lượng lương thực đã tăng từ 22 triệu tấn năm 2007 lên 27,5 triệu tấn năm 2011. Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp trung bình 5 năm là 13,3%. Thương mại và dịch vụ cũng phát triển đáng kể: năm 2011 giá trị của ngành dịch vụ đã tăng lên 80% so với 2006, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng bình quân trên 20%/năm. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát và hạn chế. Năm 2007 (67,5%), năm 2008 (17,5%), 2009 (5,2%), 2010 (14,4%), năm 2011 (12,7%).
Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Nền kinh tế bắt đầu có những tích lũy nội bộ: năm 2006 vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 15,8% GDP, năm 2011 tăng lên là 27,4% trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm 16,7% GDP. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại. Ngày 28/07/2011, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Cũng trong tháng 7/2011, Việt Nam bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ. Việt Nam cũng đã nộp đơn xin gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Nền kinh tế hướng về xuất khẩu. Từ 2007 – 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 16,9 tỉ USD (vượt mức kế hoạch đặt ra là 12 – 15 tỉ USD), kim ngạch nhập khẩu đạt 22,1 tỉ USD bằng 138,1% so với kế hoạch.
Tốc độ tăng bình quân của đầu tư trực tiếp đạt 50%/năm. Đến cuối 2011 tổng số vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam đạt trên 19 tỉ USD, trong đó có khoảng 1/3 tổng số vốn đã được thực hiện.
Giai đoạn từ 2012 – 2016. Bước đầu thực hiện mục tiêu đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong 2 năm 2012 – 2013, nền kinh tế phát triển tốt, GDP bình quân đạt hơn 9%/ năm. Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng bình quân 4,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,8%. Lạm phát được kiểm soát: năm 2012 là 4,5% và năm 2013 là 4,3%. Tuy nhiên, từ giữa năm 2013, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á và ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nền kinh tế Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn. Tốc độ tăng trưởng GDP liên tục suy giảm: năm 2012 đạt 9,34%; năm 2013 đạt 8,15%; 2014 chỉ còn 5,83% và năm 2015 chỉ đạt 4,8%.
Về lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù có những khó khăn nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn có những thành tựu. Năm 2015, sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 33,8 triệu tấn, tăng 5,5% so với năm 2014, xuất khẩu gạo đạt mức kỷ lục 4,5 triệu tấn, đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp duy trì mức trung bình 12,6% (2012: 14,2%, 2013: 13,8%, 2014: 12,1%, 2015: 10,4%, 2016: 15,5%).
- Bảng 2.3. Một Số Chỉ Tiêu Phát Triển Nông Nghiệp Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Về quan hệ kinh tế đối ngoại: Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu năm 2012 là 33,2%, năm 2013 là 26,6%, năm 2014 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,9%, nhưng năm 2015 đã tăng lên đến 23,1%. Trong 5 năm (2012 – 2016), kim ngạch xuất khẩu đạt 5646 triệu USD/năm, riêng năm 2016 đạt 14 tỉ USD. Nhập siêu giảm từ 3,8 tỷ USD năm 2012 xuống còn 800 triệu USD năm 2016. Đến năm 2016, cả nước có hơn 3000 dự án đầu tư nước ngoài với hơn 700 doanh nghiệp thuộc 62 nước và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký trên 36 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng 17 tỷ USD.
Bên cạnh đó cũng bộc lộ những dấu hiệu đáng lo ngại: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần, năm 2012: 9,3%, 2013: 8,2%, năm 2014: 5,8%, năm 2015: 4,8%, đến năm 2016 tốc độ tăng trưởng có khá hơn (6,8%) nhưng vẫn chưa vững chắc. Đầu tư nước ngoài và sức mua trong nước giảm mạnh làm cho đầu tư trong nước giảm. Những năm này nước ta đối mặt với tình trạng thiểu phát và giảm phát (năm 2015 chỉ số giá chỉ tăng 0,1%, trong đó lương thực giảm 7,8%). Đến năm 2016, chỉ số gía tiêu dùng cả năm là -0,6%. Công cuộc đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất chưa tạo ra động lực mạnh mẽ để phát huy hết năng lực của các thành phần kinh tế. Hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước còn hạn chế, đặc biệt là hệ thống tài chính, ngân hàng.
