Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng cạnh tranh giữa hàng dệt may Việt Trung, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Cạnh tranh giữa hàng dệt may của Việt Nam và Trung Quốc này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I Ngành dệt may Việt Nam
1 Vị trí và vai trò của ngành dệt may đối với nền kinh tế quốc dân
Ngành dệt may có lịch sử phát triển lâu đời ở nước ta. Tuy nhiên, nó mới chỉ trở thành một ngành sản xuất quan trọng được hơn chục năm nay và việc hoà nhập với thị trường thế giới cũng chậm hơn các nước trong khu vực khoảng từ 15 đến 20 năm. Dù vậy, trong hơn 10 năm qua ngành dệt may xuất khẩu đã trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân với kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng trưởng mạnh mẽ, luôn là ngành xuất khẩu lớn thứ hai chỉ sau dầu khí, và cho tới tháng 9/ 2026 dệt may đã qua mặt dầu khí để trở thành ngành dẫn đầu với giá trị xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2026 là 5,805 tỷ USD. Mặt hàng dệt may đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy tự do hoá thương mại. Mặc dù hiện nay ngành dệt may Việt Nam còn nhiều điểm yếu kém, bất cập nhưng vẫn có ý nghĩa to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Xuất khẩu dệt may góp phần quan trọng làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, dệt may đã mang lại một lợi ích to lớn mà không phải ngành nào cũng có thể làm được đó là góp phần giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ lao động dư thừa ngày càng tăng mạnh của Việt Nam. Hơn 10 năm qua ngành đã thu hút hơn 2 triệu lao động trong cả nước và dự kiến sẽ tăng lên 3,5 – 4 triệu lao động vào 2029.
- Bảng 4: Vị trí của ngành dệt may trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025.
2 Thực trạng ngành dệt may Việt Nam
2.1 Hoạt động sản xuất hàng dệt may xuất khẩu
2.1.1 Sản lượng sản xuất
- Biểu đồ 3: Sản lượng sản xuất những sản phẩm chính
Kể từ năm 2017 tới nay, ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành may công nghiệp phục vụ xuất khẩu đã có những tiến bộ đáng kể. Năm 2019, theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam, năng lực sản xuất hàng dệt kim là 35 triệu sản phẩm. Theo các chuyên gia đánh giá về dệt kim, sau 10 năm đầu tư vào năm 2019 lĩnh vực dệt kim đã có 1.110 máy dệt, khả năng sản xuất đương đương 220 triệu sản phẩm áo Tshirt. Trong cả ngành, sản lượng sợi đạt 85.000 tấn, sản lượng vải đay là 304 triệu m2, sản phẩm may là 400 triệu sản phẩm.
Hiệp định dệt may (ATC) kết thúc năm 2024 cộng với việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2025 cũng đã có những tác động đáng kể đến ngành dệt may Việt Nam. Trong năm này, toàn ngành sản xuất được 260.000 tấn sợi (tăng 205,9% so với năm 2019), 678 triệu m2 vải (tăng 123,0%) và 1.154 triệu sản phẩm may (tăng 188,5%). Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt may chỉ đạt 19.648 tỷ VND. Với giá trị sản lượng như trên ngành dệt may Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc đầu tư vào trang thiết bị, máy móc để nâng cao năng suất phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu trong thời gian tới.
Nhìn chung, ngành dệt may đã có những bước tiến đáng kể. Lượng vải dệt kim sản xuất năm 2025 đạt 150.000 tấn, đáp ứng được 60% nhu cầu, vải dệt thoi là 680 triệu m2, đáp ứng 30% nhu cầu. Trong khi đó sản xuất hàng may mặc đạt 1,8 tỷ sản phẩm không những đã đáp ứng nhu cầu trong nước mà 65% sản lượng là để xuất khẩu.
