Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Thực trạng hoạt động tín dụng tại BIDV
1. Khái quát về BIDV
1.1. Sự hình thành và phát triển của BIDV
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam theo quyết định số 259-CP của Hội đồng Chính phủ.
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) theo quyết định số 401-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với nhiệm vụ được thay đổi về cơ bản: ngoài việc tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, BIDV còn thực hiện huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển, kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.
Từ 1/1/1995, BIDV được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển đất nước. Đây là thời kỳ BIDV đã khẳng định được vị trí, vai trò là ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước với danh hiệu Đơn vị anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Từ 2020 đến nay, BIDV đã triển khai đồng bộ Đề án cơ cấu lại (được chính phủ phê duyệt) và dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán do Ngân hàng Thế giới tài trợ, tiến tới phát triển thành một ngân hàng đa năng hàng đầu Việt Nam, hoạt động ngang tầm với các ngân hàng khu vực vào năm 2030. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
1.2 Cơ cấu tổ chức
- Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của BIDV đến 6/2026.
1.3. Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của BIDV giai đoạn 2022-2025
Với phương châm hoạt động “chất lượng tăng trưởng bền vững – hiệu quả – an toàn”, BIDV đã hoàn thành vượt mức, toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh qua các năm cả về số lượng và chất lượng như chỉ tiêu về tổng tài sản, tổng nguồn vốn, lợi nhuận ròng, lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE)… Điều này đã tạo nền móng và cơ sở vững chắc cho việc thực hiện kế hoạch chiến lược giai đoạn 2025-2030, với mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường năng lực tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế của ngân hàng hiện đại.
- Biểu đồ 2.1 : Tổng tài sản của BIDV theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế – IFRS.
Biểu đồ cho thấy tổng tài sản tăng trưởng khá mạnh trong thời gian qua. Năm 2025, lần đầu tiên tổng tài sản vượt 10 tỷ USD, đạt 158.219 tỷ VND, tăng 40.243 tỷ VND so với năm 2024, tức tăng 34,11%. Tổng tài sản năm 2025 tăng 58.559 tỷ VND so với năm 2023 và tăng 72.368 tỷ VND so với năm 2022. Vậy chỉ trong 3 năm 2022-2025, BIDV đã tăng tổng tài sản lên 84,29%. Đến quý I/2026 tổng tài sản đạt 184.780 tỷ đồng, tăng 10,2% so với đầu năm và tăng 47,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Năm 2025 là năm kết quả kinh doanh của BIDV tăng trưởng mạnh mẽ thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của BIDV theo IFRS.
Chênh lệch thu chi trước DPRR của ngân hàng liên tục tăng qua các năm. Năm 2025 đạt 2.521 tỷ đồng, tăng 52 tỷ đồng so với năm 2024 (về tương đối tăng 2,1%), tăng 392 tỷ đồng so với năm 2023 (về tương đối tăng 18,4%) và tăng 1296 tỷ đồng so với năm 2022 (về tương đối tăng 106%). Lợi nhuận thuần của BIDV 2025 đạt 613 tỷ đồng, tăng 498 tỷ đồng so với 2024, tương đương với mức tăng 4,33 lần.
Tỷ lệ ROA năm 2025 đạt 0,39%, trong khi năm 2022, 2023, 2024 chỉ đạt lần lượt 0,03%, 0,04%, 0,01%. ROA tăng mạnh là do năm 2025 lợi nhuận sau thuế của BIDV tăng cao, gấp 4,33 lần năm 2024 và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân chỉ ở mức 33,9% (thấp hơn nhiều so với mức tăng lợi nhuận). Lợi nhuận tăng nhanh do thu hồi từ nợ gốc và lãi đã xử lý hơn 606 tỷ đồng. ROE đạt 13,6%, tăng gần 4 lần so với năm 2024, tăng 11 lần so với năm 2023 và tăng 16 lần so với năm 2022.
Vào tháng 5/2025, BIDV chính thức được Moody‟s xếp hạng ở các mức: E – triển vọng tích cực (xếp hạng năng lực tài chính độc lập – BFSR), Ba1/B1 (xếp hạng tiền gửi nội tệ/ngoại tệ) và Ba1/Ba2 (xếp hạng nhà phát hành nội tệ/ngoại tệ).
Đến tháng 4/2026, Moody‟s đã nâng mức xếp hạng năng lực tài chính độc lập của BIDV từ E lên E+ với triển vọng ổn định. Việc nâng mức xếp hạng của Moody‟s và kết quả kinh doanh tốt đến quý I/2026 đã tác động tích cực đến tiến trình cổ phần hóa tổng thể BIDV dự kiến thực hiện vào quý IV/2026.
2. Thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
2.1. Tình hình huy động vốn
- Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động của BIDV
Tổng nguồn vốn huy động của BIDV tăng liên tục qua các năm. Năm 2022 tổng nguồn vốn huy động là 60.028 tỷ đồng; năm 2023 là 67.781 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2022; năm 2024 tăng 28,4 % so với năm 2023; năm 2025 số vốn huy động đã lên đến 116.862 tỷ đồng, tăng 34,3% so với năm 2024 – đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2020 đến nay, chiếm 73% trên tổng tài sản. Đặc biệt, trong quý I/2026 tổng vốn huy động của BIDV đạt 142.844 tỷ đồng, tăng 17,4% so với đầu năm và tăng 59,3% so với cùng kỳ. Thị phần huy động vốn của BIDV cũng tăng liên tục qua các năm, năm 2022 đến 2025 lần lượt là 14%, 15,3%, 15,7% và 15,8%.
- Biểu đồ 2.2 : Cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế.
Cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế có sự biến động đáng kể trong các năm qua do sự tăng nhanh của nguồn vốn từ tổ chức kinh tế. Cụ thể, năm 2022 chỉ chiếm 37% trong tổng vốn huy động, nguồn vốn huy động chủ yếu trong giai đoạn này là từ dân cư. Đến năm 2023 tỷ trọng vốn huy động từ tổ chức kinh tế đã chiếm 47%, năm 2024 là 49% và năm 2025 chiếm đến 55%. Có được sự tăng trưởng mạnh mẽ như vậy là do ngân hàng đã phát huy tốt vai trò đầu mối huy động tiền gửi từ các tổ chức, định chế tài chính, các tổng công ty. Bên cạnh đó, nguồn tiền huy động từ dân cư mà chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm cũng rất quan trọng, mặc dù tăng chậm và ổn định hơn so với vốn huy động từ tổ chức kinh tế.
Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn cũng có sự thay đổi. Thể hiện qua biểu đồ:
- Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Vốn huy động qua kênh tiền gửi có kỳ hạn năm 2023 là 50.158 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2022, chiếm 74% so với tổng vốn huy động; năm 2024 là 66.140 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2023, chiếm 76% tổng vốn huy động và năm 2025 lên đến 85.309 tỷ đồng, tăng 29% so với năm 2024, chiếm 73% tổng vốn huy động.
Vậy nguồn vốn có kỳ hạn luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu và có sự gia tăng mạnh qua các năm. Đây là kết quả của các đợt tiết kiệm dự thưởng, kèm theo bảng lãi suất có tính cạnh tranh cao đã thu hút được đông đảo sự chú ý của khách hàng. Nguồn vốn huy động không kỳ hạn cũng tăng trưởng đáng kể, năm 2025 đạt 31.553 tỷ đồng, tăng 52% so với năm 2024, tăng 79% so với năm 2023. Có sự tăng mạnh này là do ngân hàng đã chủ động mở rộng đối tượng khách hàng và thường xuyên phát sinh hoạt động thanh toán.
Năm 2025 thị trường tiền tệ có nhiều khó khăn song BIDV vẫn đảm bảo nguồn vốn và tăng tưởng tốt do thực hiện tốt việc thu hút khách hàng. Trong năm 2025, bên cạnh các sản phẩm huy động truyền thống, BIDV đã triển khai nhiều sản phẩm huy động vốn dân cư hấp dẫn như tiết kiệm dự thưởng (2 đợt), phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn dưới hình thức kỳ phiếu (1 đợt). Đặc biệt năm 2025, BIDV phát hành thành công 2 đợt phát hành trái phiếu dài hạn tăng vốn cấp 2 dưới hình thức ghi sổ, kỳ hạn huy động dài (10, 15, 20 năm).
2.2. Tình hình sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Bên cạnh việc coi trọng công tác huy động vốn thì việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả là vấn đề mang tính sống còn của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tại BIDV ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhằm tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, BIDV đã xác định danh mục tín dụng ưu tiên để đầu tư vào các ngành năng lượng, công nghiệp tàu thủy, chế biến xuất khẩu thủy sản…Bám sát thế mạnh, đặc điểm kinh tế tại các vùng, BIDV đã đầu tư hỗ trợ có hiệu quả. Dư nợ tín dụng qua các năm đều tăng trưởng và được kiểm soát chặt chẽ trong phạm vi giới hạn theo quy định của NHTW, thể hiện qua các số liệu sau:
- Bảng 2.3 : Dư nợ tín dụng của BIDV từ 2022-2025
Năm 2025, tình hình quốc tế và trong nước diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực như dịch bệnh, thiên tai, giá nguyên liệu thế giới tăng cao, giá xăng dầu biến động… đã có ảnh hưởng nhất định lên chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh và mặt bằng giá cả chung. Và trên thực tế mức tăng tín dụng cũng thấp hơn, năm 2025 tổng dư nợ tín dụng đạt 98.639 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm 2024. Trong khi năm 2024 đạt 85.434 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2023 và năm 2023 cũng tăng 18% so với năm 2022 với 72430 tỷ đồng. Sở dĩ mức tăng trưởng tín dụng năm 2025 chậm lại một chút so với các năm trước cũng là do quán triệt chính sách tín dụng của ngân hàng và đẩy mạnh các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng gắn liền với tăng trưởng tín dụng hợp lý, kiểm soát chặt chẽ vốn vay. Tỷ trọng tín dụng trên tổng tài sản giảm từ 67% năm 2024 xuống còn 60% năm 2025, được đánh giá là phù hợp với mục tiêu phát triển thể chế đã cam kết với ngân hàng Thế giới World Bank.
- Biểu đồ 2.4: Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn.
- Biểu đồ 2.5: Cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Cơ cấu tín dụng cũng được chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ cấu tín dụng trung và dài hạn nói chung (bao gồm cho vay thương mại, cho vay theo kế hoạch nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ) đang có xu hướng giảm theo đúng định hướng. Nếu như năm 2022 tỷ lệ này là 48,5% trong tổng dư nợ thì năm 2023, 2024 đã giảm xuống còn lần lượt là 45,7%, 42% và năm 2025 chỉ còn 41%. Trong khi tỷ trọng tín dụng ngắn hạn lại tăng liên tục qua các năm, từ 51,5% năm 2022 đến 59% năm 2025. Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế cũng có những chuyển biến tích cực, từ khách hàng là DNQD sang các khách hàng là DNNQD, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tư nhân, cá thể và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ trọng dư nợ cho vay DNQD năm 2022 là 67%, năm 2023 là 65% thì đến năm 2024, 2025 tỷ trọng này giảm mạnh, chỉ còn 52% năm 2024 và 43,2% năm 2025. Còn đối với DNNQD và có vốn đầu tư nước ngoài thì có tỷ trọng tăng nhanh qua các năm. Cụ thể, năm 2022 chỉ chiếm 33% trong tổng dư nợ thì đến năm 2025 đã chiếm đến 56,8%. BIDV đã tăng cường tìm kiếm các dự án cho vay các DNNQD, hạn chế sự phụ thuộc vào một số tổng công ty lớn. Đây là một bước tiến quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của đề án tái cơ cấu đã đề ra, bởi vì để đạt mục tiêu tỷ trọng doanh thu dịch vụ và bán lẻ là 50% thì cơ cấu cho vay khách hàng là DNNQD và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cấn đạt đến 70%.
- Biểu đồ 2.6: Cơ cấu tín dụng theo TSĐB
- Biểu đồ 2.7: Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế
Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng được cải thiện đáng kể, biểu hiện ở tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ tăng cao qua các năm. Năm 2025 dư nợ có TSĐB là 69.047 tỷ đồng, tăng 22,5% so với năm 2024, tăng 75% so với năm 2023 và tăng đến 174% so với năm 2022, hoàn thành chỉ tiêu cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo nợ vay.
Tính theo ngành nghề kinh tế, cơ cấu tín dụng về cơ bản đều tăng trưởng theo đúng định hướng, đó là giảm tỷ lệ cho vay xây lắp, đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, xuất nhập khẩu, các ngành kinh tế tiềm năng.
Hiện nay lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng cho vay cao nhất với 27,3% năm 2025 tương ứng với 26.928 tỷ đồng, tăng 99% so với năm 2024 chỉ với 13.499 tỷ đồng và chỉ chiếm 15,8% tổng dư nợ.
Còn năm 2023 thì tỷ trọng này chiếm 14,1% và năm 2022 chỉ là 10,4%. Trong khi đó, lĩnh vực xây lắp đến trước năm 2024 luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng dư nợ với 45,4% năm 2023, 36,5% năm 2024 thì đến năm 2025 đã giảm đáng kể, chỉ còn 24,9% – đứng thứ hai sau lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Những con số này đã nói lên quyết tâm của BIDV trong việc giảm thiểu rủi ro, đa dạng hóa ngành nghề cho vay, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tích cực.
II.Thực trạng rủi ro tín dụng tại BIDV Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
1. Thực trạng rủi ro tín dụng tại BIDV
1.1. Tình hình nợ quá hạn tại BIDV
Trong những năm qua, BIDV có tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao và cơ cấu tín dụng được điều chỉnh hợp lý hơn. Tuy nhiên, để đánh giá tình hình tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng có hợp lý hay không thì cần phải xem xét mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, đặc biệt là chỉ tiêu nợ quá hạn (NQH). Theo quyết định số 493/2024/QĐ-NHNN ngày 22/4/2024 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước: “Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn”. Thực trạng NQH của BIDV thể hiện qua các số liệu sau:
- Bảng 2.4: Nợ quá hạn của BIDV từ năm 2022 đến 2025:
- Biểu đồ 2.8: Nợ quá hạn của BIDV từ năm 2022 đến 2025
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng dư NQH tại ngân hàng giảm mạnh vào năm 2024 và 2025. Năm 2022 NQH của BIDV là 2.816 với tỷ lệ NHQ trên tổng dư nợ là 4,59% thì sang năm 2023 con số này đã tăng lên 3.360 tỷ đồng, tức tăng 19,3% với tỷ lệ NQH là 4,64%. Điều này cho thấy ngân hàng đã không thành công trong việc quản lý rủi ro và không đạt được mục tiêu đề ra là giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 3% vào năm 2023. Nguyên nhân của sự gia tăng NQH và tỷ lệ NQH của ngân hàng trong năm 2023 do công tác thu hồi nợ chưa tốt, NQH của năm trước chưa được xử lý, thu hồi được cơ cấu lại và chuyển sang năm sau. Sở dĩ NQH và tỷ lệ NQH của BIDV tại thời điểm 2022 thấp và thấp hơn so với nhiều ngân hàng khác vì các ngân hàng khác chủ yếu cho vay ngắn hạn nên khi quyết định số 149/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xử lý nợ tồn đọng có hiệu lực ngay lập tức các khoản nợ tồn đọng đều được thể hiện trên sổ sách, trong khi BIDV không xử lý được do các khoản vay của BIDV chủ yếu là trung dài hạn cho các công trình và theo quy định khoản vay chỉ được thanh toán khi công trình hoàn thành, nghiệm thu. Vì vậy, khi áp dụng quyết định 149/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì các khoản nợ đó chưa được gọi là NQH. Đến năm 2023 khi các công trình lớn đã hoàn thành và đến hạn trả nợ thì rất nhiều DNNN (được cho vay theo chỉ định và kế hoạch) không có khả năng thanh toán nên bị chuyển thành NQH. Do đó, năm 2023 NQH và tỷ lệ NQH của BIDV không giảm mà lại tăng.
Đến năm 2024 tổng dư NQH và tỷ lệ NQH của BIDV đã giảm đáng kể. NQH năm 2024 là 1.452 tỷ đồng, giảm 56,8% so với năm 2023 và tỷ lệ NQH giảm còn 1,7%; năm 2025 là 1085 tỷ đồng, giảm 25,3% so với năm 2024 và tỷ lệ NQH giảm còn 1,1%. Có được kết quả như vậy là do bộ phận tín dụng-thẩm định đã thực hiện nghiêm túc qui trình cho vay, bảo lãnh theo quy chế và quy trình quan lý chất lượng ISO, chú trọng phân tích tình hình tài chính DN, chủ động tìm kiếm khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, giảm việc cho vay theo kế hoạch, theo chỉ định của chính phủ.
1.1.1. NQH theo thời hạn cho vay.
- Bảng 2.5: Cơ cấu NQH theo thời hạn vay Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Cơ cấu NQH theo thời hạn vay của BIDV biến động đáng kễ qua các năm. Tý lệ NQH ngắn hạn có xu hướng tăng mạnh và tý lệ NQH dài hạn giảm dần.
- Biểu đồ 2.9: Cơ cấu NQH theo thời hạn vay
Tỷ lệ NQH ngắn hạn năm 2022 chỉ là 38% tổng NQH thì năm 2023 tăng lên 46%. Đến năm 2024, 2025 NQH ngắn hạn chiếm quá nửa tổng dư NQH với 55% năm 2024 và 61% năm 2025. Biến động ngược lại xu hướng của NQH ngắn hạn là NQH dài hạn, với tỷ lệ 62% năm 2022 và giảm xuống còn 54% năm 2025. Giai đoạn 2022, 2023 và trước đó NQH của BIDV chủ yếu là NQH trung dài hạn. Nguyên nhân là do công tác đánh giá, thẩm định các dự án vay vốn trung dài hạn chưa tốt và cũng là do giai đoạn đó dư nợ cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ, cho vay đối với các DN quốc doanh cao, với các công trình dài hạn chủ yếu thuộc lĩnh vực xây dựng, giao thông, điện lực. Khi đến hạn trả nợ, các DN này thường không trả được nợ theo đúng hạn, phải gia hạn thêm hoặc xử lý theo hướng dẫn của chính phủ như đưa vào danh mục nợ khoanh, hay được Nhà nước bù lỗ. Chính vì lý do đó mà NQH trung dài hạn giai đoạn 2022, 2023 chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư NQH.
Tuy nhiên sang năm 2024, 2025 dư nợ đối với DNNN, cho vay theo kế hoạch nhà nước, theo chỉ định của chính phủ giảm mạnh và BIDV tích cực mở rộng tín dụng cho các DN ngoài quốc doanh, mở rộng tín dụng ngắn hạn, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng để thu hút khách hàng. Kết quả là tỷ lệ NQH trung dài hạn giảm từ 54% năm 2023 xuống còn 45% năm 2024 và 39% năm 2025. Số tuyệt đối NQH trung dài hạn của BIDV cũng giảm liên tục qua các năm, từ 1746 tỷ đồng năm 2022 xuống còn 423 tỷ đồng năm 2025, tương đương với giảm 76%. Trong khi đó dư nợ tín dụng trung dài hạn năm 2025 tăng 37% so với năm 2022. Điều này chứng tỏ chất lượng tín dụng trung dài hạn được cải thiện đáng kể. Đối với các khoản cho vay xấu, đã phát sinh NQH thậm chí trở thành nợ khó đòi thì ngân hãng đã tích cực thực hiện các biện pháp thu nợ, giản nợ, khoanh nợ nhằm giảm số NQH cũng như tỷ lệ NQH trong tổng dư nợ. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
1.1.2. NQH thành phần kinh tế
- Bảng 2.6: NQH theo thành phần kinh tế của BIDV.
- Biểu đồ 2.10: Cơ cấu NQH theo thành phần kinh tế của BIDV
NQH theo thành phần kinh tế của BIDV chủ yếu thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, các DNQD. Việc phân tích NQH theo thành phần kinh tế giúp cho ngân hàng có được cái nhìn tổng quát hơn về tình hình cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh. Qua đó ngân hàng có thể nhận thấy tính rủi ro khi cho vay đối với từng khu vực, đồng thời có biện pháp nhằm hạn chế rủi ro. NQH của các doanh nghiệp quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư NQH và có sự biến động qua các năm. Năm 2022 tỷ lệ NQH của DN quốc doanh chiếm đến 83% tổng NQH và năm 2023 tăng lên thành 88%, về số tuyệt đối năm 2023 cũng tăng so với năm 2022. NQH của DN quốc doanh năm 2023 là 29.567 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2022.
Năm 2024 và 2025 tỷ trọng này có xu hướng giảm đi, năm 2024 là 85% và năm 2025 giảm mạnh còn 74%. Tỷ lệ NQH của doanh nghiệp quốc doanh chiếm tỷ trọng cao như vậy một phần là do dư nợ tín dụng đối với khu vực này là khá cao. Trên thực tế, cho vay đối với khối kinh tế quốc doanh được quan tâm đặc biệt bởi thành phần kinh tế này vay nợ ngân hàng chủ yếu dựa trên uy tín, có thể được quyền vay vốn không có TSĐB hoặc nếu có thì giá trị TSĐB không quá giá trị TSĐB không quá số vốn cần vay. Thêm vào đó, có những DNNN đã phát sinh NQH nhưng để phục hồi sản xuất thì ngân hàng lại tiếp tục cho vay thêm hoặc được gia hạn nợ. Trong khi đó, ngân hàng lại đưa ra các quy định chặt chẽ hơn về TSĐB và thường giới hạn về số vốn vay đối với DN ngoài quốc doanh. Sự hạn chế này cũng là do một số DN ngoài quốc doanh thường thiếu uy tín, không được sự bảo lãnh của bên thứ ba, quy mô nhỏ, vốn ít hoặc sử dụng vốn sai mục đích và trên thực tế không ít DN phá sản. Do vậy, nhiều ngân hàng trong khối Nhà nước có những quy định chặt chẽ hơn khi cho vay đối tượng này. Năm 2025 tỷ lệ NQH của DN quốc doanh giảm đáng kể, còn 74%. Điều này cũng là do ngân hàng đã tích cực mở rộng tín dụng hơn đối với các DNNQD và hạn chế cho vay đối với các dự án, công trình có tính khả thi không cao, giảm việc cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ.
1.2. Tình hình nợ dưới tiêu chuẩn tại BIDV Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
- Bảng 2.7: Tình hình nợ dưới tiêu chuẩn tại BIDV.
- Biểu đồ 2.11: Tình hình nợ dưới tiêu chuẩn tại BIDV.
Bảng số liệu về tình hình nợ dưới tiêu chuẩn của BIDV cho thấy tổng nợ dưới tiêu chuẩn giai đoạn 2022-2025 biến động không ổn định. Năm 2022, nợ dưới tiêu chuẩn là 13.674 tỷ đồng, chiếm 22% trong tổng dư nợ. Năm 2023 là 16.090 tỷ đồng, tăng 17,67% so với năm 2022. Cùng với sự gia tăng của tổng nợ dưới tiêu chuẩn, tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn cũng cao hơn so với năm 2022, chiếm 23,5% trong tổng dư nợ. Vậy năm 2023 chất lượng tín dụng của BIDV thể hiện qua nợ dưới tiêu chuẩn không những không được cải thiện mà còn tăng, cho thấy công tác quản lý RRTD của BIDV còn nhiều hạn chế.
Năm 2024 nợ dưới tiêu chuẩn có giảm chút ít so với năm 2023, chỉ giảm 0,6% và tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn cũng giảm từ 23.5% xuống còn 19,6%. Tuy có giảm nhưng so với toàn ngành thì các con số trên vẫn còn khá cao. Nợ dưới tiêu chuẩn của BIDV cao một phần do các khoản nợ quá hạn cần chú ý từ các năm trước chưa được xử lý, được xếp vào nợ dưới tiêu chuẩn của năm sau. Một nguyên nhân khác là do từ năm 2024 trở về trước tỷ trọng cho vay đối với doanh nghiệp quốc doanh cao, mà các đối tượng này được phép vay với TSĐB có giá trị thấp.
Năm 2025, chất lượng tín dụng của BIDV được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua nợ dưới tiêu chuẩn và tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn giảm mạnh. Nợ dưới tiêu chuẩn giảm 61,03% và tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn năm 2025 giảm chỉ còn 6,7% trên tổng dư nợ. Trong khi đó dư nợ tín dụng vẫn tiếp tục tăng, càng cho thấy nỗ lực của BIDV trong công tác quản lý và xử lý nợ dưới tiêu chuẩn.
1.3. Tình hình nợ nghi ngờ tại BIDV
- Bảng 2.8: Tình hình nợ nghi ngờ tại BIDV
- Biểu đồ 2.12: Tình hình nợ nghi ngờ tại BIDV
Nợ nghi ngờ cũng là các khoản nợ thuộc nhóm nợ xấu gây nên rủi ro cho ngân hàng và có mức RRTD cao hơn nợ dưới tiêu chuẩn. Vì vậy, cần phân tích diễn biến của loại nợ này qua các thời kỳ để thấy rõ xu hướng biến động, tìm hiểu nguyên nhân và từ đó tìm cách hạn chế rủi ro do nhóm nợ này gây ra. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Nợ nghi ngờ của BIDV giai đoạn 2022 đến 2024 nhìn chung là cao và tỷ lệ cũng diễn biến theo sự biến động của nợ nghi ngờ. Năm 2023, nợ nghi ngờ là 4.919 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2022 và tỷ lệ nợ nghi ngờ cũng tăng từ 4,3% năm 2022 lên 7,4% năm 2023. Sự tăng đột biến về các khoản nợ nghi ngờ làm cho ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro và thiệt hại do những rủi ro đó gây ra. Năm 2024 nợ nghi ngờ đã giảm, ở mức 4045 tỷ đồng, tức giảm 17,77% so với năm 2023. Và cùng với nó, tỷ lệ nợ nghi ngờ cũng giảm xuống, ở mức 4,8%.
Năm 2025 đánh dấu sự thành công của BIDV về nhiều mặt, trong đó có công tác quản lý nợ nghi ngờ. Nợ nghi ngờ năm 2025 giảm mạnh với 333 tỷ đồng, so với 4045 tỷ đồng của năm 2024, giảm đến 12 lần. Sự cải thiện trong chất lượng tín dụng còn thể hiện thông qua sự giảm mạnh của tỷ lệ nợ nghi ngờ – một chỉ tiêu phản ánh mức RRTD của ngân hàng. Tỷ lệ nợ nghi ngờ năm 2025 chỉ là 0,4% so với 4,8% của năm 2024 thì đây là một bước đột phá. Năm 2025, không những BIDV quan tâm hơn đến công tác phân loại, đánh giá khách hàng, tăng cường thẩm định, giám sát các khoản vay mà còn tích cực áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu thể hiện rõ nét nhất là BIDV đã tăng cường làm việc với các DN để bổ sung TSĐB, ký kết hợp đồng cầm cố các khoản phải thu, hợp đồng bảo đảm tài sản hình thành từ vốn vay.
1.4. Tình hình nợ không thu hồi được tại BIDV
- Bảng 2.9: Tình hình nợ không thu hồi được tại BIDV.
- Biểu đồ 2.13: Tình hình nợ không thu hồi được tại BIDV.
Nợ không thu hồi được là các khoản nợ có mức rủi ro cao nhất và có thể dẫn đến khả năng mất vốn cho các ngân hàng. Các khoản nợ được xếp vào nhóm này thông thường đã được gia hạn nợ và cơ cấu lại nhiều lần, được ngân hàng thường xuyên đánh giá, xem xét về khả năng thu hồi dựa trên năng lực và tình hình hoạt động của người đi vay, trên cơ sở các TSĐB. Mặc dù đã áp dụng nhiều biện áp để thu hồi nợ nhưng vẫn khó đòi lại, có thể do DN xin vay bị phá sản, làm ăn thua lỗ đến mức tạm dừng hoạt động sản xuất kinh doanh…Tình hình RRTD của BIDV phản ánh qua chỉ tiêu nợ không thu hồi được và tỷ lệ nợ không thu hồi được biểu hiện qua các số liệu và biểu đồ trên. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Không giống như chỉ tiêu nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ, nợ không thu hồi được và tỷ lệ nợ không thu hồi được của BIDV năm 2025 không những giảm mà còn tăng so với năm 2022. Nợ không thu hồi được năm 2025 là 2.125 tỷ đồng, mặc dù giảm 44% so với năm 2024 nhưng so với năm 2023 thì giảm không đáng kể và so với năm 2022 thì tăng 50%. Tỷ lệ nợ không thu hồi được năm 2025 ở mức 2,4% giảm từ 4,9% năm 2024, 4,5% năm 2023 nhưng năm 2022 tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ với 2%. Như vậy, mặc dù nợ không thu hồi được và tỷ lệ nợ không thu hồi được năm 2025 đã được cải thiện hơn nhiều so với năm 2023 và 2024, phản ánh sự chuyển biến tích cực của BIDV nhưng so với năm 2022, các chỉ tiêu này vẫn còn cao hơn. Đây là các khoản nợ có rủi ro lớn nhất vì vậy đòi hỏi BIDV cần phải có các biện pháp hữu hiệu và kịp thời hơn nữa.
1.5. Tình hình nợ xấu tại BIDV
Theo thông lệ quốc tế, khi các khoản RRTD không được xử lý ngay lập tức thì chúng sẽ trở thành các khoản mục tài sản xấu trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng và được coi là nợ xấu hay nợ tồn đọng. Tù tháng 10/2025 BIDV bắt đầu tiến hành phân loại nợ theo điều 7 quyết định 493/2024/QĐ-NHNN về phân loại nợ do BIDV đã có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính. Theo đó các khoản nợ được chia thành 5 nhóm và nợ xấu (bad debt) của các tổ chức tín dụng được xác định căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng mà không căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ như điều 6 quyết định 493/2024/QĐ-NHNN về phân loại nợ. Các khoản nợ nhóm 3,4,5 được coi là nợ xấu và được trích tỷ lệ dự phòng tương ứng là 20%, 50% và 100%. Việc phân loại nợ theo điều 7 quyết định 493 gần với các tiêu chuẩn quốc tế và kết quả gần với báo cáo theo tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế IFRS. Tình hình nợ xấu của BIDV được thể hiện qua bảng số liệu sau :
- Bảng 2.10 : Nợ xấu của BIDV từ năm 2022 đến 2025
Tỗng nợ xấu và tý lệ nợ xấu của BIDV khá cao vào những năm 2022, 3004, 2024, và chỉ thực sự giảm mạnh vào năm 2025.
- Biểu đồ 2.14: Tình hình nợ xấu của BIDV
- Biểu đồ 2.15: Cơ cấu nợ xấu của BIDV
Tổng nợ xấu năm 2022 của BIDV là 17.688 tỷ đồng, trong đó nợ không thu hồi được chiếm 8%; năm 2023 là 24.000 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2023, trong đó nợ không thu hồi được chiếm đến 12,5%. Như vậy, cả tổng dư nợ xấu và tỷ lệ nợ không thu hồi được của năm 2023 đều cao hơn nhiều so với năm 2022, cho thấy chất lượng tín dụng và công tác quản trị RRTD của ngân hàng năm 2023 thực sự chưa tốt. Năm 2024, dư nợ xấu của BIDV có giảm nhưng không đáng kể, chỉ giảm 0,65% so với năm 2023. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ không thu hồi được lại tăng, chiếm đến 16% tổng dư nợ xấu. Nhóm nợ không thu hồi được có rủi ro cao nhất, dễ dẫn đến mất vốn nhất. Ngân hàng cần phải thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng. Năm 2025 có thể nói là năm đột phá của BIDV trong công tác xử lý và hạn chế nợ xấu với những kết quả vượt trội. Dư nợ xấu năm 2025 chỉ còn 8690 tỷ đồng, giảm đến 64% so với năm 2024, trong khi đó dư nợ tín dụng lại tăng 15,5% so với năm 2024. Đây là một thành công của BIDV trong đẩy mạnh quản lý rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng nhằm chuẩn bị cho lộ trình cổ phần hóa sắp tới. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ không thu hồi được năm 2025 lại chiếm đến 24% dư nợ xấu. Do đó, ngân hàng cần phải xây dựng quá trình thẩm định, xét duyệt dự án, TSĐB, đánh giá khách hàng chặt chẽ hơn để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, an toàn, hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Cùng với việc phân tích biến động của dư nợ xấu cần phải xem xét sự thay đổi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng để thấy rõ thực trạng RRTD của ngân hàng.
- Biểu đồ 2.16: Tỷ lệ nợ xấu của BIDV theo tiêu chuẩn Quốc tế IFRS
Tỷ lệ nợ xấu của BIDV giai đoạn 2022-2024 khá cao, ở mức trên dưới 30%. Cụ thể, tỷ lệ này năm 2022 là 28%, năm 2023 là 36% và năm 2024 là 30% phản ánh hoạt động tín dụng của BIDV chứa đựng nhiều rủi ro và chất lượng tín dụng giai đoạn này chưa tốt. So với tình hình chung của toàn ngành thì đây là một con số khá cao, một phần cũng là do BIDV là ngân hàng quốc doanh, phải dành một phần vốn cho vay theo kế hoạch của Nhà nước, cho vay theo chỉ định của chính phủ. Nhưng nguyên nhân chủ yếu cũng là do hệ thống tín dụng, quy trình cấp tín dụng và quy trình giám sát các khoản vay của BIDV còn bộc lộ sự chưa hợp lý. Sang năm 2025, cùng với lộ trình cổ phần hóa BIDV vào cuối năm 2026 theo dự kiến và đề án cơ cấu lại BIDV trở thành ngân hàng hiện đại và đơn vị hàng đầu trong ngành ngân hàng, BIDV đã có những nổ lực đáng kể nhằm bảo đảm sự tăng trưởng tín dụng gắn liền với đảm bảo an toàn tín dụng. Nhờ đó, năm 2025 BIDV đã đạt được nhiều thành công. Tỷ lệ nợ xấu của BIDV năm 2025 giảm mạnh từ 31% năm 2024 xuống còn 9,6% năm 2025. Đây là một bước chuyển vô cùng tích cực và quan trọng mà BIDV đã nổ lực đạt được. Tuy nhiên con số này vẫn còn cao, theo tiêu chuẩn quốc tế, tỷ lệ nợ xấu của một ngân hàng không vượt quá 5%, và ngưỡng an toàn là từ 3-5%. Theo báo cáo của BIDV cho quý 1 và quý 2 năm 2026 thì tỷ lệ nợ xấu được cải thiện đáng kể, lần lượt là 6,44% và 5,8%. Để đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ này xuống dưới 5% trước khi thực hiện cổ phần toàn hệ thống BIDV thì BIDV cần phải có chiến lược cụ thể và đưa ra các giải pháp đẩy mạnh quản trị rủi ro cũng như áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong quy trình cấp tín dụng và giám sát các khoản vay.
1.6. Tình hình trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
DPRRTD là khoản tiền đã trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng hoặc đối tác không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Đây là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng tín dụng và khả năng quản lý nợ của ngân hàng. Tình hình trích lập và sử dụng dự phòng RRTD tại BIDV được biểu hiện như sau:
- Bảng 2.11: Tình hình trích lập RRTD của BIDV
Trong các chỉ tiêu trên ta cần quan tâm đến sự biến động của dự phòng trích lập trong năm và việc sử dụng dự phòng để xử lý các khoản nợ trong năm. Sự biến động đó của BIDV được mô tả qua biểu đồ sau:
- Biểu đồ 2.17: Trích lập và sử dụng RRTD của BIDV
Năm 2022, số tiền trích lập là 1.397 tỷ đồng, chiếm 2,2% tổng dư nợ; năm 2024 là 1.907 tỷ đồng, chiếm 2,6% tổng dư nợ, tăng so với năm trước về số tuyệt đối là 510 tỷ đồng và về tương đối là 36,5%, góp phần nâng số quỹ dự phòng đến thời điểm 31/12/2024 lên 6051 tỷ đồng. Năm 2024 số tiền trích lập là 2392 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2023 và chiếm 2,8% tổng dư nợ. Sự gia tăng về số tiền cũng như tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro này là do trong năm 2023, 2024 nợ xấu của BIDV tăng đột biến mà nguyên nhân là do quá trình giải ngân, giám sát và thu hồi vốn cho vay của ngân hàng còn lỏng lẻo. Năm 2025 số tiền trích lập dự phòng có giảm đi nhưng không đáng kể, đạt 2383 tỷ đồng và chiếm 2,3% tổng dư nợ. Năm 2025, mặc dù tín dụng tiếp tục tăng trưởng và BIDV tiến hành phân loại nợ theo điều 7 quyết định 493/2024/QĐ-NHNN ngày 22/4/2024 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD nhưng số tiền trích lập dự phòng của BIDV không tăng mà lại giảm cùng với tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro. Điều này là do năm 2025 tỷ lệ nợ xấu của BIDV đã giảm đáng kể, từ 31% năm 2024 xuống còn 9,6% năm 2025.
Tỷ lệ trích lập dự phòng trên tổng dư nợ cao thì ngân hàng có khả năng để xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ xấu để đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng.
Nếu quỹ dự phòng không bù đắp đủ tài sản bị rủi ro thì phải trích từ lợi nhuận, thậm chí từ vốn tự có của ngân hàng để bù đắp. Số dư trích lập vào cuối mỗi năm từ 2022 đế 2024 luôn cao hơn so với đầu năm còn năm 2025 thì thấp hơn 866 tỷ đồng, một phần do gia tăng sử dụng số tiền trích lập để xử lý các khoản nợ xấu trong năm. Như vậy, nhìn chung BIDV có khả năng để xử lý các khoản nợ của mình, đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, nếu số tiền trích lập dự phòng càng cao thì càng ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty vì khoản dự phòng được trừ ra khỏi thu nhập hoạt động kinh doanh thuần của ngân hàng để tính lợi nhuận trước thuế hay lợi nhuận ròng của ngân hàng. Vì vậy, vừa đảm bảo tăng trưởng tín dụng, vừa đảm bảo an toàn hoạt động cho ngân hàng và tăng trưởng lợi nhuận cao thì việc trích lập dự phòng cần được tiến hành một cách khoa học và hợp lý.
2. Đánh giá thực trạng RRTD tại BIDV Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
2.1. Những kết quả mà BIDV đã đạt được
Thứ nhất, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh. Năm 2025, huy động vốn đạt mức tăng trưởng 34,3% với số dư đạt 116.862 tỷ đồng; Tăng trưởng tín dụng đạt 15,5%, dư nợ đạt 98.639 tỷ đồng. Các chỉ số phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng vượt mục tiêu đề ra với ROA là 0,39% và ROE là 13,6%. Tỷ lệ nợ xấu theo điều 6/QĐ 493 là 3,2% và theo điều 7/QĐ 493 là 9,6%. Tỷ lệ nợ xấu này đã giảm mạnh từ 31% năm 2024 xuống còn 9,6% năm 2025 theo tiêu chuẩn quốc tế, nằm trong lộ trình giảm tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2026 dưới 5%. Năm 2025, BIDV đã thu hồi được hơn 600 tỷ đồng nợ xấu, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu trong năm. Trong quý I và quý II năm 2026, BIDV tiếp tục thành công trong công tác xử lý nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu của BIDV tính theo điều 7/QĐ 493 trong quý I và quý II năm 2026 lần lượt là 6,44% và 5,8%. Với tốc độ khả quan này, BIDV có thể đạt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới 5% sóm hơn hoặc theo kế hoạch đề ra.
Thứ hai, nỗ lực nâng cao năng lực tài chính và thực hiện minh bạch, công khai hoạt động kinh doanh. Hệ số an toàn vốn tăng liên tục qua các năm và lần đầu tiên hệ số an toàn vốn đạt 5,9%, phát hành thành công 3.250 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn và thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng tổng vốn tự có lên 10.838 tỷ đồng vào năm 2025. Bên cạnh đó, BIDV chủ động đánh giá và xếp hạng tín nhiệm theo tiêu chuẩn quốc tế với kết quả xếp hạng đạt mức trần xếp hạng quốc gia và là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên triển khai thực hiện xếp hạng tín dụng theo điều 7 quyết định 493 của ngân hàng nhà nước Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Thứ ba, về cơ cấu tín dụng, tỷ trọng tín dụng trung dài hạn trên tổng dư nợ của toàn hệ thống giảm dần, đến 31/12/2025 là 41,1%, thấp hơn so với kế hoạch được giao (45%) và theo đúng định hướng của Hội đồng quản trị (dưới 43%), cho thấy BIDV đang chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tích cực. Tỷ trọng nợ quốc doanh trên tổng dư nợ năm 2025 đạt 43,2%, đạt kế hoạch giao, chuyển dịch phương hướng cho vay đối với các DN ngoài quốc doanh có hiệu quả cao, giảm cho vay đối với DNNN. Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo và theo ngành kinh tế cũng có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ cho vay có TSĐB tăng nhanh và thắt chặt việc cho vay đối với các trường hợp không có TSĐB hoặc giá trị của TSĐB thấp. Đầu tư có chọn lọc vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro thấp, giảm tỷ trọng cho vay xây lắp.
Để ngân hàng có được những kết quả kinh doanh trên, mà đặc biệt là những kết quả đạt được trong công tác quản trị rủi ro, là nhờ vào việc BIDV ban hành hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Sau khi xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, BIDV đã tiến hành chạy thử cùng với kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7/QĐ 493, đã phản ánh khá chính xác chất lượng tín dụng của BIDV.
2.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân
2.2.1. Những hạn chế còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tín dụng và công tác quản lý rủi ro của BIDV còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải bàn đến và cần có biện pháp kịp thời để khắc phục nếu muốn đạt được những mục tiêu đề ra trong kế hoạch Cổ phần hóa và trong chiến lược 2025-2030 theo thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ nhất, về cơ cấu tín dụng: Mặc dù đã được điều chỉnh theo hướng tích cực nhưng năm 2025 vẫn chưa đạt được kế hoạch đề ra. Tỷ trọng dư nợ của DN quốc doanh là 43,2%, DNNQD và DN có vốn đầu tư nước ngoài là 57,8%. Trong khi, tỷ lệ này theo kế hoạch đề ra lần lượt là 35% và 65%. Bởi vì để đạt mục tiêu tỷ trọng doanh thu dịch vụ và bán lẻ trong tổng doanh thu là trên 45% thì cơ cấu cho vay khách hàng là DNNQD và DN có vốn đầu tư nước ngoài cấn đạt ít nhất là 65%.
Thứ hai, về NQH và tỷ lệ NQH: NQH của BIDV có xu hướng giảm dần qua các năm đặc biệt là năm 2025 NQH chỉ còn 1085 tỷ đồng, giảm 25,3% so với năm 2024 và tỷ lệ NQH cũng thấp hơn, ở mức 1,1%. Tuy nhiên, nếu so với bình quân của toàn ngành thì tỷ lệ này vẫn thuộc loại cao. Tỷ lệ NQH bình quân toàn ngành là 0,7% năm 2025 và nếu chỉ so với các ngân hàng thương mại quốc doanh thì vẫn cao hơn ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Tuy nhiên, theo một đánh giá gần đây của ngân hàng nhà nước công bố trên trang điện tử của Bộ Tài chính www.mof.gov.vn đăng ngày 10/4/2026 thì tỷ lệ NQH của các ngân hàng quốc doanh trong đó có BIDV vào khoảng 7% cho năm 2024 và 4% cho năm 2025 chứ không phải là 1,7% năm 2024 và 1,2% năm 2025 theo báo cáo của BIDV. Vậy nhìn chung NQH và tỷ lệ NQH của BIDV vẫn còn cao. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
Thứ ba, về nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu: Nợ xấu của BIDV năm 2025 giảm đến 64% so với năm 2024. Tuy nhiên, cơ cấu các loại nợ xấu trong tổng nợ xấu không có sự chuyển biến tích cực. Ngược lại, tỷ trọng nợ không thu hồi được lại tăng từ 16% năm 2024 lên 24% năm 2025. Đây là một tỷ lệ khá cao và rủi ro mất vốn của ngân hàng là rất lớn. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu của BIDV năm 2025 theo tiêu chuẩn Việt Nam là 3,2%, thấp hơn so với mức 4,9% trước đó, nhưng cũng cao hơn so với ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, cũng là ngân hàng quốc doanh với mức 2% của năm 2025. Nếu xét theo tiêu chuẩn quốc tế thì BIDV xếp trong nhóm đầu về ngân hàng có nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu cao nhất với tỷ lệ nợ xấu năm 2025 là 9,6%, mặc dù đã giảm mạnh so với năm 2024 với 31%.
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên
Nguyên nhân thuộc về BIDV
- Việc áp dụng các văn bản chế độ:
Hiện nay tại BIDV dường như đang tồn tại ba hệ thống “văn bản chế độ” điều chỉnh nghiệp vụ tín dụng, nhưng giữa hệ thống này thể hiện tính độc lập tương đối với nhau nên dẫn đến sự “vênh” trong các quy định tín dụng; hệ thống văn bản chế độ tín dụng; hệ thống quy trình ISO.
Hiện nay, các Chi nhánh đang triển khai áp dụng cả Sổ tay tín dụng và các Quy trình tín dụng theo ISO, các văn bản chế độ riêng lẻ, các quy định đôi khi còn trùng lắp, một số nội dung chưa được giải quyết gây khó khăn trong việc thực hiện.
Về chất lượng văn bản chế độ tín dụng được ban hành còn biểu hiện chưa cao, tính vận dụng, sáng tạo hạn chế và bộc lộ chưa sát thực tiễn. Có văn bản còn thể hiện chung chung, thiếu tính cụ thể và không khác so với các quy định văn bản pháp luật (thường là quy định của Ngân hàng Nhà nước).
Các chính sách tín dụng còn hạn chế về mặt chất lượng. Chưa đề cập hết các đối tượng, các trường hợp đặc thù về khách hàng, khoản vay, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế. Danh mục tín dụng chưa đầy đủ, chưa ổn định và đảm bảo định hướng lâu dài. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
- Việc phân loại đánh giá rủi ro khách hàng
Hiện nay hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV mới chỉ áp dụng cho các khách hàng là tổ chức kinh tế, còn đối với khách hàng là cá nhân thì việc phân loại nợ vẫn áp dụng theo phương pháp định lượng của điều 6/QĐ 493. Với phương pháp này không phản ánh toàn diện mức độ rủi ro của khách hàng. Trong khi đó hiện nay định hướng của BIDV là tăng tỷ trọng cho vay tiêu dùng, như vậy, đây chính là một trong những nguyên nhân của những bất cập trong biện pháp phòng ngừa RRTD.
Phân loại đánh giá rủi ro khách hàng: tiềm ẩn rủi ro trong tín dụng còn biểu hiện phức tạp và chưa có một hệ thống công cụ đánh giá kiểm soát đủ mạnh để đảm bảo nâng cao chất lượng bền vững.
Công tác đánh giá khách hàng cá nhân còn mang tính chất cảm tính.
- Trình độ của cán bộ tín dụng còn hạn chế
Nguồn lực CBTD còn hạn chế do ít kinh nghiệm hoặc cách làm truyền thống đã ăn sâu, chưa chuyển dịch theo cơ chế thị trường dẫn đến nhận thức trách nhiệm, quyền hạn trong hoạt động tín dụng chưa đầy đủ; tâm lý đùn đẩy, né tránh trong xử lý tín dụng khá nặng nề; thực hiện soạn thảo, thiết kế chính sách văn bản còn yếu.
BIDV còn thiếu cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành, chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi, hiệu quả của dự án cũng như khả năng cạnh tranh, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì hoạt động kinh tế ngày nay vô cùng phức tạp, nó đòi hỏi cán bộ tín dụng phải được cập nhật kiến thức thường xuyên để theo kịp với sự phát triển. Bên cạnh đó, khả năng thu thập và phân tích thông tin còn mang tính một chiều nên chưa kịp thời và độ chính xác chưa cao.
Chưa sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa RRTD. Hiện nay BIDV mới thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất đối với các khoản cho vay hoặc đi vay trung hạn bằng USD hoặc Euro. Đối tác thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam được ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn lãi suất và các ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, mặc dù BIDV đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và đẩy mạnh quản lý RRTD, song các chỉ tiêu mà BIDV đạt được vẫn chưa thực sự đạt mục tiêu trở thành ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt.
Vì vậy, cần có những biện pháp mang tính thiết thực hơn nhằm nâng cao hiệu quả và đa dạng hóa các biện pháp phòng ngừa, tăng tính an toàn cho các khoản tín dụng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Tại một số doanh nghiệp là khách hàng của BIDV, nhà điều hành quản trị doanh nghiệp chưa có kiến thức cần thiết về quản trị kinh doanh, về thị trường, công nghệ… Bên cạnh đó, có những doanh nghiệp chây ỳ, cố ý kéo dài thời gian trả nợ.
Trên thực tế, nhiều khách hàng doanh nghiệp không tôn trọng pháp lệnh kế toán thống kê gây ra tình trạng các báo cáo tài chính thường được lập muộn so với thời điểm báo cáo hoặc các số liệu cung cấp cho ngân hàng không chân thật.
- Nguyên nhân thuộc về môi trường:
Do phải triển khai hoạt động trong điều kiện môi trường kinh tế đất nước đang chuyển dịch nhanh, các đối tượng hoạt động tín dụng như các khách hàng, hệ thống hành lang pháp lý, chính sách kinh tế vĩ mô… có nhiều biến động mạnh.
Sự cạnh tranh về lãi suất giữa các ngân hàng: Sau khi áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, các ngân hàng thương mại Việt Nam cạnh tranh nhau bằng cách tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút khách hàng. Nhưng lãi suất cho vay không thể vì thế mà tăng một cách tùy tiện mà phải được xác định thông qua mức độ rủi ro của các dự án và nhiều yếu tố khác. Điều này không chỉ làm giảm thu nhập của các ngân hàng mà còn không khuyến khích khách hàng cân nhắc kỹ khi đưa ra quyết định đầu tư, nhiều khi họ buộc phải đầu tư vào những dự án có rủi ro cao thì mới mong thu lời lớn. Điều này làm gia tăng mức độ rủi ro cho các ngân hàng và cả cho khách hàng
Tài sản đảm bảo nợ vay, phát mại TSĐB hiện nay là trở ngại lớn cho các ngân hàng thương mại (đặc biệt là các tài sản của các DNNN) vì đa phần các tài sản chưa có đủ cơ sở pháp lý để thế chấp, cầm cố. Vì vậy, khi xử lý tài sản đảm bảo Ngân hàng gặp nhiều khó khăn và làm giảm sút giá trị của tài sản. Xử lý tranh chấp liên quan đến nợ vay giữa ngân hàng và DN nhiều khi còn chưa công bằng, quyền lợi của Ngân hàng chưa được bảo đảm khi DN có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
BIDV là một ngân hàng thương mại nhà nước thiên về đầu tư phát triển theo kế hoạch, chỉ định của Nhà nước. Vì vậy gặp khó khăn trong quá trình đổi mới lại hoạt động, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Khóa luận: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV


Pingback: Khóa luận: Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng BIDV