Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh đất nước chuyển mình hòa nhập với thế giới, hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đã góp phần quan trọng trong việc ổn định lưu thông tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng. Đây là hoạt động mang lại cho ngân hàng nguồn thu nhập lớn nhất song cũng mang lại nhiều rủi ro nhất. Tác động của rủi ro tín dụng đối với một ngân hàng thương mại là hết sức to lớn mà hậu quả là kết quả kinh doanh của ngân hàng bị giảm sút, trong nhiều trường hợp nếu rủi ro tín dụng quá lớn có thể đưa ngân hàng đến tình trạng phá sản. Vì vậy, việc tìm ra giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý ngân hàng cũng như các nhà nghiên cứu.

Xuất phát từ thực tế đó cùng với quá trình thực tập tại Sở giao dịch ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, em nhận thấy rủi ro tín dụng đang là vấn đề mang tính cấp thiết của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta nói chung và ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng. Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “Rủi ro tín dụng và một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

  • Khóa luận tập trung nghiên cứu lý thuyết về rủi ro tín dụng và các mô hình phân tích, đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, đưa ra và phân tích kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro tín dụng của một số ngân hàng trên thế giới.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong thời gian qua.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu về rủi ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trên cơ sở đó nghiên cứu các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, diễn giải.

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 3 chương sau:

  • Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
  • Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Sỹ Tuấn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo đã cung cấp cho em những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập ở trường Đại học Ngoại Thương. Đồng thời em cũng gửi lời cám ơn đến các cô chú, anh chị công tác tại Sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận.

Do kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo góp ý, chỉ bảo giúp em nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề này.

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM)

1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

NHTM là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, thực hiện kinh doanh tiền tệ trong đó sử dụng chủ yếu là vốn nhàn rỗi huy động trong xã hội để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác. Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam số 20/2023/QH11 “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó “ hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Như vậy về cơ bản một ngân hàng thương mại có các hoạt động chính sau:

  • Hoạt động nhận tiền gửi: Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu từ nguồn vốn huy động, chiếm khoảng 70 – 80% trên tổng nguồn vốn kinh doanh; không giống như các doanh nghiệp (DN) hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là hàng hóa để kinh doanh. Ngân hàng nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng (TCTD) khác hoặc phát hành các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu), hoặc đi vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng nhà nước (NHNN).

  • Cho vay:

Đây là hoạt động trong đó ngân hàng sử dụng số tiền huy động được cung cấp cho người đi vay một khoản tiền nhất định để sản xuất, kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng hoặc để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong thanh toán của các tổ chức tín dụng. Khi thực hiện hoạt động này ngân hàng phải đảm bảo thu hồi cả vốn và tiền lãi. Vì tính quan trọng của hoạt động này là tạo ra lợi nhuận, quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của ngân hàng nên nó được xem là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, khi kinh tế ngày càng phát triển thì loại hình cho vay cũng trở nên vô cùng đa dạng. Các ngân hàng cũng có thể cung cấp tín dụng thông qua các công cụ chiết khấu như: hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu…

  • Dịch vụ thanh toán:

NHTM thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa, dịch vụ của khách hàng.

  • Các hoạt động khác:

Đầu tư: ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình đầu tư kiếm lời thông qua các hình thức như: tham gia góp vốn, tài trợ dự án, mua cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ…Thông qua đó ngân hàng không những nhận được một khoản thu nhập mà còn phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

Môi giới: ngân hàng thực hiện vai trò môi giới giữa tổ chức phát hành cổ phiếu, trái phiếu với nhà đầu tư chứng khoán như: chuyển các lệnh trên thị trường chứng khoán, đảm nhiệm việc mua bán trái phiếu công ty…

Cho thuê tài chính: Đây là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng thương mại và khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Dịch vụ bảo lãnh: Là sự cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên có quyền.

Kinh doanh ngoại hối: ngân hàng được phép mua bán các loại ngoại tệ khác nhau trên cơ sở chênh lệch giá mua và bán, đồng thời tham gia điều tiết thị trường ngoại hối.

Dịch vụ ủy thác: ngân hàng thực hiện dịch vụ ủy thác theo yêu cầu của khách hàng bao gồm: bảo quản tài sản, các giấy tờ có giá và chứng thư quan trọng, mua hộ chứng khoán, thanh toán hộ khách hàng…

2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

2.1.1. Tín dụng.

Tín dụng (credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh “credo” có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Hay nói cách khác là sử dụng sự tin tưởng để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian nhất định.

Quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tín dụng biểu hiện ra bên ngoài là sự vận động đơn phương của giá trị thuộc hai quá trình ngược chiều nhau trong một khoản thời gian cụ thể.

Tóm lại, tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hóa thông thường hoặc tiền tệ) với những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.

2.1.2. Tín dụng ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng được coi là hình thức tín dụng phát triển, giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín dụng. Nếu xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán.

Như vậy ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Trong phạm vi luận văn này, chỉ xem xét tín dụng ngân hàng dưới góc độ: ngân hàng là người cho vay. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

2.2. Nguyên tắc tín dụng ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc nhất định:

  • Thứ nhất, cho vay phải có mục đích.

Mục đích đi vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng hay đầu tư dự án…đảm bảo cho ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và mục đích đi vay đó đã được ngân hàng thẩm định. Ngân hàng cho rằng khách hàng sử dụng vốn đi vay đúng mục đích thì sẽ hoàn trả cả gốc và lãi đúng kỳ hạn.

  • Thứ hai, Vay phải có đảm bảo.

Bảo đảm tín dụng là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bão lãnh của bên thứ ba. ngân hàng thương mại coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thể thanh toán được nợ.

  • Thứ ba, Hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng kỳ hạn.

Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Các khoản tín dụng của ngân hàng có nguồn gốc chủ yếu từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết. Do đó ngân hàng luôn yêu cầu người đi vay phải thực hiện đúng cam kết.

2.3. Phân loại tín dụng ngân hàng

2.3.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản cho vay mà thời hạn dưới 1 năm. Khoản tín dụng này thường được dùng để đảm bảo nhu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu cá nhân. Đây là loại hình tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh.

