Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam thời gian qua này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập như hiện nay, vai trò của các định chế tài chính ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng. Nó là kênh huy động vốn hết sức hữu hiệu cho nền kinh tế. Đồng thời các ngân hàng cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc kích thích cũng như hạn chế các khoản đầu tư trong nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọn của các ngân hàng trong nền kinh tế, em đã chọn Sở Giao Dịch ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương làm nơi thực tập.
Năm 2024 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói chung và Sở Giao dịch nói riêng bởi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, nhiều DN bị phá sản, các nhà đầu tư chững lại. Tuy nhiên, nhờ có những chính sách tốt trong quá trình hoạt động mà sở giao dịch đã đạt được được một số kết quả khá tốt. Năm qua, phòng Đầu tư dự án đã tiến hành thẩm định và quyết định cho vay nhiều dự án với khối lượng vốn lớn. sở giao dịch đã thực sự là đơn vị đi đầu của ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
Sau một quá trình thực tập tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương, dưới sự chỉ bảo tận tình của các anh chị trong phòng Đầu tư dự án và TS. Trần Mai Hương thì em đã quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án vốn vay tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam” làm đề tài chuyên đề thực tập. Đề tài của em gồm có hai chương:
- CHƯƠNG I: Thực trạng công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
- CHƯƠNG II: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch.
Chương I. Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam thời gian qua.
1.1. Khái quát về sở giao dịch ngân hàng ngoại thương .
1.1.1. Lịch sử hình thành sở giao dịch.
Ngày 1/4/1991, sở giao dịch ngân hàng cổ phần ngoại thương Việt Nam được thành lập theo Nghị Quyết số 125/NQ-NHNT. HĐQT. Tuy nhiên sở giao dịch vẫn trực thuộc Vietcombank trung ương. Mọi hoạt động của sở giao dịch vẫn phải qua ngân hàng trung ương. Địa điểm hoạt động của sở giao dịch nằm tại 19 Trần Quang Khải- Hà Nội.
Ngày 30/10/2024, Sở giao dịch Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã chính thức khai trương trụ sở hoạt động mới tại địa chỉ 31-33 Ngô Quyền, Phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, đồng thời tổ chức hội nghị khách hàng năm 2024. Điểm giao dịch mới của sở giao dịch nằm ngay giữa trung tâm thủ đô, thuận lợi về giao thông, với mật độ dân cư lớn, hệ thống doanh nghiệp và cơ quan dày đặc, cùng với sự xuất hiện của rất nhiều ngân hàng, sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ và là một lợi thế để Sở giao dịch Vietcombank phát huy tốt hiệu quả hoạt động với thế mạnh về vốn và các hoạt động nghiệp vụ chuyên biệt của một ngân hàng đối ngoại, cũng như các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và nhiều sản phẩm mới hướng đến khách hàng cá nhân mà Sở giao dịch đang triển khai.
Ông Nguyễn Hoà Bình, Chủ tịch HĐQT Vietcombank đánh giá: “Mặc dù mới chính thức tách ra hoạt động độc lập với Hội Sở chính được gần 3 năm nhưng trong thời gian qua, Sở giao dịch đã nhanh chóng khẳng định được vị thế “anh cả” trong đại gia đình VCB. Bên cạnh hoạt động như một Chi nhánh Vietcombank với thị phần lớn trong nhiều lĩnh vực tại Hà Nội, Sở giao dịch còn là nơi tiên phong thực hiện các chủ trương chính sách của VCB, đi đầu trong việc thử nghiệm và triển khai các sản phẩm mới cũng như thực hiện một số nghiệp vụ đặc thù khác. sở giao dịch luôn là đơn vị dẫn đầu trong toàn hệ thống VCB về quy mô huy động vốn, ngay cả trong những thời điểm̀ công tác huy động vốn gặp nhiều khó khăn. sở giao dịch cũng là một trong hai đơn vị có đóng góp lớn nhất cho lợi nhuận của VCB.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng các phòng ban Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Sở giao dịch ngân hàng cổ phần thương mại ngoại thương VN bao gồm một giám đốc, các phó giám đốc và các phòng chuyên môn nghiệp vụ, phòng giao dịch. Cụ thể là: – Giám đốc Nguyễn Danh Lương.
- Bốn phó giám đốc
- 15 phòng giao dịch.
- 24 phòng ban tại hội sở chính.
Sở giao dịch có hai địa điểm chính là 31/33 Ngô Quỳên- Hà Nội và 19 Trần Quang Khải.
- Cơ cấu tổ chức của sở giao dịch:
Những phòng ban liên quan đến công tác thẩm định tài chính dự án bao gồm: phòng đầu tư dự án, kế toán giao dịch, phòng khách hàng, phòng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và phòng quản lý nợ:
Phòng đầu tư dự án: Cung cấp tín dụng trung và dài hạn, tín dụng cho các dự án đầu tư như xây dựng các công trình thuỷ điện, nhà máy lớn như nhà máy xi măng, nhà máy thép… Bên cạnh việc cung cấp tín dụng cho các dự án lớn như trên thì phòng đầu tư dự án cũng có chức năng cung cấp tín dụng cho các dự án nhỏ như thành lập các siêu thị, chuỗi cửa hàng bán lẻ, các dự án xây dựng quán càphê… Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Kế toán giao dịch: Phòng này có chức năng phục vụ khách hàng bao gồm các tổ chức cư trú và không cư trú có quan hệ với sở giao dịch của Ngân hàng cổ phần thương mại ngoại thương Việt Nam. Ngoài ra phòng này có chức năng cung cấp các sản phẩm thanh toán cho đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế bao gồm các sản phẩm như dịch vụ tài khoản tiền gửi, phát hành séc, trả lương qua tài khoản, cung cấp các sản phẩm có tính chất tương tự.
Các tổ chức cư trú là các tổ chức được thành lập theo luật DN. Còn các tổ chức không cư trú là các tổ chức tồn tại trong thời gian ngắn.
Phòng ban này còn có chức năng là quản lý hạch toán các khoản vay, theo dõi tình hình dải ngân kế hoạch vay vốn của sở giao dịch như các nguồn vốn ODA đồng thời theo dõi xem việc sử dụng các nguồn vốn này có hợp lý hay không nhằm có các quyết định phân bổ nguồn vốn.
- Phòng khách hàng: có chức năng cung cấp tín dụng ngắn hạn, tín dụng vốn lưu động cho khách hàng là doanh nghiệp. Đồng thời bán các sản phẩm ngân hàng khác cho khách hàng như tiếp thị sản phẩm, thu hút sản phẩm mới…
- Phòng tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: cung cấp các tín dụng ngắn hạn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đồng thời thu hút nhiều khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa hơn.
- Phòng quản lý nợ: quản lý các hồ sơ vay vốn, theo dõi việc dãi ngân, thu hút lãi và gốc.
1.1.3. Các hoạt động của sở giao dịch thời gian qua.
Do sự hạn chế về số liệu em chỉ tập trung phân tích các hoạt động của sở giao dịch trong 3 năm gần nhất là từ năm 2022-2024. Dưới đây là sự phân tích về hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và các hoạt động khác tại sở giao dịch trong thời gian qua. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn của sở giao dịch thời gian qua.
Trong 3 năm từ 2022 tới 2024 thì nguồn vốn huy động của sở giao dịch ngày càng tăng dần và chiếm tỷ trọng khá lớn so với ngân hàng ngoại thương.
Năm 2023, nguồn vốn huy động đạt gần 38.000 tỷ VND, tăng hơn 3.000 tỷ VND tương đương 9% so với năm 2022 và hoàn thành được khoảng 89% kế hoạch huy động vốn do ngân hàng trung ương giao. Trong đó nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ của sở giao dịch chiếm tỷ trọng 54.71% vốn huy động của sở giao dịch và tỷ giá có xu hướng giảm vào cuối năm 2023 nên tổng vốn huy động quy về VNĐ của sở giao dịch cũng bị giảm.
Tổng huy động vốn từ khách hàng quy VNĐ đến 31/12/2024 của sở giao dịch đạt 39.916,64 tỷ đồng, tăng 6.464,66 tỷ VND (19,33%) so với cùng kỳ năm 2023 trong đó, vốn huy động bằng VND đạt 25.553,22 tỷ đồng, tăng 9.413,25 (58,32%) do tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế tăng mạnh là 10.833,58 tỷ VND (138,36%) và vốn huy động bằng ngoại tệ quy USD đạt 846,05 tr.USD, giảm 228,29 tr. USD (21,25%) so với cuối năm 2023.
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế quy VNĐ đến 31/12/2024 đạt 22.931,14 tỷ đồng tăng mạnh là 7.146,88 tỷ đồng (31,17%) so với cuối năm 2023 trong đó tiền gửi VNĐ tăng 9.678,36 tỷ đồng (73,48%) (riêng từ nguồn IPO VCB của SCIC là 5.650 tỷ đồng) và tiền gửi ngoại tệ quy USD giảm 179,9 tr.USD (29,7%) .
Tiền gửi của dân cư quy VND đạt 9.838,62 tỷ VND giảm 682,22 tỷ VND (6,48%) do tiền gửi bằng VND và ngoại tệ quy USD đều giảm tương ứng là 265,11 tỷ VND (8,93%) và 48,4 tr. USD (10,33%). Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng của cá nhân bằng VND và ngoại tệ đều tăng tương ứng là 208,18 tỷ VND (13,06%) và 37,49 tr. USD (28,47%) do trong năm 2024 lãi suất huy động VND và USD kỳ hạn dưới 12 tháng cao hơn kỳ hạn trên 12 tháng và có xu hướng tăng từ tháng 1 đến tháng 9 nên khách hàng có xu hướng gửi tiết kiệm ngắn hạn Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Bảng 1.1. Huy động vốn từ nền kinh tế của sở giao dịch thời gian qua
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn của sở giao dịch thời gian qua.
- a, Hoạt động cho vay nền kinh tế
Tổng dư nợ quy VNĐ đến 31/12/2024 đạt 4.667 tỷ đồng tăng 30,53% so với 31/12/2023 trong đó dư nợ VNĐ và ngoại tệ quy USD ước đạt 1.607,77 tỷ đồng và 185,89 triệu USD. Trong điều kiện khó khăn như hiện nay thì việc tăng trưởng tín dụng của sở giao dịch trên 30% là một kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn trên tổng lưu động thường luân chuyển nhanh. Do đó, trong thời gian tới, sở giao dịch sẽ tập trung để nâng dần tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn trong tổng dư nợ bằng cách tiếp cận các dự án lớn, hiệu quả.
- Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 39,47% tổng dư nợ của sở giao dịch.
- Dư nợ cho vay thể nhân chiếm 12,13% tổng dư nợ của sở giao dịch.
BẢNG 1.2. Bảng dư nợ cho vay của sở giao dịch
Tình hình xử lý nợ xấu và nợ đã xử lý bằng quỹ Dự phòng Rủi ro: theo báo cáo phân loại nợ thì tình hình năm 2024 được thể hiện qua các số liệu sau:
Việc thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu, nợ khoanh và nợ chờ xử lý cũng được Phòng quan tâm thích đáng. Kết quả đạt được đến thời điểm hiện tại như sau: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Thu hồi toàn bộ dư nợ gốc và lãi của công ty Tài Trung (705 triệu VND);
- Thu hồi toàn bộ nợ gốc của công ty Đại Hoàng Sơn (1,26 tỷ VND);
- Đang tiếp tục thu hồi nợ của Công ty Xi măng Hòa Bình;
- Công ty Vật tư Thương mại Quận 3 thu được 300 triệu
Một số khoản nợ khác Phòng đang tiếp tục theo dõi bao gồm khoản nợ được khoanh (Công ty Đay Nam Định) hoặc chờ Chính phủ xem xét xóa nợ (Công ty Dệt 8/3) hoặc chờ các cơ quan chức năng xử lý (Công ty X89).
- b. Tiền gửi tại NHNT TW
Đến 31/12/2024, số dư tiền gửi của sở giao dịch tại NHNT TW bằng VNĐ là 20.485,5 tỷ VNĐ và bằng ngoại tệ quy USD là 645,8 triệu USD. sở giao dịch vẫn thực hiện vay NHNT TW một số ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.
- BẢNG 1.3. Bảng dư nợ tiền gửi của sở giao dịch năm 2024
1.1.3.3 Các hoạt động khác.
- Hoạt động cho vay viện trợ.