2.1.2 Năng lực sản xuất, công nghệ
Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã đầu tư một số dây chuyền kéo sợi mới, các máy ghép tự động khống chế chất lượng, ứng dụng kỹ thuật vi mạch điện tử vào hệ thống điều khiển tự động cũng như kiểm tra chất lượng… nhiều sản phẩm giả tơ, giả len và nhiều loại sản phẩm nhân tạo khác đã bắt đầu có uy tín trên thị trường. Trong giai đoạn 2019 – 2024 các trang thiết bị sử dụng trong ngành dệt may đều tăng với tốc độ cao. Trong ngành may, lượng máy móc thiết bị tăng 306,0%, còn ngành dệt tăng 326,1%. Trong khâu dệt kim, do phần lớn máy móc được nhập chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức… thuộc thế hệ máy mới, nhiều chủng loại đã được trang bị một hệ thống máy tính đạt năng suất cao, tính năng sử dụng rộng rãi, nhưng công nghệ và đào tạo chưa tương xứng nên mặt hàng còn đơn điệu, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Do đó, năng lực sản xuất tuy đã được nâng cao nhưng mức sản xuất thực tế vẫn thấp.
Nhìn chung, trình độ sản xuất vẫn trong tình trạng lạc hậu mất cân đối giữa khâu dệt và khâu may. Nhiều sản phẩm của ngành dệt chưa đáp ứng được đầu vào cho ngành may, đặc biệt là may xuất khẩu. Hiện ngành dệt may Việt Nam chỉ có thể đáp ứng 30% nhu cầu nguyên phụ liệu. Vì vậy, ngành dệt may Việt Nam cần phải đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ tạo sự đồng bộ giữa khâu dệt và khâu may. Có như vậy mới tạo ra được những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của ngành dệt may từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thị trường trong nước và quốc tế.
2.1.3 Cơ cấu sản phẩm
Trong những năm gần đây, cơ cấu sản phẩm dệt may đã có nhiều thay đổi. Các sản phẩm dệt may đã dần được đa dạng hoá. Có rất nhiều sản phẩm trước đây chưa từng có, nay đã trở thành phổ biến ở nhiều doanh nghiệp như một số sản phẩm sợi, hàng dệt thoi, hàng dệt kim, các sản phẩm may mặc và các loại phụ liệu. Trong đó, hàng may mặc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu. Nguyên nhân cũng dễ hiểu bởi vì ngành may mặc được đầu tư khá nhiều về máy móc, trang thiết bị cũng như các yếu tố khác, trong khi ngành dệt lại thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ công nhân có tay nghề. Danh mục hàng dệt may chủ yếu hiện nay là: áo sơmi, áo jacket, quần jean, quần áo thể thao, quần áo trẻ em…Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu được 10,6 triệu cái áo sơmi, 22,6 triệu cái quần… sang Trung Quốc. Ngoài những mặt hàng xuất khẩu truyền thống, đầu năm nay chủng loại mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bổ sung thêm khá nhiều mặt hàng mới như: áo dài Việt Nam, áo bà ba, quần áo dành cho lễ hội hoá trang… Mặc dù khối lượng và kim ngạch xuất khẩu của các chủng loại mặt hàng này còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam nhưng đây sẽ là tín hiệu tốt sẽ mở ra nhiều cơ hội đối với ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, theo đánh giá của các đối tác nước ngoài, hàng dệt may của Việt Nam khá phong phú về chủng loại song chính sự phong phú này đã làm cho chất lượng của các loại hàng đó chưa được đồng đều. Nhiều mặt hàng còn hạn chế về kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc do thiếu công nghệ cũng như thiếu đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp. Mặt khác, do hạn chế về vốn và sự yếu kém của hoạt động Marketing nên các loại hàng dệt may của Việt Nam chưa thích ứng được với sự thay đổi liên tục của thời trang thế giới dẫn tới hàng dệt may của Việt Nam thường bị lỗi mốt, dù chất lượng cao, giá hạ nhưng vẫn không bán được.