Giai đoạn 2017 – 2021. Giai đoạn này Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong và ngoài nước như: thiên tai vẫn xảy ra hàng năm, dịch SARS, dịch cúm gia cầm tái phát từ năm 2019 đến nay, sự kiện khủng bố 11/9/2017 tại Mỹ, cuộc chiến tranh tại Irắc, v.v. Tình hình thị trường và giá cả hàng hoá, dịch vụ diễn biến rất phức tạp như: giá xăng dầu, phôi thép tăng đột biến, thị trường xuất khẩu thu hẹp nhất là hàng dệt may, giày dép, nông sản, v.v. do các vụ kiện bán phá giá.
Mặc dù bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thách thức như trên, tốc độ tăng GDP vẫn tăng đều qua các năm (từ năm 2017 đến 2021, GDP tăng lần lượt là 6,9%, 7,08%, 7,34%, 7,7% và 8,43%). Lạm phát trong thời kỳ này được kiềm chế ở một con số (2017(0,8%), 2018(4%), 2019(3%), 2020(9,5%), 2021(8,4%)). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm thuỷ sản tuy nhiên chưa rõ ràng. Quy mô giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2021 gấp 7,6 lần so với năm 2006, trong đó từ 2017 – 2021 tăng bình quân 16%/năm, cao hơn tốc độ tăng 13,1%/năm theo mục tiêu đề ra cho 5 năm.
Tuy giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành quả khích lệ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như: Mức đầu tư cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp (hệ số ICOR tăng cao nhất khu vực Đông Nam Á) sẽ hạn chế khả năng tăng trưởng trong dài hạn. Các DNNN hoạt động trì trệ hơn các thành phần khác, và quá trình cổ phần hoá DNNN còn diễn ra chậm. Bất đồng giữa người lao động và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về vấn đề lương bổng và điều kiện làm việc có dấu hiệu gia tăng. Các doanh nghiệp trong nước phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế. Tệ nạn tham nhũng đang diễn ra nghiêm trọng trong bộ máy hành chính nhà nước. Đây là một trong những lực cản lớn nhất đối với phát triển kinh tế của Việt Nam. Mối quan hệ cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường chưa được coi trọng. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Giai đoạn 2022 – 2024 và mấy tháng đầu năm 2025: Giai đoạn 2022- 2024 là giai đoạn mà Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới phải đối mặt với tình hình lạm phát gia tăng. Giá các nhóm hàng hoá tiêu dùng tăng cao trong đó giá của nhóm lương thực- thực phẩm là tăng cao nhất. Năm 2023, thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, tai nạn do sự cố sập cầu dẫn cầu Cần Thơ và sự biến động bất lợi của thị trường, giá cả thế giới kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng là những yếu tố không thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Giá cả nhiên liệu, vật tư nhất là xăng dầu, phôi thép, thép, nguyên liệu sợi, vải, vật liệu phục vụ công nghiệp dệt may, da giày, hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi tăng cao. Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng biến động phức tạp như dệt may, da giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, động cơ điện.. Điều đó đã làm giá cả tiêu dùng trong nước tăng cao không có điểm dừng. Theo tổng cục thống kê, giá tiêu dùng năm 2023 tăng hơn 13%-, kỷ lục trong vòng một thập kỷ qua.
Năm 2023 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hội nghị cấp cao APEC năm 2022. Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế, đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và tăng cường thông qua các cuộc thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhà doanh nghiệp. Tình hình chính trị ổn định, an ninh – quốc phòng bảo đảm, đã tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệp trong nước. Thị trường và giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theo hướng cầu lớn hơn cung như dầu thô, gạo, cà phê, chè, thủy sản… Do đó, giá cả các mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu.
Trong năm 2023, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Tốc độ tăng trưởng đạt 8,48%, cao nhất trong mười năm qua. Tổng sản phẩm quốc nội GDP tính theo giá hiện hành đạt 1.144 nghìn tỷ đồng tương đương 71,4 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người ở mức 835 USD, cao hơn dự kiến, và sẽ vươn tới 960 USD trong năm 2024. Lần đầu tiên dòng vốn đầu tư nước ngoài(FDI) đổ vào Việt Nam đạt 20,3 tỷ USD, với những gương mặt tên tuổi như Foxconn, Piaggio, Keangnam. Việt Nam nhận được cam kết tài trợ 5,4 tỷ USD từ nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA).
Thị trường chứng khoán cũng có nhiều biến động trong năm này, chỉ số Vn- Index có lúc đạt tới đỉnh 170,67 rồi sụt giảm liên tục trong những tháng sau đó. Chỉ số VN- Index chỉ lanh quanh trong khoảng từ 900 đến 1000 điểm thậm chí có lúc tụt xuống đáy là 883,9 điểm vào ngày 6/8. Chỉ thị 03 của Ngân hàng nhà nước về khống chế dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán ở mức 3%, buộc nhiều ngân hàng dừng cho vay và rốt ráo xiết nợ, không ít nhà đầu tư hụt vốn. Thêm vào đó, năm 2023 là năm mà nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực xương sống của nền kinh tế chào bán cổ phần lần đầu IPO khiến cho thị thường chứng khoán vốn non trẻ của nước ta thêm lận đận. Mặc dù vây, đây vẫn là kênh huy động vốn hiệu quả của nền kinh tế, quy mô vốn hóa của thị trường tập trung đã chiếm hơn 40% GDP. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Nhờ tác động của chủ trương thoáng hơn với việc sở hữu nhà của Việt Kiều và người nước ngoài, thị trường bất động sản sôi động trở lại sau nhiều năm trầm lắng. Giá nhà đất trải qua 3 đợt tăng cao, vào tháng 3, 8 và 10. Cơn sốt lên đến đỉnh điểm khi hàng nghìn khách hàng chen lấn đi đặt tiền “giữ chỗ” tại những dự án chung cư cao cấp hồi tháng 10. Trong số đó không ít là giới đầu cơ chuyên nghiệp, những người lập tức chuyển nhượng xuất mua cho khách hàng cấp 2-3 với giá gấp 1,5-2 lần mức công bố của chủ đầu tư. Làn sóng đầu tư vào Việt Nam tăng cao cũng kéo theo nhu cầu thuê, mua nhà ở phát triển vượt bậc.
Năm 2024 tiếp tục là năm khó khăn đối với Việt Nam. Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hóa khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai; dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư.Trong bối cảnh đó, chính phủ Việt Nam tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao nhằm sớm hoàn thành mục tiêu 5 năm; các biện pháp và công trình được triển khai dồn dập mà không có sự quản lý chặt chẽ. Kết quả là cung tín dụng tăng trên 50%, nhập siêu vượt mức an toàn, thị trường chứng khoán sụt giảm kỷ lục, bong bóng thị trường bất động sản bị vỡ. Nền kinh tế rơi vào cả hai trạng thái phức tạp lạm phát và giảm phát. Năm 2024 lạm phát của Việt Nam đã vượt lên mức hai con số, đỉnh điểm đạt tới 23%.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng nhưng có dấu hiệu chậm lại ở những tháng cuối năm; trong đó nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất giảm nhiều nhất chứng tỏ có sự chững lại trong đầu tư và sản xuất. Bước sang quý 1/2025, lần đầu tiên sau nhiều năm, cán cân thương mại của Việt Nam ở trạng thái xuất siêu.
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, môi trường kinh doanh có sức hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư nước ngoài (đầu tư nước ngoài năm 2023 đạt trên 20 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ( năm 2023 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 8.5% đứng thứ hai thế giới chỉ sau Trung Quốc), thị trường chứng khoán và bất động sản hình thành và bắt đầu phát triển, cơ chế thị trường định hướng XHCN được định hình, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt (thành viên WTO, lần đầu tiên được bầu là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc…). Bắt đầu từ cuối năm 2023, nền kinh tế Việt Nam xuất hiện nhiều yếu tố thể hiện sự bất ổn của tăng trưởng kinh tế quá nóng. Lạm phát tăng cao, trong 6 tháng đầu năm 2024 lạm phát đã lên tới 18,44% so với tháng 12/2023. Chỉ số lạm phát tăng cao đã gây nên những hệ lụy rất lớn trong đời sống xã hội, nhất là đến nông dân và những người có thu nhập thấp, đe dọa tính ổn định vĩ mô, tác động đến môi trường kinh doanh, đầu tư và tăng trưởng, những thành tựu của công cuộc xóa đói giảm nghèo, gây tâm lý bất an cho các nhà đầu tư và người dân. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng nhanh của chỉ số lạm phát là do quá trình tăng trưởng kinh tế của nước ta thiếu bền vững, tăng trưởng GDP cao nhưng chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, hiệu quả đầu tư thấp (chỉ số ICOR cao). Đầu tư công của nhà nước không đồng bộ, hiệu quả chưa cao thể qua nhiều công trình được nhà nước đầu tư hàng chục tỷ đồng nhưng xây dựng kém chất lượng gây lãng phí thời gian và tiền của. Kết quả của đầu tư ồ ạt, chạy theo số lượng là hàng loạt các công trình trị giá hàng tỷ đô la Mỹ ở các địa phương, các tập đoàn kinh tế liên quan đến năng lượng, kết cấu hạ tầng nguồn nhân lực ở tầm kinh tế quốc dân, rất quan trọng cho quốc kế sinh nhai đã được triển khai nhanh chóng, thiếu đi sự thẩm định cần thiết của các chuyên gia. Tình trạng này làm cho sự cân bằng các nguồn lực trong nền kinh tế bị phá vỡ. Thêm vào đó là sự quản lý kinh tế lỏng lẻo, tập trung đầu tư cho các tập đoàn kinh tế nhà nước vốn không được xây dựng trên nền tảng chắc chắn mà chỉ thí điểm với nhiều ưu tiên trong quá trình hoạt động, để cho các tập đoàn này tự do phát triển sang nhiều lĩnh vực khác như đầu tư vào chứng khoán, thị trường bất động sản, ngân hàng thậm chí là thành lập các ngân hàng thương mại, đã làm cung tín dụng trong nước tăng rất cao, lạm phát tăng vọt lên 25%, nhập siêu vượt quá mức an toàn, chứng khoán sụt giảm ở mức kỷ lục, bong bóng thị trường bất động sản bị vỡ. Trước tình hình đó, từ tháng 3/2024 Chính phủ đã đưa 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Lãi suất cơ bản được nâng lên, đồng thời tăng tỉ lệ DTBB, phân bổ tín phiếu bắt buộc, cắt giảm đầu tư, chi tiêu chính phủ… Các biện pháp kiểm soát lạm phát gây ra gánh nặng cho các ngân hàng thương mại và những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặc dù lạm soát nhanh chóng được kìm lại nhưng thực chất trong nền kinh tế vẫn còn tồn đọng nhiều điểm yếu kém đặc biệt là trong khâu quản lý. Các ngân hàng gặp khó khăn trong huy động vốn, các doanh nghiệp nhỏ không thể xoay xở được vốn cho sản xuất. Chính phủ đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2024 từ 8,5-9% xuống còn 7%. Nền kinh tế chưa kịp định hình sau lạm phát thì những chấn động từ “cơn bão tài chính” toàn cầu tiếp tục làm tổn thương nền kinh tế nước ta. Giá hàng loạt nguyên vật liệu trên thế giới giảm mạnh khiến tốc độ tăng giá của nhiều mặt hàng tiêu dùng trong nước giảm dần và chỉ số giá của hai tháng 10 và 11/2024 giảm hơn trước. Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạch lẫn khối lượng do phải đối mặt với những khó khăn từ các nước nhập khẩu (tín dụng, khả năng thanh khoản, sức mua giảm). Hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được, khối lượng hàng tồn kho lớn buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, sa thải bớt công nhân làm tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Một số lượng lớn các ngân hàng, các định chế tài chính lớn trên thế giới sụp đổ, sự rối ren trong hệ thống tài chính toàn cầu làm niềm tin người tiêu dùng và niềm tin của các nhà đầu tư suy giảm bằng chứng là tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm thấy rõ trong mấy tháng gần đây. Trong bối cảnh thế giới như vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có dấu hiệu sụt giảm với rất nhiều các biến động. Nguồn tín dụng bị thu hẹp dẫn đến việc cổ phần hóa các công ty nhà nước gặp trở ngại, nước ta khó có thể hoàn thành mục tiêu cổ phần hóa vào năm 2026. Như vậy, những dấu hiệu suy giảm kinh tế đang ngày một rõ hơn trên tất cả các mặt của nền kinh tế Việt Nam.