Công tác Ngân hàng phục vụ vay nợ viện trợ phục vụ cho các dự án của sở giao dịch ngày càng tăng qua các năm. Công tác vay nợ viện trợ bao gồm vay Chính phủ và các tổ chức quốc tế, mở L/C, nhận vay, trả nợ, nhận và sử dụng viện trợ. Điển hình là năm 2024, sở giao dịch được giao làm ngân hàng phục vụ cho 18 dự án mới ký vay năm 2024 với tổng kim ngạch khoảng 1.267 USD tăng 80triệu USD tương đương với 7% so với năm 2023. Doanh số nhận viện trợ và rút vốn giải ngân các khoản viện trợ chính phủ tại sở giao dịch năm 2024 tăng 3,92 triệu USD tương đương 28% so với năm 2023. Doanh số chuyển tiền bằng USD tại sở giao dịch có xu hướng tăng nhưng bằng VNĐ lại có xu hướng giảm.
- Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Về thanh toán xuất khẩu: Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) và nhờ thu giảm hầu hết qua các năm. Doanh số chiết khấu và doanh số chuyển tiền tại sở giao dịch tăng qua đều qua các năm. Thanh toán xuất nhập khẩu về các chỉ tiêu có giảm số lượng món qua các năm nhưng lại tăng về giá trị. Năm 2024, hoạt động thông báo L/C thực hiện được 1.516 món, giảm 206 món tương đương 12% so với năm 2023. Về thanh toán nhờ L/C và nhờ thu, trong năm 2024 đạt doanh số thanh toán là 385.65 triệu USD, tăng 38.54% so với năm 2023 (đạt 258.87 triệu USD). Về chiết khấu chứng từ, năm 2024 doanh số đạt 14,18 triệu USF, giảm 10,42 triệu tương đương 42.36% so với năm 2023 (đạt gần 25 triệu USD). Nguyên nhân là do một số khách hàng thường xuyền chiết khấu tại sở giao dịch chuyển về thanh toán chiết khấu tại VCB Thái Bình. Về chuyển tiền năm 2024 doanh số đạt 202,07 triệu USD, giảm 12,23 triệu tương đương 5,3% so với năm 2023.
Về thanh toán nhập khẩu: hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bao gồm 3 phương thức: mở L/C, nhờ thu và chuyển tiền. Nhìn chung mấy năm gần đây tại sở giao dịch số món mở của cả 3 phương thức trên hầu hết giảm nhưng giá trị lại có xu hướng tăng trừ phương thức mở L/C. Năm 2024, tổng kim ngạch thanh toán nhập khẩu của cả 3 phương thức tại sở giao dịch đạt 2.976,96 triệu USD, tăng 413,19 triệu USD (16,12%) so với năm Trong đó thanh toán bằng nhờ thu và chuyển tiền đều tăng tương ứng là 13,33% và31,19% nhưng thanh toán bằng L/C giảm 3.09 so với năm trước.
- Hoạt động phát hành thẻ.
Doanh số thanh toán và phí thu từ thẻ tín dụng quốc tế đều tăng so với năm trước. Năm 2024 tăng tương ứng là 6,4 triệu USD (5,7%) và 0.08 triệu USD. Hoạt động cho vay thanh toán thẻ tín dụng luôn đảm bảo an toàn và không phát sinh nợ khó đòi. Trong năm 2024 thì số lượng thẻ ATM phát hành giảm khoảng 9.435 thẻ tương đương 19.01% so với năm 2023 do trong năm 2024 thẻ ghi nợ quốc tế có nhiều chương trình khuyến mại nên khách hàng chuyển từ phát hành thẻ ATM sang thẻ ghi nợ quốc tế do hiện nay giao dịch vẫn chưa bị thu phí. Tuy vậy doanh số hoạt động của thẻ ATM tăng mạnh là 1.723,53 tỷ đồng tương đương 24,68% do vậy các máy ATM phải hoạt động với công suất lớn.
- Hoạt động bảo lãnh. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Những năm gần đây, công tác bảo lãnh tại sở giao dịch đã gặp phải một số khó khăn như cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng khác cũng như yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, chịu ảnh hưởng nặng nề từ những khó khăn chung của các ngân hàng Việt Nam cũng như của nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được tốc độ tăng trưởng khá ổn định. Hoạt động bảo lãnh tại sở giao dịch luôn đảm bảo an toàn và không phát sinh khoản nợ quá hạn do bảo lãnh. Trong năm 2024, bảo lãnh trong nước chiếm tỷ trọng là 95.99% doanh số bảo lãnh tại sở giao dịch và bão lãnh nước ngoài chiếm tỷ trọng là 4,01%.
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Tình hình cung cầu về ngoại tệ trong thời gian qua biến động bất thường gây nên nhiều khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ. Có thời điểm khan hiếm ngoại tệ đẩy tỷ giá thị trường chợ đen chênh lệch lớn so với ngân hàng. Tuy vậy sở giao dịch luôn bám sát tình hình thị trường và chỉ đạo của ngân hàng trung ương cũng như NHNN để đưa ra tỷ giá thích hợp và đối tượng khách hàng để phục vụ thích hợp. Trong năm 2024, sở giao dịch luôn cố gắng cao nhất để đáp ứng nhanh chóng và kịp thời các nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng để thanh toán và trả nợ đồng thời hỗ trợ bán ngoại tệ cho khách hàng của một số chi nhánh VCB trên cùng địa bàn. Doanh số bán ngoại tệ phục vụ nhập khẩu xăng dầu là 356,54 triệu USD.
1.1.3.4. Kết quả kinh doanh
Năm 2024, kết quả kinh doanh của sở giao dịch đạt 653,43 tỷ VND lợi nhuận thuế tăng 103,61 tỷ VND (18,85%) so với năm 2023. Trong đó, tổng doanh thu tăng 967,16 tỷ VND (38,04%) và tổng chi phí tăng 807,73 tỷ VND (40,53%) so với năm 2023. Trong năm 2024, sở giao dịch điều chỉnh giảm lợi nhuận theo biên bản kiểm toán năm 2023 là 55,813 tỷ VND.
- BẢNG 1.4. Bảng kết quả kinh doanh của sở giao dịch thời gian qua.
1.2. Thực trạng công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.2.1. Quy mô và số dự án được thẩm định tại sở giao dịch năm vừa qua.
Do hạn chế về việc thu thập thông tin nên em chỉ tập trung phân tích về quy mô và số các dự án được thẩm định tại sở giao dịch trong 6 tháng năm 2024:
Từ đầu năm 2024 đến nay Phòng ĐTDA-SGD đã tiếp cận, thẩm định cho vay thêm nhiều dự án và đến thời điểm hiện tại đã ký hợp đồng tài trợ khoảng 33 dự án với tổng giá trị hợp đồng tín dụng là khoảng 2139 tỷ quy VND, chi tiết như sau:
- BẢNG 1.5. BẢNG THỂ HIỆN CÁC DỰ ÁN ĐƯỢC THẨM ĐỊNH TẠI SỞ GIAO DỊCH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2024.
Tính đến cuối tháng 06/2024, Phòng đang quản lý 32 khoản vay trung dài hạn với tổng trị giá cam kết quy VND là hơn 2.139 tỷ quy VND, với tổng dư nợ đạt hơn 1000 tỷ quy VND. Đây là một kết quả khá tốt của phòng Đầu tư dự án trong khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái và các doanh nghiệp ít dám mạo hiểm để đầu tư. Mặc dù tổng cam kết lớn nhưng số vốn giải ngân chưa cao nên chưa thúc đẩy mạnh số dư nợ tín dụng của sở giao dịch. Tuy nhiên tốc độ giải ngân phụ thuộc vào tiến độ xây dựng các dự án của chủ đầu tư chứ không phụ thuộc vào ngân hàng. Việc rút vốn đối với một dự án có thể kéo dài 1 năm đối với dự án nhỏ và 5 năm đối với dự án lớn như dự án thủy điện. Mặc dù tăng trưởng chậm nhưng tăng trưởng của đầu tư dự án lại có tính ổn định cao. Phải khẳng định rằng đây là những con số không nhỏ sau khoảng 03 năm thành lập Phòng ĐTDA-SGD.
1.2.2. Nội dung thẩm định hồ sơ vốn vay. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Thẩm định hồ sơ dự án vốn vay là công tác quan trọng nhất đối với ngân hàng trong việc quyết định xem có nên tài trợ vốn cho dự án hay không. Các nội dung thẩm định hồ sơ dự án vốn vay bao gồm:
- Thẩm định về khách hàng.
- Thẩm định các nội dung trong dự án đầu tư:
- Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư dự án
- Thẩm định về mặt kỹ thuật
- Thẩm định về mặt thị trường.
- Thẩm định tài chính dự án
1.2.2.1. Thẩm định về khách hàng.
Một dự án dù có tốt đến đâu nhưng người thực hiện không có trách nhiệm và năng lực thì cũng không thể đạt hiệu quả cao và đảm bảo có thể trả nợ cho dự án. Do đó mà công tác thẩm định khách hàng là một công việc hết sức quan trọng. Trong phần này bao gồm các nội dung thẩm định sau:
Thẩm định các yếu tố phi tài chính bao gồm các nội dung : năng lực pháp lý của chủ đầu tư, tình hình pháp lý của hồ sơ dự án, mô hình tổ chức và chất lượng điều hành, năng lực đội ngũ cán bộ, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường…
Thẩm định về tình hình tài chính của doanh nghiệp: các số liệu về tài chính là căn cứ quan trọng để đánh giá và xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ và trong hiện tại. Nội dung của thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Tinh hình công nợ của khách hàng
- Vốn và quan hệ của khách hàng với ngân hàng
Phân tích các chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp: Phòng đầu tư dự án dựa trên cơ sở báo cáo tài chính và bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp để đưa ra nhận xét về ấc chỉ tiêu và tỷ lệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp.Có 4 loại chỉ tiêu tài chính bao gồm:
- Các chỉ tiêu về cơ cấu vốn hoặc khả năng cân đối vốn, chúng cho thấy mức độ ổn định và tự chủ về tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu về tình hình và khả năng thanh toán (liquidity rations) nhằm thấy được khả năng thanh toán nhanh bằng tiền mặt của doanh nghiệp
- Các chỉ tiêu về khả năng lợi nhuận và năng lực hoạt động được sử dụng để xem xét tính hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản.
- Các chỉ tiêu về phân phối lợi nhuận, cho thấy doanh nghiệp được các nhà đầu tư đánh giá ở mức độ như thế nào (nhóm chỉ tiêu này chỉ được đánh giá với các doanh nghiệp đã cổ phần hoá).
Tuy nhiên do đặc thù của các dự án là khác nhau về ngành nghề, điều kiện hình thành, chủ đầu tư… nên việc phân tích tài chính đối với chủ đầu tư cần được linh hoạt, không nhất thiết phải tính toán toàn bộ các chỉ tiêu (thậm chí trong một số trường hợp do chủ đầu tư là doanh nghiệp mới thành lập nên những tính toán trên cũng không thể thực hiện). Tuy vậy, với hầu hết các dự án thông thường, việc thẩm định, phân tích tài chính với chủ đầu tư có một ý nghĩa lớn để đảm bảo tính an toàn vốn vay, khả năng trả nợ của doanh nghiệp và từ đó có những đề xuất cho phương án cho vay thích hợp.
- Thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp đã và đang hoạt động sản xuất kinh doanh). Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Trong phần này thì ngân hàng sẽ xem xét doanh nghiệp với các nội dung sau: các loại sản phẩm, hàng hóa đang sản xuất kinh doanh, tình trạng thiết bị máy móc của doanh nghiệp, số lượng, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, tình hình hàng tồn kho hay doanh số hoạt động và kết quả sản xuất trong năm gần nhất…
Sau khi xem xét xong ta đưa ra nhận xét về xu hướng phát triển sản xuất kinh doanh và khả năng tiêu thụ, phạm vi tiêu thụ của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Nội dung thẩm định dự án đầu tư.
- Sự cần thiết phải đầu tư dự án
- Thẩm định về mặt kỹ thuật bao gồm các nội dung sau:
- Các thông tin cơ bản của dự án: tên dự án, tên sản phẩm, thị trường tiêu thụ, thiết bị…
- Tổ chức xây dựng dự án: thời gian xây dựng, khai thác dự án…
- Thẩm định khả năng cung cấp đầu vào của sản xuất.
Ngoài ra còn xem xét, kiểm tra, phân tích các yếu tố đầu vào khác của sản xuất…
- Thẩm định về mặt thị trường
Thẩm định thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án là một khâu hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của dự án, do đó phải thẩm định chặt chẽ, khoa học, tránh suy luận chủ quan. Tuỳ theo trường hợp và điều kiện cụ thể có những nội dung sau: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Xác định nhu cầu thị trường của hiện tại và tương
- Xác định khả năng cung cấp hiện tại và trong tương
- So sánh cung và cầu.
Cần so sánh giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án với giá cả trên thị trường hiện nay và tương lai để xác định khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm mới.
- Thẩm định về mặt kinh tế tài chính
- Thẩm định về kế hoạch sản xuất kinh doanh
Xác định công suất của thiết bị có thể đạt được của máy móc thiết bị trong thời gian vay nợ ngân hang đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng sản xuất, khả năng tiêu thụ sản phẩm và nguồn thu để trả nợ của doanh nghiệp. Trong phần này cần biết về công suất thiết kế, công suất dự kiến…
- Xác định doanh thu theo công suất dự kiến.
- Xác định giá bán bình quân.
- Sản phẩm sản xuất ra bán theo phương thức gì? Bán buôn hay bán lẻ? Gía bán hiện tại là bao nhiêu? So sánh với giá bán các sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Xu hướng biến động giá cả trong tương lai là thuận lợi hay bất lợi…
- Xác định khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong năm: sau khi xác định được công suất, ta xác định được sản lượng sản xuất ra trong năm kế hoạch, ước tính tỷ lệ tồn kho cuối kỳ và từ đó tính được sản lượng tiêu thụ trong năm kế hoạch.
- Xác định doanh số tiêu thụ trong năm kế hoạch.
- Xác định chi phí đầu vào theo công suất có thể đạt được trong thời gian trả nợ.
Xem xét chỉ tiêu hiệu quả: Về lý thuyết cũng như thực tiễn, để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của một dự án đầu tư, người ta thường sử dụng bốn chỉ tiêu: NPV, IRR, PP, PI. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Xem xét khả năng trả nợ
Phân tích điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu và đường biểu diễn chi phí. Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh không có lãi nhưng cũng không lỗ. Doanh nghiệp muốn có lãi phải tổ chức sản xuất đạt trên điểm hoà vốn. Điểm hoà vốn càng thấp thì dự án càng có hiệu quả và tính rủi ro càng thấp. Nhìn chung các dự án có điểm hoà vốn đạt dưới 60% là chấp nhận được.
Phân tích các trường hợp rủi ro có thể xảy ra với dự án đầu tư (dùng phương pháp phân tích độ nhạy). Đưa ra các giả định về thay đổi sản lượng, đơn giá bán, chi phí tăng… để kiểm tra tính hiệu quả, khả thi, độ ổn định và khả năng trả nợ của dự án.
1.2.2.3. Thẩm định các điều kiện đảm bảo tiền vay.
- Các trường hợp bảo đảm tiền vay bao gồm cầm cố, thế chấp, bão lãnh bằng tài sản, bằng tín chấp…
- Xác định giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh: Phần tài sản dung để tính giá trị bảo đảm vốn vay của doanh nghiệp chỉ được tính trên phần tài sản cố định vật cất còn phần tài sản phi vật chất thì không được tính vì phần này sẽ không thu được tiền khi phát mại.
1.2.3. Phương pháp thẩm định hồ sơ dự án vốn vay.
Các phương pháp thẩm định được sử dụng tại phòng đầu tư dựa án bao gồm:
- Phương pháp so sánh đối chiếu.
- Phương pháp thẩm định theo trình tự.
- Phương pháp phân tích độ nhạy.
- Phương pháp quán triệt rủi ro
- Phương pháp dự báo.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh, đối chiếu. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Đây là phương pháp thường được sử dụng trong công tác thẩm định dự án đầu tư tại sở giao dịch. Phương pháp này so sánh đối chiếu các nội dung trong dự án với các quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn, định mức tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật thích hợp, các thông lệ trong nước cũng như quốc tế và các kinh nghiệm thực tế, phân tích, so sánh để lựa chọn các phương án tối ưu. Phương pháp này được tiến hành phân tích theo một số tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do Nhà Nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được.
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc tế, quốc gia.
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi.
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư.
Các định mức về sản xuất tiêu hao năng lượng, nguyên liệu nhân công, tiền lương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế- kỹ thuật chính thức hoặc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế.
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư.
Phương pháp này nhìn chung là khá đơn giản, chủ yếu mang tính chất kiểm tra và rà soát nhất là trong việc thực hiện các quy định và thông lệ của đất nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên khi sử dụng phương pháp này cần tránh sự máy móc, cứng nhắc và cần có sự phù hợp với những đặc điểm cụ thể, đồng thời hệ thống chỉ tiêu phải chính xác, phù hợp hoàn cảnh thực tế.
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong quá trình thẩm định tại sở giao dịch. Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng nhiều để kiểm tra tính hợp lý của hồ sơ, các thông số tiêu chuẩn của hồ sơ cũng như của dự án tuy nhiên vẫn mang nặng về tính hình thức. Đồng thời các tiêu chuẩn đối với các dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau là khác nhau nên cũng khó khăn cho cán bộ thẩm định. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.2.3.2. Phương pháp thẩm định theo trình tự.
Việc thẩm định dự án được tiến hành một cách có quy trình, đi từ thẩm định tổng quát tới thẩm định chi tiết, kết luận trước làm tiền đề cho kết luận sau.
Thẩm định tổng quát là việc xem xét tổng quát các nội dung của một dự án mà không đi vào các nội dung chi tiết. Sau khâu thẩm định tổng quát chúng ta sẽ có được một cái nhìn chung về dự án, biết được những nội dung nào thiếu, những nôi dung không cần thiết… xem xét dự án đó nên bác bỏ hay tiếp tục thẩm định chi tiết hơn.
Thẩm định chi tiết là việc xem xét chi tiết từng nội dung một từ thẩm định các điều kiện pháp lý đến thẩm định các điều kiện kỹ thuật và tài chính, tổ chức quản lý…mỗi nội dung đều đưa ra ý kiến đồng ý hay không đồng ý, cần sửa đồi hay không chấp nhận được. Với mỗi nội dung thì sẽ có mức độ tập trung khác nhau.
Phương pháp này khá quan trọng trong khâu thẩm định tại sở giao dịch. Việc thẩm định theo trình tự giúp cho cán bộ thẩm định có thể đánh giá một cách khái quát về dự án từ đó có quyết định loại bỏ hay tiếp tục thẩm định. Thông thường tại sở giao dịch, việc thẩm định tổng quát là do phòng quan hệ khách hàng đánh giá, sau đó thẩm định chi tiết là do phòng quan hệ khách hàng đảm nhiệm. Việc phân cấp như thế sẽ tạo ra sự chuyên môn hóa trong thẩm định tuy nhiên việc thu thập thông tin cũng sẽ phải qua nhiều phòng ban hơn.
1.2.3.3. Phương pháp phân tích độ nhạy của dự án.
Phương pháp này dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chính như lợi nhuận, thu nhập thuần, tỷ suất hoàn vốn… của dự án đầu tư. Đó là việc giả định cho một hay nhiều yếu tố thay đổi từ đó xem xét nó ảnh hưởng đến dự án thế nào, yếu tố nào ảnh hưởng nhiều và ảnh hưởng ít để từ đó có biện pháp quản lý chúng trong quá trình thực hiện dự án.
Phương pháp này thường được dung trong phân tích tài chính của dự án. Tại sở giao dịch, phương pháp này ngày càng được quan tâm nhiều hơn để đánh giá độ an toàn của vốn vay. Tuy nhiên các yếu tố được giả định là thay đổi là chưa nhiều, chưa phản ánh hết được những yếu tố ảnh hưởng tói các chỉ tiêu hiệu quả tài chính.
1.2.3.4. Phương pháp quán triệt rủi ro. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Bất kỳ dự án đầu tư nào cũng có rủi ro do đó việc dự đoán những rủi ro sẽ có là việc hêt sức cần thiết để có những phương án phòng tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra. Rủi ro thường được phân chia theo các giai đoạn. Ở gian đoạn chuẩn bị thực hiện có các loại rủi ro như rủi ro pháp lý, rủi ro tài chính…Ở giai đoạn thực hiện dự án có các rủi ro như chậm tiến độ thực hiện, rủi ro về cung cấp dịch vụ kỹ thuật, rủi ro tài chính,các rủi ro bất khả kháng như thiên tai, lũ lụt…
- Ở giai đọan khi dự án đi vào vận hành thì có các loại rủi ro như rủi ro về cung cấp các yếu tố đầu vào, rủi ro về quản lý điều hành.
- Để hạn chế rủi ro thì người ta dung các biện pháp như đấu thầu, bảo hiểm, bảo lãnh hợp đồng…
Việc sử dụng phương pháp này tại sở giao dịch vẫn chỉ mang tính chất định tính. Những rủi ro được đưa ra nhưng việc định lượng, phân cấp các loại rủi ro vẫn chưa thực hiện tốt. Nguyên nhân là do những rủi ro này thường liên quan tới sự thay đổi chính sách của chính phủ, thị trường đầu ra đầu vào trong nước và ngoài nước nên rất khó định lượng.
1.2.3.5. Phương pháp dự báo.
Dự án đầu tư thường sử dụng số vốn lớn và với thời gian kéo dài. Do đó các số liệu của dự án đều được xây dựng trên cơ sở các số liệu dự báo cho tương lai về tình hình cung cầu, giá cả và các yếu tố có ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án. Phương pháp này đưa ra các dự báo về cung cầu sản phẩm, thị phần sản phẩm của dự án trong tương lai. Tại sở giao dịch, phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong phân tích khía cạnh thị trường của dự án. Tuy nhiên, công tác dự báo phần lớn là dựa vào số liệu mà khách hàng đưa ra chứ chưa trực tiếp thực hiện được. Các cán bộ thẩm định chỉ kiểm tra lại tính xác thực của số liệu.
1.2.4. Quy trình thẩm định tại sở giao dịch Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.2.4.1. Quy trình thẩm định.
Quy trình thẩm định dự án là một khâu quan trọng tỏng quy trình cho vay đối với dự án đầu tư. Đây là bước mà ngân hang đánh giá, xem xét về khách hang và dự án đầu tư, xem xét khả năng trả nợ của dự án để quyết định cho vay vốn. Quy trình thẩm định dự án đầu tư bao gồm có 6 bước cơ bản là:
- Bước 1: Phòng đầu tư dự án sẽ tiếp nhận và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ đề xuất tín dụng do phòng quan hệ khách hàng lập ra trên cơ sở tiếp xúc và làm việc với khách hàng.
- Bước 2: Cán bộ phòng đầu tư dự án sẽ kiểm tra sự phù hợp với các chính sách và quy trình thẩm định hiện hành.
- Bước 3: Cho điểm tín dụng và phân loại khách hang
- Bước 4: Thẩm định chi tiết và lập báo cáo thẩm định.
- Bước 5: Trình trưởng/ phó phòng đầu tư dự án phê duyệt
- Bước 6: Thông báo kết quả thẩm định và quyết định cho vay vốn hay không.
Đối với những dự án nhỏ hơn hoặc bằng 5tỷ đồng thì phòng đầu tư dự án sẽ trực tiếp gặp măt khách hang, đảm nhiệm cả việc thu thập thông tin khách hang, lập đề xuất tín dụng. Còn đối với dự án >5 tỷ đồng thì việc thu thập thong tin về khách hàng và lập đề xuất tín dụng sẽ do phòng quan hệ khách hàng sẽ thực hiện rồi được chuyển xuống cho phòng đầu tư dự án thẩm định chi tiết và lập báo cáo thẩm định dự án. Đây là điểm khác biệt giữa sở giao dịch và các chi nhánh khác. Ở các chi nhánh khác thì công tác thẩm định sẽ do phòng quản lý rủi ro thực hiện chứ không có phòng đầu tư dự án. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết thì phòng quản lý dự án có thể yêu cầu phòng quản lý rủi ro cung cấp và bổ sung các thông tin liên quan đến rủi ro ngành nghề hoặc mặt hàng mà dự án đang đề cấp hoặc sự phù hợp của dự án so với các chính sách quản lý hiện hành của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Dưới đây là sơ đồ quy trình thẩm định tại sở giao dịch:
1.2.4.2. Về thẩm quyền thẩm định phê duyệt tín dụng: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Đối với những dự án dưới 5 tỷ đồng thì phòng đầu tư dự án sẽ tiếp nhận và trưởng/ phó phòng sẽ phê duyệt ra quyết định cấp tín dụng còn đối những dự án trên 5 tỷ đồng thì sẽ được thông qua và đánh giá sơ bộ tại phòng quan hệ khách hàng sau đó được chuyển xuồng phòng đầu tư dự án xem xét và việc phê duyệt cấp tín dụng . Đối với tất cả các dự án có tổng các khoản đề xuất tín dụng có giá trị vượt quá 10% vốn tự có của NHNT đều phải đựoc hội đồng quản trị xem xét phê duyệt. Tuy nhiên tuỳ thẩm quyền phê duyệt sẽ theo sự phân cấp của giám đốc trong từng thời kì.
Một dự án được coi là được phê duyệt cấp tín dụng khi thoả mãn một trong 3 trường hợp sau đây:
- Thứ nhất: có đủ chữ ký của người có thẩm quyền phụ trách khách hàng và người phụ trách rủi ro trên báo cáo thẩm định.
- Thứ hai: Trường hợp một trong hai người có thẩm quyền đi vắng thì người có mặt được ký duyệt với điều kiện khoản tín dụng đã có ý kiến chấp thuận đồng thời của trưởng/phó phòng quan hệ khách hang và trưởng/phó phòng đầu tư dự án.
- Thứ ba, có phê duyệt của hội đồng tín dụng.
1.3. Thẩm định tài chính dự án vốn vay. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.3.1. Vai trò của công tác thẩm định tài chính.
Thẩm định tài chính là công tác quan trọng nhất trong quy trình thẩm định của ngân hàng. Thẩm định tài chính là căn cứ quan trọng để quyết định tài trợ vốn. Dự án chỉ có khả năng trả nợ khi dự án được đánh giá là khả thi về mặt tài chính, có nghĩa là dự án phải đạt được hiệu quả và có độ an toàn cao về mặt tài chính.
Công tác thẩm định tài chính có mối quan hệ mật thiết với thẩm định các khía cạnh khác trong dự án. Thẩm định khía cạnh thị trường tạo cơ sở cho các số liệu kỹ thuật và thông qua các số liệu này, thì sẽ có thể tính toán được tổng vốn đầu tư, chi phí và doanh thu của dự án từ đó mà đánh giá được tính hiệu quả và tính khả thi của dự án.
Với vai trò là một định chế tài chính thì ngân hàng sẽ quan tâm tới cả khả năng trả nợ của đồng vốn đã cho vay và cả tính hiệu quả của dự án. Vì vậy trong thẩm định tài chính thì cán bộ thẩm định sẽ đi sâu xây dựng bảng dòng tiến, khả năng trả nợ và phân tích độ nhạy của dự án.
Bên cạnh những vai trò trên thì công tác thẩm định tài chính còn có vai trò đối với chủ đầu tư: thông qua công tác thẩm định dự án giúp chủ đầu tư có thể phát hiện và sửa chữa những sai sót có thể gặp phải trong quá trình lập dự án, giúp cho việc quản lý và giảm thiểu rủi ro. Đồng thời thông qua thẩm định tài chính giúp chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ pháp lý nhằm tuân thủ yêu cầu của pháp luật về đầu tư.
Đối với Nhà nước và các bộ ngành: đối với các dự án sử dụng vốn vay xây dựng theo kế hoạch nhà nước đưa ra hoặc dự án tín dụng ưu đãi thì công tác thẩm định tài chính sẽ giúp phân bổ nguồn vốn cho hiệu quả và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
1.3.2. Nội dung thẩm định tài chính dự án vốn vay. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Thẩm định tài chính là một công việc hết sức quan trọng, đó là việc rà soát, xem xét dự án một cách toàn diện và khoa học đứng trên giác độ của định chế tài chính nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi và khả năng thu hồi vốn của dự án. Với vai trò là một định chế tài chính thì công tác phân tích tài chính là hết sức quan trọng nhằm đánh giá khả năng trả nợ của dự án, nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền vay mà ngân hàng tài trợ. Nội dung thẩm định tài chính tại sở giao dịch bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án
- Thẩm định khả năng triển khai vốn của dự án.
- Thẩm định các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án.
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án.
- Thẩm định an toàn về tài chính (phân tích độ nhạy).
1.3.2.1. Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án:
Tổng vốn đầu tư là toàn bộ số tiền cần thiết để thực hiện dự án. Đối với ngân hàng thì rất cần thiết đối với với việc xác định số tiền mà dự án cần vay để đầu tư vào. Tại sở giao dịch ngân hàng ngoại thương thì tổng vốn đầu tư được xác định bằng cách cộng tất cả các khoản chi phí lại. Các khoản mục chi phí của dự án bao gồm:
- Vốn đầu tư xây dựng: bao gồm chi phí xây dựng các hạng mục công trình như chi phí thiết kế, khảo sát, xây lắp
- Vốn đầu tư thiết bị bao gồm các chi phí mua sắm thiết bị, vận chuyển thiết bị từ nơi mua tới nhà xưởng, chi phí bảo hành, chi phí chuyển giao công nghệ (nếu có).
- Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian xây dựng: đối với chi phí lãi vay khi dự án đưa vào sản xuất thì được tính vào chi phí thường xuyên hàng năm nhưng trong thời gian xây dựng thì nó vẫn được tính vào tổng vốn đầu tư.
- Chi phí vốn lưu động sản xuất: đây là lượng vốn cần thiết để đảm bảo cho một chu kỳ sản xuất thực hiện bình thường. Đây có thể là vốn lưu động ban đầu (đối với dự án xây dựng mới) hoặc vốn lưu động bổ sung ( đối với dự án mở rộng thêm)
- Chi phí quản lý và các chi phí khác: các khoản mục chi phí này chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định nào đó trên tổng vốn đầu tư. Thẩm định nội dung này chủ yếu là kiểm tra tính đầy đủ và hợp lý của các khoản mục.
Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết nhằm tránh hai khuynh hướng là quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như chất lượng và hiệu quả của dự án sau này. Tại sở giao dịch, tổng vốn đầu tư được tính toán dựa trên các chi phí trên. Tuy nhiên, chi phí lãi vay trong quá trình xây dựng vẫn chưa được tính vào tổng vốn đầu tư. Đồng thời các loại chi phí chưa được tính toán một cách chi tiết. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
1.3.2.2. Thẩm định nguồn vốn, kế hoạch huy động vốn và cơ cấu nguồn vốn.
Một dự án đưa ra được các kế hoạch và phương hướng để thực hiện nhưng nếu không đủ nguồn vốn để triển khai thực hiện thì sẽ không mang tính khả thi. Vì vậy công tác thẩm định khả năng triển khai vốn của dự án là rất cần thiết đối với ngân hàng, tránh tình trạng cho vay vốn nhưng dự án lại không thực hiện được. Các nguồn vốn có thể huy động cho dự án bao gồm:
- Vốn tự có: ngân hàng sẽ thẩm định khả năng của chủ đầu tư góp vốn, phương thức góp và tiến độ góp vốn.
- Vốn vay nước ngoài: xem xét khả năng thực hiện và tiến độ thực hiện của vốn. Vốn vay nước ngoài có thể là vốn vay ODA hoặc của các tổ chức tín dụng quốc tế.
- Vốn vay ưu đãi, bão lãnh, thương mại: xem xét, thẩm định vê khả năng và tiến độ thực hiện của các nguồn vốn.
- Các nguồn khác.
Trong nội dung này thì cán bộ thẩm định cần chú ý tới xác định được phương án đáp ứng vốn lưu động cho dự án ngay từ khâu thẩm định tổng vốn cố định. Đồng thời có thể phát sinh thêm tổng vốn đầu tư trong thời gian xây dựng nên cũng cần phải có phương án dự phòng. Các dự án được thẩm định tại sở giao dịch đều được thẩm định cơ cấu nguồn vốn tài trợ, phân loại một cách rõ ràng nhằm xác định khả năng triển khai vốn của dự án.
1.3.2.3. Thẩm định các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án.
1.3.2.3.1. Thẩm định công suất của dự án. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Công suất thiết kế của dự án: là công suất đạt được khi dự án hoạt động trong điều kiện bình thường tức là máy móc hoạt động theo đúng yêu cầu dây chuyền công nghệ và không bị gián đoạn, thông thường là 300 ngày/năm, 1-1,5 ca/ngày, 8h/1ca.
Công suất thực tế của dự án: là công suất mà dự án dự kiến đạt được trong từng năm kể từ khi đi vào vận hành khai thác. Công suất thực tế của dự án thường khác nhau qua các năm. Thông thường trong những năm đầu, do điều chỉnh máy móc và nhân công chưa thạo việc, việc cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định nên năm đầu công suất thực tế của dự án chỉ tính bằng 50% công suất thiết kế của dự án. Trong những năm ổn định thì công suất thực tế thường được tính là 90% công suất thiết kế. Tuy nhiên cũng cần dựa vào đặc điểm và tính chất của từng ngành để xác định công suất thực tế của dự án. Ví dụ như những ngành phụ thuộc vào trình độ tay nghề của nhân công như giày da, may mặc… thì thông thường những năm đầu sản xuất chỉ đạt khoảng 40-50% công suất thiết kế, năm thứ 2 khoảng 60-70%, từ năm thứ 3 trở đi thì đạt được khoảng trên 70% công suất thiết kế.
1.3.2.3.2. Thẩm định doanh thu
Một dự án muốn thu hồi vốn đầu tư và mang lại lợi nhuận thì phải tạo ra doanh thu, Doanh thu của dự án bao gồm doanh thu từ sản phẩm chính, từ sản phẩm phụ và thu hồi phế liệu. Để xác định được doanh thu thì phải xác định được giá bán, khối lượng sản phẩm tiêu thụ.
Xác định giá bán bình quân: giá bán bình quân của sản phẩm phụ thuộc vào mặt hàng dự án dự kiến sản xuất, tình hình tiêu thụ của các mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường, phương thức tiêu thụ…Để có thể xác định được chính xác giá cả bình quân thì cần nghiên cứu giá cả của sản phẩm những năm trước đó, tìm hiểu cung cầu sản phẩm trong tương lai và xu hướng biến động của giá cả theo quy luật. Đơn giá bình quân của sản phẩm dự án được xác định theo công thức sau: P= (∑Pi xQi)/∑Qi
Trong đó:
- P là đơn giá bình quân của sản phẩm dự án
- Pi là đơn giá của sản phẩm loại i
- Qi là số lượng sản phẩm loại i
Xác định sản lượng tiêu thụ trong kỳ: được xác định bằng cách xác định khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ và khối lượng tồn kho cuối kỳ. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Xác định doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm: sau khi xác định được giá bán bình quân và khối lượng sản phẩm tiêu thụ đối với mỗi loại sản phẩm thì sẽ xác định doanh thu của toàn bộ sản phẩm của dự án theo công thức: DT= ∑Pi x Qi.
Trong đó:
- Pi là giá bán bình quân sản phẩm i
- Qi là sản lượng tiêu thụ trong kỳ của sản phẩm i
- n là số lượng sản phẩm của dự án kể cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ.
1.3.2.3.3. Thẩm định chi phí của dự án:
Chi phí của dự án thể hiện toàn bộ hao phí của dự án để tạo nên doanh thu. Chi phí bao gồm chi phí biến đổi và chi phí cố định.
Chi phí biến đổi: hay còn gọi là biến phí, là loại chi phí thay đổi theo sự biến đổi của khối lượng sản phẩm. Khi khối lượng sản phẩm tăng thì biến phí cũng tăng và ngược lại. Biến phí bao gồm chi phí cho nguyên vật liệu chính, chi phí cho nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, nhân công, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp… Tổng biến phí tính cho toàn bộ sản phẩm được tính theo công thức: Tổng biến phí= ∑biến phí cho 1 đơn vị spi x số lượng sản phẩm loại i
Chi phí cố định: là những chi phí không thay đổi theo sự thay đổi của khối lượng sản phẩm. Khi khối lượng sản phẩn tăng hoặc giảm thì biến phí vẫn giữ nguyên. Chi phí cố định có thể bao gồm: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê đất đai, nhà xưởng, chi phí thành lập doanh nghiệp, phí bảo hiểm tài sản cố định và kho nguyên vật liệu, sản phẩm, chi phí đào tạo nhân công…
1.3.2.3.4. Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
- Hệ số vốn tự có so với vốn đi vay: Hệ số này lớn hơn hoặc bằng
- Đối với dự án có triển vọng, hiệu quả thu được rõ ràng thì hệ số này có thể nhỏ hơn 1 mà dự án vẫn thuận lợi.
Tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng 50%. Đối với các dự án triển vọng, có hiệu quả rõ ràng tỷ trọng này có thể thấp hơn. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- b. Thẩm định tỷ suất chiết khấu.
Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính khác thì trước tiên phải tính được tỷ suất chiết khấu nhằm đưa dùng tiền của các năm về cùng một thời điểm. Lãi suất chiết khấu là cơ sở để quy đổi dự án về cùng một mặt bằng thời gian. Tại sở giao dịch hiện nay xác định lãi suất chiết khấu thông qua chi phí vốn bình quân. Do đặc điểm của các dự án là vốn lớn nên phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Thông thường tại sở giao dịch thì tủ suất chiết khấu được tính dựa trên lãi suất đi vay và kết hợp với chi phí vốn tự có của dự án. Tuy nhiên việc xác định lãi suất chiết khấu phải tùy thuộc vào tình hình cụ thể của dự án:
- Nếu là vốn đầu tư do ngân sách Nhà nước cấp thì tỷ suất chiết khấu do Nhà nước quy định hoặc có thể lấy lãi vay dài hạn hoặc tôc độ lạm phát của nền kinh tế làm cơ sở tính toán.
- Nếu là vốn được hình thành từ góp cổ phần thì lãi suất chiết khấu được tính toán dựa trên lợi tức của cổ phần.
- Nếu là vốn góp liên doanh thì tỷ suất chiết khấu là do các bên liên doanh tự thỏa thuận với nhau.
- Nếu là vốn tự góp thì lấy chi phí cơ hội làm tỷ suất chiết khấu
c. Thẩm định dòng tiền các năm của dự án.
Dòng tiền của dự án là cơ sở để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính một cách dễ dàng. Các cán bộ thẩm định phải xác định được số năm tính toán dòng tiền và hiệu quả tài chính dự án. Dòng tiền hàng năm được tính trên cơ sở các giả định về sản lượng, giá bán, chi phí từ đó lập nên các bảng tính toán. Trước tiên là phải tính được khoản lợi nhuận trước thuế theo công thức:
Lợi nhuận trước thuế hàng năm = tổng doanh thu hàng năm – tổng chi phí hàng năm.
Lợi nhuận sau thuế = lợi nhuận trước thuế x (1- tỷ lệ thuế TNDN) Dòng tiền hàng năm t= Lợi nhuận sau thuế năm t + khấu hao năm t + Lãi vay cố định năm t – Giá trị đầu tư bổ sung tài sản năm t + giá trị thanh lý tài sản năm t.
Lãi vay cố định của dự án được tính dựa vào nguồn đi vay và lãi suất của từng nguồn. Đối với sở giao dịch thì lãi suất cho vay đối với nguồn vốn được tính dựa trên lãi suất bình quân đầu vào, chi phí quản lý nguồn vốn vay, phần bù rủi ro và mức lợi nhuận dự kiến khi thực hiện cho vay. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Dòng tiền cả đời dự án bao gồm vốn đầu tư cố định ban đầu và dòng tiền thuần hàng năm.
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
Các chỉ tiêu bao gồm:
- NPV: giá trị hiện tại ròng dự án.
- IRR: hệ số hoàn vốn nội bộ.
- RR: tỷ suất sinh lời vốn đầu tư
- B/C: tỷ số lợi ích/chi phí.
- T : Thời gian thu hồi vốn đầu tư.
- Phân tích điểm hòa vốn.
Giá trị hiện tại ròng: Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất khi các chủ đầu tư tiến hành lập dự án và các cơ quan chức năng cũng như ngân hàng tiến hành thẩm định dự án.
- Chỉ tiêu NPV được xác định:
Bi: Khoản thu của dự án năm i. Nó có thể là doanh thu thuần năm I, giá trị thanh lý tài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản hết tuổi thọ theo quy định) và ở cuối đời dự án, vốn lưu động bỏ ra ban đầu và được thu về ở cuối đời dự án.
Ci: Khoản chi của dự án năm i. Nó có thể là chi phí vón đầu tư ban đầu để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và các thời điểm trung gian, chi phí vận hành hàng năm của dự án.
- r: Tỷ suất chiết khấu
- n: Số năm hoạt động của dự án.
NPV là phần nhà đầu tư thu được khi dự án kết thúc do đó khi NPV = 0 thì nhà đầu tư không có lãi vì thu nhập ròng vừa đủ bù đắp chi phí đầu tư, khi NPV<0 thì dự án lỗ. Do đó dự án chỉ có thể chấp nhận được khi NPV>=0. NPV càng lớn thì càng tốt. Với ngân hàng thì họ sẽ lựa chọn những dự án có NPV>=0 và càng lớn càng lớn càng tốt. Chỉ tiêu NPV còn được sử dụng như tiêu chuẩn tốt nhất để lựa chọn dự án loại trừ lẫn nhau (trong trường hợp không hạn chế về nguồn vốn. Khi so sánh hai hay nhiều dự án, ta sẽ chọn dự án có NPV dương và lớn nhất. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- c.2. Hệ số hoàn vốn nội bộ.
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng hiện tại thì tổng thu bằng tổng chi.
- IRR: Hệ số hoàn vốn nội bộ.
Hệ số thu hồi vốn nội tại IRR: Hệ số IRR cũng dung để đánh giá hiệu quả dự án đầu tư. IRR là mức lãi suất chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại của các khoản thu của dự án bằng giá trị hiện tại của chi phí đầu tư có nghĩa là NPV của dự án bằng 0 do đó nếu IRR bằng lãi suất tiền gửi thì nhà đầu tư nên tiết kiệm với độ an toàn cao hơn. Nếu IRR bằng lãi suất cho vay và việc đầu tư chủ yếu bằng vốn vay thì lợi nhuận của dự án chỉ đủ trả lãi vay ngân hang, còn IRR phải lớn hơn lãi suất cho vay thì việc đầu tư vào dự án mới có lãi. Ngoài ra việc tính IRR còn cho phép ta so sánh lựa chọn giữa các phương án đầu tư khác nhau và giữa các chủ đầu tư khác nhau.
c.3. Tỷ suất sinh lời vốn đầu tư( hệ số hoàn vốn).
- Wpv: Lợi nhuận bình quân hàng năm của dự án quy về mặt bằng hiện tại.
- Ivo: Vốn đầu tư tại thời điểm dự án bắt đầu đi vào hoạt động.
- RR: Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư tính bình quân năm của đời dự án.
c.4. Tỷ số lợi ích – chi phí ( B/ C ).
- Chỉ tiêu lợi ích – chi phí được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra.
Trong đó:
- Bi: Doanh thu hay lợi ích ở năm i. Ci: Chi phí năm i.
- PV( B): Giá trị hiện tại của các khoản thu bao gồm doanh thu ở các năm của đời dự án .
- PV(C): Giá trị hiện tại của các khoản chi phí.
- Chỉ tiêu B/ C >= 1 thì dự án được chấp nhận. Khi đó tổng các khoản thu của dự án đủ bù đắp chi phí bỏ ra. Còn ngược lại B/ C < 1 thì dự án bị bác bỏ. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
c.5. Thời gian thu hồi vốn đầu tư.
Thời gian thu hồi vốn đầu tư là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi đủ vốn đã bỏ ra.
- T: Năm thu hồi vốn đầu tư.
- (W+ D)ipv: Khoản thu lợi nhuận thuần và khấu hao năm i quy về thời điểm hiện tại.
- Ivo: Vốn đầu tư ban đầu.
Dự án được chấp nhận khi thời gian hoàn vốn đầu tư <= Tđm Tđm: thời gian hoàn vốn định mức được xác định tuỳ theo ngành.
Phân tích điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu và đường biểu diễn chi phí. Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh không có lãi nhưng cũng không lỗ. Doanh nghiệp muốn có lãi phải tổ chức sản xuất đạt trên điểm hoà vốn. Điểm hoà vốn càng thấp thì dự án càng có hiệu quả và tính rủi ro càng thấp. Nhìn chung các dự án có điểm hoà vốn đạt dưới 60% là chấp nhận được.
Phân tích các trường hợp rủi ro có thể xảy ra với dự án đầu tư (dùng phương pháp phân tích độ nhạy). Đưa ra các giả định về thay đổi sản lượng, đơn giá bán, chi phí tăng… để kiểm tra tính hiệu quả, khả thi, độ ổn định và khả năng trả nợ của dự án.
1.3.3. Phương pháp thẩm định tài chính Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Các phương pháp trong thẩm định tài chính tại Sở giao dịch bao gồm phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp dự báo, phương pháp phân tích độ nhạy, phương pháp phân tích rủi ro.
Phương pháp so sánh đối chiếu được dùng để so sánh với các tiêu chuẩn tài chính của các dự án tương tự hay tiêu chuẩn của ngành. Đây là phương pháp rất quan trọng với công tác thẩm định tài chính. Dùng phương pháp này để biết được các chỉ tiêu của dự án có phù hợp tiêu chuẩn hay không cũng như có hiệu quả không. Ví dụ như so sánh suất đầu tư của dự án hay so sánh các tiêu chuẩn hiệu quả tài chính như NPV vơi 0, IRR với lãi suất chiết khấu, B/C với 1,…
Phương pháp dự báo được dùng trong phân tích khía cạnh thị trường, từ đó làm cơ sở các số liệu tính toán trong phân tích tài chính. Sử dụng phương pháp này để dự báo về cung cầu, thị phần của sản phẩm dự án trong tương lai. Từ đó có số liệu để phân tích doanh thu, dòng tiền dự án và các chỉ tiêu hiệu quả tài chính. Phương pháp dự báo phải đưa ra số liệu chính xác thì việc tính toán hiệu quả sau này cũng mới đảm bảo được. Tuy nhiên trên thực tế tại sở giao dịch hiện nay thì phương pháp này vẫn chưa thực hiện tốt.
Phương pháp phân tích độ nhạy ngày càng đóng vai trò quan trọng tại các ngân hàng. Đây là phương pháp chỉ sử dụng trong thẩm định khía cạnh tài chính dự án vốn vay. Bởi nguồn vốn cho vay của ngân hàng có thể xảy ra rủi ro bất cứ lúc nào nên việc phân tích độ nhạy là rất cần thiết. Dòng tiền của dự án chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như giá cả, sản lượng, vốn đầu tư ban đầu, thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí sản xuất… Các yếu tố này tùy theo từng dự án mà có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới các chỉ tiêu hiệu quả của dự án. Việc phân tích độ nhạy sẽ giúp cho cán bộ thẩm định có thể thấy được ảnh hưởng của từng yếu tố riêng biệt cũng như đồng thời các yếu tố đến hiệu quả dự án. Ở sở giao dịch hiện nay thường phân tích độ nhạy với sự thay đổi của một yếu tố và đồng thời hai yếu tố. Những yếu tố thường được phân tích là giá bán sản phẩm, tổng mức đầu tư và sản lượng. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Phương pháp phân tích rủi ro cũng được sử dụng trong phân tích tài chính dự án. Bản chất của dự án đầu tư là bỏ ra số vốn lớn nhưng thời gian lại kéo dài, vì thể rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Với tư cách là định chế tài chính cho vay, thì ngân hàng cũng hết sức quan tâm tới những rủi ro có thể xảy ra này. Đối với phân tích tài chính dự án thì những rủi ro có thể bao gồm rủi ro thị trường , khi có những thay đối khiến cho dự án không có đầu vào để sản xuất hay không tiêu thụ được sản phẩm. Đó cũng có thể là những thay đổi trên thị trường tài chính khiến lãi suất vay vốn tăng lên, …Những rủi ro này luôn tiềm ẩn với các dự án. Trong quá trình thẩm định tại sở giao dịch thì các cán bộ thẩm định luôn quan tâm tới những rủi ro này.
1.3.4. Quy trình thẩm định tài chính dự án vốn vay.
Nhìn chung quy trình thẩm định tài chính dự án cũng tương tự như thẩm định dự án vốn vay. Sau khi phòng quan hệ khách hàng tiếp nhận hồ sơ khách hàng thì sẽ xem xét tổng quát, nếu thấy có thể chấp nhận thì sẽ thu thập thêm các thông tin rồi chuyển sang phòng đầu tư dự án tiếp tục thẩm định. Tại phòng Đầu tư dự án, trưởng phòng sẽ giao cho một hoặc một số cán bộ chuyên trách tiến hành thẩm định. Các cán bộ thẩm định này thông qua những thông tin mà khách hàng cung cấp cho phòng Quan hệ khách hàng và những thông tin khác tiến hành công tác thẩm định tài chính.
1.3.5 Ví dụ:
1.3.5.1. Giới thiệu sơ bộ về dự án.
Dự án Thủy điện Srepok 3 nằm trong quy hoạch bậc thang của sông Srepok (quyết định phê duyệt quy hoạch bậc thang số 1564/QĐ- NLDK ngày 03/07/2019 của bộ trưởng bộ công nghiệp). Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư tại công văn số 1225/TTg – CN ngày 25/08/2021. Trên cơ sở đó, ngày 07/10/2021 hội đồng quản trị tổng công ty Điện lực Việt Nam đã có các quyết định số 565/Q§-EVN-H§QT v/v phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình thủy điện Srepok 3 và quyết định số 710/Q§-EVN-H§QT ngày 13/12/2021 phê duyệt thiết kế kỹ thuật giai đoạn 1 dự án thủy điện Sperok 3. Theo quyết định phê duyệt TKKT giai đoạn 1, dự án Srepok 3 có một số thông số chính như sau:
- Tên dự án: công trình thủy điện Srepok Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Địa điểm xây dựng: trên sông Srepok thuộc huyện Cư Jut tỉnh Đắc Nông và huyện Buôn Đôn tỉnh Đăk lak.
- Diện tích lưu vực: 410 km2.
- Cấp công trình: cấpCXDVN 285-2018
- Mực nước dâng bình thường: 272m
- Mực nước chết: 268 m
- Dung tích toàn bộ: 218,99 triệu m3
- Diện tích mặt hồ với MND: 17,68 km2
- Công suất lắp máy: 220 MW
- Số tổ máy: 02 tổ
- Điện lượng trung bình năm: 060,2 triệu KWh
- Loại thuốc bin: tâm trục, trục đứng
- Hình thức đầu tư: xây dựng mới
- Tổng vốn đầu tư: 855.664 triệu đồng (theo quyết định đầu tư dự án) gia.
- Mục đích đầu tư: tạo nguồn phát điện cung cấp cho lưới điện quốc
Nguồn vốn đầu tư: vốn tự có của của đầu tư, vay vốn các ngân hàng thương mại trong nước, quỹ hỗ trợ phát triển và vốn vay nước ngoài.
- Tiến độ: thời gian xây dựng 5 năm (kể cả thời gian chuẩn bụ), dự kiến hoàn thành năm 2026.
- Thẩm định tài chính dự án Sreepok
1.3.5.2. Tổng vốn đầu tư:
Theo 565/QĐ- EVN-HĐQT ngày 07/10/2021 của hội đồng quản trị EVN về việc đầu tư xây dựng công trình thủy điện Srepok 3, tổng mức đầu tư của dự án là 4.855.664 triệu đồng. Cụ thể:
- BẢNG 1.6. BẢNG TÍNH TỔNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN
Trên cơ sở tiến độ thực hiện dự án và các tài liệu hiện có do chủ đầu tư cung cấp, tổ thẩm định chung đã tiến hành để tính toán lại tổng mức đầu tư của dự án: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Tổ thẩm định chung đã có sự tính toán lại lãi vay theo các nguồn vốn của dự trong thời gian thi công là 907 triệu đồng, giảm 240.718 triêu đồng so với quyết định phê duyệt .
- Tách chi phí xây dựng đường dây 220 kV (theo tổng mức đầu tư, hạng mục này là 39.617 tỷ đồng) ra khỏ tổng vốn đầu tư của dự án do hạng mục này đã được tách ra thành một tiểu dự án riêng biệt.
Tổng mức đầu tư của dự án được xác định lại sau khi tính toán lại là 4.575.329 triệu đồng, giảm so với quyết định đầu tư là 280.335 triêu đồng.
Suất đầu tư: so sánh suất đầu tư của các dự án thủy điện đang thực hiện của tổng công ty điện lực Việt Nam với các thông số trong bảng 2.3.
- BẢNG 1.7. BẢNG TÍNH SUẤT ĐẦU TƯ CỦA CÁC DỰ ÁN
So sánh với một số dự án trên đây thấy rắng dự án Srepok 3 có suất đầu tư trung binh.
1.3.5.3. Phương án vốn:
Theo kế hoạch phân bổ vốn đầu tu do chủ đầu tư cung cấp (công văn số 1471/CV- ATDD5- P2, P4 ngày 10/05/2022) dự kiến phương án nguồn vốn như sau:
- BẢNG 1.8. BẢNG CẤU TRÚC VỐN CỦA DỰ ÁN
Vốn vay nước ngoài: EVN dự kiến vay tín dụng xuất khẩu cho 85% gi trị thiết bị nhập khẩu, khoảng 655.758 triệu đồng chiếm 14.33% tổng vốn đầu tư. Một trong những điều kiện để xét thầu là nhà thầu phải chịu trách nhiệm thu xếp vốn cho dự án theo hình thức tín dụng xuất khẩu và khoản vay này sẽ được bộ tài chính bão lãnh. Đến nay, chủ đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ mời thầu và dự kiến đến tháng 13/2022 ký hợp đồng. Xét năng lực và uy tín của EVN cũng như thực tế việc thu xếp vốn vay nước ngoài cho một số dự án thủy điện của EVN trong thời gian qua, khả năng thu xếp được nguồn vốn nước ngoài là tương đối khả thi. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Vay quỹ Hỗ Trợ Phát Triển: theo nghị định 106/2020/NĐ-CP, các hạng mục đền bù, di dân tái định cư và thiết bị thủy công chế tạo trong nước sẽ được vay vốn từ quỹ HTPT. Căn cứ công văn số 1471/CV-AT§5-P2,P4 ngày 10/05/2022 tổng chi phí đền bù di dân, tái định cư và thiết bị thủy công chế tạo trong nước của dự án khoảng 530.027 triệu đồng chiếm 11.58% tổng vốn đầu tư
Vốn vay thương mại trong nước: Dự kiến vay 04 ngân hàng thương mại trong nước với tổng số tiền là 1.763.000 triệu đồng trong đó ngân hang ngoại thương Việt Nam làm đầu mối.
1.3.5.4. Tính toán các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án
Cơ sở tính toán:
- Dự án được tính toán với vòng đời 25 năm
- Công suất thiết kế: 220 MW
- Điện lượng bình quân: 060,2 triệu kWh
- Công suất huy động năm đầu: 90%, các năm tiếp theo tăng 5%/ năm. Sản lượng điện tự dung là 0,5% sản lượng điện sản xuất
- Giá bán điện: 4.00 UScent/KWh, tương đương 638 VND/kWh (tỷ giá 15.950 VND/USD)
- Chi phí O&M bao gồm chi phí quản lý, bảo dưỡng, nhân công… tính bằng 0.5% giá trị xây lắp + thiết bị.
- Thuế tài nguyên tính theo hướng dẫn tại thông tư số 05/2022/TT-BTC ngày 19/01/2022 của bộ tài chính: 2%x sản lượng điện xuất tuyến x 700 đồng/Kwh
- Chi phí bảo hiểm: 3% giá trị xây lắp +thiết bị
- Khấu hao cơ bản: tính theo phương pháp đường thẳng: xây lắp 25 năm, các hạng mục khác là 10 năm.
Lãi vay các nguồn nhu sau:
- Lãi vay quỹ HTPT: 7,8%/năm
- Lãi vay nước ngoài tạm tính: 7,5%/năm
- Lãi vay vốn trong nước: lãi vay được tính bằng mức bình quân lãi suất huy động tiết kiệm VND 12 tháng (trả lãi sau) của các ngân hàng tham gia đồng tài trợ (hiện nay là 8,4%/năm)+3%= 11,4%/năm.
Thuế suất thuế TNDN: 28%/năm, được miễn thuế trong 4 năm kể từ năm hoạt động đầu tiên, giảm 50% trong 7 năm tiếp theo (theo thông tư số 128/2019/TT-BTC ngày 22/12/2019 hướng dẫn thi hành theo nghị định số 164/2019/NĐ-CP ngày 22/12/2019 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế TNDN) Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Nguồn trả nợ: 90% KHCB và 90% lợi nhuận sau thuế
- Chi phí sủ dụng vốn tự có: 4%/năm
- Lãi suất chiết khấu: 7.72%/năm (bằng chi phí vốn bình quân có điều chỉnh ảnh hưởng của thuế TNDN)
- Dòng tiền của dự án được đưa ra với giả định vốn lưu động không đáng kể, không có hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả và giả định đưa về thời điểm bắt đầu cho vay
Lãi suất chiết khấu 7.72%/năm (bằng chi phí vốn bình quân có điều chỉnh ảnh hưởng của thuế TNDN). (năm thứ -3)
- BẢNG 1.9.BẢNG TÍNH LÃI SUẤT CHIẾT KHẤU
- BẢNG 1.10. BẢNG CÁC LOẠI CHI PHÍ CỦA DỰ ÁN
1.3.5.5. Tính các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án
Trên cơ sở tổng mức đầu tư tính lại, hiêu quả tài chính của dự án theo quan điểm tổng mức đầu tư như sau:
- NPV25 năm = 826,014 triệu triệu đồng
- IRR25 năm = 36%
- Thời gian thu hồi vốn vay:7.87 năm.
Phân tích độ nhạy của dự án: Việc phân tích độ nhạy được thực hiện với các thông số đầu vào gồm: tổng mức đầu tư, giá bán điện và sản lượng điện bình quân. Kết quả khảo sát như sau:
Trường hợp thau đổi tổng mức đầu tư: dự án có NPV= 0 khi tổng mức đầu tư tăng tới 357% , thời gian hoàn trả vốn vay tương ứng tăng lên 10.09 năm.
Trường hợp thay đổi giá bán điện: dự án có 10.43 so với mức giá tính toán), thời gian hoàn trả vốn vay tương ứng tăng lên 10.43 năm. Với mức giá bán điện thấp hơn 3.96 UScent/kWh thời gian trả nợ của dự án trên 8 năm.
Trường hợp thay đổi sản lượng điện bình quân: dự án sẽ không có hiêu quả nếu sản lượng điện bình quân giảm trên 10.39% so với thiết kế. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Trường hợp nhiều biến cùng thay đổi: khảo sát ở các phương án giá bán, tổng mức đầu tư, công suất huy động ban đầu thay đổi cho thấy các chỉ tiêu tài chính và khả năng trả nợ trong các trường hợp giả định đều ở mức chấp nhận được.
Tóm lại, dự án có hiệu quả tài chính và có khả năng chịu đựng rủi ro ở mức chấp nhận được khi các giả định đầu vào trọng yếu thay đổi, thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Phân tích rủi ro của dự án
Khoản vay được đảm bảo bằng tài sản hình thành từ nguồn vốn tự có, vốn vay các ngân hàng thương mại và các nguồn vốn khác (nếu đủ điều kiện). Ngoài ra, toàn bộ các quyền hưởng thụ của chủ đầu tư từ dự án (quyền thụ hưởng các hợp đồng bảo hiểm, quyền khai thác tài nguyên…) cũng phải được sử dụng để làm bảo đảm tiền vay cho các ngân hàng.
Do đặc thù của các công trình thủy điệnc ó diện tích đất sử dụng rất lớn, thuộc nhiều địa bàn khác nhau, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và di dân tái định cư kéo dài trong thời gian nhiều năm và được tiến hành dần cùng với tiến độ thực hiện công trình nên tại thời điểm thẩm định cũng như trong thời kỳ xây dựng dự án, các dự án thường chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, để nhận các tài sản này làm tài sản đảm bảo nợ vay cho các khoản vay tại các ngân hàng đồng tài trợ, chủ đẩu tư phải cam kết sẽ hoàn thành các thr tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian sớm nhất có thể và ngay khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải phối hợp với các ngân hàng ĐTT để hoàn thành thủ tục thế chấp tài sản. Trong trường hợp phần tài sản hình thành từ các nguồn vốn khác có thể thé chấp, cầm cố cho các NHĐTT, ngân hàng đầu mối chủ động đàm phán với các nhà tài trợ khác để thống nhất tỷ lệ chia tài sản đảm bảo.
1.3.5.6. Đề xuất của cán bộ tín dụng:
Tổng công ty điện lực VIệt Nam là DNNN có tư cách pháp nhân, có tình hình tài chính lành mạnh, doanh thu và lợi nhuận hàng năm cao, tăng trưởng ổn định, vững chắc. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn cho thấy sự chủ động về nguồn vốn trong kinh doanh của Tổng công ty.
Dự án thủy điện Srepok 3 nằm trong quy hoạch chiến lược phát triển ngành điện của Chính phủ và được sự ủng hộ của chính quyền địa phương. Theo tính toán dự án có tính khả thi, tính hiệu quả về mặt tài chính, có khả năng trả nợ.
- a. Đề xuất: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Từ những phân tích, đánh giá trên, tổ thẩm định thống nhất trình lãnh đạo các ngân hàng Đồng tài trợ xem xét cho vay đầu tư dự án thủy điện Srepok 3 do tổng công ty điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư theo một số nội dung chính sau đây:
- Phương thức cho vay: đồng tài trợ, sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam làm đầu mối.
- Số tiền cho vay: tối đa 1.763 tỷ (một ngàn bảy trăm sáu mươi ba tỷ đồng). Mức vốn tham gia vay của các ngân hàng sẽ được xác định cụ thể sau khi các ngân hàng có quyết định tài trợ vốn chính thức.
- Mục đích: thanh toán một phần chi phí đầu tư thực hiện dự án thủy điện Srepok 3
- Thời gian vay vốn: tối đa 12 năm, trong đó thời gian ân hạn là 4 năm.
Thời hạn cụ thể sẽ được thỏa thuận và ghe tại HĐTD. Kỳ hạn trả nợ (gốc + lãi) dự kiến 06 tháng/kỳ
- Lãi suất: bằng lãi suất tiết kiệm bình quân 1 tháng trả sau của các ngân hàng Đồng tài trợ +tối thiểu 3%/năm (chưa kể các loại phí) 06 tháng điều chỉnh một lần kể từ ngày rút vốn đầu tiên.
- Phí cam kết rút vốn: 2%/năm trên số vốn chưa rút, tính 6 tháng một lần.
- Phí đầu mối: 05%/ năm trên dư nợ thực té.
- Các loại phí khác: sẽ thỏa thuận với chủ đầu tư sau và được quy định cụ thể tại hợp đồng tín dụng.
Bảo đảm tiền vay: bằng chính tài sản hình thành từ vốn tự có, vốn vay các ngân hàng thương mại, các nguồn khác (nếu đủ điều kiện) và toàn bộ các quyền hưởng thụ của chủ đầu tư từ dự án (quyền hưởng thụ các hợp đồng bảo hiểm, quyền khai thác tài nguyên…)
- Điều kiện khác
- Chủ đầu tư cam kết:
Tham gia đủ vốn tự có tối thiểu tương ứng 30% tổng vốn đầu tư. Trường hợp khi phát sinh tăng tổng mức đầu tư, chủ đầu tư chịu trách nhiệm huy động và tham gia đủ số vốn phát sinh tăng, đảm bảo cho dự án được đầu tư hoàn chỉnh và vận hành đúng tiến bộ.
Dùng toàn bộ nguồn KHCB và lợi nhuận sau thuế hàng năm của dự án để trả nợ vốn vay. Chủ đầu tư cam kết dùng các nguồn thu khác để trả nợ cho các ngân hàng trong trường hợp nguồn thu từ dự án không đảm bảo trả nợ.
Chuyển toàn bộ doanh thu của dự án qua TKTG mở tại các ngân hang đóng tài trợ. Đồng thời toàn bộ nguồn vốn tự có của chủ đầu tư được giải ngân qua TKTG tại ngân hàng đầu mối để quản lý, giám sát.
Có kết quả về việc thu xếp phần vốn vay nước ngoài, vốn vay quỹ HTPT hoặc các nguồn vốn khác đảm bảo đủ vốn để thực hiện dự án. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Tổng công ty Điện lực VIệt Nam là chủ đầu tư của dự án trong suốt quá trình còn nợ vay các ngân hàng. Trong trường hợp có sự thay đổi chủ sở hữu của dự án (Dự án thủy điện Srepok3) phải được các ngân hàng đồng tài trợ chấp thuận bằng văn bản. EVN phải giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ của pháp nhân mới. Ngoài ra, tại thời điểm chuyển đổi, EVN và pháp nhân mới phải thỏa thuận một mực giá mua bán điện phù hợp, đảm bảo khả năng trả nợ các ngân hàng và phải được các ngân hàng tham gia đồng tài trợ chấp nhận.
- Chủ đầu tư thực hiện đúng các quy định hiện hành về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
Khoản vay của các ngân hàng đồng tài trợ trong nước phải được trả nợ theo nguyên tắc tương ứng tỷ lệ vốn tham gia của bên tham gia tài trợ. (gồm khoản vay quỹ HTPT, khoản vay nước ngoài và khoản vay các ngân hàng thương mại trong nước)
Toàn bộ tài sản hình thành sau đầu tư của dự án phải được mua bảo hiểm theo quy định trong suốt thời gian còn dư nợ vay các ngân hàng với giá trị bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ trong trường hợp xảy ra rủi ro, các ngân hàng đồng tài trợ là người thụ hưởng đầu tiên. Hợp đồng bảo hiểm, phụ lục hợp đồng bảo hiểm (nếu có) phải được sự chấp thuận của các ngân hàng
Các hợp đồng liên quan tới việc tài trợ cho dự án được soạn thảo bởi một công ty tư vấn luật được cá ngân hàng đồng tài trợ chấp thuận với chi phí do bên vay chịu.
- Các điều kiện khác sẽ được thỏa thuận trong giai đoạn đàm phán hợp đồng
- Trước khi ký Hợp động tín dụng, chủ đầu tư bổ sung đầy đủ tài liệu theo quy định hiện hành.
- Đánh giá về công tác thẩm định tài chính dự án vốn vay
Qua báo cáo thẩm định tài chính dự án Công trình thủy điện Srepok em đưa ra một số nhận xét sau về công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng là:
Về quy trình thẩm định : thực hiện đầy đủ theo quy trình, tức là phòng quan hệ khách hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn, sau đó phòng Đầu tư dự án tiến hành thẩm định. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Về nội dung : thẩm định tương đối đầy đủ các nội dung và các chỉ tiêu tài chính. Trong thẩm định tổng vốn đầu tư đã có sự tính toán lại và đưa ra con số tổng vốn đầu tư chính xác hơn cho dự án. Tuy nhiên tiến độ bỏ vốn thì vẫn chưa được thẩm định. Các loại chi phí, doanh thu được tính toán cụ thể, có bảng biểu phân tích rõ ràng. Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu tài chính thì mới chỉ tính đến hai yếu tố NPV và IRR mà vẫn chưa tính đến các chỉ tiêu khác. Bên cạnh đó vẫn chưa có sự phân tích đánh giá các chỉ tiêu.
Về phương pháp thẩm định : các cán bộ thẩm định đã sử dụng các phương pháp một cách khoa học. Các nội dung, chỉ tiêu thẩm định tài chính được so sánh với các quy chuẩn, tiêu chuẩn của ngành, dự án khác, và các tiêu chuẩn hiệu quả. Đặc biệt là phương pháp phân tích độ nhạy rất được chú ý.
Các yếu tố được phân tích có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính bao gồm: sản lượng, giá bán và tổng vốn đầu tư. Đặc biệt là đã có sự phân tích ảnh hưởng đồng thời đến hai yếu tố. Phương pháp phân tích rủi ro thì mới chỉ đưa ra được các rủi ro có thể xảy ra mà chưa định lượng được và đưa ra có giải pháp cụ thể đối với các rủi ro.
1.3.6. Đánh giá về công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch thời gian qua.
1.3.6.1. Những mặt đạt được:
Về công tác tổ chức điều hành: Hoạt động thẩm định tài chính tại sở giao dịch được phân cấp một cách rõ ràng. Khác với các chi nhánh khác của NHNT, thực hiện công tác thẩm định được chia thành 2 phòng: phòng quan hệ khách hàng và phòng đầu tư dự án. Trong đó, phòng quan hệ khách hàng có nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc và thu thập các thông tin về khách hàng còn phòng đầu tư dự án sẽ thẩm định chi tiết. Việc phân cấp trong thẩm định giúp chuyên môn hóa hơn, mang lại hiệu quả tốt hơn và mang tính khách quan hơn. Với những dự án dưới 5 tỷ đồng thì phòng quan hệ khách hàng sẽ tiến hành xem xét hồ sơ và thẩm định dự án. Đối với những dự án có vốn đầu tư lớn hơn 5 tỷ đồng thì phòng quan hệ khách hàng sẽ chuyển cho phòng Đầu tư dự án. Việc phân cấp một mặt tạo sự chuyên môn hóa, mặt khác đỡ tốn thời gian cho các cán bộ thẩm định bởi với những dự án lớn thì phòng quan hệ khách hàng sẽ xem xét về mặt hồ sơ và tính pháp lý. Nếu không đủ điều kiện thì sẽ loại bỏ còn nếu đủ điều kiện sẽ chuyển sang phòng Đầu tư dự án. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Về phương pháp thẩm định: trong quá trình thẩm định, các cán bộ thẩm định đã áp dụng nhiều phương pháp thẩm định khác nhau giúp cho công tác thẩm định mang tính khoa học và chính xác hơn.
Những phương pháp được áp dụng trong quá trình thẩm định tại sở giao dịch bao gồm thẩm định từ tổng quát đến chi tiết, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp dự báo, phân tích độ nhạy, đo lường rủi ro. Dự án được đánh giá một cách tổng thể về về quy mô đầu tư, tiến độ thực hiện… Khi xem xét một cách tổng thể mà dự án vẫn mang tính khả thi thì tiếp tục đi vào thẩm định chi tiết. Công việc thẩm định chi tiết bao gồm xem xét các khía cạnh như thị trường, kỹ thuật để tính toán các chỉ tiêu tài chính. Như vậy khía cạnh tài chính của dự án được đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện, có sự liên hệ với các nội dung thẩm định khác như thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật…
Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng trong việc xác định các định mức, tiêu chuẩn và đánh giá tính hiệu quả về tài chính của dự án. Đây là một phương pháp thường xuyên được sử dụng trong việc thẩm định tài chính tài sở giao dịch ngân hàng ngoại thương.
Phương pháp dự báo chủ yếu được dùng trong việc xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra cho dự án, trên cơ sở đó mà tính toán được dòng tiền và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả cũng như khả năng trả nợ của dự án.
Phương pháp phân tích độ nhạy cũng đã được sử dụng nhiều trong phân tích tài chính. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng nhằm đánh giá độ an toàn đối với dự án vay vốn. Thông qua phương pháp này có thể biết được giới hạn an toàn về tài chính khi các yếu tố thay đổi. Thông thường các yếu tố được cho thay đổi khi phân tích tại sở giao dịch bao gồm giá bán, sản lượng, thuế… Phương pháp này thường xem xét sự thay đổi của các yếu tố này khi dự án đạt hòa vốn. Phương pháp phân tích độ nhạy ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch.
Phương pháp đo lường rủi ro dùng để đánh giá các rủi ro có thể xảy ra đối với dự án để từ đó xem xét tính khả thi và hiệu quả và đưa ra các giải pháp hạn chế tính rủi ro. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Dùng hai phương pháp sau giúp hạn chế được tác động của các yếu tố thường xuyên thay đổi tới dự án nhằm giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tài trợ vốn chính xác hơn.
Nội dung thẩm định: được đưa ra một cách đầy đủ và dần tiến đến chuẩn mực quốc tế và ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với các nội dung thẩm định khác hơn.
Thẩm định tài chính bao gồm các nội dung như thẩm định tổng vốn đầu tư, thẩm định khả năng thực hiện của vốn, thẩm định các yếu tố như chi phí, doanh thu, tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án. Ngân hàng đã đưa ra một hệ thống khá đầy đủ các chỉ tiêu trong công tác thẩm định. Giá trị thời gian của tiền cũng được quan tâm thông qua việc tính toán các chỉ tiêu như NPV, IRR,…Trong quá trình tính toán các chỉ tiêu thì cán bộ thẩm định đã xây dựng nên các bảng biểu nhằm tăng thêm tính chính xác và tỷ mỷ cho các chỉ tiêu. Đồng thời nội dung của công tác thẩm định tài chính ngày càng kết hợp chặt chẽ với các nội dung khác như thẩm định khía cạnh pháp lý, thẩm định kỹ thuật hay thẩm định thị trường. Việc kết hợp với các thông số ở các khâu thẩm định khác sẽ tạo nên tính chính xác, tránh sai sót trong quá trình tính toán.
Yếu tố con người trong thẩm định dự án: đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ và tinh thần với công việc. Đồng thời đội ngũ cán bộ thẩm định là những người trẻ trung, nắm bắt nhanh công việc, sáng tạo và tiếp thu nhanh nhạy những phương pháp thẩm định tiên tiến. Bên cạnh đó, thì các cán bộ cũng được trang bị đầy đủ những kiến thức liên quan đến thẩm định như kiến thức về pháp luật, kinh doanh, thị trường… Tuy phòng đầu tư dự án mới được thành lập cách đây 4 năm nhưng đã mang lại nhiều dự án vốn vay quan trọng cho sở giao dịch. Bên cạnh đó, hàng năm sở giao dịch cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ phục vụ cho công tác thẩm định.
1.3.6.1.5. Nguồn thông tin và trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định.
Trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định được trang bị khá đầy đủ. Vị trí mới của sở giao dịch đã được chuyển sang 31/33 Ngô Quyền ở vị trí trung tâm. Trong phòng làm việc, các cán bộ được trang bị máy tính, máy fax, máy in, máy photocopy,… và chỗ làm việc với khách hàng. So với trước năm 2024, khi sở giao dịch hoạt động cùng tòa nhà với hội sở chính thì các phòng ban đã có diện tích làm việc riêng biệt, cơ sở hiện đại hơn. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Về nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định: Do hệ thống trang thiết bị đầy đủ nên dễ dàng cho việc thu thập thập dự trữ thông tin. Ngoài thông tin mà khách hàng cung cấp thì phòng còn thu thập thông tin về thông tin và dự án qua internet, báo chí và hệ thống thông tin dự trữ của chính ngân hàng, nhờ đó mà công tác thẩm được rút ngắn và tính chính xác của thông tin cũng được tăng cường.
1.3.6.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân.
- Những mặt hạn chế.
Về phương pháp thẩm định: Tuy đã áp dụng các phương pháp thẩm định khoa học nhưng nhìn chung vẫn còn sơ sài. Phương pháp dự báo nhìn chung vẫn chỉ được áp dụng một cách hình thức mà chưa thực tế. Phương pháp này được sử dụng trong khâu phân tích thị trường, đưa ra dự báo cung cầu từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng dòng tiền các năm. Trên thực tế phương pháp dự báo chủ yếu là lấy số liệu dự báo mà khách hàng đưa ra, dựa vào kinh nghiệm và hỏi ý kiến chuyên gia.
Về phương pháp so sánh đối chiếu chủ yếu là nhằm kiểm tra các kết quả tính toán và so sánh với các dự án tương tự cũng như tiêu chuẩn tài chính.
Phương pháp phân tích độ nhạy đối với nhiều dự án còn chưa được chú trọng, chỉ chú trọng một số yếu tố cơ bản như giá bán, sản lượng, chi phí… Trên thực tế còn rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính như thuế, sự thay đổi về cầu sản phẩm, …
Về phương pháp quán triệt rủi ro thì cán bộ thẩm định mới chỉ đưa ra các rủi ro mang tính chất định lượng mà vẫn chưa mang tính định tính. Đồng thời các rủi ro này vẫn chưa được phân loại và đưa ra phân cấp rủi ro cụ thể nhằm đưa ra những giải pháp tốt để đề phòng rủi ro.
- Về nội dung thẩm định: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Tuy nội dung công tác thẩm định tài chính đã được đề cập khá đầy đủ nhưng do bản chất của ngân hàng là định chế tài chính cho vay vốn nên chỉ chú trọng vào việc phân tích dòng tiền các năm, xây dựng bảng trả nợ vốn vay,… Một số chỉ tiêu khá quan trọng để phân tích dự án như B/C, RR,… nhưng trên thực tế vẫn rất ít được đề cập.
Khi thẩm định nguồn vốn đầu tư thì trong thời gian xây dựng tổng chi phí đầu tư của dự án, chi phí lãi vay dài hạn cần được tính vào vì trong thời gian này vẫn chưa tạo ra được sản phẩm dịch vụ. Thế nhưng trong quá trình thẩm định các cán bộ đầu tư đã không tính vào và các chi phí dự phòng cũng không được đề cập đến. Việc thiếu sót trong tính toán sẽ dẫn đến phân bổ chi phí không chính xác sau này.
Việc tính toán doanh thu dự kiến hàng năm: thông thường cán bộ thẩm định thường cho nó phụ thuộc vào sản lượng dự kiến và giá bán sản phẩm dự kiến. Nhưng sản lượng dự kiến lại phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và công suất thực tế của máy móc thiết bị. Nhưng công tác dự báo về nhu cầu sản phẩm của dự án vẫn chưa thực sự hiệu quả. Việc xác định thị phần tiêu thụ của dự án chỉ lấy thông tin chung chung, chỉ đánh giá cảm tính xem thị trường những năm tới sẽ tăng bao nhiêu %. Đồng thời việc tính toán cũng chỉ tính đến giá trị thời gian của tiền mà chưa đề cập tới yếu tố lạm phát. Yếu tố lạm phát có ảnh hưởng rất lớn tới tính hiệu quả của dự án. Nhất là trong tình trạng hiện nay, nền kinh tế rơi vào lạm phát cao trong nhiều giai đoạn.
Việc tính toán các khoản mục chi phí chủ yếu là do khách hàng đưa ra các số liệu mà nhiều khi không có sự tính toán lại.
Khi tiến hành phân tích độ nhạy thì mới chỉ đề cập tới một số yếu tố có ảnh hưởng lớn như giá bán, tổng vốn đầu tư mà chưa phân tích đầy đủ các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả dự án như chi phí dự án, thuế thu nhập doanh nghiệp…
Việc phân tích rủi ro: thực tế ngoài phương pháp phân tích độ nhạy cũng không có phương pháp nào khác. Các rủi ro mà cán bộ thẩm định đưa ra cũng chỉ mang tính chất định tính mà chưa đưa ra các số liệu tính toán cụ thể và các biện pháp giảm thiểu rủi ro cũng chưa thực sự được chú trọng. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Quy trình thẩm định: Việc phân cấp trong thẩm định một mặt dẫn tới chuyên môn hóa trong quá trình thẩm định nhưng mặt khác nếu không biết cách kết hợp hoạt động giữa các phòng ban thì cũng có thể gây kém hiệu quả hơn. Bởi cán bộ trực tiếp thực hiện thẩm định tài chính là cán bộ phòng đầu tư dự án không được trực tiếp tiếp xúc khách hàng mà chỉ nhận thông tin từ phòng quan hệ khách hàng. Do vậy tính chính xác của thông tin đưa ra sẽ phụ thuộc vào phòng quan hệ khách hàng. Phòng Đầu tư dự án chỉ đánh giá dự án dựa trên hồ sơ khách hàng cung cấp nên khó tránh khỏi chủ quan. Bên cạnh đó việc phân cấp cũng sẽ dễ dẫn đến tình trạng các nhận định ngược chiều từ hai phòng ban này.
Về cán bộ thẩm định: phòng đầu tư dự án mới chỉ được thành lập 3 năm và các cán bộ thẩm định còn trẻ nên kinh nghiệm công tác thẩm định tài chính còn khiêm tốn. Với thời gian tách ra khỏi phòng quan hệ khách hàng mới chỉ hơn 3 năm nên việc kết hợp tốt với các phòng ban khác được. Đội ngũ cán bộ thẩm định vẫn chưa đủ mạnh về số lượng và chất lượng cho công tác thẩm định tài chính. Mặc dù sở giao dịch đã thường xuyên tổ chức các các khóa đào tạo về pháp luật, kỹ thuật … nhưng do trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định chủ yếu là cử nhân và thạc sỹ kinh tế mà các dự án vay vốn là đa dạng ngành nghề, yêu cầu cán bộ phải có kiến thức tổng hợp nên đội ngũ cán bộ vẫn chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu của công việc. Việc phân công thẩm định dự án thì phần lớn là mỗi cán bộ là một số khách hàng nhất định chứ không phải phân công theo ngành, lĩnh vực. Như vậy sẽ gây khó khăn hơn cho công tác thẩm định do một cán bộ sẽ không thể có hiểu biết sâu sắc về tất cả các lĩnh vực được. Bên cạnh đó thì trình độ về ngoại ngữ, tin học của cán bộ tín dụng còn hạn chế nên gặp phải những khó khăn trong một số dự án liên quan đến nước ngoài.
Hạn chế trong việc thu thập và xử lý thông tin: nguồn thông tin phục vụ chủ yếu cho quá trình thẩm định là do khách hàng đưa ra, thông tin trên hệ thống internet, báo chí… Hệ thống thông tin chuyên ngành còn hạn chế, chưa phát huy hết tác dụng với công tác thẩm định tài chính. Thông tin trên hệ thống internet và báo chí còn thiếu tính nhất quán và không thể đảm bảo tính chính xác được. Đồng thời hệ thống thông tin mà khách hàng đưa ra không phải lúc nào cũng chuẩn xác do khách hàng muốn được vay vốn nên nhiều trường hợp đưa ra thông tin còn sai lệch.
- Về công tác tổ chức: Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
Cơ chế chính sách còn chồng chéo, không rõ ràng, nhiều quy định còn vô lý, nhất là trong chính sách đất đai, thế chấp, cầm cố…
Công tác khách hàng chưa hỗ trợ nhiều cho công tác phát triển tín dụng trung hạn. Số dự án trung dài hạn hiệu quả, khả thi mà phòng quan hệ khách hàng tiếp cận còn hạn chế.
Khó khăn trên địa bàn hoạt động: Hà Nội là địa bàn có tính cạnh tranh cao. Số lượng ngân hàng quá nhiều, số lượng các doanh nghiệp sản xuất lớn tập trung không đông bằng các tỉnh lân cận ngoại trừ một số doanh nghiệp lớn nước ngoài lại không có nhu cầu vay vốn hoặc đề nghị vay vốn với mức lãi suất thấp không thể đáp ứng.
Về thời gian thẩm định: do phân cấp trong thẩm định nên phải qua nhiều phòng ban, do đó mà thời gian thẩm định thường kéo dài. Điều này thường dẫn đến khách hàng bị bỏ lỡ mất cơ hội đầu tư. Do ngân hàng thẩm định lâu, trong đó thẩm định tài chính chiếm phần lớn thời gian, trong khi kết quả thẩm định chưa chắc đã cho khách hàng vay tiền. Nếu khách hàng có đi vay ở ngân hàng khác thì cơ hội đầu tư cũng chưa chắc đã còn.
1.3.6.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên.
- Nguyên nhân khách
Thứ nhất, số lượng ngân hàng thương mại xuất hiện ngày càng nhiều gây nên cạnh tranh ngày càng lớn. Trong khi đó nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng nên số lượng dự án vay vốn cũng giảm theo. Không phải là khách hàng tự tìm đến với ngân hàng mà chính những ngân hàng chủ động tìm đến với khách hàng. Chính vì thế mà để tăng doanh số cho vay thì chất lượng công tác thẩm định không phải lúc nào cũng đảm bảo tốt được.
Thứ hai, mặc dù ngân hàng Nhà nước đã chú trọng xem xét, thường xuyên sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật và quy định về công tác tín dụng nhưng không tránh khỏi tình trạng chung là chồng chéo, không có sự nhất quán và rõ ràng trong các chính sách, gây nên sự hoang mang trong quá trình thẩm định của cán bộ bởi văn bản này chưa kịp quen thì đã ra văn bản khác.
Thứ ba, là về thông tin trong quá trình thẩm định. Trên thực tế khách hàng có thể liên hệ với nhiều ngân hàng khác nhau để vay vốn cho dự án. Do vậy rất cần thiết có sự phối hợp giữa các ngân hàng với nhau. Nhưng việc liên hệ giữa Sở giao dịch và các ngân hàng khác vẫn còn hạn hẹp. sở giao dịch chủ yếu là tìm kiếm thông tin về khách hàng trên trung tâm thông tin của ngân hàng Nhà nước. Thế nhưng thông tin ở trung tâm là do các ngân hàng tự giác cung cấp nên chưa chắc đã chính xác. Bên cạnh đó, do khách hàng muốn vay được tiền nên những thông tin cung cấp cho ngân hàng chưa chắc đã hoàn toàn đúng.
Thứ tư, là về năng lực của chủ đầu tư trong quá trình lập dự án. Thực tế trình độ của nhiều cán bộ lập dự án còn yếu kém nên chất lượng dự án không được tốt. Do vậy mà thông tin khách hàng cung cấp cho ngân hàng thường thiếu chính xác và không đầy đủ. Bên cạnh đó, việc lập dự án là đứng trên quan điểm của chủ đầu tư nên thường đưa ra nhiều điểm mạnh và hạn chế bớt điểm yếu của mình. Đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng thông tin thiếu và không chính xác trong quá trình thẩm định tài chính tại sở giao dịch. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
- Nguyên nhân chủ
Thứ nhất, việc phân cấp trong thẩm định quá nhiều, một mặt dẫn đến kéo dài thời gian thẩm định, mặt khác nếu thiếu sự kết hợp giữa các phòng ban khác nhau thì sẽ dẫn tới tình trạng kém hiệu quả trong thẩm định.
Thứ hai, do bản chất của ngân hàng do định chế tài chính cho vay nên quan tâm nhiều tới việc hoàn trả vốn vay. Do vậy cán bộ thẩm định thường chú trọng vào thẩm định khả năng cân đối trả nợ, tài sản đảm bảo, thế chấp mà ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các chỉ tiêu hiệu quả tài chính khác.
Thứ ba, là do hệ thống trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định tài chính chưa thực sự tốt. Địa điểm mới tại 31/33 Ngô Quyền được trang bị khá đầy đủ về hệ thống phương tiện làm việc nhưng vẫn còn thiếu. Những phương tiện phục vụ cho công tác dự báo vẫn chưa có. Đồng thời số lượng cán bộ thẩm định trong toàn hệ thống vẫn tương đối mỏng, nên để đáp ứng khối lượng công việc lớn thì nhiều công đoạn trong quá trình thẩm định không thất sự tốt, dẫn đến hiệu quả không cao. Bên cạnh đó, do mỗi dự án liên quan đến nhiều khía cạnh như thị trường, kỹ thuật, pháp luật,… mà mỗi khía cạnh đều liên quan đến thẩm định tài chính. trong khi đó trình độ của cán bộ lại hạn chế, không thế có sự hiểu biết chuyên sâu về mọi lĩnh vực được. Khóa luận: Thực trạng thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư


Pingback: Khóa luận: Giải pháp thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư