Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Cạnh tranh giữa hàng dệt may Việt Nam và Trung Quốc, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh giữa hàng dệt may Việt Nam và Trung Quốc. Cơ hội và thách thức này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của Việt Nam. Tháng 11/2025, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có rất nhiều cơ hội cũng như những thách thức đặt ra đối với Việt Nam. Tận dụng các cơ hội để hạn chế những thách thức là một vấn đề không hề đơn giản đòi hỏi những nỗ lực hết mình của các Bộ ngành và các doanh nghiệp Việt Nam.
Như ta đã biết, nền kinh tế Việt Nam từ trước tới nay phát triển chủ yếu dựa vào những nguồn lực sẵn có của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động… Do đó, bên cạnh những chính sách tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng (cơ khí chế tạo, điện tử…), Đảng và Chính phủ cũng không hề xem nhẹ các ngành công nghiệp truyền thống như: nông nghiệp, dầu khí, dệt may… Thực tế, đây chính là những ngành hiện đang mang lại phần lớn ngoại tệ cho đất nước. Trong đó, dệt may là ngành có bước phát triển đáng kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Năm 2025, xuất khẩu dệt may chiếm 11,54% tổng GDP của đất nước. Tới tháng 9/2026, dệt may đã “vượt mặt” dầu khí trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong cả nước. Không chỉ tạo ra nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế, ngành dệt may còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động cho xã hội. Đây chính là nhân tố quan trọng khiến dệt may có được sự quan tâm chú ý đặc biệt.
Tuy nhiên, cũng như nhiều ngành khác, có rất nhiều vấn đề đặt ra đối với ngành dệt may Việt Nam, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Một nguy cơ lớn đối với ngành dệt may Việt Nam đó là chúng ta phải cạnh tranh với dệt may các nước không chỉ tại các thị trường nước ngoài mà cả ở thị trường nội địa. Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam trong ngành dệt may có thể kể tới “người hàng xóm khổng lồ” – Trung Quốc. Kể từ khi gia nhập WTO vào năm 2021, Trung Quốc đã trở thành đối thủ đáng gờm đối với các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may. Với những ưu thế vế lực lượng lao động, nguồn nguyên phụ liệu sẵn có lại được sự quan tâm đầy đủ của Chính phủ, ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc đang gia tăng mạnh, đây không chỉ là nỗi lo ngại đối với công nghiệp may mặc của nhiều quốc gia trong khu vực mà còn là thách thức đối với ngành công nghiệp này trên toàn cầu. Do Việt Nam và Trung Quốc có những nét tương đồng về chính trị, xã hội, văn hoá nên sự phát triển của ngành dệt may Trung Quốc thực sự đã tác động rất lớn đối với ngành này của Việt Nam ở cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Vậy liệu Việt Nam có thể vươn lên cạnh tranh với Trung Quốc trong lĩnh vực dệt may hay sẽ bị quốc gia này qua mặt? Đây là câu hỏi cần có sự hợp tác hỗ trợ giải quyết của các Bộ ngành liên quan cũng như của các doanh nghiệp dệt may trong nước.
Với mục đích góp một phần nhỏ vào việc phân tích thực trạng ngành dệt may Việt Nam cũng như Trung Quốc, đánh giá những thuận lợi khó khăn của chúng ta khi đối mặt với Trung Quốc, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam so với Trung Quốc em xin lựa chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp là: “Cạnh tranh giữa hàng dệt may Việt Nam và Trung Quốc. Cơ hội và thách thức”
Khoá luận tốt nghiệp gồm ba chương:
- Chương I – Cạnh tranh trong lĩnh vực dệt
- Chương II – Cạnh tranh giữa hàng dệt may của Việt Nam và Trung Quốc.
- Chương III – Cơ hội và thách thức. Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam.
Do lượng kiến thức cũng như kinh nghiệm vẫn còn hạn chế nên bài viết này không tránh khỏi thiếu sót mong nhận được lời nhận xét và sự chỉ bảo của các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương cũng như những người quan tâm tới đề tài này.
CHƯƠNG I Cạnh tranh trong lĩnh vực dệt may
I Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với nền kinh tế thị trường và nó chỉ xuất hiện với những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc tế cao sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tạo thêm nhiều việc làm, thu nhập, trình độ khoa học công nghệ nâng cao và đời sống nhân dân được cải thiện.
Năng lực cạnh tranh diễn ra đồng thời ở ba cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ. Ba cấp độ này có liên quan với nhau: năng lực cạnh tranh quốc gia cao khi có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, ngược lại để doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế xã hội phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, chuyên nghiệp. Và một sản phẩm, dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ đó.
Có thể nói, cạnh tranh đã dần trở thành một điều kiện để tồn tại và phát triển của các nền kinh tế nói chung, của từng doanh nghiệp và từng ngành hàng nói riêng. Đối với thị trường nội địa, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Trên thị trường quốc tế, cạnh tranh giữa các quốc gia về một chủng loại hàng hoá nào đó là việc không ai có thể tránh được. Mỗi quốc gia đều phải ganh đua để có được lợi thế so với các quốc gia khác.
Trong thời điểm hiện tại, khi mà phần lớn các rào cản thương mại đã được xoá bỏ, tự do hoá thương mại là xu hướng chung của thế giới thì cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp và từng sản phẩm dịch vụ ngày càng gay gắt hơn bao giờ hết. Yếu tố quyết định sức mạnh kinh tế của mỗi nước tham gia thị trường thế giới chính là lợi thế cạnh tranh quốc gia. Các quốc gia, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao sẽ chiến thắng và chi phối nền kinh tế thế giới, những quốc gia có năng lực cạnh tranh yếu hơn nếu không cải thiện sẽ dễ bị loại bỏ. Do đó, Chính phủ các nước phải đưa ra các chiến lược phát triển cho từng ngành kinh tế để tạo ra, duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh quốc gia phù hợp với những đặc điểm riêng, trình độ phát triển của thị trường và trình độ nền kinh tế của nước mình. Lợi thế cạnh tranh quốc gia của mỗi nước là kết quả tổng hợp của lợi thế cạnh tranh của những ngành kinh tế chủ lực cấu thành nền kinh tế của đất nước đó. Các ngành kinh tế đó có quan hệ với nhau và với môi trường kinh tế chung của quốc gia. Do đó, khi xác định chiến lược phát triển lợi thế cạnh tranh của từng ngành kinh tế cần chú ý:
- Những giải pháp cần thiết để tăng lợi thế cạnh tranh của mỗi ngành hàng thay đổi theo giai đoạn phát triển kinh tế, khiến cơ hội phát triển của ngành hàng đó cũng thay đổi theo.
- Những nhân tố liên ngành có thể giúp cho một quốc gia trở nên cạnh tranh hơn trên trường quốc tế.
Michael Porter, Giám đốc Viện chiến lược và Cạnh tranh của Trường đào tạo Kinh doanh Harvard, đã nhận xét: “Sự thịnh vượng của một quốc gia là cái được tạo ra chứ không phải là cái được thừa hưởng”. Trong thế giới cạnh tranh, chỉ có liên tục phát triển và đổi mới lợi thế cạnh tranh mới có thể tạo ra sự thịnh vượng.
II Cạnh tranh trong lĩnh vực dệt may
1 Quá trình phát triển của ngành dệt may
- Quá trình hình thành và phát triển của ngành dệt may
Dệt may là một trong những hoạt động có từ xưa nhất của con người. Sau thời kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã biết bắt chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu như sợi lanh, sợi len, sợi bông, lụa (tơ tằm)… Đây cũng là nguyên liệu chủ yếu được sử dụng trong ngành dệt may trong suốt một thời gian dài cho dù các kỹ thuật may dệt đã mau chóng đạt mức tinh vi, có khi thành cả nghệ thuật. Điều này đã khiến cho sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩm quý, những y phục gấm vóc dành cho giai cấp quý tộc, thượng lưu, còn đại đa số dân chúng chỉ mặc vải thô. Tới giữa thế kỷ 18, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh với sự ra đời của các máy dệt cơ khí hoá chạy bằng hơi nước đã đưa ngành dệt ra khỏi sản xuất thủ công trở thành một ngành công nghiệp thực sự. Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã nghiên cứu sáng chế ra nhiều loại nguyên liệu phục vụ cho ngành dệt may như: sợi nhân tạo, sợi tổng hợp. Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong may mặc, biến thời trang trở thành một hiện tượng quần chúng ở nhiều quốc gia. Ngành dệt may cũng từ đó phát triển ngày càng nhanh cùng với đà tiến triển của kinh tế và thương mại. Hiện nay, ngành dệt may có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Công nghiệp dệt may phát triển sẽ là động lực để các ngành công nghiệp khác phát triển theo.
- Thương mại dệt may trên thế giới
Đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu ăn mặc không chỉ dừng lại ở chỗ chỉ để phục vụ cho việc bảo vệ cơ thể, sức khoẻ con người mà còn để làm đẹp thêm cho cuộc sống. Hàng dệt may dần dần đã trở thành một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào mậu dịch quốc tế và là một trong những yếu tố quan trọng cần thiết để tăng tính cạnh tranh và đảm bảo giao thương sản phẩm trên thị trường. Vào 1/1/ 2024 khi Hiệp định dệt may ATC (Agreement on Textiles and Clothing) hết hiệu lực, các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, EU đã dỡ bỏ những hạn ngạch còn lại đối với hàng dệt may nhập từ các nước thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều này đã mang lại nhiều thuận lợi cho các nước có đầy đủ năng lực cạnh tranh để chiếm thêm thị phần mà trước đó đã là của các nước khác trong lĩnh vực may mặc. Các nước có tiềm năng sản xuất, xuất khẩu với trình độ công nghệ cao lại được Chính phủ quan tâm đầy đủ thì sẽ tận dụng được cơ hội này để phát triển. Và Trung Quốc hay Ấn Độ , những nước sản xuất hàng dệt may giá rẻ, đang có cơ hội trở thành nhà xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, vượt trội mọi quốc gia khác. Trong điều kiện đó, người tiêu dùng tại các nước có nền kinh tế phát triển sẽ hoàn toàn được lợi khi trên thị trường có nhiều sản phẩm với đa dạng chủng loại và giá thì rẻ hơn nhiều.
Hiện nay có rất nhiều quốc gia sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may đi khắp nơi trên thế giới và phần lớn trong số đó phụ thuộc vào dệt may xét trên cả phương diện giải quyết việc làm và nguồn thu ngoại tệ. Châu Á đang là khu vực dẫn đầu về xuất khẩu hàng dệt may mà chủ yếu là từ Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Việt Nam…, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chiếm từ 20% đến 70% tổng xuất khẩu của những nước này và thu hút hàng triệu lao động. Thị trường nhập khẩu chính của các nước sản xuất hàng may mặc là EU, Hoa Kỳ (Ấn Độ là 94%, Bangladesh là 95%, Trung Quốc là 50%, Việt Nam là 68%). Có thể nói, hạn ngạch dệt may chấm dứt, không chỉ các nước chưa phải là thành viên WTO gặp nhiều khó khăn trong cuộc cạnh tranh mới mà ngay cả các nước xuất khẩu hàng dệt may là thành viên WTO có chi phí sản xuất cao và những nước từng được hưởng quy chế đặc biệt khi tiếp cận thị trường các nước giàu cũng sẽ bị thiệt hại bởi khó có thể cạnh tranh được với hàng dệt may Trung Quốc cũng như Ấn Độ.
- Bảng 1: Nhập khẩu hàng dệt may của các thị trường Nhập khẩu chính năm 2025
Tình hình thị trường dệt may thế giới trong năm 2025 và những tháng đầu năm 2026 tương đối ổn định, không có biến động lớn. Xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc không bị ảnh hưởng nhiều từ việc áp đặt hạn ngạch của Hoa Kỳ và EU trong khi một số nước đang phát triển tại châu Á như Bangladesh, Campuchia, Việt Nam tiếp tục gia tăng tốc độ xuất khẩu cao. Tỷ lệ hàng dệt may sản xuất bởi các nhà sản xuất Hoa Kỳ và EU giảm. Nhập khẩu hàng dệt may của những thị trường Nhập khẩu lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Canada) đạt 331,2 tỷ USD trong năm 2025, tăng 5.5% so với năm 2024, cao hơn chút ít so với tốc độ tăng trưởng của năm trước, bất chấp sự suy giảm tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là thị trường có mức tăng trưởng nhập khẩu hàng dệt may thấp nhất trong số 4 thị trường trên, chỉ đạt ở mức 4%. Tại thị trường Hoa Kỳ, thị phần của các nhà xuất khẩu là các nước phát triển, các nước công nghiệp hoá ở khu vực Đông Á, các nước Trung Mỹ và các nước khu vực Địa Trung Hải tiếp tục giảm. Nhập khẩu của Hoa Kỳ từ khu vực NAFTA và CH Đôminica và từ khu vực châu Phi cận Sahara giảm tương ứng 7% và 10%. Nhập khẩu từ các nền kinh tế mới công nghiệp hoá ở Đông Á giảm 14%, và nhập khẩu từ EU giảm 3%. Tuy nhiên, mức suy giảm nhập khẩu từ các nước này lại được bù đắp bằng mức tăng nhập khẩu từ một số nước Châu Á (Ấn Độ tăng 8%, Bangladesh – 22%, Pakistan – 12%, Việt Nam – 18%…). Do những thoả thuận về kiểm soát nhập khẩu mà Hoa Kỳ và EU đã áp dụng với hàng dệt may Trung Quốc từ cuối năm 2024 làm cho tổng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, Canada và EU từ Trung Quốc chỉ tăng khoảng 15% vào năm 2025, trong khi năm 2024 đã tăng tới 41%.
Trong cơ cấu thị trường Nhập khẩu của EU cũng có sự chuyển dịch tương tự. Thị phần của các nước xuất khẩu truyền thống như Maroc, Tuynidi…giảm, trong khi thị phần của các nước sản xuất rẻ ở châu Á đều tăng trưởng khá mạnh. Ngoại trừ Trung Quốc vẵn là nước Xuất khẩu lớn nhất sang thị trường EU, xuất khẩu hàng dệt may của các nước châu Á khác cũng tăng (Bangladesh tăng 34%, Việt Nam thậm chí còn tăng 51% về giá trị)
Nhật Bản cũng có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bằng với EU đạt 6%. Ấn Độ (12%), Trung Quốc (8%), Srilanca (12%), Maroc (29%) là những nước xuất khẩu một lượng lớn hàng dệt may vào Nhật Bản. Trong số các nước này, Trung Quốc có nhiều thuận lợi hơn cả do gần gũi về mặt địa lý với Nhật Bản và không phải chịu các hạn chế định lượng. Hơn 3/4 hàng dệt may của Nhật Bản có xuất xứ từ Trung Quốc. Nếu tính riêng hàng may mặc, hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tới 80% thị phần của Nhật Bản.
Trong số các thị trường nhập khẩu dệt may chính trong năm 2025, Canada là nước có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất với mức tăng nhập khẩu gần 9% và Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dệt may vào Canada cao nhất, đạt 33%. Tại thị trường này, mặc dù không bị tái áp dụng hạn ngạch nhưng nhập khẩu từ Trung Quốc cũng chỉ tăng 22%.
Nhìn chung, nhu cầu hàng dệt may trên thế giới ngày càng tăng nhanh. Hoa Kỳ và EU vẫn là hai thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất trên thế giới mặc dù tốc độ tăng trưởng năm 2025 của 2 thị trường này không cao (Hoa Kỳ đạt 106,4 tỷ USD, EU đạt 183,6 tỷ USD). Mặc dù, phải tới tháng 11/2025 khi đã là thành viên của WTO mới được dỡ bỏ các hạn ngạch nhưng tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào các thị trường này trong năm 2025 đã tăng mạnh đạt mức cao, đặc biệt là tại thị trường EU ở mức 51%. Trong khi đó, do ảnh hưởng bởi chế độ áp đặt hạn ngạch của Hoa Kỳ và EU nên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc, đối thủ chính của Việt Nam trong lĩnh vưc dệt may hiện nay tại hai thị trường này giảm mạnh. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc tới các nước và vùng lãnh thổ không áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may của nước này đều đạt mức kỷ lục. Có thể nói Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm để cạnh tranh với người hàng xóm khổng lồ là Trung Quốc
- Một số thị trường nhập khẩu hàng dệt may chính
Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là thị trường lớn và năng động nhất thế giới với nhu cầu tiêu dùng khổng lồ. Với dân số hơn 298 triệu người (2024) đây là thị trường khổng lồ của các nước xuất khẩu hàng may mặc. Mỗi năm Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 70 tỷ USD hàng dệt may (trong đó khoảng 56,4 tỷ USD là hàng may sẵn). Những nước xuất khẩu hàng dệt may với khối lượng lớn sang Hoa Kỳ là: Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Việt Nam. Năm 2025, 1 năm sau khi Hiệp định hàng dệt may (ATC) hết hiệu lực, cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ hầu như không thay đổi nhiều. Giá trị nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ của các nhà xuất khẩu chính vẫn tăng.
- Bảng 2: Cơ cấu thị trường Nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ
Mặc dù bị áp dụng chế độ hạn chế và kiểm soát nhập khẩu của Hoa Kỳ những Trung Quốc vẫn là nước xuất khẩu dệt may lớn nhất vào Hoa Kỳ đạt 27.068 triệu USD chiếm 29% tổng giá trị nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Trong khi đó, các nước xuất khẩu lớn khác như Ấn Độ, Pakistan hay Bangladesh có giá trị nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ cũng tăng nhưng chỉ đạt lần lượt là 5,4%; 3,5%; 3,2%. Xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường này trong năm 2025 tuy có tăng nhưng hiện tại Việt Nam vẫn chỉ chiếm vị trí thứ 8 trong số các nước xuất khẩu nhiều dệt may nhất sang Hoa Kỳ.
Khi không còn bị bó buộc bởi hạn ngạch thì lượng hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ các nước thành viên WTO sẽ tăng cao nhờ đó các công ty nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ sẽ được tự do lựa chọn nguồn cung cấp nào rẻ nhất, còn người tiêu dùng Mỹ sẽ dễ dàng tìm được những sản phẩm dệt may phù hợp nhất về giá cả, chất lượng và kiểu dáng. Theo Bản phúc trình của Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ, chế độ hạn ngạch đã đặt thêm gánh nặng khoảng 20% vào giá thành của các sản phẩm may mặc, tức là mỗi năm người tiêu dùng Mỹ phải trả khoảng 14 tỷ USD khi mua những loại sản phẩm này.
Hiện tại, giá sản phẩm dệt may tại thị trường Hoa Kỳ có xu hướng giảm do nhiều nhà sản xuất tại nước này đã chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài để giảm chi phí cũng như do tỷ trọng hàng may mặc giá rẻ nhập khẩu từ các nước có chi phí sản xuất thấp gia tăng. Bên cạnh đó, người tiêu dùng Mỹ vốn đã quen sử dụng các sản phẩm có tên tuổi. Nhiều sản phẩm mang nhãn mác riêng của nhà sản xuất cũng như của các tập đoàn bán lẻ nổi tiếng (rất nhiều sản phẩm trong số đó được gia công tại Việt Nam) luôn là sự lựa chọn của dân cư Mỹ. Như vậy có thể nói thương hiệu là một vấn đề quan trọng của các quốc gia trong đó có Việt Nam khi muốn nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ bên cạnh những tiêu chuẩn về xuất xứ hay chất lượng và giá cả…
- Liên minh Châu Âu (EU)
Liên minh châu Âu (EU) bao gồm 27 quốc gia với gần 4 triệu km2 và 456 triệu dân có thu nhập cao, chiếm gần 37% thương mại thế giới là một khối kinh tế hùng mạnh có lịch sử phát triển rất lâu đời. EU một thị trường lớn, đa dạng có nhiều triển vọng cho hàng xuất khẩu của các quốc gia, nhưng cũng là một thị trường “sang trọng” và “khó tính”. Đây là thị trường nhập khẩu dệt may lớn thứ hai sau Hoa Kỳ, kim ngạch nhập khẩu dệt may vào EU hàng năm lên tới trên 60 tỷ USD chủ yếu là từ các nước: Đức (24%), Anh (21%), Pháp (14%). Những nước xuất khẩu dệt may lớn nhất vào EU hầu hết là các nước đang phát triển đến từ châu Á: Trung Quốc (21%), Thổ Nhĩ Kỳ (17%), Ấn Độ (9%), Bangladesh (6%), Tuynidi (6%) và Maroc (6%). Hàng hoá muốn có vị trí tại thị trường EU phải đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định về y tế, an toàn về môi trường. EU có quy định phải làm rõ các đặc trưng của sản phẩm hoặc các công đoạn liên quan đến sản phẩm, phương pháp sản xuất, và cũng có thể có cả các yêu cầu về tên riêng, biểu tượng, bao bì, nhãn mác hoặc yêu cầu nhãn hiệu. Do đó, chinh phục thị trường dệt may EU là một điều không dễ, nhất là khi Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc, một cường quốc về các mặt hàng may mặc.
Ngày 1/1/ 2024, Hiệp định về hàng dệt may (ATC) sẽ hết hiệu lực mở ra một cơ hội mới cho tất cả các quốc gia sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may đã là thành viên WTO trên thế giới. Giá trị nhập khẩu hàng dệt may vào EU ngày một tăng. Cũng như tại thị trường Mỹ, Trung Quốc vẫn là nước có giá trị nhập khẩu hàng may mặc vào EU lớn nhất, chiếm gần 29% thị phần dệt may của EU. Thực tế, vào tháng 6/2024, EU đã áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với một số mã hàng dệt may của Trung Quốc nhưng dường như vẫn không làm ảnh hưởng nhiều tới thị phần của nước này tại EU. Giá trị nhập khẩu của Trung Quốc trong năm 2024 vẫn đạt gần gấp đôi so với nước đứng vị trí thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ (21.133.685 nghìn euro so với 10.952.449 nghìn euro). Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh chính của Trung Quốc trong lĩnh vực này chỉ đứng vị trí thứ ba trong số những nước chiếm thị phần lớn nhất tại EU, chiếm 7%, một con số quá nhỏ so với 29% của Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam còn thấp hơn nữa, chỉ chiếm 1,06% đạt 774.563 nghìn euro. Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm này hạn ngạch đối với dệt may của các nước thành viên WTO đã được xoá bỏ còn Việt Nam chưa gia nhập tổ chức này nên vẫn phải chịu hạn ngạch do đó lượng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU vẫn bị hạn chế.
- Nhật Bản
Nhật Bản là một nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Với dân số hơn 127 triệu người, GDP đạt xấp xỉ 550,5 triệu USD. Nhật Bản là thị trường tiêu thụ hàng hoá lớn thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ, đồng thời cũng là nước nhập khẩu lớn với kim ngạch nhập khẩu hàng năm lên tới 300 – 400 tỷ USD. Nhật Bản hiện là nước lớn nhất Châu Á và thứ ba thế giới (sau Hoa Kỳ và EU) về nhập khẩu hàng may mặc phục vụ tiêu dùng nội địa. Trị giá hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn so với thế giới. Mỗi năm Nhật Bản nhập khoảng 20 tỷ USD hàng dệt may. Đây là thị trường nhập khẩu hàng dệt may không hạn ngạch, mức độ tự do hoá cao nên cạnh tranh rất khốc liệt. Đồng thời, Nhật Bản cũng là nơi đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm cũng như quy tắc xuất xứ hàng hoá. Hàng hoá nhập khẩu vào Nhật Bản phải đáp ứng các Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (Japan Industrial Standard – JIS). Hàng hoá được đóng dấu JIS sẽ rất dễ tiêu thụ tại Nhật Bản vì người Nhật rất tin tưởng vào các tiêu chuẩn kiểm tra của JIS.
Hiện tại, Trung Quốc vẫn là quốc gia dẫn đầu về thị phần hàng dệt may tại Nhật Bản. Năm 2025, trị giá nhập khẩu hàng dệt may của Trung Quốc tăng so với năm 2024 chiếm 83,15% thị phần, khoảng 2.202.777 triệu Yên. Tiếp theo là Italia chiếm 4,23% khoảng 111.983 triệu Yên. Tuy giá trị nhập khẩu hàng dệt may của Italia có tăng so với năm 2025 nhưng thị phần của nước này lại giảm, nhất là lượng nhập khẩu giảm 5,73%. Việt Nam đứng thứ ba trong số các nước xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu đạt 73.873 triệu Yên (năm 2025) chiếm 2,79% thị phần. So với năm 2024 thì tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là khá cao, trị giá tăng 10,51%, lượng nhập khẩu tăng 6,55%.
Trong giai đoạn 2015 – 2019, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam, với mức tăng trưởng trung bình 21,2%. Tuy nhiên tới giai đoạn 2019 – 2024, xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản đã gặp khó khăn do nền kinh tế Nhật rơi vào tình trạng khó khăn, sức mua phục hồi chậm lại có sự cạnh tranh quyết liệt của Trung Quốc. Song theo dự báo của giới phân tích, cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới đang có dấu hiệu chuyển mình. Tỷ lệ thất nghiệp giảm, người tiêu dùng cùng giới doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào tương lai nên chi tiêu cũng như đầu tư nhiều hơn. Giai đoạn thiểu phát có dấu hiệu chấm dứt. Đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phục hồi lượng xuất khẩu dệt may vào Nhật Bản
2 Cạnh tranh trong lĩnh vực dệt may
- – Đặc điểm mới của môi trường cạnh tranh dệt may thế giới
Trong 5 năm qua thị trường nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới đã tăng trưởng với tốc độ bình quân 6% cho sản phẩm dệt và 8% cho sản phẩm may mặc. Ước tính trong 5 năm tới, mức tăng trưởng thị trường nhập khẩu bình quân mỗi năm là 8%, trong đó dệt đạt 6% và may mặc đạt 9%. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may thế giới năm 2029 đạt 700 tỷ USD.
Hiện nay, ngành dệt may thế giới đang phân chia thành ba khu vực chính là: châu Á, khu vực Tây Âu và Đông Âu, khu vực Trung và Nam Mỹ. Sau năm 2024, khi các hạn ngạch trong dệt may đã bị xoá bỏ, bản đồ sản xuất và lưu thông hàng dệt may thế giới đã có sự thay đổi. Khu vực Trung và Nam Mỹ sẽ yếu thế nhất do lợi thế xuất khẩu vào Mỹ của họ không còn nhiều. Lợi thế cạnh tranh xuất khẩu đang và sẽ tập trung về hầu hết các nước đang phát triển ở châu Á. Ngành dệt may củaTrung Quốc hiện đang phát triển rất mạnh, chiếm khoảng 18% thị phần thế giới và trong vòng 10 năm tới con số này có thế sẽ tăng lên 50% mặc dù bị Hoa Kỳ và EU áp dụng chế độ hạn chế và kiểm soát nhập khẩu. Ngoài Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam cũng là có khả năng thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ từ dệt may. Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á tiếp tục bị giảm bớt thị phần do phải đối mặt với sự cạnh tranh gia tăng từ các nước sản xuất hàng dệt may giá rẻ. Hàng từ Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam sẽ dần “lấn sân” các nhà sản xuất tại châu Âu.
- Trong vòng 5 năm tới, bối cảnh kinh doanh hàng dệt may thế giới có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất là, thương mại dệt may thế giới ngày càng tập trung hơn vào tay các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia, từ việc chuyển dịch đầu tư, sản xuất, thiết kế sản phẩm, phân khúc thị trường, tổ chức chuỗi sản xuất cung ứng cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Các nước nhỏ, các nhà sản xuất và các công ty trung gian nhỏ ngày càng khó có cơ hội phát triển nếu nằm ngoài các chuỗi cung ứng này. Bên cạnh những yêu cầu đã có như chất lượng ổn định, giá cả cạnh tranh, giao hàng đúng tiến độ thì sắp đến các nhà nhập khẩu ngày càng có yêu cầu cao về khả năng thiết kế sản phẩm, khả năng đáp ứng các hợp đồng nhanh, khả năng về công nghệ thông tin và các tiêu chí về trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường như đảm bảo trật tự an toàn xã hội, không gây ô nhiễm môi trường… Trung Quốc là một điển hình thu được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực dệt may đó là việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu trong đó chú trọng tăng thị phần tại các nước châu Á. Trong khi đó, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc lại tập trung vào sản xuất mặt hàng cao cấp.
Thứ hai là, khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ nano, các loại sợi vải chức năng đặc biệt, các loại nguyên liệu có nguồn gốc thiên nhiên thân thiện với môi trường như: tre, đậu tương, ngô… hứa hẹn nhiều thay đổi mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn lại, các sản phẩm ngày càng mang tính thời trang hơn. Thương hiệu sản phẩm trở nên quan trọng trong chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm.
Thứ ba là, xu thế bảo hộ mậu dịch của các nước lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ và phần nào là EU đối với Trung Quốc và Việt Nam. Để bảo vệ ngành công nghiệp dệt may trong nước và của các đối tác trong khu vực, Hoa Kỳ và EU đã và đang áp dụng cơ chế “bảo vệ” và hạn ngạch nhằm hạn chế tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc tới năm.
Ngoài ra còn thúc ép Trung Quốc tăng giá đồng NDT để giảm bớt chênh lệch mậu dịch. Điều này gây ra nhiều khó khăn cho Trung Quốc khiến nước này phải áp dụng trở lại cơ chế hạn ngạch nhằm hạn chế xuất khẩu sang Hoa Kỳ và EU. Về phần Việt Nam, khi đã trở thành thành viên chính thức của WTO, Hoa Kỳ lại áp dụng “cơ chế kiểm soát nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam” trong 2 năm 2026 – 2027 và có khả năng tiến hành tự điều tra chống bán phá giá. Điều này đã gây tâm lý lo ngại, bất an cho các nhà nhập khẩu và bán lẻ Hoa Kỳ, tác động mạnh đến các nhà đầu tư và xuất khẩu Việt Nam, buộc Việt Nam phải áp dụng các biện pháp tự giám sát xuất khẩu trong 2 năm 2026 – 2027.
- Tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng dệt may
Dệt may là sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người, vì vậy những yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của nó vừa mang những đặc điểm chung như mọi hàng hoá khác đồng thời lại bao hàm những đặc tính riêng của sản phẩm này. Tuỳ vào thị trường tiêu thụ, sản phẩm dệt may lại bị chi phối bởi những đặc điểm riêng của thị trường đó.
- Thứ nhất, giá cả sản phẩm dệt may.
Giá cả sản phẩm dệt may là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh của nó. Giá cả sản phẩm dệt may được người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn cả bởi con người luôn luôn muốn có sản phẩm tốt nhưng giá cả phải chăng, hay nói chính xác là giá rẻ. Điều này đã giải thích tại sao hàng dệt may Trung Quốc với những chủng loại có chất lượng thấp vẫn có khả năng xâm nhập vào thị trường phát triển như Hoa Kỳ hay EU.
Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh quyết liệt như tại thị trường Hoa Kỳ và EU – Hai thị trường nhập khẩu dệt may chính trên thế giới – thì bất cứ nhà sản xuất, xuất khẩu dệt may nào cũng phải cố gắng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, giảm giá bán để kéo người tiêu dùng đến với sản phẩm của mình. Giá cả là yếu tố đầu tiên có sức lôi cuốn người mua, bởi xuất phát từ thực tế của mâu thuẫn giữa nhu cầu và việc thoả mãn nhu cầu bị giới hạn bởi khả năng thanh toán của họ. Tuy nhiên, giá cả không phải là yếu tố quyết định duy nhất, cái quyết định ở đây còn là tương quan hợp lý giữa giá cả và chất lượng sản phẩm “tiền nào của nấy”. Người tiêu dùng “hàng hiệu” Hoa Kỳ hay EU sẵn sàng mua những chiếc váy, áo… với giá cao ngất ngưởng, nhưng đó phải là những sản phẩm với chất lượng tốt nhất. Đến với các cửa hàng thời trang ở New York, bạn có thể thấy dân Mỹ sẵn sàng bỏ ra hàng ngàn USD để mua những bộ quần áo của những hãng thời trang nổi tiếng như Dior, Gucci… Để có được điều đó thì các doanh nghiệp dệt may phải làm cho khách hàng nghe và tin vào cái được khi sử dụng sản phẩm. Khi đó thì dù giá cao bao nhiêu cũng thành thấp và ít nhất cũng là “phải chăng”.
Đối với những sản phẩm cùng có chất lượng cao thì những sản phẩm có giá rẻ hơn sẽ hấp dẫn người mua hơn. Người tiêu dùng thường cân nhắc rất kỹ trước khi mua bất cứ một sản phẩm nào. Họ so sánh về mặt chi phí – giá trị sử dụng để có được sự hài lòng cao nhất từ việc sử dụng tiền cũng như thời gian của họ. Vì thế trong kinh doanh hiện đại ngày nay những doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao là các doanh nghiệp có khả năng tìm kiếm các phương thức quản lý hoạt động hiệu quả nhằm giảm chi phí và xây dựng chính sách giá cả hợp lý đối với các sản phẩm của mình.
Giá bán sản phẩm dệt may của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Chiến lược đầu tư của tất cả các doanh nghiệp dệt may trước hết là hướng vào hạ giá thành, điều này cho phép doanh nghiệp cạnh tranh bằng giá cả. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tìm đến tất cả các phương thức nhằm giảm chi phí của các yếu tố đầu vào như: tìm nguồn nguyên vật liệu, phụ liệu rẻ, kỹ thuật tiên tiến, giá nhân công thấp, giảm chi phí ngoài sản xuất…
- Đối với sản xuất phải coi trọng định mức kỹ thuật, tăng năng suất, cải tiến kỹ thuật , tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm thiểu phế phẩm.
Đối với khâu lưu thông sản phẩm dệt may cần phải lựa chọn các phương pháp bảo quản, vận chuyển, bốc xếp hợp lý, không mua bán vòng vèo đẩy chi phí lưu thông lên cao. Đây chính là bộ phận chi phí có thể giảm thiểu được nhiều nhất từ đó hình thành mức giá dệt may xuất khẩu cạnh tranh nhất trên thị trường Hoa Kỳ, EU
- Thứ hai, chất lượng sản phẩm dệt may.
Cũng như nhiều sản phẩm khác, bên cạnh giá cả thì chất lượng sản phẩm dệt may cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu để quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm này trên thị trường. Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng nâng cao. Trước đây, có giai đoạn mà đối với con người thì “đủ mặc” đã là cả một vấn đề nan giải thì hiện này ở phần lớn các quốc gia trên thế giới “mặc đẹp” đã trở thành mối quan tâm chủ yếu của người dân. đặc biệt tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, EU hay Nhật Bản.
Chất lượng của sản phẩm dệt may được hiểu ở đây không chỉ đơn thuần là chất lượng sản phẩm riêng biệt mà là toàn bộ các nhân tố tác động tới quá trình tiêu dùng, sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm. Chất lượng sản phẩm bao gồm các đặc tính của sản phẩm xác định bằng các thông số có thể đo lường được hoặc so sánh được. Một sản phẩm được xác định là có chất lượng khi các thông số của sản phẩm đó phù hợp với các tiêu chuẩn kĩ thuật và thoả mãn được một nhu cầu cụ thể nào đó của xã hội. Người tiêu dùng ngày càng có những đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm. Họ yêu cầu một sản phẩm dệt may có chất lượng thì không chỉ đáp ứng những nhu cầu thiểt yếu của mình mà phải giúp họ thể hiện được giá trị của chính bản thân mình, thể hiện được những điểm mạnh của người mặc chúng. Đối với một sản phẩm có chất lượng cao người tiêu dùng không hề do dự khi bỏ tiền ra mua. Còn nhà sản xuất hoặc người kinh doanh, họ có thể đặt giá cao hơn so với nhưng sản phẩm dệt may của đối thủ, từ đó sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn và đảm bảo chắc chắn hơn khả năng tồn tại và phát triển của sản phẩm và doanh nghiệp trên thị trường trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay khi mà hầu hết hạn ngạch trong lĩnh vực dệt may đã được xoá bỏ. Những yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm dệt may có ảnh hưởng mạnh mẽ tới quyết định của người mua là vẻ đẹp của sản phẩm, sự ích lợi, kiểu dáng hiện đại phù hợp với thị hiếu và an toàn cho người sử dụng.
- Thứ ba, kiểu cách mẫu mã.
Trong thế giới hàng hoá, không có loại hàng hoá nào mà kiểu cách mẫu mã lại quyết định mạnh đến quyết định mua hàng như dệt may. Đời sống vật chất của con người ngày càng nâng cao, “ăn ngon, mặc đẹp” là xu hướng chung của thế giới. Mẫu mã quần áo sẽ đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của con người. Không ai lại không muốn được khoác lên mình một bộ quần áo đẹp. Cũng không ai chấp nhận bỏ nhiều tiền ra để mua được một bộ quần áo có mẫu mã không đẹp hay kiểu dáng lỗi thời. Kiểu cách mẫu mã của sản phẩm dệt may phải đảm bảo phù hợp với tâm lý, lứa tuổi. Nhiều công ty may đã và đang tập trung vào khai thác những phân đoạn thị trường dành riêng cho từng độ tuổi. Thí dụ, hãng thời trang Giorgio Armani chủ yếu cung cấp những sản phẩm dành cho giới trẻ, đặc biệt giới doanh nhân và chính khách trẻ rất ưa chuộng sử dụng sản phẩm của hãng này. Ngoài ra, khi bắt đầu thâm nhập vào một thị trường mới, các nhà xuất khẩu phải chú ý nghiên cứu tập quán tiêu dùng của khách hàng, điều này cũng ảnh hưởng rất lớn tới kiểu dáng mẫu mã của sản phẩm. Không thể áp đặt những nghiên cứu về thị trường Nhật Bản khi muốn thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Song sản phẩm dệt may cũng lại là sản phẩm mà mẫu mã lại thay đổi rất nhanh chóng. Hôm nay đó có thể là một sản phẩm được nhiều người ưa thích, những có thể ngày mai đã trở thành lỗi mốt. Chính vì vậy, hiện nay, các quốc gia sản xuất dệt may đều đang tập trung vào việc đa dạng hoá sản phẩm nhằm nâng cao tối đa tính thích nghi của ngành hàng dệt may đối với sự thay đổi và đặc điểm khác nhau của các thị trường mục tiêu. Trung Quốc là quốc gia tiên phong trong xu hướng này. Các sản phẩm may mặc của Trung Quốc với mẫu mã đa dạng, phong phú đang tràn ngập thị trường dệt may thế giới. Những người có thu nhập thấp vẫn có thể tìm được những bộ quần áo có kiểu dáng đẹp với giá cả phải chăng phù hợp với khả năng thanh toán của họ. Nhưng không phải quốc gia nào cũng có thể làm được như Trung Quốc đang làm. Vấn đề là ở chỗ phải có những chiến lược chính sách đào tạo đội ngũ thiết kế từ khâu nguyên liệu cho tới khi đưa ra một bộ quần áo hoàn chỉnh.
- Thứ tư là, thương hiệu sản phẩm
Bất cứ một sản phẩm nào, kể cả sản phẩm dệt may khi đã có thương hiệu, đã được người tiêu dùng biết tới thì chắc chắn doanh nghiệp sản xuất sẽ thu được nhiều lợi ích. Thương hiệu vì thế trở thành tài sản quý của doanh nghiệp thể hiện uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, trở thành biểu tượng hay hình ảnh của doanh nghiệp. Thương hiệu sản phẩm càng được nhiều người biết tới thì mức độ yêu thích của khách hàng đối với sản phẩm đó càng lớn. Hiện nay, không chỉ tại thị trường nước ngoài mà ở cả thị trường nội địa, một sản phẩm dệt may bắt buộc phải tạo dựng thương hiệu riêng cho mình thì mới có thể tìm được chỗ đứng trong môi trường cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế.
- Thứ năm là, dịch vụ bán hàng.
Ngày nay, việc cung cấp các dịch vụ bán hàng là nhân tố để các công ty có những sản phẩm cùng chất lượng cạnh tranh với nhau. Bên cạnh vấn đề về chất lượng, giá cả, kiểu cách mẫu mã, khách hàng sẽ lựa chọn mua sản phẩm mà họ sẽ được hưởng những dịch vụ tốt nhất, phù hợp với số tiền mà họ bỏ ra.Rất nhiều tập đoàn trong các lĩnh vực khác nhau đã dành được thành công nhờ nguyên tắc khách hàng luôn luôn đúng trong bất kỳ trường hợp nào. Dịch vụ bán hàng thể hiện ở thái độ của nhân viên bán hàng, ở việc giới thiệu sản phẩm tới khách hàng. Quảng cáo hiện là một phương pháp phổ biến được nhiều công ty áp dụng. Thông qua quảng cáo, nhà sản xuất phải giới thiệu với khách hàng những lợi ích của sản phẩm.