2.4.Chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế của một số nước Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
2.4.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính lần này đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc, buộc Chính phủ Trung Quốc phải nhanh chóng thay đổi các chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát đã áp dụng từ cuối năm 2023 sang một lối khác hoàn toàn trái ngược với các chính sách đã thực thi trước đó. Để kích thích kinh tế đất nước, Chính phủ Trung Quốc đã không ngần ngại tung ra gói kích cầu khổng lồ lên đến 4000 tỷ nhân dân tệ. Các lĩnh vực mà gói kích cầu của Trung Quốc tập trung hướng tới là xây dựng nhà ở cho các đối tượng thu nhập thấp, hỗ trợ thu nhập cho người có thu nhập thấp ở nông thôn và thành thị, chăm lo sức khỏe và giáo dục cho người nghèo, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, tập trung cải cách hệ thống tài chính và hệ thống thuế, xử lý các tác động môi trường, thúc đẩy các hoạt động đầu tư đổi mới, phát minh và sáng chế công nghệ, tái thiết lại các khu vực bị thiên tai. Trong đó, gói kích cầu dành cho phát triển xây dựng mạng lưới giao thông vận tải và nâng cấp mạng lưới điện đô thị lên đến 1.800 tỷ NDT. Trung Quốc cũng dành khoảng 350 tỷ NDT để xử lý các tác động của môi trường, 370 tỷ cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn…Các gói chính sách được Chính phủ nhanh chóng triển khai và thực hiện, bước đầu đã mang lại những kết quả tốt.
2.4.2. Thái Lan
Thái Lan đã và đang theo đuổi chính sách tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, do đó khủng hoảng tài chính đã làm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đã chậm lại. Trước tình hình đó, Thái Lan đã thực hiện nhiều giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế như: khuyến khích đầu tư vào thị trường cổ phiếu, khuyến khích NHNN và NHTM cho vay tín dụng, tiến hành nhiều biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu và du lịch, đầu tư xây dựng cơ bản trong lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải, hợp tác với các nước trong khu vực ASEAN để thành lập cộng đồng tài chính Châu Á.
2.4.3. Singapore Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
Singapore cũng là nước chịu ảnh hưởng sâu sắc từ khủng hoảng tài chính toàn cầu do nền kinh tế Singapore phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và đầu tư, đặc biệt kinh tế nước này có giá trị đóng góp rất lớn của thị trường dịch vụ vào trong tổng giá trị GDP. Hiện Chính phủ Singapore đang thực hiện một số giải pháp hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính đến sự tăng trưởng kinh tế như: tăng cường tín dụng cho các doanh nghiệp địa phương, giữ việc làm cho người lao động bằng chương trình nâng cao kỹ năng lao động; tăng niềm tin của nhà đầu tư vào hệ thống tài chính bằng chương trình bảo đảm tiền gửi; tăng cường thực hiện các dự án công; thực hiện các chính sách tài khóa trong đó hướng tới mục tiêu giải quyết việc làm cho số lao động bị thất nghiệp…
2.4.4. Philippines
Tiêu dùng tư nhân và nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ là những thành tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của Philippines. (Năm 2023 và quý 1 và 2/2024, giá trị tiêu dùng tư nhân chiếm tới 70% giá trị GDP). Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, rất nhiều người lao động phải rơi vào cảnh thất nghiệp đã làm thu nhập của người dân giảm rõ rệt và dẫn đến suy giảm tiêu dùng trong nước. Chính phủ Philippines đang tìm mọi cách để củng cố niềm tin của người tiêu dùng và các nhà đầu tư, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, tăng thu ngân sách để đảm bảo chi tiêu cho Chính phủ. Khóa luận: Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: PPNC Phân tích ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính

