Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. Những thách thức mà công ty chứng khoán còn gặp phải:
Do thị trường chứng khoán còn non trẻ và qua mới mẻ tại Việt Nam, nên các công ty chứng khoán Việt Nam đã gặp không ít những khó khăn trong quá trình thành lập và hoạt động. Có thể kể đến những yếu tố sau:
1. Các công ty chứng khoán thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn
Do tại Việt Nam, thị trường chứng khoán còn qua mới mẻ, nên nghề môi giới, tư vấn và liên quan đến chứng khoán chưa thực sự phổ biến và chưa được đào tạo một cách bài bản: Hầu hết các nhân viên của các công ty chứng khoán đều chỉ được đào tạo về chứng khoán thông qua các lớp cấp tốc hoặc được đào tạo sau khi tuyển dụng. Nguồn nhân lực cao cấp cũng còn rất thiếu. Chính vì thế mà các công ty chứng khoán chưa có được những dịch vụ tư vấn có chất lượng và chưa thực sự tạo được niềm tin ở nhà đầu tư. Hiện nay, cũng chưa có chương trình đào tạo chuyên sâu cho cán bộ lãnh đạo cũng như nhân viên hành nghề kinh doanh CK còn thiếu, chưa theo tiêu chuẩn quốc tế.
Trong năm 2025, do sự ra đời ồ ạt của các Công ty chứng khoán mà tình trạng thiếu nhân viên càng trở nên trầm trọng, các Công ty chứng khoán đua nhau đưa ra các chính sách nhằm thu hút và giữ người tài, việc thay đổi nhân sự liên tục xảy ra.
Có thể nói, nguồn nhân lực có trình độ là một yếu tố quyết định đến sự thành công của các Công ty chứng khoán, trong khi đó, tại Việt Nam,nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của thị trường còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng nên đây là một vấn đề đặt ra với các Công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
2. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp và thiếu tính đồng bộ, thiếu tính ổn định cũng ảnh hưởng đến việc đầu tư mở rộng hệ thống CNTT ngành chứng khoán.
Một trong những điểm yếu của các Công ty chứng khoán tại Việt Nam là yếu tố công nghệ. cũng như yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ, trình độ công nghệ thông tin của các công ty cung ứng dịch vụ chứng khoán của Việt Nam vẫn còn nghèo nàn và lại hậu. Mặc dù trong thời gian gần đây đã có nhiều công ty chú trọng đầu tư vào công nghệ nhưng tình hình vẫn không mấy khả quan do nhiều khó khăn cả chủ quan và khách quan.
Cùng với sự gia tăng đột biến của số lượng tài khoản và khố lượng giao dịch của Thị trường chứng khoán trong năm 2025 và 2026, có thể nói cơ sở vật chất kỹ thuật của các Công ty chứng khoán còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn tới còn xảy ra nhiều sai sót không hay. Hiện nay, ngay cả ở những công ty hoạt động lâu năm,vẫn còn xảy ra tình trạng các trang web của công ty bị nghẽn mạch trong thời gian khớp lệnh khiến việc theo dõi thông tin của khách hàng gặp khó khăn, thậm chí cả việc thông tin bị sai lệch khiến nhà đầu tư mất tin tưởng không dám thực hiện giao dịch qua mạng.
Do việc đổi mới công nghệ cả phần cứng lẫn phần mềm có thể tốn kém đến hàng triệu USD nên chỉ có một số công ty chứng khoán đã đầu tư và thực hiện việc giao dich qua Internet.. Trước đây, phương thức GDTT đã được nhắc tới nhưng không được nhà đầu tư đón nhận nhiều, mà nguyên nhân chính là do sự hạn chế về trình độ tiếp cận Internet của nhà đầu tư và cả việc thiếu lòng tin ở ngay các công ty chứng khoán.Thực tế, việc ứng dụng Internet vào quá trình đặt lệnh mua, bán cho nhà đầu tư đã được nhiều Công ty chứng khoán áp dụng từ lâu, song chưa được nhà đầu tư hồ hởi đón nhận. Một phần là do sự phát triển thiếu đồng bộ trong dịch vụ này. Ví dụ như Công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS), đơn vị đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin vào việc đặt lệnh mua bán đối với nhà đầu tư, khi thực hiện dịch vụ này cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định. Lệnh mua và bán cổ phiếu của nhà đầu tư được thực hiện qua Internet sẽ phải chuyển qua các khâu (như kiểm tra lệnh, kiểm tra số dư tiền hoặc chứng khoán trong tài khoản, chuyển lệnh vào hệ thống trung tâm giao dịch…), với từng bộ phận chuyên trách, nên rất mất thời gian. Để biết lệnh có được khớp hay không, nhà đầu tư còn phải điện thoại lại hỏi công ty.
Ngay cả khi các dịch vụ đã khá hoàn hảo và được các Công ty chứng khoán như APEC, VN DIRECT… triển khai cũng chỉ hấp dẫn được một số ít nhà đầu tư, chủ yếu là những nhà đầu tư không có thời gian lên sàn…. Bên cạnh đó, chi phí cho hệ thống thông tin GDTT khá cao, đặc biệt là việc bảo mật tài khoản của khách hàng. Đó là chưa nói tới chi phí đầu tư cho nhân lực, bởi mỗi công ty sẽ phải xây dựng một tổ hoặc một phòng chuyên nghiệp về hệ thống tin học. Có thể nói, tâm lý của đa số nhà đầu tư trong nước vẫn thích trực tiếp đến công ty để đặt lệnh mua bán, bởi ở đó họ có bạn, có thông tin và có được cảm giác thị trường. Song sự tiện lợi khi GDTT cũng là yếu tố quan trọng khiến không ít nhà đầu tư lựa chọn, nhất là khi dịch vụ này có thể hoạt động đồng thời với dịch vụ đặt lệnh trực tiếp. Giải thích nguyên nhân vì sao nhiều nhà đầu tư đã quan tâm hơn tới GDTT, đại diện một số Công ty chứng khoán cho rằng, có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, do thị trường điều chỉnh giảm quá lâu, ít thông tin hỗ trợ nên giao dịch của nhà đầu tư thụ động, nhiều nhà đầu tư đã chỉ đạt lệnh qua điện thoại, nay có dịch vụ giao dịch trực tuyến nên họ cảm thấy thuận tiện hơn. Thứ hai, Thị trường chứng khoán đang hấp dẫn nhiều Việt kiều và cách đặt lệnh qua Internet là tối ưu khi họ không có mặt tại Việt Nam.
Hình thức GDTT qua Internet đã được ứng dụng phổ biến và được nhà đầu tư đón nhận ở các Thị trường chứng khoán nước ngoài. Vì thế, các công ty chứng khoán đều cho rằng, dịch vụ này sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam trong tương lai gần. Đây cũng được coi là yếu tố để các công ty chứng khoán thể hiện những lợi thế so sánh của mình, đặc biệt là việc đầu tư thiết bị và công nghệ mới cho dịch vụ nêu trên ở công ty chứng khoán mới hoạt động Chính vì thế tới nay cũng chỉ có một số công ty chứng khoán đã đưa dịch vụ này vào hoạt động như công ty chứng khoán Gia Quyền, công ty chứng khoán của ngân hàng ngoại thương VCBS…
3. Sự ra đời ồ ạt của các công ty chứng khoán và khó khăn mà các công ty chứng khoán mới ra đời gặp phải. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Tuy đến nay có tới 60 công ty chứng khoán nhưng đến hơn 60% thị phần nằm trong các công ty chứng khoán lâu đời như SSI, BVSC, ACBS, BSC, VCBS.. nên các công ty ra đời sau gặp phải không ít khó khăn, có thể kể đên như:
Thiếu hụt nguồn nhân sự để phát triển mạnh trở thành những tổ chức kinh doanh CK chuyên nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Phải cạnh tranh gay gắt do thị trường diễn biến thất thường, có xu hướng đi xuống. So với các công ty lâu năm có lợi thế về kinh nghiệm, thời gian hoạt động, vốn, mạng lưới, các Công ty chứng khoán mới thành lập đúng vào thời điểm thị trường đi xuống gặp khá nhiều khó khăn. Đối với những công ty mới đi vào hoạt động, mảng môi giới gặp khó khăn khi số nhà đầu tư mới tăng lên thí ít, số bỏ sàn thì nhiều, việc có được thị phần ở mảng môi giới đã khó, nhưng có thị phần ở mảng tư vấn, tư vấn niêm yết, cổ phần hoá.. lại khó hơn gấp bội do công ty hoạt động chưa lâuu, uy tín và thương hiệu được ít doanh nghiệp để ý.
Việc phát triển mạng lưới khó khăn do xuất phát sau và thị trường Hà Nội, Hồ Chí Minh đang rất hạn hẹp.
Tình trạng mất cân đối thu chi trở nên rõ rệt do chi phí để duy trì hoạt động công ty hàng tháng là rất lớn trong khi lại chưa có được nguồn thu. Chi phí quản lý gia tăng nhanh chóng do chi phí thuê mặt bằng tăng cao khi doanh nghiệp phải thuê những nơi có diện tích sàn theo quy định của ủy ban chứng khoán Nhà nước là từ 150m2 trở lên. Các Công ty chứng khoán hiện nay cũng phải đầu tư thiết lập hệ thống công nghệ tương thích với phương pháp khớp lệnh liên tục. Cuộc tranh giành nhân lực trong ngành đã đưa mức chi trả lương cho nhân viên cũng gia tăng liên tục. Có thể nói chi phí để duy trì hoạt động một Công ty chứng khoán là rất lớn, trong khi đó các Công ty chứng khoán mới đi vào hoạt động lại chưa có nguồn thu ổn định và đáng kể nên việc kinh doanh trong giai đoạn này là một thử thách lớn. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
4. Áp lực cạnh tranh từ các Công ty chứng khoán nước ngoài trong thời gian tới
Theo cam kết khi gia nhập WTO, sau 5 năm nữa Công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài sẽ được thành lập tại Việt Nam và ngược lại. Một mặt, Công ty chứng khoán Việt Nam sẽ có cơ hội bán sản phẩm dịch vụ của mình ra nước ngoài, nhưng áp lực cạnh tranh từ các Công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài cũng là rất lớn dựa trên lợi thế về công nghệ, quy mô vốn cũng như kinh nghiệm hoạt động. Trong tiến trình hội nhập, đàm phán gia nhập tổ chức thương mại Thế giới WTO, Việt Nam cam kết đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, mở cửa thị trường vốn và các dịch vụ tài chính theo hướng thông thoáng nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn, ổn định của hệ thống tài chính và thị trường vốn. Trước ngưỡng cửa hội nhập, theo các cam kết quốc tế, các nhà cung cấp dịch vụ CK trong nước sẽ cạnh tranh vói các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, trong đó không loại trừ khả năng có sự tham gia của các tập đoàn tài chính khổng lồ với bề dày lịch sử hàng trăm năm. Cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ CK có các đặc điểm nổi bật sau đây:
4.1 Về hình thức cạnh tranh
Đầu tiên là cạnh tranh về quy mô hoạt động. Khả năng triển khai hiệu quả và đồng bộ nhiều mảng nghiệp vụ cùng một lúc, đòi hỏ nguồn lực lớn về con người và tài chính là những thế mạnh vượt trội của các tổ chức tài chính nước ngoài và là một thách thức rất lớn đối với các tổ chức kinh doanh dịch vụ Ck của Việt Nam. Thị trường có sự gia nhập của các công ty nước ngoài sẽ làm cho thị phần của các công ty trong nước thu hẹp, quy môi hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ CK đòi hỏi phải tăng lên để củng cố năng lực cạnh tranh.
Thứ hai là cạnh tranh về chất lượng dịch vụ theo chiều sâu, đặc biệt trong lĩnh vực tư vấn tài chính doanh nghiệp. Vấn đề giá dịch vụ là quan trọng nhưng không phải là lý do chủ yếu để các doanh nghiệp lựa chọn nhà tư vấn mà điều họ cần là hiệu quả của dịch vụ tư vấn. Chính vì vậy, chất lượng của dịch vụ có yếu tố quyết định.
Thứ ba là cạnh tranh về phạm vi và địa bàn hoạt động. Hội nhập là cơ hội để cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ CK Việt Nam mở rộng hoạt động ra thị trường nước ngoài, những cũng là thách thức đối với họ khi các tổ chức kinh doanh, dịch vụ CK nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam. Phạm vi và địa bàn hoạt động được mở rộng khiến cho mức độ cạnh tranh sâu rộng hơn. Hiện tại, các nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam đều phải thông qua các tổ chức kinh doanh, dịch vụ CK của Việt Nam như các Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, điều này sẽ hoàn toàn thay đổi khi các Công ty chứng khoán nước ngoài xuất hiện và kinh doanh tại Việt Nam. Mảng thị trường phục vụ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ trở nên vo cùng khó khăn đối với các Công ty chứng khoán Việt Nam Lúc này. yếu tố cạnh tranh không chỉ diễn ra trên thị trường Việt Nam mà còn diễn ra trên cả các thị trường quốc tế để thu hút nhà đầu tư nước ngoài.
4.2 Các đối thủ cạnh tranh. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Các tổ chức tài chính nước ngoài sẽ xâm nhập vào thị trường Việt Nam theo nhiều con đường và phương thức khác nhau. Về hình thức pháp lý, sự tham gia vào Thị trường chứng khoán Việt Nam của các tỏ chức này có thể dưới dạng đặt văn phòng đại diện, mở chi nhánh, thành lập công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài hoặc dưới dạng cung cấp dịch vụ qua biên giới.Quá trình này có thể diễn ra từ từ, sau đó sẽ mở rộng dần về quy mô và phạm vi hoạt động nhưng cũng có thể là một cuộc xâm lấn ồ ạt và mạnh mẽ để giành thị trường, chấp nhận lỗ lớn trong một số năm đầu.
4.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo lĩnh vực hoạt động.
Theo các cam kết mở cửa thị trường tài chính trong hiệp định thương mại Việt Mỹ và bản chào gia nhập WTO của Việt Nam, mức độ cạnh tranh theo từng lĩnh vực hoạt động dịch vụ chứng khoán được các chuyên gia chứng khoán dự báo như sau:
Thứ nhất, trong giai đoạn đầu, dich vụ bảo lãnh phát hành có thể sẽ có mức độ cạnh tranh thấp nhất, do hiện tại chúng ta chưa cam kết mở cửa cho các tổ chức kinh doanh chứng khoán 100% vốn nước ngoài trong lĩnh vực này. Cùng với sự phát triển của thị trường, các hoạt động này sẽ gia tăng và tính cạnh tranh cao hơn. Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động vừa mang tính đầu tư nên gia cạnh tranh sẽ có nhiều khả năng theo hướng tích cực, các tổ chức cung ứng dịch vụ này có thể sẽ kết hợp với nhau để cùng phát triển.
Thứ hai, sự cạnh tranh trong hoạt động môi giới sẽ tiếp tục diễn ra căng thẳng giữa các Công ty chứng khoán do đây là một nghiệp vụ quan trọng và đều được các công ty chú trọng phát triển. Hơn nữa, dù có thể không có sự tham gia của các tổ chức 100% vốn nước ngoài do Việt Nam chưa có cam kết, nhưng các Công ty chứng khoán liên doanh và các Công ty chứng khoán có cổ phần do người nước ngoài nắm giũ sẽ tăng lên làm cho mức độ cạnh tranh càng mạnh trên mọi phương diện.
Thứ ba, cạnh tranh trong các dịch vụ tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính và quản lý danh mục đầu tư sẽ gia tăng mạnh mẽ và có thể sẽ là những dịch vụ có sự cạnh tranh cao nhất. Có thể nói, đây là những dịch vụ đòi hỏi hàm lượng chất xám cao cùng với nhiều kỹ năng chuyên môn nên sự tham gia của các tổ chức nước ngoài thực sự sẽ là một thách thức rất lớn đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán của Việt Nam.
4.4 Đánh giá khả năng cạnh tranh của các Công ty chứng khoán tại Việt Nam
Để có cái nhìn đầy đủ hơn về khả năng cạnh tranh của các tổ chức cung ứng dịch vụ CK Việt Nam chúng ta tiếp tục nhận diện thế mạnh và điểm yếu của các Công ty chứng khoán tại Việt Nam.
- Điểm mạnh: Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Thứ nhất, hiểu rõ về văn hoá, thị trường và môi trường đầu tư Việt Nam. Các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán Việt Nam có quan hệ gần gũi với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Việt Nam và am hiểu văn hoá kinh doanh, văn hoá đầu tư hơn các đối thủ nước ngoài. Mặc dù mức độ chuyên nghiệp hiện tại còn kém nhưng nếu dày công nghiên cứu, đầu tư, chắc chắn các tổ chức cung ứng dịch vụ CK Việt Nam sẽ có cơ hội chiếm lĩnh thị trường trước khi các tổ chức nước ngoài xâm nhập.
Thứ hai, mối quan hệ với các khách hàng truyền thống. Các Công ty chứng khoán Việt Nam hiện đang có một cơ sở khách hàng tương đối ổn định, đặc biệt là các Công ty chứng khoán có sự hỗ trợ mạnh từ các công ty mẹ là các ngân hàng và công ty bảo hiểm. Các Công ty chứng khoán hoàn toàn có thể tận dụng được mạng lưới chi nhánh và khách hàng của các ngân hàng mẹ để khai thác các hoạt động nghiệp vụ. Các Công ty chứng khoán nước ngoài không thể thiết lập được một mạng lưới như vậy trong thời gian ngắn.
Thứ ba, mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức Việt Nam. Chưa kể đến các mối quan hệ cá nhân, chỉ riêng yếu tố là những công ty Việt Nam, do người Việt Nam điều hành hoạt động, các Công ty chứng khoán này đã có lợi thế hơn hẳn trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Để tạo ra được những mối quan hệ như vậy, các Công ty chứng khoán nước ngoài se phải mất một khoản thời gian khá dài.
- Điểm yếu:
Một là, khả năng về vồn. Xét về quy mô, các Công ty chứng khoán của Việt Nam còn quá nhỏ bé so với các tập đoàn kinh doanh CK nước ngoài, thậm chí ngay với cả các tổ chức tài chính trong nước.
Hai là, khả năng chuyên môn. Xét về khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ thì các Công ty chứng khoán của Việt Nam còn yếu kém, gần như đều có quy mô vừa và nhỏ, chưa có chiến lược kinh doanh và phần lớn tụt hậu tương đối xa so với các tổ chức kinh doanh CK nước ngoài.
Ba là, yếu tố công nghệ. Cũng như yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ, trình độ công nghệ của các Công ty chứng khoán Việt Nam vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu. Mặc dù trong thời gian gần đây đã có nhiều công ty chú trọng đầu tư vào công nghệ nhưng tình hình vẫn không mấy khả quan do nhiều khó khăn cả chủ quan và khách quan.
5. Hạn chế còn tồn tại của các Công ty chứng khoán: Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Hạn chế về năng lực tài chính: Xét về quy mô, các Công ty chứng khoán tại Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé so với các tập đoàn kinh doanh chứng khoán nước ngoài, thậm chí ngay với cả các tổ chức tài chính trong nước. Đối với các tổ chức chuyên cung cấp dịch vụ thuần tuý như công ty quản lý quỹ mức vốn hiện tại (25 tỷ đồng) là tương đối, nhưng đối với các Công ty chứng khoán, đây là một bất lợi lớn. Một công ty chứng khoán lớn nhất hiện nay có vốn điều lệ la 1.100 tỷ đồng (SBS) cũng chỉ tương đương với một Công ty chứng khoán nhỏ ở nước ngoài.
Tính đến cuối tháng 12/1006 mới chỉ có 12/55 Công ty chứng khoán có vốn điều lệ từ 100 tỷ trở lên, và tính đến hết tháng 7/2026 con số này là 25/60 công ty có vốn điều lệ từ 100 tỷ trở lên. Mặc dù các Công ty chứng khoán đã không ngừng tăng vốn nhưng phần lớn trong số đó là Công ty chứng khoán trực thuộc các Ngân hàng thương mại, có được sự hỗ trợ về tài chính từ các Ngân hàng như SBS, ACBS, IBS, BSC….
Và một số công ty có kết quả kinh doanh tốt như SSI, BVSC. Các Công ty chứng khoán còn lại có vốn điều lệ khá nhỏ bé so với các Công ty chứng khoán trong nước và là rất nhỏ bé không thể cạnh tranh được với các Công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài. Đặc biệt với các nghiệp vụ đòi hỏi phải có lượng vốn lớn mới được thực hiện như Bảo lãnh phát hành thì các Công ty chứng khoán không có đủ vốn buộc phải đứng ngoài, còn với những công ty có đủ vốn nhưng không nhiều thì sẽ gặp nhiều hạn chế, rủi ro trong khi thực hiện nghiệp vụ này. Do đặc điểm của ngành nghề kinh doanh nên tiềm năng tài chính nhỏ chính là một hạn chế với các Công ty chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là khi chúng ta đang chịu áp lực cạnh tranh từ những tập đoàn tài chính lớn chuẩn bị tham gia vào Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm tới.
- Hạn chế về chế độ kế toán, kiểm toán : Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Hiện nay, vẫn diễn ra tình trạng báo cáo tài chính năm của Công ty chứng khoán được kiểm toán bởi kiểm toán viên không có tên trong danh sách kiểm toán viên được chấp thuận, việc thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về tài chính, nhân sự còn mang tính hình thức, sơ sài, chậm nộp báo cáo tài chính năm được kiểm toán làm ảnh hưởng, tiến độ lập báo cáo tổng hợp đánh giá hoạt động của các Công ty chứng khoán. Chế độ kiểm toán của Công ty chứng khoán, sau một thời gian hoạt động cũng đã bộc lộ nhiều bất cập. Theo chế độ kế toán hiện hành của Công ty chứng khoán, hiện nay không có tài khoản để để hạch toán doanh thu từ dịch vụ tài chính khác. Chính vì vậy, đa phần các Công ty chứng khoán hạch toán doanh thu này vào doanh thu tư vấn đầu tư chứng khoán cho người đầu tư. Một số Công ty chứng khoán lại hạch toán doanh thu này vào doanh thu từ hoạt động bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành.
Trong quá trình hoạt động các Công ty chứng khoán vẫn để xảy ra những sai sót trong quá trình kiểm tra và nhập lệnh dẫn đến sửa lỗi sau giao dịch và bị Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cảnh cáo như công ty VNdirect, SSI, BVSC, BIDV, SBS, ACBS, FSC….Hơn nữa nhiều đại diện của các Công ty chứng khoán bị đình chỉ tư cách đại diện giao dịch do huỷ lệnh giao dịch trong cùng đợt khớp lệnh 2 phiên liên tiếp như đại diện giao dịch của công ty VNDirect, BVSC, ACBS, SBS….
II. Định hướng phát triển các Công ty chứng khoán trong giai đoạn tới. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Để có ưu thế về cạnh tranh xét trên bình diện Quốc gia, chúng ta phải tạo nên sự an toàn, ổn định về an ninh, chính trị, thông thoáng về hệ thống pháp luật và môi trường đầu tư, sự minh bạch công khai về hoạt động kind doanh, nhất là lĩnh vực tài chính. Chính vì vậy, vai trò chủ động và hiệu quả của Chính phủ trong việc tạo lập và thực hiện chính sách vĩ mô thích hợp và hỗ trợ nền thị trường CK nói chung và các công ty Chứng khoán nói riêng là rất quan trọng. Trong thời gian tới Nhà nước cần thực hiện tốt kế hoạch phát triển công ty CK giai đoạn 2025-2030, cụ thể như sau:
1. Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật
Luật CK Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Do vậy, Nhà nước cần thực hiện bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật CK về mức vốn pháp định đối với công ty CK theo đó vốn pháp định để được thực hiện các nghiệp kinh doanh chứng khoán phải được nâng cao dặc biệt là đối với các nghiệp vụ đòi hỏi vốn lớn như Bảo lãnh phát hành, TDCK.
Xây dựng các quy định tiêu chuẩn tối thiểu về kiểm toán đối với pháp nhân góp vốn và kiểm toán tài sản đối với thể nhân góp vốn thành lập công ty CK.
Xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn các Công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ mới, như giao dịch kì hạn chứng khoán, giao dịch vay(vay tiền mua CK và vay CK để bán)…Xây dựng lộ trình tăng vón cho các Công ty chứng khoán đáp ứng yêu cầu của Luật CK.
Sửa đổi văn bản hướng dẫn về thuế, phí và lệ phí đối với công ty CK theo hướng dẫn dần đưa lĩnh vực kinh doanh CK ra khỏi ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư, tăng mức lệ phí cấp giầy phép kinh doanh CK và áp dụng cơ chế trích lập và sử dụng nguồn thu từ lệ phí cấp phép theo hướng gắn trách nhiệm và quyền lợi của người chịu trách nhiệm thẩm định cấp giấy phép và giám sát hoạt động của các công ty CK.
2. Nâng cao quy mô, năng lực và chất lượng dịch vụ cung cấp của các Công ty chứng khoán, áp dụng thông lệ tốt nhất về quản trị công ty Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
- Ban hành và áp dụng Điều lệ mẫu đối với Công ty chứng khoán
- Xây dựng và ban hành bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kinh doanh CK
Xây dựng và áp dụng chương trình đào tạo chuyên sâu cho lãnh đạo và người hành nghề kinh doanh CK của các Công ty chứng khoán nhằm nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho lãnh đạo và người hành nghề tại các Công ty chứng khoán, đảm bảo 100% nhân viên làm việc tại các vị trí thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, nhân viên tiếp xúc trực tiếp hoặc quản lý tiền, CK của khách hàng tại các Công ty chứng khoán phải có chứng chỉ hành nghề CK. Chương trình đào tạo chuyên môn phải được xây dựng thống nhất theo chuẩn mực quốc tế theo từng nghiệp vụ chuyên sâu, tổ chức đào tạo, tổ chức thi sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề CK theo vị trí làm việc chuyên môn.
Khuyến khích các Công ty chứng khoán mở rộng mạng lưới hoạt động trên cơ sở liên kết với các ngân hàng được phép cung cấp dịch vụ lưu ký chứng khoán dưới hình thức đại lý nhận lệnh hoặc phòng giao dịch.
Hoàn thiện hệ thống thanh toán CK thông qua việc yêu cầu các Công ty chứng khoán lựa chọn ngân hàng thanh toán, cung cấp dịch vụ nhận, giữ, quản lý tiền mua CK và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán CK, hỗ trợ khả năng thanh toán CK.
3. Tăng cường công tác quản lý giám sát của các cơ quan quản lý Công ty chứng khoán.
Tăng cường công tác giám sát, thẩm định qua hồ sơ về điều kiện cấp phép KDCK của các tổ chức, cá nhân xin cấp phép. Giám sát trước khi cấp phép kinh doanh CK trên cơ sở thẩm định về trình độ, năng lực, kinh nghiệm làm việc của Tổng Giám đốc các Công ty chứng khoán theo quy định pháp luật, đảm bảo Công ty chứng khoán ra đời và triển khai hoạt động với việc cung cấp dịch vụ có chất lượng cho khách hàng, đảm bảo Công ty chứng khoán có đủ năng lực về tài chính và nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có uy tín mới được triển khai và cung cấp dịch vụ bảo lãnh phát hành CK, tư vấn tài chính và đầu tư CK.
Bổ sung, sửa đổi chế độ kế toán Công ty chứng khoán đảm bảo quản lý hoạt động kinh doanh CK một cách minh bạch, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Nghiên cứu, áp dụng việc giám sát Công ty chứng khoán trên trong quá trình triển khai hoạt động trên cơ sở dựa vào các tiêu chí xác định rủi ro. Đây là mô hình giám sát tiên tiến, hiện đại đang được các nước trong khu vực áp dụng thực hiện. Theo đó, việc giám sát Công ty chứng khoán dựa trên cơ sở kết hợp việc tự đánh giá của các Công ty chứng khoán và việc giám sát của Sở giao dịch chứng khoán và ủy ban chứng khoán Nhà nước.
Công tác giám sát, thanh tra Công ty chứng khoán của ủy ban chứng khoán Nhà nước cần được tổ chức lại theo hướng có Ban chuyên trách thực hiện việc giám sát tuân thủ đối với hoạt động của Công ty chứng khoán và ban cưỡng chế thực thi pháp luật.
Đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ giám sát cho lãnh đạo và chuyên viên các Ban giám sát của ủy ban chứng khoán Nhà nước và của Trung tâm giao dịch chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán.
III. Một số giải pháp phát triển các công ty chứng khoán.
1. Các giải pháp vĩ mô
Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, chứng khoán và Thị trường chứng khoán để tạo môi trường thuận lợi cho các Công ty chứng khoán tại Việt Nam phát triển, cụ thể là một số giải pháp PHCK sau đây:
1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp, chứng khoán và Thị trường chứng khoán.
Hoàn thiện và nhanh chóng đưa luật chứng khoán vào thực tiễn. Luật chứng khoán đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.Do vậy các quan Chính phủ cần khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đưa luật sớm đi vào thực tiễn cuộc sống.
Cần thực hiện, rà soát, bổ sung các văn bản pháp luật, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong việc hoàn thiện các văn bản pháp luật để giảm thiểu sự mâu thuẫn và chồng chéo. Ưu tiên tạo lập cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện các chuẩn mực quản lý, giám sát và tổ chức hệ thống giám sát, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời chú trọng các qui định về tham gia của các bên nước ngoài vào Thị trường chứng khoán vần sớm được hoàn chỉnh.
Ban hành các quy định để tạo cơ sở pháp lý cho các Công ty chứng khoán tái cơ cấu theo hướng tăng quy mô vốn, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng phạm vi và mạng lưới cung cấp dịch vụ, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ chứng khoán. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Theo hướng đồng bộ hoá hệ thống pháp luật điều chỉnh các tổ chức phát hành ra công chúng và các công ty đại chúng, xây dựng hành lang pháp lý cho các công ty, đặc biệt là các quy định liên quan đến công khai minh bạch thông tin, chế độ kế toán, kiểm toán, quy định về quản trị công ty, các quy định về bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư nói chung.
Trên nền tảng đó, nền kinh tế sẽ minh bạch hơn và các công ty niêm yết sẽ thực sự là những doanh nghiệp hàng đầu đại diện cho nền kinh tế, còn các công ty đại chúng khác không đủ điều kiện và tiêu chuẩn niêm yết sẽ giao dịch tại thị trường phi tập trung (TTGDCK Hà Nội). Đồng thời chúng ta cũng cần tăng cường công tác giám sát, thực thi pháp luật đối với các tổ chức có chứng khoán được phát hành và giao dịch rộng rãi trong công chúng.
- Hoàn thiện môi trường thể chế trong lĩnh vực dịch vụ kinh doanh CK
Trong thời gian tới Nhà nước và các cơ quan chức năng cần :
- Nâng cao vai trò quản lý để ngăn chặn hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
- Xây dựng kế hoạch phát triển các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán.
- Hỗ trợ hoạt động và nâng cao vai trò của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán.
- Về lâu dài, cần nâng cao tiềm lực tài chính cho các tổ chức cung ứng dịch vụ chứng khoán, tạo điều kiện cho các Công ty chứng khoán mở rộng phạm vi hoạt động.
- Hiện đại hoá hệ thống công nghệ thông tin trên cơ sở đồng bộ và thống nhất giữa Sở GDCK và Trung tâm giao dịch chứng khoán và các thành viên là các tổ chức cung ứng dịch vụ kinh doanh CK
- Nâng cao trình độ chuyên môn của các nhân viên hành nghề kinh doanh chứng khoán.
- Xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn về quản trị doanh nghiệp đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ kinh doanh chứng khoán.
Hoàn thiện hệ thống luật cạnh tranh.
Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống luật cạnh tranh bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống (hay kiểm soát) độc quyền. Tuy nhiên, bên cạnh hai lĩnh vực pháp luật cơ bản này, thuộc về hay liên quan đến pháp luật cạnh tranh người ta còn có thể kể đến nhiều lĩnh vực khác nữa như : Pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá,pháp luật về quảng cáo … Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
1.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động của Công ty chứng khoán.
- Hoạt động môi giới.
Mặc dù hoạt động môi giới đã được các Công ty chứng khoán nâng cao về chất lượng dịch vụ nhưng Nhà nước và các cơ quan có liên quan cần tăng cường hoạt động quản lý, giám sát để hạn chế và cấm Công ty chứng khoán tự ý mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mược danh nghĩa của khách hàng để mua, bán chứng khoán.
Hơn nữa cần tiếp tục thi hành và áp dụng những quy định về cảnh cáo và phạt các Công ty chứng khoán có hoạt động sai trái trong khi thực hiện dịch vụ môi giới để hoạt động này ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn và giúp các nhà đầu tư có thể yên tâm.
- Hoạt động tư vấn đầu tư CK
Cần có những quy định, hướng dẫn rõ rang đối với các hành vi vi phạm và bị cấm trong khi thực hiện các dịch vụ tư vấn đầu tư như:
- Cấm giới thiệu cho khách hàng mua hoặc bán chứng khoán với việc đưa ra dự đoán chắc chắn.
- Cấm khuyến nghị đồng loạt hoặc quá mức đối với nhiều khách hàng mua và bán liên tục một loại chứng khoán trong thời gian nhất định làm ảnh hưởng đến việc hình thành giá một cách công bằng.
- Cấm khuyến nghị khách hàng trong một thời gian liên tục nhất định, mua hàng loạt hoặc mua quá mức vớ mục đích bán chứng khoán mà công ty đang nắm giữ.
Hoạt động tự doanh chứng khoán.
Nhà nước và các bên liên quan cần ban hành Thông tư hướng dẫn Công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và một số nghiệp vụ mới phát sinh như tạo lập thị trường, mua bán chứng khoán có kỳ hạn….Cần có quy định rõ rang về hoạt động tự doanh bao gồm: Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
- Mua, bán chứng khoán cho chính công ty để thu lợi nhuận từ chênh lệch giá.
- Tạo lập thị trường
- Hoạt động giao dịch vừa cho chính công ty, vừa cho khách hàng ( là giao dịch mà Công ty chứng khoán mua hoặc bán CK cho chính mình trong quá trình thực hiện hoạt động môi giới
Ngoài ra cần sửa đổi, bổ sung quy định mới về việc:
- Cấm thực hiện giao dịch mua chứng khoán theo lệnh của khách hàng cùng một ngày với giao dịch bán chứng khoán của chính công
- Nghiệp vụ tự doanh phải thực hiện bằng chính nguồn vốn của công ty hoặc nguồn vốn huy động phú hợp với quy định pháp luật.
- Nghiệp vụ tự doanh phải thực hiện dưới danh nghĩa của công ty, không mượn danh nghĩa người khác, không thực hiện với danh nghĩa cá nhân.
- Cấm cho người khác mượn tài khoản tự doanh
- Cấm tiến hành giao dịch giả, giao dịch mua, bán chứng khoán mà không chuyển dịch quyền sở hữu làm ảnh hưởng tới giá và khối lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường.
- Cấm Công ty chứng khoán thực hiện giao dịch thông đồng, tức là câu kết với người khác mua, bán chứng khoán của nhau nhưng không nắm giữ lâu dài làm ảnh hưởng tới giá và khối lượng chứng khoán giao dịch
- Cấm thực hiện các giao dịch nhằm mục đích lôi kéo, dụ dỗ mua bán để làm công chúng hiểu lầm là việc mua bán loại chứng khoán đó đang diễn ra sôi động, hoặc làm biến động giá chứng khoán.
Ngoài ra cần quy định Công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định khoảng 40% tổng giá trị giao dịch tự doanh để bình ổn thị trường bằng việc mua vào khi giá CK lên và bán ra khi giá chứng khoán giảm nhằm ổn định giá chứng khoán.
- Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Luật chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã mở rong các hình thức bảo lãnh phát hành nhưng cũng cần qui định trong các văn bản hướng dẫn về đảm bảo an toàn cho các Công ty chứng khoán thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán với mục tiêu vừa khuyến khích các công ty tham gia cung ứng dịch vụ bảo lãnh cho một đợt phát hành để huy động vốn cho các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, vừa đảm bảo an toàn tài chính cho các công ty này trong quá trình thực hiện.
Các tổ chức tham gia đợt bảo lãnh phát hành có nghĩa vụ thực hiện vai trò nhà tạo lập thị trường cho loại chứng khoán đã phát hành theo đó hạn mức giao dịch quy định như nêu ở nghiệp vụ tự doanh nhằm mục tiêu ổn định thị trường giao dịch loại chứng khoán đó.
Ngoài ra cần quy định rõ về nghĩa vụ công khai thông tin, nghĩa vụ liên đới trong các hoạt động gian lận liên quan đến phát hành chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh phát hành, xác định giá chứng khoán trên cơ sở tổ chức bảo lãnh phát hành thăm dò nhu cầu về đợt phát hành của các nhà đầu tư lớn.
- Hoạt động quản lý danh mục đầu tư.
Theo luật chứng khoán mới ban hành, có hiệu lực từ 1/1/2026 các Công ty chứng khoán sẽ không phụ trách hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Hoạt động này sẽ được chuyển hẳn sang các công ty quản lý quỹ. Đây là giải pháp khá hợp lý trong tình hình hiện tại vì nó sẽ giảm bớt gánh nặng cho các Công ty chứng khoán đồng thời phù hợp hơn với hoạt động của công ty quản lý quỹ.
Nếu tiếp tục để các Công ty chứng khoán thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư, cần qui định rõ khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư, các công ty phải tuân thủ nguyên tắc tận tuỵ, trung thực và vì quyền lợi của khách hàng, không được lôi kéo hoặc cam kết chắc chắn với khách hàng về mức lợi nhuận tiềm năng mà danh mục đầu tư có thể đạt được và không được sử dụng tài sản của khách hàng để phục vụ lợi ích riêng của mình, hoặc của các nhân viên hoặc lợi ích của bên thứ ba.
2. Một số giải pháp vi mô. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay cần xác định cho một định hướng tốt để đứng vững trên thị trường và phát triển lớn mạnh hơn. Sau đây là một số giải pháp hỗ trợ phát triển kinh doanh tại các Công ty chứng khoán:
2.1 Đào tạo nguồn nhân lực
Thị trường chứng khoán Việt Nam thiếu một đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp, vừa có tri thức, vừa có kinh nghiệm trong lĩnh vực phân tích thị trường, quản lý rủi ro, tư vấn đầu tư. Một đội ngũ như thế phải là sản phẩm của hệ thống đào tạo chính quy, đồng thời phải là sản phẩm của một môi trường tài chính phát triển đến độ chín muồi nhất định. Trong bối cảnh chung đó, đội ngũ những nhà quản lý và nhân viên tác nghiệp của các công ty cũng không là ngoại lệ.
Để đạt được mục tiêu chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình, một yếu tố góp phần tạo nên –đó chính là đội ngũ nhân viên của công ty. Do vậy, ngoài sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng, công ty cần chủ động hơn trong việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ phân tích đầu tư. Theo kinh nghiệm của các công ty chứng khoán nước ngoài thì vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ cần được các công ty chú trọng nhất. Đối với công ty chứng khoán mới đi vào hoạt động thì người ta thường xuyên nhân viên phân tích trước tiên vì chính đội ngũ này có khả năng thu hút khách hàng.
Các Công ty chứng khoán cần phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Chứng khoán (TTNC), Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) trong việc tổ chức đào tạo nguồn nhân lực cho bản thân mình, cho các thành viên thị trường, phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho công chúng đầu tư theo hướng:
Mở rộng hợp tác đào tạo về chứng khoán và thị trường chứng khoán để đáp ứng được nhu cầu phát triển nhanh của thị trường chứng khoán, phù hợp với giải pháp thực hiện chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2030:
“Đa dạng hoá hình thức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng và thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức về thị trường chứng khoán cho công chúng”;
“Hợp tác với các trường đại học, các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo cơ bản và nâng cao kiến thức về thị trường vốn”. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Việc mở rộng hợp tác đào tạo được thực hiện dần từng bước (về môn học, cơ sở đào tạo) trên cơ sở đa dạng hoá dần nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng và yêu cầu của việc cấp phép hành nghề.
Về môn học, cho phép mở rộng đào tạo hành nghề chứng khoán ra bên ngoài cho 2 môn học “Kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán” và “Phân tích và đầu tư chứng khoán”.
2.2 Nâng cao năng lực phân tích
Phân tích thị trường là một nhiệm vụ quan trọng và là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các công ty chứng khoán. Khả năng mở rộng và phát triển công ty phụ thuộc rất nhiều vào uy tín và chất lượng của các dịch vụ cung cấp. Phân tích thị trường là một mũi nhọn cạnh tranh về dịch vụ giữa các công ty chứng khoán. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi mà các công ty chứng khoán mới đi vào hoạt động thì yếu tố để thu hút khách hàng chính là chất lượng dịch vụ mà công ty cung cấp, chất lượng của những nội dung công ty tư vấn cho khách hàng. Đối với bản thân công ty thì các kết quả phân tích trên thị trường cũng là cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Do vậy, các công ty chứng khoán cần phải hết sức quan tâm đến việc phát triển năng lực phân tích trên thị trường của mình.
Để có thể tiến hành phân tích thị trường, các công ty phải dựa trên một số các yếu tố chuẩn về hệ thống chính sách kinh tế, hệ thống pháp luật, hệ thống thông tin thị trường, sự phát triển của hệ thống tài chính, hệ thống ngân hàng, hệ thống các thị trường hàng hoá, và đặc biệt là môi trường kinh doanh. Việc phân tích kinh tế vĩ mô chỉ ra được ảnh hưởng của nền kinh tế nói chung đến thị trường chứng khoán, việc dự đoán diễn biến thị trường sẽ chỉ ra cho công ty thời điểm thích hợp để thực hiện việc mua bán các chứng khoán đó. Khả năng dự đoán diễn biến thị trường phụ thuộc vào khả năng thu thập thông tin, khả năng đánh giá động thái tâm lý nhà đầu tư. Phân tích thị trường là một việc rất phức tạp, vì thế nhân lực của công ty chứng khoán phải có hàm lượng chuyên môn cao, kinh nghiệm phong phú và khả năng nhận định sắc bén.
2.3 Xây dựng chính sách khách hàng. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Khách hàng là nhân tố quyết định hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán. Công ty cần xây dựng chính sách khách hàng toàn diện, hợp lý, đảm bảo vừa giữ vững được số lượng các khách hàng truyền thống và thu hút được thêm nhiều khách hàng tiềm năng. Đối với công ty chứng khoán đầu tư, số lượng khách hàng tuy không phải ít nhưng cũng không phải là ít nhưng cũng không phải là ít những cũng không phải là nhiều so với tiềm năng của công ty. Chính sách khách hàng sẽ trở thành định hướng để công ty triển khai các hoạt động của mình. Trong thời gian vừa qua, do chưa đánh giá đúng về thị trường và khách hàng nên công ty chưa có chính sách cụ thể đối với khách hàng lớn, khách hàng tiềm năng nên chưa khai thác hết được các tiềm năng của thị trường. Trong thời gian tới, công ty cần xây dựng chính sách khách hàng toàn diện, hợp lý dựa trên cơ sở phân loại khách hàng.
Đối với khách hàng là các doanh nghiệp cổ phần hoá và các công ty cổ phần, công ty có thể triển khai rất nhiều các loại hình hoạt động như : Bảo lãnh phát hành, tư vấn, lưu ký…. Bên cạnh đó, cổ đông của những công ty này cũng là các nhà đầu tư tiềm năng mà qua đó Công ty chứng khoán đầu tư có thể thực hiện các hoạt động như : Môi giới, quản lý danh mục đầu tư. Cần phải phân chia nhóm này thành hai loại để tiếp cận. Đối với các công ty cổ phần có đủ điều kiện niêm yết và các công ty đã niêm yết, là những doanh nghiệp có vốn diều lệ lớn, cổ phiếu của họ thường tập trung sự chú ý của các nhà đầu tư. Các cổ phiếu này có mức rủi ro thấp hơn vì thông tin được công bố công khai và minh bạch. Còn các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết thường là những công ty nhỏ, nhưng lại chiếm tỷ lệ khá lớn trong các công ty cổ phần ở nước ta.
Khi thị trường ngoài trung tâm GDCK được đưa vào hoạt động thì các công ty này sẽ trở thành khách hàng tiềm năng của Công ty chứng khoán đầu tư. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Các tổng công ty mạnh là khách hàng lớn và có nhiều tiềm năng về phát hành trái phiếu. Do vậy, thị trường trái phiếu sẽ tập trung rất nhiều ở khu vực này. Đặc biệt, do đặc điểm về mô hình tổ chức, các tổng công ty được thành lập theo QĐ91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ đều có công ty tài chính trực thuộc. Nhiệm vụ của công ty tài chính này là tập trung nguồn vốn chưa sử dụng của các đơn vị thành viên trực thuộc tổng công ty để đầu tư và huy động vốn đầu tư cho các chương trình đầu tư của Tổng công y. Do đó, các công ty này vừa là các nhà đầu tư tiềm năng, vừa là các nhà phát hành trên Thị trường chứng khoán. Để phát triển hoạt động, Công ty chứng khoán đầu tư cần phải định hướng đây là những khách hàng truyền thống và có chính sách cụ thể trong các dịch vụ của mình đối với những khách hàng này.
Các nhà đầu tư là đối tượng khách hàng thường xuyên tạo thu nhập cho công ty.Yêu cầu đặt ra là cần phải thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư đến với công ty. Với đối tượng khách hàng này hoạt động môi giới đang chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của công ty. Đối với các khách hàng lớn thường xuyên có số dư tài khoản và có những giao dịch lớn, công ty nên có sự ưu đãi về mức phí, cung cấp các thông tin cập nhật cho họ. Đối với khách hàng mới, công ty có thể cung cấp thêm những tài liệu về công ty, về thị trường chứng khoán, cần hướng dẫn họ cụ thể các thủ tục để tiến hành.
Nước ta còn quá ít các nhà đầu tư có tổ chức. Trong điều kiện các quỹ đầu tư chưa phát triển, công ty có thể tiếp cận các Tổng công ty. Các công ty tài chính và hệ thống các công ty bảo hiểm. Đây là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác.
Tóm lại, chính sách khách hàng là nhân tố quyết định đến hiệu quả của các hoạt động kinh doanh của Công ty chứng khoán.Vì vậy, việc xây dựng chính sách khách hàng là một cách toàn diện để khai thác tối đa tiềm năng của thị trường là một việc cần thiết. Công ty cần có từng chính sách cụ thể để đáp ứng từng loại đối tượng khách hàng một cách tối ưu nhất.Đó là cơ sở để củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa công ty với khách hàng, nâng cao uy tín và danh tiếng của công ty trên thị trường.
2.4 Tổ chức hội nghị khách hàng Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Công ty có thể định kỳ tổ chức hội nghị khách hàng bởi đây là nơi gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà đầu tư với nhau, giữa các nhà đầu tư với Công ty chứng khoán. Hội nghị khách hàng có lợi cho cả đôi bên : khách hàng và công ty.
Về phía khách hàng, họ sẽ được cung cấp những văn bản pháp lý mới nhất liên quan đến CK và Thị trường chứng khoán, được hướng dẫn thực hiện đúng theo pháp luật về CK và Thị trường chứng khoán, tránh được những sai phạm không đáng có khi tham gia đầu tư trên Thị trường chứng khoán. Tiếp đến, họ có thể được tham khảo những bài phân tích đánh giá của các chuyên gia trong công ty về tình hình Thị trường chứng khoán, tình hình hoạt động kinh doanh của các Công ty niêm yết. Từ đó, giúp,cho các nhà đầu tư có thể đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình đầu tư.
Về phía công ty, đây là một dịp tốt để tăng cường mối quan hệ với các nhà đầu tư giúp cho công ty tiếp cận, tìm hiểu kỹ hơn nhu cầu và thu nhận thông tin ngược chiều từ phía các nhà đầu tư và công chúng. Hơn nữa, thông qua hội nghị khách hàng, công ty còn cho thấy khách hàng là tâm điểm của mọi hoạt động kinh doanh của mình, là mối quan tâm hàng đầu của mình để từ đó khách hàng có niềm tin vững chắc vào công ty.
2.5 Từng bước nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật.
Cơ sở vật chất cũng là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực phục vụ, giảm chi phí và tăng cường hình ảnh, uy tín cho công ty. Trong điều kiện sơ khai của Thị trường chứng khoán, ta chưa thể thấy hết được vai trò của hệ thống cơ sở vật chất. Việc nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết phải được thực hiện là việc hoàn thiện trụ sở chính và các cơ sở vật chất kỹ thuật kèm theo như hệ thống tin học nội bộ, các phòng dành cho nghiên cứu, tin học hoá công tác văn phòng và công tác kế toán. Tiếp đến, là phát triển phần mềm tin học phục vụ cho hoạt động quản lý tài khoản thanh toán với khách hàng. Sau đó, là phát triển hệ thống mạng lưới và nối mạng giữa các trụ sở chính và chi nhánh và các văn phòng giao dịch tiến tới hệ thống “khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh công ty có thể đặt lệnh ở một chi nhánh khác“.
Việc nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật một mặt đảm bảo cho giao dịch được diễn ra nhanh chóng, mặt khác đảm bảo tính khách quan trong việc thực hiện giao dịch. Trong tương lai, khi Thị trường chứng khoán phát triển, thì việc hiện đại hoá hệ thống giao dịch bằng các biện pháp truyền tự động hệ thống công bố thông tin tại Công ty chứng khoán để thay thế hệ thống giao dịch bán tự động hiện nay là điều cần thiết. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Hiện nay ủy ban chứng khoán Nhà nước cũng đang triển khai Đề án phát triển công nghệ thông tin ngành chứng khoán giai đoạn 2025-2030 với những tiêu chí sau đây:
Thứ nhất: Xây dựng chiến lược phát triển công nghệ thông tin hiện đại, phù hợp với các đòi hỏi nhiệm vụ của ngành và có tính khả thi. Chiến lược này được điều chỉnh sau từng năm cho phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường.
Thứ hai: Phát triển mạng lưới truyền thông sử dụng các công nghệ mạng riêng ( Private network) trên nền xương sống của mạng truyền thông Bộ Tài chính hay của VNPT.
Thứ ba: Các chương trình ứng dụng tác nghiệp chính được đặt nền tảng trên một kiến trúc ứng dụng thống nhất, có khả năng trao đổi dữ liệu giữa các cấp và với hệ thống bên ngoài nhanh chóng và chính xác.
Thứ tư: Sự thâm nhập sâu rộng của máy tính vào mọi hoạt động của ngành CK, sử dụng rộng rãi các ứng dụng văn phòng như thư tín điện tử, quản lý văn bản, đưa Internet thâm nhập vào quá trình hoạt động quản lý và điều hành của ngành CK.
Thứ năm: Một cơ cấu tổ chức quản lý công nghệ thông tin có hiệu quả, đảm bảo cung cấp dịch vụ tốt nhất cho các yêu cầu nghiệp vụ. Mô hình cơ cấu phải thông suốt tại các cấp, có chức năng nhiệm vụ rõ ràng của từng bộ phận, quy định quan hệ với các bộ phận nghiệp vụ, có chính sách phát triển rõ ràng.
Thứ sáu: Một thể chế quản lý công nghệ hiện đại bao gồm các quy trình quản lý dự án, quy trình xây dựng và duy trì hệ thống thông tin, các văn bản pháp quy về nghiệp vụ trong điều kiện sử dụng hệ thống thông tin, các bộ mã thống nhất.
Thứ bảy: Chính sách đào tạo toàn diện về tin học, bảo đảm ngành chứng khoán có đội ngũ cán bộ tin học có đủ trình độ nắm bắt, đánh giá và triển khai các công nghệ tiên tiến, có khả năng tiếp quản và vận hành các ứng dụng tiên tiến của CNTT, có kỹ năng duy trì các hệ thống đồng thời có khả năng phát triển các ứng dụng.
Các Công ty chứng khoán cần phối kết hợp với ủy ban chứng khoán Nhà nước nghiên cứu xây dựng chương trình phần mềm áp dụng chung cho các Công ty chứng khoán. Xây dựng và hướng đến thực hiện các chuẩn mực công nghệ thông tin áp dụng cho các tổ chức kinh doanh và dịch vụ chứng khoán. CTCK cần tập trung xây dựng nhân sự cho phòng Công nghệ thông tin để có được những cán bộ IT có năng lực thực sự có thể phụ trách được việc nhận chuyển giao công nghệ từ đối tác cung cấp phần mềm, đồng thời có thể tự phát triển mạng lưới và quản trị được hệ thống công nghệ và hướng tới sẽ thành lập Tổ nghiên cứu và phát triển công nghệ, tổ này có trách nhiệm xây dựng và lựa chọn nhà cung cấp giải pháp công nghệ phù hợp với quy mô phát triển của công ty. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Bên cạnh đó các Công ty chứng khoán cũng cần đầu tư nhiều hơn để xây dựng cơ sở hạ tầng thật tốt cung cấp thông tin đầy đủ cho các nhà đầu tư thông qua các website, bảng điện tử, bảng tin Thị trường chứng khoán tuần, tháng và các phương tiện thông tin khác. Tránh để xảy ra tình trạng rớt mạng gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc tra cứu tài khoản và theo dõi thông tin.
Do lĩnh vực chứng khoán là lĩnh vực mới, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đang trong quá trình hoàn thiện, nên việc xây dựng và khai thác các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý, điều hành cũng gặp những khó khăn nhất định, nhất là trong việc nâng cấp cho phù hợp khi có những thay đổi trong các quy định pháp luật, quy trình nghiệp vụ. Chính vì thế mà các Công ty chứng khoán phải hết sức cố gắng để hoàn thiện tốt hơn cơ sở vật chất kỹ thuật để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
2.6 Nâng cao năng lực về vốn và năng lực quản lý của ban lãnh đạo
Trong 60 Công ty chứng khoán hiện nay, chỉ có hơn 10 công ty có vốn điều lệ từ 200 tỷ trở lên, 13 công ty có vốn điều lệ từ 100 đến 200 tỷ. Hiện nay mới chỉ có SBS có vốn điều lệ 1.100 tỷ là công ty chứng khoán có vốn điều lệ lớn nhất hiện nay.
Năng lực tài chính là cơ sở quyết định để 1 Công ty chứng khoán có thể tham gia cung cấp loại hình dịch vụ theo quy định. Vì thế, các Công ty chứng khoán cần nâng mức vốn điều lệ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về năng lực tài chính. Gần đây đã có 3 Công ty chứng khoán thực hiện thành công việc phát hành cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn điều lệ và đã được giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội là SSI, BVSC và HASECO. Các Công ty chứng khoán tại Việt Nam gần đây cũng đã nhận thức và đã không ngừng tăng vốn và có kế hoạch nâng vốn điều lệ như SSI, BVSC, VCBS.. tuy nhiên vẫn còn những Công ty chứng khoán có vốn quá nhỏ bé như Công ty chứng khoán Việt và Công ty chứng khoán Việt Nam với 9 tỷ, Công ty chứng khoán Tầm nhìn với 12 tỷ. Tuy nhiên việc tăng vốn với các công ty như thế này vẫn là cần thiết do mức quy định về vốn tối thiểu có thể sẽ tăng lên theo yêu cầu hội nhập của nền kinh tế. Các Công ty chứng khoán cần tận dụng mọi cơ hội để thu hút và nâng cao năng lực vốn của mình để có điều kiện hoạt động hiệu quả hơn và có uy tín và vị thế trên thị trường.
Bên cạnh việc tăng quy mô về vốn, các Công ty chứng khoán cũng cần chú trọng đến việc nâng cao năng lực quản lý và lãnh đạo của những người lãnh đạo công ty. Thời gian gần đây, do có quá nhiều Công ty chứng khoán thành lập nên việc thiếu người lãnh đạo có năng lực quản lý và có kinh nghiệm xảy ra phổ biến, việc thay đổi giám đốc cũng là những vấn đề về nhân sự của Công ty chứng khoán. Chính vì thế, để công ty có thể phát triển, Công ty chứng khoán phải hết sức chú trọng vào việc đào tạo bộ máy lãnh đạo theo tiêu chuẩn thế giới, được trang bị những kiến thức cần thiết để lãnh đạo một Công ty chứng khoán, có kinh nghiệm và tầm nhìn để đưa ra chiến lược phát triển phù hợp với công ty của mình.Trong Thị trường chứng khoán tiềm ẩn những rủi ro không lường trước, người lãnh đạo Công ty chứng khoán cần có đủ hiểu biết và kinh nghiệm để đưa công ty vượt qua những giai đoạn thử thách ví dụ như lúc Thị trường chứng khoán trầm lắng.
2.7 Có chiến lược phát triển phù hợp, tạo ra thế mạnh cho công ty của mình
Hiện nay, khá nhiều Công ty chứng khoán thực hiện đầy đủ các mảng hoạt động. Tuy nhiên, khi thị phần ngày càng hạn hẹp thì thay vì thực hiện dàn trải mọi nghiệp vụ thì Công ty chứng khoán có thể xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh chuyên biệt, tạo thế mạnh riêng cho mình như về công nghệ, chất lượng dịch vụ hay đội ngũ nhân viên có chuyên môn và trình độ tại một hay một số mảng dịch vụ nào đó, hướng tới khách hàng mục tiêu để phát triển. Hiện nay phần lớn các công ty thành lập sau đều gặp khó khăn trong việc giành thị phần do các Công ty chứng khoán lâu năm đã chiếm quá nhiều thị trường. Chính vì thế các Công ty chứng khoán cần xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hiệu quả để có thể đứng vững trên thị trường.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó có sự phát triển của các công ty chứng khoán là một xu thế tất yếu góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Chính vì thế Nhà nước, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cũng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để các công ty chứng khoán Việt Nam hoạt động tốt hơn.
Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả các nhà đầu tư lẫn các công ty chứng khoán, chính vì vậy, bằng việc nghiên cứu đề tài này, em hy vọng sẽ góp phần vào việc đưa ra những gợi ý có ích đối với hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam.
Trong tương lai, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ nhanh chóng phát triển và hội nhập được với các thị trường chứng khoán mạnh trên thế giới. Vì vậy ngay từ bây giờ, Nhà nước mà đặc biệt là ủy ban chứng khoán Nhà nước cần phải có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ, quản lý vĩ mô để giúp công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp hơn và có khả năng vượt qua những thách thức, rủi ro của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân các công ty chứng khoán cũng phải củng cố, hoàn thiện và có phương hướng phát triển hiệu quả hơn để có thể vượt qua những khó khăn và góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Qua việc nghiên cứu đề tài này, em đã có được những kiến thức sâu sắc và bổ ích về thị trường chứng khoán mà cụ thể là về các công ty chứng khoán. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, đặc biệt là TS Từ Thuý Anh đã giúp đỡ em tận tình trong việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp có ý nghĩa này. Khóa luận: Giải pháp phát triển các công ty chứng khoán tại VN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam


Pingback: Khóa luận: Thực trạng của các công ty chứng khoán tại Việt Nam