Tín dụng trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới thiết bị kỹ thuật, xây dựng các công trình có quy mô nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro cao.

Tín dụng dài hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây dựng cơ bản, cải tiến, đầu tư công nghệ mới, mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Đây là loại hình tín dụng có mức rủi ro cao nhất.

2.3.2. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.

Tín dụng có đảm bảo: Là loại tín dụng được ngân hàng cung cấp nhưng phải có tài sản thế chấp hay cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Sự đảm bảo là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.

Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.

2.3.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng.

  • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cung cấp cho các DN tiến hành sản xuất và kinh doanh
  • Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cung cấp cho DN, cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

2.3.4. Căn cứ vào phương thức cho vay. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay, qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt (trội) trên số dư tiền gửi thanh toán của họ đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian. Giới hạn đó gọi là hạn mức thấu chi. Trong quá hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi… vượt quá số dư tiền gửi thanh toán để chi trả song phải trong hạn mức thấu chi.

  • Biểu đồ 1.1: Cho vay theo phương thức thấu chi.

Cho vay thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, kịp thời. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có tài sản đảm bảo nên độ rủi ro khá cao.

Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức tín dụng phổ biến của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên và không có đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Hầu hết khách hàng thuộc nhóm này chỉ kinh doanh dựa vào vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới đi vay ngân hàng.

Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Hạn mức tín dụng được duyệt trong kỳ là hạn mức mà khách hàng thực hiện vay trả nhiều lần trong kỳ song tại mọi thời điểm trong kỳ dư nợ tối đa bằng hạn mức tín dụng.

  • Biểu đồ 1.2: Cho vay theo hạn mức được duyệt trong kỳ.

Khác với nó, hạn mức tín dụng được duyệt cuối kỳ cho phép khách hàng có thể vay trả nhiều lần trong kỳ với mức dư nợ nhiều hơn hạn mức cuối kỳ, tuy nhiên tại thời điểm cuối kỳ số dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng.

  • Biểu đồ 1.3: Cho vay theo hạn mức được duyệt cuối kỳ. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Hình thức cấp tín dụng này rất thuận tiện cho khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên. Tuy vậy, ngân hàng lại gặp khó khăn trong việc kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay do các lần vay không được tách biệt thành các kỳ hạn nợ. Cho vay luân chuyển: Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên tính luân chuyển của hàng hóa. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn, phần thiếu đó sẽ được bù đắp bằng việc vay ngân hàng. Điều đó có nghĩa là ngân hàng có thể cho DN vay để mua hàng hóa và sẽ thu hồi nợ khi DN bán hàng. Ngân hàng sẽ cùng với khách hàng thỏa thuận về hạn mức vay, các nguồn cung cấp hàng hóa, khả năng tiêu thụ hàng hóa.

  • Biểu đồ 1.4: Cho vay luân chuyển

Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả nợ gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Số tiền trả nợ mỗi lần được trích từ nguồn khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án hoặc thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng. Đối với đối tượng vay là người tiêu dùng thì ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán hàng tiền mà khách hàng đã mua. Đây là hình thức tài trợ cho người mua, khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Hình thức cho vay này có mức rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng tài sản mua trả góp. Chính vì vậy lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay.

Cho vay gián tiếp: Ngân hàng cho vay thông qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, tổ dân phố…

  • Sơ đồ 1.1: Cho vay gián tiếp

2.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

2.4.1. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển tại khu vực chúng phục vụ. Nó cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế xã hội. Nhờ đó thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của DN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra việc mở rộng các hình thức tín dụng sẽ giúp các DN chủ động thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của mình. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.

Đối với nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối, lạm phát, thất nghiệp luôn có khả năng tiềm ẩn. Vì vậy, có thể thông qua tín dụng để sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn.

2.4.2. Tín dụng ngân hàng là công cụ góp phần điều tiết chính sách vĩ mô nền kinh tế của chính phủ.

Mục tiêu kinh tế vĩ mô: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tín dụng nói riêng như các điều kiện về lãi suất, thế chấp, bão lãnh và các điều kiện khác trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng, có thể thay đổi quy mô hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu, tổng cung của nền kinh tế. Nhờ đó, các mục tiêu vĩ mô có thể sẽ đạt được.

Ngoài ra, tín dụng còn là công cụ thực hiện các chính sách xã hội. Trước đây, các chính sách xã hội thường được tài trợ không hoàn lại từ Ngân sách nhà nước. Song phương thức tài trợ này thường bị hạn chế về quy mô và không hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng ngân hàng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng. Chẳng hạn như việc tài trợ vốn cho người nghèo với lãi suất thấp và các ưu đãi về thời hạn hoàn trả, gia hạn nợ…Thông qua phương thức tài trợ này các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và có hiệu quả hơn. Vì các đối tượng chính sách được hưởng ưu đãi tín dụng phải hoàn trả nợ khi đến hạn nên họ sẽ chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

2.4.3. Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN.

Sự cạnh tranh của mỗi DN trong nền kinh tế thể hiện sản phẩm sản xuất ra được thị trường chấp nhận với giá hợp lý. Do đó, các DN luôn tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm thiểu chi phí như cải tiến quy trình sản xuất, áp dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng lao động…Trong đó, việc sử dụng vốn có hiệu quả luôn là bài toán của tất cả DN. Nguồn vốn của DN bao gồm vốn tự có và vốn vay, chủ yếu vay từ ngân hàng. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi, vì vậy các DN phải có kế hoạch kinh doanh hợp lý để thu được nhiều lợi nhuận từ nguồn vốn đi vay. Chỉ những DN đáp ứng đủ yêu cầu của ngân hàng thì mới được cấp tín dụng. Đó thường là những DN kinh doanh tốt, làm ăn có lãi, có các chỉ số tài chính hợp lý…Bên cạnh đó, việc cấp tín dụng luôn đi kèm với các điều kiện do ngân hàng quy định như mục đích sử dụng vốn, phương án kinh doanh, khả năng tiêu thụ sản phẩm, khả năng thu hồi vốn…để hạn chế rủi ro, buộc DN luôn nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh để đáp ứng yêu cầu của ngân hàng khi xin cấp tín dụng.

II. Rủi ro tín dụng (RRTD) đối với hoạt động của ngân hàng thương mại Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

1. Khái niệm rủi ro tín dụng

Theo nhiều nhà phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn về mất mát sẽ xảy ra (uncertainty about the occurrence of a loss). Với khái niệm này, nếu xác xuất mất mát là 0 hoặc 1 thì không có rủi ro.

Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995 thì “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.

Theo Allan Willett “rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi”. Quan điểm này được nhiều học giả như Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Kulp, Anghell ủng hộ.

Một quan điểm khác về rủi ro cho rằng: “rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”. Quan điểm này được đề cập lần đầu tiên trong nghiên cứu của John Haynes, sau đó được Irving Pfeffer trình bày chi tiết hơn trong cuốn “Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh Tế “ ( Insurance and Economic Theory).

Đặc biệt Frank H. knight lại đưa ra một quan điểm hoàn toàn khác về rủi ro khi coi “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường”.

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Thân trong cuốn “ Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh” cho rằng: “rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”.

Vậy cách hiểu chung nhất về rủi ro là: “Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác với kết quả kỳ vọng”. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN gắn liền với rủi ro. ngân hàng thương mại cũng là một DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, luôn phải đối đầu với vô vàn rủi ro. Đối với ngân hàng thương mại có các loại rủi ro cơ bản sau: RRTD, rủi ro lãi xuất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản…trong đó RRTD là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất trong thị trường tài chính. RRTD cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động của ngân hàng vì các khoản cho vay thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Vì vậy đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có những giải pháp hữu hiệu mới có thể hạn chế, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra.

  • RRTD đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm:

Theo Thomas P.Fitch “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ”.(Dictionnary of banking terms, Barrons Edutional Series, Inc,c 1997).

Theo báo cáo thường niên của ngân hàng Hoàng gia Canada thì: “Rủi ro tín dụng là rủi ro mất vốn do bên đối tác không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cũng có thể bao gồm cả sự mất đi giá trị thị trường do sự suy yếu vị thế tài chính của đối tác. Đối tác có thể là nhà phát hành giấy tờ có giá, con nợ, người đi vay, nhà hoạch định chính sách, nhà tái bảo lãnh và bảo lãnh”.

Theo quyết định số 493/2021/QĐ-NHNN ngày 22/04/2024 của ngân hàng nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu bản chất của RRTD là khả năng chủ thể vay vốn hay chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng không thực hiện đúng với hợp đồng tín dụng đã cam kết với ngân hàng, tức là không trả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay cho ngân hàng làm cho ngân hàng phải gánh chịu tổn thất về tài chính, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn là phá sản.

RRTD gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Vì vậy, RRTD là một tất yếu luôn luôn tồn tại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, chỉ có thể tìm giải pháp hạn chế nó. Để làm được điều đó không những phải hiểu đầy đủ về RRTD mà còn phải hiểu sâu sắc tình hình kinh doanh thực tế của ngân hàng.

2. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

2.1. Dựa vào tính chất của RRTD

  • Rủi ro chậm trả: Là rủi ro khi người vay không hoàn trả đủ cả gốc và lãi của khoản vay đúng hẹn theo hợp đồng tín dụng đã cam kết.
  • Rủi ro mất vốn: Là rủi ro mà ngân hàng không thu hồi được cả gốc và lãi của khoản cho vay.

2.2. Dựa vào cách phân loại nợ tín dụng

Theo quyết định số 493/2024/QĐ-NHNN ngày 22/04/2024 của ngân hàng nhà nước Việt Nam thì nợ được phân thành 5 nhóm:

Nhóm 1: nợ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.

Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại theo thời hạn trả nợ.

Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày.

Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.

Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

  • Theo cách phân loại nợ trên thì RRTD được chia thành 3 loại:

Nợ dưới tiêu chuẩn hay là nợ nhóm 3. Đây là các khoản nợ mà ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi đúng hạn và có khả năng tổn thất một phần vốn.

  • Nợ nghi ngờ hay là nợ nhóm 4. Đây là loại nợ mà ngân hàng đánh giá khả năng tổn thất cao.
  • Nợ có khả năng mất vốn hay là nợ nhóm 5. Đây là loại nợ mà ngân hàng đánh giá là có khả năng mất vốn.

3. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng

3.1. Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài

Nhóm các nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài xảy ra ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người trong một thời điểm nào đó.

3.1.1. Môi trường chính trị, pháp lý.

Tình hình chính trị và hệ thống pháp luật ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng. Tình hình chính trị của nước ta ổn định là một môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống pháp luật của chúng ta chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập chưa đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội ngày càng phát triển. Nhiều chính sách kinh tế, chế độ quản lý không ổn định ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN và ngân hàng như: chính sách cổ phần hóa và sắp xếp lại các DNNN của chính phủ cũng làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN không ổn định; chính sách thuế thường có xu hướng tăng thu cho ngân sách nhà nước và không cho phép ngân hàng khấu trừ dự phòng lỗ hay là thuế đánh vào các công cụ tài chính và các giao dịch cụ thể như séc, nghiệp vụ ghi nợ của ngân hàng làm tăng gánh nặng thuế cho ngân hàng. Ngoài ra khả năng thực thi pháp luật, ý thức thi hành pháp luật của người dân ảnh hưởng không nhỏ đến rủi ro đạo đức của người đi vay. Bên cạnh đó các quy định thường xuyên thay đổi làm cho người đi vay không kip thích nghi cũng là một nguyên nhân khá phổ biến gây ra RRTD đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

3.1.2. Môi trường kinh tế xã hội.

Ngân hàng là DN kinh doanh tiền tệ do vậy rất nhạy cảm với những biến động trong nền kinh tế. Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như: chu kỳ kinh tế (phát triển, hưng thịnh, khủng hoảng hay suy thoái), lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thất nghiệp, chính sách tiền tệ…Trong các yếu tố đó thì yếu tố điển hình thường được đề cập là chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ tăng trưởng, hưng thịnh của nền kinh tế, hầu hết hoạt động kinh doanh nói chung là thuận lợi, xác suất dẫn đến vỡ nợ, không trả được nợ thấp do đó nguồn trả nợ được đảm bảo, hoạt động tín dụng an toàn hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, khủng hoảng, khi đó lạm phát thường tăng cao, đồng nội tệ bị mất giá làm cho hoạt động kinh doanh sản xuất trong nước trở nên khó khăn, đình trệ. Thêm vào đó, trong thời kỳ này ngân hàng trung ương (NHTW) thường áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ càng làm cho các chủ thể kinh tế hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận suy giảm, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ cho ngân hàng. Thông thường khi nền kinh tế suy thoái thì ngân hàng đặc biệt gặp rủi ro với các khoản vay của các DN sản xuất, kinh doanh hàng hóa cao cấp như: ôtô, tủ lạnh, điều hòa…hay cả lĩnh vực bất động sản. Ví dụ, thị trường bất động sản đóng băng từ giai đoạn đầu 2024 đến nay, các dự án vay vốn để kinh doanh bất động sản không bán được nhà do vậy không có nguồn trả nợ, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

Bên cạnh đó, tình hình kinh tế xã hội trong nước chịu ảnh hưởng lớn bởi những biến động của nền kinh tế khu vực và trên thế giới nhất là trong xu thế hội nhập. Đó cũng là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các DN dẫn đến RRTD cho ngân hàng. Ví dụ, trong giai đoạn 6/2024 – 6/2025 giá thép thế giới biến động theo xu hướng giảm. Các DN gặp khó khăn với những lô thép nhập trước đó với giá cao trong khi phải bán ra với giá thấp. DN đứng trước hai sự lựa chọn là chấp nhận bán hàng với giá thấp, chịu lỗ để có tiền trả ngân hàng hoặc giữ hàng chờ giá phục hồi song lại không có tiền trả nợ vay ngân hàng dẫn đến tình trạng nợ quá hạn (NQH).

Ngoài ra, việc nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vừa mang đến những yếu tố thuận lợi, đồng thời cũng đưa đến những rủi ro như sự cạnh tranh về giá cả, chất lượng, hàng giả mạo, thiếu thông tin về sản phẩm và thị trường…cũng gây nên rủi ro trong kinh doanh cho các DN, và cũng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.

3.1.3. Môi trường tự nhiên.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức phụ thuộc nhiều vào thời tiết, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, xảy ra bất ngờ gây thiệt hại lớn, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy, khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra, khách hàng của ngân hàng sẽ bị tổn thất từ đó ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được vốn và lãi đúng hạn, ngân hàng phải chia sẽ rủi ro với khách hàng. Ở Việt Nam do thời tiết diễn biến phức tạp nên môi trường tự nhiên được coi là nguyên nhân gây rủi ro lớn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng khi đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.

3.2. Nguyên nhân chủ quan từ phía người đi vay Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

  • Các nguyên nhân dẫn đến RRTD thuộc nhóm này chủ yếu bao gồm:

Thứ nhất, năng lực quản trị, kinh nghiệm điều hành của khách hàng vay vốn còn hạn chế. Khi lập dự án nếu DN không tính hết những biến động thị trường, không đánh giá đúng đối thủ cạnh tranh thì có thể dẫn đến thua lỗ. Trên thực tế, 30% DN phá sản là do khả năng điều hành của lãnh đạo DN yếu kém.

Thứ hai, khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích. Khi cho vay các ngân hàng luôn kỳ vọng khách hàng sẽ thực hiện tốt phương án đầu tư như đã trình bày với ngân hàng để hoàn trả đầy đủ và đúng hạn gốc và lãi vay. Nhưng do thông tin bất cân xứng sau khi quan hệ tín dụng diễn ra có thể tạo nên rủi ro về đạo đức từ phía khách hàng, tức là khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích đi vay. Vì sau khi được cấp tín dụng người đi vay luôn có xu hướng thực hiện các dự án có mức độ rủi ro cao hơn so với mức rủi ro mà ngân hàng mong đợi. Bởi vì dự án có rủi ro cao hơn được kỳ vọng là mang lại lợi nhuận cao hơn và nếu thành công thì chủ đầu tư sẽ được hưởng khoản lợi nhuận cao hơn trong khi chỉ phải trả cho ngân hàng khoản lãi vay đã xác định trước.

Thứ ba, khách hàng không trung thực. Khách hàng cố tình cung cấp thông tin sai lệch về hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, hợp đồng kinh tế, phương án sử dụng tiền vay, giấy tờ pháp lý về tài sản…Ví dụ khách hàng đem tài sản thế chấp, cầm cố đi nhượng bán trong khi vẫn còn dư nợ tại ngân hàng.

Chính vì vậy, công tác phân tích khách hàng là vô cùng quan trọng. Nếu cán bộ tín dụng (CBTD) của ngân hàng làm tốt được việc này sẽ giảm thiểu RRTD. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

3.3. Nguyên nhân từ chủ quan phía ngân hàng

Một là, thông tin về khách hàng không đầy đủ, thể hiện: chứng từ lưu trữ sổ sách của ngân hàng về khách hàng như số dư tài khoản, lịch sử của các khoản vay trước đây, các quan hệ thương mại của khách hàng và bạn hàng…chưa đầy đủ. CBTD không cập nhật thường xuyên thông tin về khách hàng. Bên cạnh đó, hiện nay các ngân hàng thương mại chưa xây dựng mối liên kết hỗ trợ thông tin về khách hàng với nhau. Thông tin về khách hàng không đầy đủ, chính xác dẫn đến việc quyết định cho vay không hợp lý và có thể không thu hồi được nợ vay. Hiện tượng thiếu thông tin này gọi là “thông tin không cân xứng”. Điều này đưa đến “sự lựa chọn đối nghịch” (adverse selection) và “rủi ro đạo đức” (moral hazard). Lựa chọn đối nghịch xảy ra trong quan hệ tín dụng khi khách hàng vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn (đối nghịch) – tức là rủi ro không trả được nợ – là những người tích cực tìm vay nhất và do thông tin không cân xứng nên có nhiều khả năng được ngân hàng lựa chọn nhất. Thông tin không cân xứng có thể dẫn đến rủi ro đạo đức sau khi giao dịch. Đó là hiện tượng người vay sử dụng khoản tiền vay sai mục đích đã cam kết với ngân hàng.

Hai là, chính sách và quy trình cho vay chưa hợp lý, còn nhiều bất cập như: thiếu bộ phận chuyên trách có trình độ chuyên môn theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng, chưa có dự báo cần thiết cho từng thời kỳ, đầu tư tín dụng vào nhiều dự án lớn, tỷ trọng cho vay dài hạn cao trong khi đó nguồn cho dài hạn thấp, đặt mục tiêu lợi nhuận cao quá mức so với khả năng của bản thân. RRTD có thể xuất phát từ tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụng của ngân hàng thương mại bao gồm: giai đoạn trước khi cho vay, giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay. Ở giai đoạn trước khi cho vay, việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng, điều kiện cho vay, không xem xét đánh giá đúng khoản vay sẽ dẫn đến RRTD trong tương lai. Ví dụ: tại thành phố Hồ Chí Minh, qua khảo sát cho thấy có nhiều ngân hàng cho một khách hàng vay vượt quá 10% vốn tự có như Eximbank là 74%, Sacombank là 48%, Sài Gòn công thương là 33%…Do tập trung vốn quá lớn vào một khách hàng nên khi những DN này thua lỗ thì ngân hàng chịu RRTD lớn. Còn ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay thì việc giải ngân không tuân thủ điều kiện, có sự nới lỏng trong quá trình giám sát sau khi cho vay.

Ba là, chất lượng CBTD thể hiện thông qua trình độ nghiệp vụ, năng lực và đạo đức còn hạn chế. CBTD phải làm việc với nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc gia khác nhau, vì vậy để đánh giá tốt khách hàng ngoài kiến thức về tín dụng họ phải có kiến thức về các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, thường xuyên cập nhật thông tin về kinh tế, xã hội, pháp luật. Trình độ nghiệp vụ và năng lực của CBTD yếu kém như sự hạn chế trong quá trình thẩm định dự án, phân tích đánh giá khách hàng, không có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng là kết quả của những quyết định cho vay không hợp lý, đầu tư vào những dự án kém hiệu quả. Ngoài ra, một số CBTD chưa nhận thức hết vai trò quan trọng của nghiệp vụ tín dụng nên làm ẩu, thiếu tinh thần trách nhiệm thậm chí cố tình làm sai quy trình tín dụng để nhận những khoản lợi từ khách hàng. Đạo đức CBTD sa sút thì RRTD xảy ra là tất yếu.

3.4. Nguyên nhân từ phía các tài sản đảm bảo Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Trường hợp đảm bảo bằng tài sản: TSĐB là tài sản thuộc sở hữu của người đi vay dùng để cầm cố, thế chấp cho ngân hàng. Một TSĐB phải thỏa mãn 3 điều kiện: dễ định giá, dễ cho ngân hàng quyền sở hữu hợp pháp, có tính khả mại (khả năng chuyển nhượng trên thị trường) cao. Tuy nhiên, TSĐB có thể bị suy giảm giá trị do giá cả thị trường biến động theo chiều hướng bất lợi (ví dụ như thị trường bất động sản đóng băng hay có xu hướng giảm) hoặc do bản thân tài sản trong quá trình sử dụng bị hao mòn lớn hơn dự kiến. Ngoài ra, ngân hàng có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giũ và xử lý TSĐB. Ví dụ, TSĐB có vấn đề tranh chấp pháp lý như: tài sản được đem đảm bảo cho nhiều khoản nhưng không có sự thống nhất phân chia quyền hạn trên tài sản đó.

Trường hợp bảo lãnh: Bảo lãnh là sự đảm bảo gián tiếp có ba bên tham gia trong đó bên thứ ba, tức là bên bảo lãnh đồng ý chịu trách nhiệm về khoản nợ của bên thứ hai là khách hàng của ngân hàng khi người này không trả được nợ cho bên thứ nhất là ngân hàng. Vấn đề chủ yếu là dù ngân hàng có cố gắng giải thích về trách nhiệm trả nợ tiềm tàng đến đâu thì người bảo lãnh cũng không bao giờ chờ đợi sẽ bị gọi đến trả tiền. ngân hàng khó có thể thuyết phục họ trả tiền, và thực tế nhiều trường hợp ngân hàng đã kiện ra tòa.

4. Ảnh hưởng của RRTD đối với hoạt động ngân hàng và nền kinh tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

4.1. Ảnh hưởng RRTD đối với hoạt động của ngân hàng thương mại

4.1.1. RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.

Hoạt động đầu tiên và chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và thực hiện cho vay trên nguyên tắc hoàn trả. Khi hoạt động tín dụng gặp rủi ro không thu hồi đủ cả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng, trong khi đó ngân hàng vẫn phải thực hiện thanh toán đúng thời hạn cho người gửi tiền như cam kết. Do vậy, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán. Bên cạnh đó khi RRTD xảy ra thì các chi phí khác tiếp tục phát sinh có tính chất cộng hưởng như chi phí quản lý nợ xấu và các chi phí khác có liên quan sẽ càng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng.

4.1.2. RRTD làm giảm uy tín của ngân hàng.

Đối với một ngân hàng chữ tín rất quan trọng. Nếu một ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ lớn hoặc có những thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng về việc ngân hàng không thu hồi được nợ hoặc bị ngân hàng nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó giảm sút một cách nghiêm trọng. Không có cá nhân, tổ chức nào muốn gửi tiền vào một ngân hàng như vậy vì họ không biết đồng vốn họ bỏ vào ngân hàng đó có đảm bảo an toàn và sinh lời hay không.

4.1.3. RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng thương mại

Lợi nhuận của ngân hàng là chênh giữa cho vay và lãi huy động vốn. Tuy nhiên RRTD làm cho doanh thu thấp (do không thu được lãi vay thậm chí thu không đủ vốn gốc), nên lợi nhuận thấp, có khi là lỗ. Hơn nữa kể cả trường hợp không lỗ nhưng RRTD cao ngân hàng phải tăng trích lập quỹ dự phòng RRTD làm cho lợi nhuận còn lại thấp.

4.1.4. RRTD có thể làm cho ngân hàng phá sản

Nếu RRTD ở mức độ ngân hàng không thể kiểm soát, không có khả năng ứng phó sẽ gây phản ứng dây chuyền trong dân chúng, họ sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền, rút giao dịch làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, sẽ đi đến phá sản.

4.2. Ảnh hưởng RRTD đến nền kinh tế Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Trong nền kinh tế hiện đại hầu như mọi hoạt động của cá nhân và tổ chức đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động ngân hàng. Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay mất khả năng thanh toán thì người gửi tiền của ngân hàng đó và cả ngân hàng khác hoang mang lo sợ ồ ạt đến rút tiền làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn thanh toán. Khi khả năng thanh toán của ngân hàng bị giảm sút, ngân hàng sẽ không tiếp tục tài trợ vốn cho các cá nhân, tổ chức mà phải thu hồi vốn trước hạn. Như vậy, hoạt động kinh doanh của các đối tượng nhận tài trợ sẽ bị ảnh hưởng lớn. Hơn nữa sự sụp đổ của các ngân hàng ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.

5. Các tiêu chí và mô hình đánh giá và lượng hóa RRTD

5.1. Các tiêu chí đánh giá RRTD

5.1.1. Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn.

  • NQH là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
  • Tỷ lệ quá hạn được đo bằng tỷ lệ phần trăm số nợ quá hạn trên tổng dư nợ.

Chỉ tiêu này cho biết trong mỗi 100 đơn vị tiền tệ ngân hàng cấp tín dụng thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ ngân hàng không có khả năng thu hồi đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng tín dụng càng cao, tỷ lệ này càng cao thì RRTD càng lớn. Theo Ngân hàng Thế giới World Bank, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được và được coi là ngưỡng an toàn đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này nằm trong khoảng 1% – 3% là tốt.

5.1.2. Chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu.

Theo quyết định số 493/2024/QĐ-NHNN, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 6 quy định tại điều 6 bao gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng thấp, RRTD càng lớn. Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải tăng chi phí cho việc giám sát, đôn đốc thu nợ, chi phí quản lý nợ xấu và các chi phí khác có liên quan.

5.1.3. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn

Nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ thuộc nhóm 3 trong cách phân loại nợ theo quyết định số 493/2024/QĐ-NHNN. Các khoản nợ trong nhóm này được xem là nợ xấu đối với ngân hàng và khi đến thời hạn được gia hạn thêm mà vẫn không được thanh toán thì có thể được xếp vào nhóm nợ nghi ngờ hoặc nợ không thu hồi được hoặc được xử lý theo các quyết định của ngân hàng. Tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn cao thì RRTD gây ra cho ngân hàng càng cao.

5.1.4 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ nghi ngờ.

Cũng như nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ cũng phản ánh rủi ro đối với các khoản vay của ngân hàng. Các khoản vay thuộc nhóm này lại có mức rủi ro cao hơn nhóm 3. Tỷ lệ nợ nghi ngờ phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng và nếu càng nhỏ thì chất lượng tín dụng càng cao.

5.1.5. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn (khó đòi).

Nợ có khả năng mất vốn hay nợ khó đòi là các khoản nợ ít có cơ hội đòi được, ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng bù đắp rủi ro để xử lý, đồng thời đưa các khoản nợ này ra khỏi bảng tổng kết tài sản, xóa khỏi sổ sách. Tỷ lệ này phản ánh tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao thì RRTD càng lớn.

5.1.6. Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD.

Dự phòng rủi ro tín dụng (DPRRTD) là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng hoặc đối tác của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Quyết định 493/2024/QĐ-NHNN yêu cầu trích lập 2 loại dự phòng là dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là loại dự phòng được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ. Ngoài ra, quyết định 493/2024/QĐ-NHNN lần đầu tiên yêu cầu tổ chức tín dụng lập dự phòng chung cho tất cả các khoản nợ của mình bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 theo cách phân loại tai quyết định này. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

  • Bảng 1.1: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể cho từng nhóm nợ

Theo các quy định trước đây, số tiền dự phòng chỉ đơn giản bằng tỷ lệ trích dự phòng nhân với tài sản có từng nhóm. Trong khi đó, Quyết định 493/2024/QĐ-NHNN đưa ra công thức tính số tiền dự phòng hoàn toàn mới:

Trong đó:

  • R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích lập
  • A: Giá trị của khoản nợ
  • C: Giá trị của tài sản đảm bảo
  • r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Từ công thức trên ta thấy dự phòng cụ thể phải trích lập không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng mà còn phụ thuộc vào giá trị TSĐB. Tỷ lệ dự phòng càng cao chứng tỏ tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ cao, RRTD càng cao. Dự phòng trích lập nhiều sẽ làm tăng cho phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận.

5.2. Một số mô hình lượng hóa RRTD

5.2.1. Mô hình điểm số Z ( Altman)

Mô hình điểm số Z: được xây dựng bởi giáo sư Redward Altman, được xây dựng thông qua việc phân tích một số các chỉ số tài chính của 2 nhóm công ty mẫu: một nhóm phát đạt và một nhóm thất bại. Kết quả cho thấy những doanh nghiệp thất bại có chỉ số tài chính và xu hướng tài chính rất khác với các doanh nghiệp làm ăn tốt. Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj) và tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác xuất vỡ nợ của người vay trong quá khứ. Điểm số Z được tính theo công thức sau:

Trong đó:

  • X1 = Tỷ số “Vốn lưu động / Tổng tài sản”
  • X2 = Tỷ số “Lợi nhuận giữ lại / Tổng tài sản”
  • X3 = Tỷ số “Lợi nhuận trước thuế và tiền lãi / Tổng tài sản”
  • X4 = Tỷ số “Thị giá cổ phiếu / Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
  • X5 = Tỷ số “Doanh thu / Tổng tài sản”

Trị số Z càng cao thì người vay có xác xuất vỡ nợ càng thấp. Như vậy khi trị số Z thấp hoặc là âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao. Theo mô hình cho điểm số Z thì các vùng phân biệt của điểm số Z như sau:

  • + Z>2,99 : Vùng an toàn (Safe zone). Các công ty có điểm số Z trong vùng này được đanh giá có mức độ RRTD thấp.
  • + 1,81<Z<2,99 : Vùng xám (Grey zone). Các công ty có điểm số Z nằm trong vùng này được đánh giá là có mức RRTD trung bình. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
  • + Z<1,81 : Vùng nguy hiểm (Distress zone). Các công ty có điểm số Z trong vùng này được đánh giá có mức độ RRTD cao.

Mô hình điểm số Z‟ : Từ mô hình điểm số Z ban đầu, Altman còn xây dựng mô hình điểm số Z‟ cho công ty tư nhân. Thị giá cổ phiếu (market value) trong mô hình điểm số Z được thay thế bằng giá trị trên sổ sách (book value) khi tính toán chỉ số X4 vì các công ty này không phát hành cổ phiếu.

Các vùng của điểm số Z‟ như sau:

  • + Z‟>2,99: Vùng an toàn. Các công ty có điểm số Z trong vùng này được đanh giá có mức độ RRTD thấp.
  • + 1,23<Z‟<2,99: Vùng xám. Các công ty có điểm số Z nằm trong vùng này được đánh giá là có mức RRTD trung bình.
  • + Z‟<1,23: Vùng nguy hiểm. Các công ty có điểm số Z trong vùng này được đánh giá có mức độ RRTD cao.

Các mô hình điểm số Z và Z‟ của Altman đã được rất nhiều ngân hàng áp dụng, đặc biệt là các ngân hàng của Mỹ. Tuy nhiên, các mô hình này chỉ cho phép phân khách hàng vào nhóm “vỡ nợ” và “không vỡ nợ”. Trong thực tế khách hàng vỡ nợ được phân thành nhiều loại khác.

5.2.2. Mô hình xác suất tuyến tính.

Mô hình xác suất tuyến tính sử dụng các số liệu trong quá khứ để giải thích quá khứ chi trả nợ của khách hàng vay. Trong đó mức độ quan trọng của từng yếu tố rong mô hình sẽ được sử dụng để dự đoán xác suất xảy ra của các khoản vay mới.

  • Cách thực hiện mô hình:

Bước 1: Lựa chọn các tiêu thức phản ánh đặc điểm của khách hàng vay mà những đặc điểm này có liên quan đến khả năng trả nợ của khách hàng như: ROE, hệ số thanh toán, hệ số nợ, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động.

Bước 2: Phân chia các khoản nợ củ thành 2 nhóm:

  • Nhóm có rủi ro mất vốn: Z = 1
  • Nhóm không có rủi ro: Z = 0

Bước 3: Thiết lập mối quan hệ của các khoản cho vay đó với tiêu thức đã lựa chọn theo mô hình hồi quy sau:

  • Zi = B1 x ROE + B2 x Hệ số nợ + B3 xVqVLĐ + B4 x Hệ số thanh toán.

Bi: Thể hiện mối quan hệ giữa ROE, hệ số nợ … với mức rủi ro của khoản vay. B1, B2, Bn: có thể có dấu (+) hoặc dấu (-), thể hiện mức độ quan trọng của từng biểu thức đến mức rủi ro của khoản vay.

Bước 4: Nhân hệ số Bi với các tiêu thức Xịj của khách hàng vay mới từ đó tính được xác suất rủi ro của khoản vay mới Zi.

  • Ưu điểm của mô hình là tính toán khá đơn giản. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Nhược điểm là khó khăn trong việc thu thập thông tin xác thực. Hơn nữa ngân hàng phải thường xuyên tính toán lại các giá trị của Bi vì trong từng giai đoạn thì số liệu này đều có sự thay đổi.

5.2.3. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng.

Hệ thống tính điểm tín dụng là một phương pháp lượng hóa mức độ RRTD của khách hàng thông quá trình đánh giá bằng thang điểm. Mô hình này dễ áp dụng, mang lại sự thuận tiện cho khách hàng. Các yếu tố quan trọng sử dụng trong mô hình này như: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản các nhân, thời gian công tác.

  • Bảng 1.2: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng được dùng ở các ngân hàng Mỹ.

Theo bảng chấm điểm tín dụng này, khách hàng có điểm số cao nhất là 43 điểm, thấp nhất là 9 điểm. Giả sử ngân hàng theo khảo sát và nghiên cứu thực tế xác định được mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, trên cơ sở đó, ngân hàng hình thành nên một khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số như sau:

  • Bảng 1.3: Khung cấp tín dụng tiêu dùng.

Mô hình chấm điểm loại bỏ sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay, giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nhược điểm như không tự điều chỉnh được một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và trong cuộc sống gia đình.

III. Kinh nghiệm hạn chế rủi ro ở 1 số nước Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

1. Kinh nghiệm của Thái Lan

Mặc dù có bề dày hoạt động hàng trăm năm nhưng đứng trước cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998 hệ thống ngân hàng Thái Lan vẫn bị chao đảo. Trước tình hình đó, các ngân hàng Thái Lan đã tiến hành một loạt thay đổi căn bản trong hệ thống tín dụng.

Thứ nhất, tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay. Có thể thấy điều này ở các ngân hàng Bangkok bank và Siam comercial bank (SCB). Còn quy trình cho vay của Kasikom bank được tổng kết như sau:

  • Sơ đồ 1.2: Quy trình cho vay của Kasikom bank.

Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng. Rất nhiều ngân hàng Thái Lan trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, không quan tấm đến dòng tiền của khách hàng vay. Vì vậy, hậu quả là nợ xấu có lúc lên đến 40% (1997-1998). Nhưng giờ đây, nhiều ngân hàng không chỉ triệt để chấp hành nguyên tắc tín dụng mà còn quan tâm rất nhiều đến thông tin khách hành như: tư cách, hiệu quả kinh doanh, mục đích vay, dòng tiền và khả năng trả nợ, khả năng kiểm soát vay, năng lực quản trị và điều hành, thực trạng tài chính…

Thứ ba, tiến hành cho điểm khách hàng (Credit Scoring). SIAMCITY bank (SCIB) đã áp dụng việc cho điểm khách hàng để quyết định cho vay đối với tín dụng bán lẻ và để xem xét cho vay đối với tín dụng DN. Hạng uy tín dụng được xếp loại theo các hạng từ AAA (chất lượng cao, khả năng trả nợ cao nhất) đến D (nguy cơ vỡ nợ). Trong đó hạng có thể xét cho vay được xếp từ AAA+, AAA, AAA-, A+, A, A-, BBB+, BBB, BBB-. Các hạn tín dụng này áp dụng theo tiêu chuẩn của S&P.

Thứ tư, tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng. Theo đó, họ quy định việc quyết định tín dụng theo mức tăng dần: mức phán quyết của một người, một nhóm hay hội đồng quản trị. Ví dụ: >10 triệu Baht: 1 người chịu trách nhiệm, 100 triệu Baht: phải qua 2 người chịu trách nhiệm, 3 tỷ Baht phải do hội đồng quản trị quyết định.

Thứ năm, giám sát khoản vay. Sau khi cho vay, ngân hàng rất coi trọng việc kiểm tra, giám sát các khoản vay bằng cách tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng, thường xuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời các tình huống rủi ro. Ví dụ, tại SCIB có 2 bộ phận: bộ phận tác nghiệp và bộ phận tái xét. Bộ phận tác nghiệp (Credit Operation Dept) giám sát sự thay đổi rủi ro của từng khoản vay và có hành động kịp thời. Bộ phận tái xét (Credit Review Dept) quy định cụ thể phương pháp tái xét phải thực thi theo quy định của NHTW Thái Lan.

2. Kinh nghiệm của CHLB Đức Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng có nhiều hình thức bảo lãnh, một trong những hình thức bảo lãnh được áp dụng phổ biến và khá thành công ở CHLB Đức là bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh. Nguồn thu chủ yếu của ngân hàng bảo lãnh ở Đức là kinh doanh chứng khoán có giá. Pháp luật quy định khi có rủi ro cho vay thì bảo lãnh chịu 80%, ngân hàng cho vay chịu 20%. Để được bảo lãnh các DN phải gửi toàn bộ hồ sơ xin vay đến ngân hàng bảo lãnh. Sau khi thẩm định toàn diện dự án vay vốn, khả năng trả nợ, hiệu quả kinh tế, giá trị tài sản thế chấp…nếu thấy phương án vay vốn tốt, nhưng giá trị tài sản thế chấp nhỏ hơn khoản vay thì được chấp nhận bảo lãnh. Các ngân hàng bảo lãnh ở Đức hoạt động trong phạm vi từng bang, mỗi bang có mối liên hệ với Bộ tài chính, Bộ kinh tế để được hỗ trợ và bảo lãnh lại.

  • Sơ đồ 1.3 : Chu kỳ của một sự điều tra tín dụng

Đối tượng bảo lãnh: Bảo lãnh được cấp cho các loại tín dụng đầu tư máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng, thành lập DN, mua cổ phần công ty, thanh toán cho các thành viên thu mua, góp vốn…Các đối tượng không được bảo lãnh: vay để trả nợ cũ, khôi phục xí nghiệp thì bị giới hạn về quy mô và thời gian bảo lãnh, không được bảo lãnh tối đa cho 1 xí nghiệp quá 1 triệu DM, thời hạn bảo lãnh đối với các công trình xây dựng là 13 năm, trường hợp đặc biệt không quá 15 năm. Các khoản tín dụng để mua sắm vật liệu sản xuất không được vượt quá 35%-50% giá trị bảo lãnh.

3. Kinh nghiệm của Hàn quốc

Giải pháp mà Hàn quốc áp dụng để xử lý nợ quá hạn là thành lập công ty quản lý tài sản Hàn quốc (KAMCO). KAMCO có nhiệm vụ xử lý các khoản nợ quá hạn thông qua bán đấu giá. Sau cuộc khủng hoảng nợ năm 1997-1998, KAMCO được cơ cấu lại và bắt đầu thực hiện xử lý nợ đọng của các tổ chức tài chính và đóng góp vào sự phục hồi của nền kinh tế Hàn quốc. Theo luật Hàn quốc, KAMCO được quyền quyết định thời điểm, khối lượng, phương thức và giá mua. Trong đó, yếu tố giá mua là quan trọng nhất trong việc mua nợ tồn đọng. Việc đánh giá thực trạng sau khi mua sẽ do KAMCO hoặc đơn vị trung gian khác thực hiện và việc xử lý tài sản sẽ phụ thuộc vào việc đánh giá thực trạng.

Nguyên tắc xử lý nợ quá hạn của KAMCO là: xử lý nhanh với giá trị thu hồi cao nhất, quá trình phát mại tài sản rõ ràng và mua bán công bằng. Đối với những tài sản có giá trị nhỏ và dễ bán, KAMCO thực hiện bán càng nhanh càng tốt. Đối với những tài sản có giá trị lớn, KAMCO áp dụng biện pháp quảng bá giá trị tài sản. Các phương thức xử lý nợ quá hạn được KAMCO thực hiện như sau:

  • Phát mại tài sản trực tiếp bao gồm bán buôn danh mục tài sản, đấu giá, bán lẻ các khoản nợ quá hạn…
  • Cơ cấu lại nợ bao gồm chiết khấu, điều chỉnh cơ cấu lãi suất, gia hạn nợ…
  • Khôi phục lại DN bao gồm trợ cấp, cấp tín dụng…

Tổng giá trị các khoản nợ quá hạn mà KAMCO mua đạt 365 nghìn tỷ WON trong đó 295 nghìn tỷ WON tài sản đã được bán tại thời điểm 30/6/2024. Thành công của Kamo có được là nhờ:

  • Chính phủ Hàn quốc cho phép KAMCO quyền tịch thu tài sản và bán đấu giá các tài sản thế chấp và quyền bán các tài sản cầm cố để nộp thuế qua đấu giá.
  • Kiểm tra và định giá tài sản là yếu tố cơ bản để quản lý và xử lý tài sản. Đảm bảo quá trình xử lý tài sản công khai và duy trì nền kinh tế thị trường. Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
  • Xây dựng nền tảng vững chắc và tận dụng hiệu quả hệ thống quản lý thông tin trong quá trình quản lý và phát mại tài sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV

One thought on “Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537