2.1.4 Tình hình tiêu thụ nguyên phụ liệu
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhưng hiện nay ngành này gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài khi gần 70% nguyên phụ liệu dệt may của Việt Nam phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Theo thống kê, trong tháng 7/2026, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may gồm bông, sợi, xơ tăng 32% so với cùng kỳ năm 2025, đạt trên 200 triệu USD. Tháng 6 đạt 250 triệu USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm 2025. Hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt thoi. Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngành công nghiệp dệt may đang lệ thuộc rất nhiều vào nước ngoài. Đây chính là nguyên nhân khiến hầu như các công ty dệt may của Việt Nam đều chấp nhận làm gia công cho đối tác nước ngoài dù lợi nhuận thấp nhưng bù lại họ sẽ được cung cấp kịp thời đầy đủ nguyên phụ liệu từ đó sản xuất của doanh nghiệp sẽ ổn định hơn.
Thực ra thì không phải là Việt Nam không sản xuất được nguyên liệu. Năm 2025, về nguyên liệu, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã sản xuất được 10.000 tấn xơ bông (đáp ứng 5% nhu cầu), 50,000 tấn xơ sợi tổng hợp (đáp ứng 30% nhu cầu), 260.000 tấn sợi xơ ngắn(đáp ứng 60% nhu cầu). Về sản xuất dệt nhuộm, đã sản xuất được 150.000 tấn vải dệt kim (đáp ứng 60% nhu cầu), 680 triệu m2 vải dệt thoi (đáp ứng 30% nhu cầu). Nói chung, về cơ bản, nguyên phụ liệu nội địa có thể đáp ứng đến 70% nhu cầu sản xuất, nhưng do yêu cầu về thành phẩm của đối tác nước ngoài cao, nguyên phụ liệu Việt Nam chưa đáp ứng được nên phải nhập từ nước ngoài.
Thực chất, không có quốc gia sản xuất dệt may nào có thể tự túc được về vấn đề nguyên phụ liệu, tất cả các nước đều phải nhập khẩu, kể cả Trung Quốc vì nhu cầu trên thế giới rất đa dạng, không thể cùng lúc đáp ứng được. Vấn đề là phải tập trung nội lực phát triển sâu mạnh, có định hướng vào loại nguyên liệu nhất định nào đó để nó có thể trở thành nguồn cung cấp chính cho thị trường.
Hiện nay, ngành dệt may đã đưa ra dự án xây dựng trung tâm nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày. Trung tâm này được đặt tại tỉnh Bình Dương, gồm có trung tâm giao dịch và kho ngoại quan nguyên phụ liệu dệt may, da giày. Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), khi Trung tâm này đưa vào hoạt động sẽ tháo gỡ được vấn đề khó khăn lớn nhất đối với ngành dệt may cũng như da giày, sẽ đáp ứng được nhu cầu cho khoảng 1.700 đơn vị sản xuất của ngành dệt may và da giày ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, thay vì chỉ tập trung vào xây dựng nhà máy dệt, các doanh nghiệp dệt Việt Nam nên chú trọng vào đầu tư khâu thiết kế sản phẩm dệt, tạo thương hiệu riêng cho dệt Việt Nam. Ngoài ra, Chính phủ cũng cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp dệt nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để giúp dệt Việt Nam tiếp cận công nghệ hiện đại thế giới.
2.1.5 Tổ chức sản xuất
Trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại là một sự kiện quan trọng trong ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên các nhà sản xuất Việt Nam sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt hơn không chỉ trên thị trường thế giới mà còn ở ngay chính trên thị trường nội dịa. Để thích ứng với hoàn cảnh mới, ngành dệt may phải cải tiến hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho có khả năng cạnh tranh cao mới có thể giữ vững được thị trường trong nước tiến tới tiếp cận các thị trường xuất khẩu lớn như: Hoa Kỳ, EU…
Hiện nay Việt Nam có 2019 DN hoạt động trong lĩnh vực dệt may. Trong đó DN tư nhân và công ty cổ phần chiếm số tỷ trọng lớn nhất là 74,5%, tiếp đó là DN FDI chiếm 25%, các DNNN chiếm tỷ trọng thấp nhất chỉ đạt 0,5%. Trong xu thế cổ phần hoá các DNNN, các công ty cổ phần ngày càng tăng về số lượng. Mặc dù thời gian đầu còn gặp nhiều khó khăn do phải thay đổi cách thức tổ chức sản xuất từ việc dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước nay chuyển sang kiểu “tự cung tự cấp” nhưng các công ty cổ phần dệt may vẫn đứng vững trên thị trường nội địa, nâng cao lượng hàng dệt may xuất khẩu ra nước ngoài. Chúng ta có thể nói tới các DN tư nhân và các công ty cổ phần dệt may lớn tại thị trường Việt Nam như: Ninomaxx, Việt Tiến, FOCI, công ty thời trang Xanh cơ bản (Blue Exchange), Dệt may Thành Công, May Nhà Bè…
Về thu hút đầu tư nước ngoài tính tới nay có khoảng 888 dự án liên quan đến xơ, sợi, vải, dệt kim, may mặc, phụ liệu… với số vốn pháp định vào khoảng 2,1 tỷ VND trong đó có rất nhiều dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động trực tiếp và gián tiếp.
- Bảng 5: Doanh nghiệp dệt may toàn quốc theo loại hình sở hữu năm 2025
Xét về mức độ phân bố theo địa phương thì phần lớn các doanh nghiệp dệt may tập trung ở TP Hồ Chí Minh và vùng phụ cận với khoảng 1400 doanh nghiệp, tiếp theo là Hà Nội và vùng phụ cận với khoảng 300 doanh nghiệp, đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung đều có khoảng 70 doanh nghiệp ở mỗi vùng, số doanh nghiệp dệt may còn lại tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long với 30 doanh nghiệp. Tp Hồ Chí Minh và vùng phụ cận là trung tâm kinh tế của đất nước nơi tập trung rất nhiều các khu công nghiệp thu hút hàng vạn lao động, điều đó giải thích tại sao phần lớn các doanh nghiệp dệt may lại tập trung tại đây. Trong khi đó, đồng bằng sông Cửu Long, nơi từ trước tới nay vẫn được biết tới như vựa lúa của đất nước, có số lượng doanh nghiệp dệt may thấp nhất trong cả nước.
Nếu phân chia doanh nghiệp dệt may theo ngành sản xuất thì hiện nay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc chiếm số lượng lớn nhất với 1446 doanh nghiệp. Có thể nói ngành may mặc của Việt Nam ngày càng phát triển chỉ trong vòng 4 năm kể từ 2021 tới 2024 số lượng doanh nghiệp may mặc đã tăng gấp hơn 2 lần từ 659 lên tới 1446 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp hoạt động trong ngành kéo sợi là 96 doanh nghiệp, dệt thoi có 382 doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt không thoi có số lượng ít nhất là 6 doanh nghiệp chủ yếu là do công nghệ để sản xuất trong lĩnh vực này còn mới nên ít doanh nghiệp ở Việt Nam đưa vào sử dụng. Ngoài ra do có những chính sách đầu tư nhất định nên số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt kim đã tăng từ 54 doanh nghiệp năm 2021 lên 100 doanh nghiệp năm 2024
- Bảng 6: Thống kê doanh nghiệp theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh năm 2024
Hiện tại, sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất khẩu theo 3 phương thức chính:
Hình thức gia công xuất khẩu: Đây là hình thức phổ biến nhất đối với ngành dệt may, 80% hàng may mặc xuất khẩu là gia công cho các nước Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ… Thực chất đây là hình thức nhập nguyên phụ liệu, thậm chí cả kỹ thuật của nước ngoài, thực hiện sản xuất trong nước và sau đó tái xuất khẩu thành phẩm. Mặc dù xuất khẩu sản phẩm dưới hình thức này đem lại lợi nhuận thấp do giá gia công thường rất rẻ nhưng nó sẽ có ích đối với các doanh nghiệp ổn định sản xuất đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, ít kinh nghiệm xuất khẩu hoặc không có đủ khả năng tài chính để mua nguyên phụ liệu. Bên cạnh đó, gia công xuất khẩu cũng gây ra tâm lý ỷ lại của các doanh nghiệp. Chúng ta sẽ không có điều kiện phát triển ngành sản xuất trong nước, đặc biệt là ngành trồng dâu nuôi tắm, trồng bông hay không sáng tạo trong việc thiết kế mẫu mã sản phẩm mà chỉ dựa trên các mẫu mã có sẵn mà phía nước ngoài cung cấp.
Hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm: Hình thức này ngày càng được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Các doanh nghiệp này nhập khẩu nguyên phụ liệu như vải, sợi, phụ liệu cho hàng may mặc từ nước ngoài sau đó tự tổ chức sản xuất, khi hoàn thành sẽ tự tìm thị trường tiêu thụ. Hàng sản xuất ra sẽ mang nhãn hiệu sản xuất tại Việt Nam. Hình thức này khắc phục được một số nhược điểm chủ yếu của gia công xuất khẩu như: sản phẩm đưa ra thị trường nếu gặp thuận lợi giá cả hàng hoá cao sẽ thu được lợi nhuận lớn, phát huy được năng lực sáng tạo của người lao động trong việc thiết kế sản phẩm, tạo được tên tuổi uy tín trên thị trường thế giới, góp phần phát triển mạnh mẽ ngành may mặc Việt Nam. Đồng thời, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài sẽ giúp các sản phẩm dệt may của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của một số thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ… Nhược điểm là việc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ nước ngoài rất tốn kém vì Nhà nước không khuyến khích nhập khẩu mặt hàng nên phải chịu thuế nhập khẩu ở mức cao. Không những thế giá cả của các loại nguyên phụ liệu này thường xuyên biến động không ổn định.
Hình thức sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước dành cho sản xuất hàng xuất khẩu: Đây là hình thức không mới đối với các nước có ngành công nghiệp dệt may phát triển lâu đời như Anh, Pháp, Italia… Tuy nhiên, đối với Việt Nam để thực hiện điều này quả không hề dễ dàng. Tỷ lệ nội địa hoá trong hàng dệt may xuất khẩu đã mặc dù ngày càng tăng nhưng chỉ chiếm vào khoảng 25% sản phẩm. Đảng và Nhà nước đã đề ra chiến lược cùng các doanh nghiệp thực hiện sao cho tới năm 2029 ngành dệt may sẽ đạt tỷ lệ nội địa hoá là 50% – 75%, tăng 50% giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu. So với hai hình thức trên, hình thức này sẽ giúp đất nước tiết kiệm ngoại tệ, sử dụng nguyên phụ liệu nội địa sẽ kéo theo nhiều ngành nghề khác phát triển tạo đà cho sự phát triển của ngành công nghiệp đất nước, từ đó thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó đòi hỏi có sự kết hợp của các Bộ, các ngành và các doanh nghiệp trong nước.
Ba hình thức trên đều có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam. Mỗi hình thức đều có những ưu nhược điểm riêng và nhiệm vụ của ngành dệt may Việt Nam là phải tận dụng những ưu điểm để hạn chế nhược điểm từ đó tạo điều kiện để phát triển ngành dệt may.
3 Phân tích thực trạng về hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Năm 2026 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ 11/1/2026, trong quan hệ thương mại quốc tế, ngành dêt may Việt Nam đã có những thuận lợi mới như thị trường xuất khẩu được mở rộng, một số rào cản thương mại được dỡ bỏ hoặc cắt giảm (hạn ngạch, thuế quan) nhưng sức ép cạnh tranh về mặt hàng, chất lượng, giá cả, dịch vụ thì tăng lên do phải cạnh tranh với nhiều nước có tiềm năng rất lớn về sản xuất và xuất khẩu dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan…
3.1 Kim ngạch xuất khẩu
Qua biểu đồ trên có thể thấy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ngày một tăng từ 1.962 triệu USD năm 2020 tăng lên 5.834 triệu USD năm 2025 và trong vòng 9 tháng đầu năm 2026 tổng xuất khẩu đạt 5.805 triệu USD. Sau khi ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) vào năm 2020 kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam tăng trưởng vượt bậc đạt 40,27% so với năm 2020. Tới năm 2024 tận dụng được điều kiện thuận lợi là các hạn ngạch trong lĩnh vực dệt may được xoá bỏ, Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này và thu được 4.838 triệu USD, tỷ trọng xuất khẩu dệt may chiếm 14,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong vòng 6 tháng đầu năm 2026 kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2026 kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam đạt ở mức khá cao là 5,805 tỷ USD. Khối lượng xuất khẩu hàng dệt may rất lớn đang có mặt tại các cầu cảng trên cả nước. Trị giá xuất khẩu cho những lô hàng thông quan trong những ngày nghỉ dao động từ 4 – 6 triệu USD/ngày, trong những ngày thường trị giá kim ngạch xuất khẩu đặt ở mức rất cao trong nhiều tháng qua. Đơn giá xuất khẩu nhiều lô hàng đạt giá trị cao. Có thể nói, việc gia nhập WTO đã tạo điều kiện cho các sản phẩm dệt may của Việt Nam sẽ dễ dàng hơn khi thâm nhập vào thị trường các nước thành viên.
3.2 Thị trường xuất khẩu chính
- Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam. Cho tới thời điểm này Hoa Kỳ vẫn thể hiện là một mảnh đất màu mỡ đầy tiềm năng đối với xuất khẩu hàng dệt may hiện tại và trong tương lai. Thực ra các doanh nghiệp Việt Nam cũng chỉ mới thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Năm 2014 Hoa Kỳ mới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, từ đó các doanh nghiệp Việt Nam mới bắt đầu làm quen với thị trường này. Nhiệm vụ đặt ra trong thời gian này đối với các doanh nghiệp Việt Nam chỉ là thăm dò thị trường, tìm hiểu những cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường này. Do đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2015 chỉ đạt ở mức thấp 9,1 triệu USD. Đây là một con số không đáng kể so với kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường khác như EU (225 triệu USD), Nhật Bản (248 triệu USD). Tới năm 2019, chúng ta chính thức ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, thuế suất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã giảm 10 lần làm cho kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên tương đối đạt 49,5 triệu USD. Nhưng đến năm 2020 do ảnh hưởng của vụ khủng bố ngày 11/9 làm cho kim ngạch xuất khẩu của nhiều nước vào Hoa Kỳ giảm xuống, trong đó của xuất khẩu của Việt Nam cũng giảm còn 44,6 triệu USD. Với kim ngạch này, năm 2020 Việt Nam xếp thứ 64 trong số các quốc gia xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ. Có thể nói, so với 70 tỷ USD mà hàng năm Hoa Kỳ phải bỏ ra để nhập khẩu sản phẩm dệt may từ khắp nơi trên thế giới thì con số gần 50 triệu USD xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này quả là bé nhỏ. Tới năm 2021, với Hiệp định dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết cùng với ưu đãi tối huệ quốc (MFN) mà Hoa Kỳ dành cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong năm này tăng 2032,29% so với năm 2020 đạt 951 triệu USD chiếm 33,2% tổng kim ngạch hàng dệt may. Với mức gia tăng kỷ lục này thì Hoa Kỳ đã trở thành thị trường nhập khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam, vượt qua EU và Nhật Bản – hai thị trường truyền thống của nước ta trong lĩnh vực dệt may. Mặc dù vậy Việt Nam vẫn chỉ chiếm 0,7% thị phần dệt may tại nước này, đứng thứ 26 trong số các nước xuất khẩu quần áo vào Hoa Kỳ.
- Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ
Năm 2024, Hiệp đinh dệt may ATC hết hiệu lực làm cho kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ có tăng so với năm 2023 nhưng đây là năm có tốc độ tăng thấp nhất kể từ khi Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may sang đây là 5,21%. Nguyên nhân là mặc dù các hạn ngạch về dệt may bị xoá bỏ nhưng chỉ là xoá bỏ cho các nước thành viên của WTO mà lúc này Việt Nam vẫn chưa gia nhập WTO nên vẫn còn 25 mặt hàng dệt may xuất khẩu bị áp đặt hạn ngạch, đồng thời lại phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakishtan, Bangladesh, những nước đã gia nhập tổ chức. Tuy nhiên cho tới năm 2025 sau khi đã thích ứng với thị trường thì xuất khẩu của nước ta lại tăng cao, tăng 16,94% so với năm 2025. Và trong vòng 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ tăng 20,70% so với cùng kỳ năm 2025 đạt 3674 triệu USD.
Ngày 11/1/2026, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới. Thuận lợi đầu tiên đối với ngành dệt may Việt Nam đó là hàng dệt may của nước ta vào Hoa Kỳ sẽ không phải chịu hạn ngạch. Tuy nhiên, các doanh nghiệp chưa kịp mừng đã thấy lo. Các doanh nghiệp Việt Nam được khuyến cáo cần chuẩn bị sẵn sàng đối diện với những rào cản kỹ thuât mới được dựng lên điều mà chính Trung Quốc, ngay sau khi gia nhập WTO vào năm 2021 đã gặp phải. Vào tháng 11/2025 Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã đưa ra cơ chế giám sát 6 tháng một lần đối với hàng dệt may của Việt Nam nhằm xem xét liệu có đủ bằng chứng để điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng này không. Cụ thể hàng tháng, phía Mỹ sẽ khảo sát số lượng, giá cả hàng dệt may Việt Nam xuất sang thị trường này và so sánh với nước thứ ba nhằm đưa ra bằng chứng để điều tra chống bán phá giá. Theo phía Việt Nam, cơ chế này hoàn hoàn không cần thiết nếu không nói là cực kỳ vô lý. Với năng lực hiện tại, Việt Nam chỉ đứng thứ 9 về năng lực xuất khẩu vào các thị trường và đứng thứ 6 về giá trị xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Ngoại trừ Trung Quốc là nước xuất khẩu dệt may lớn nhất vào Hoa Kỳ đang phải chịu chính sách tự vệ còn tất cả các nước xuất khẩu khác lớn hơn Việt Nam vào thị trường này đều không bị bất cứ sự giám sát nào. Với một lượng rất nhỏ (3%) tổng lượng hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ thì Việt Nam không thể tạo được ảnh hưởng xấu và càng không thể là mối nguy cơ cho ngành công nghiệp dệt may nước này. Hiện tại, mức giá bình quân của hàng dệt may Việt Nam vào Hoa Kỳ năm 2025 là 2,96 USD/m2 cao hơn nhiều so với giá bình quân tại thị trường này là 1,79 USD/m2 và cao hơn giá nhập khẩu từ nhiều nước khác nên Việt Nam không thể bị xem là nước có khả năng bán phá giá. Ngoài ra, 5 mặt hàng dệt may của Việt Nam có nguy cơ bị giám sát chặt chẽ là: áo sơmi, áo thun len, quần dài, đồ bơi, đồ lót hiện đang chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Hoa Kỳ, lại là những mặt hàng chủ yếu được nhập khẩu mà Hoa Kỳ rất ít sản xuất. Việc bị điều tra chống bán phá giá đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam. Theo Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex), trong những tháng đầu năm 2026 do lo ngại Hoa Kỳ áp dụng cơ chế giám sát với hàng dệt may Việt Nam dẫn đến nguy cơ hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đã rút hợp đồng làm cho các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Không những thế, giới phân tích còn lo lắng nếu phía Mỹ không kịp thời tháo gỡ sự áp đặt vô lý này sẽ dẫn đến tình trạng các nhà xuất khẩu khó đạt được chỉ tiêu 7,35 tỷ USD trong năm 2026 với thị trường Mỹ trong khi thị trường này chiếm tới 55% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Điều này sẽ dẫn tới tình trạng hàng triệu lao động ngành dệt may bị mất việc.
Để đối phó với cơ chế giám sát của Hoa Kỳ, tránh trường hợp bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng dệt may xuất khẩu, Việt Nam đã chủ động giám sát hàng dệt may xuất khẩu ngay từ trong nước. Một biện pháp điển hình là áp dụng Giấy phép tự động (E/L) để tự giám sát hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ đối với 14 cat hàng nóng. Và trong 3 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng của các cat này không cao, chỉ đạt 10 – 30%, trong khi nhiều mã hàng khác đang có dấu hiệu giảm. Thực tế này khiến cho Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) cho rằng việc áp dụng E/L đối với những cat hàng nóng là không cần thiết. Và vào ngày 22/6/2026, Bộ Công Thương đã bãi bỏ giấy phép tự động (E/L) đối với xuất khẩu hàng dệt may, xây dựng cơ chế quản lý, giám sát hàng dệt may xuất khẩu theo phương pháp “hậu kiểm” nhằm ngăn ngừa các hành vi gian lận thương mại. Nhờ có sự liên kết hành động chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước cùng với các doanh nghiệp đã khiến áp lực đối với ngành giảm, những đơn hàng dệt may của các tập đoàn nhập khẩu lớn từ Hoa Kỳ đang trở lại đặt hàng Việt Nam dù còn khiêm tốn. Nhiều hợp đồng của Hoa Kỳ đã được ký đến hết quý 1/2027 và điều đáng quan tâm là trong những đơn hàng quay trở lại với ngành dệt may Việt Nam, có rất nhiều hợp đồng không thuộc nhóm mặt hàng nằm trong diện bị giám sát từ phía Hoa Kỳ. Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động tìm những mặt hàng mới để xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ chứ không để bị phụ thuộc vào những cat “nóng” vốn được coi là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành dệt may Việt Nam tại thị trường này. Có thể nói tình hình hiện tại là khá khả quan tuy nhiên các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không nên lạc quan quá sớm phía Hoa Kỳ có thể thay cơ chế giám sát bằng hình thức thành lập các đội kiểm tra đột xuất để kiểm tra và xử lý bất cứ lúc nào nếu nghi ngờ hàng dệt may Việt Nam bán phá giá. Chỉ một sai lầm nhỏ cũng có thế gây ra hậu quả nặng nề đối với ngành dệt may nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.
- Liên minh Châu ÂU (EU)
EU là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác thương mại, nhất là xuất khẩu hàng hoá tuy kim ngạch chưa lớn nhưng tốc độ tăng trưởng và phát triển tương đối cao. Danh mục hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngày càng tăng trong đó dệt may là ngành có tiềm năng xuất khẩu lớn thứ hai trong số các mặt hàng công nghiệp chế biến trong nước. EU hiện là thị trường dệt may lớn thứ hai của Việt Nam chỉ sau Hoa Kỳ, trên 17,6% hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là xuất sang EU
Bắt đầu từ khi ký Hiệp định Việt Nam – EU năm 2012 về hàng dệt may thì một thị trường lớn cho hàng dệt may có xuất xứ từ Việt Nam đã được mở ra. Theo Hiệp định này, EU đã dành cho Việt Nam mức thuế quan phổ cập ưu đãi GSP nhằm tạo điều kiện cho hàng dệt may Việt Nam, từ chỗ bị cấm vận đã xuất khẩu vào thị trường EU với tốc độ tăng nhanh từ 38 – 40%/năm
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU trong tháng 6/2026 đạt 152 triệu USD, tăng 28% so với tháng trước. Đây là mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU cao nhất từ đầu năm tới nay và tăng 15% so với tháng 6/2025. Tính chung trong vòng 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đạt 644 triệu USD, tăng hơn 17% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tốc độ tăng trưởng này vẫn được duy trì trong những tháng tới thì kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU trong cả năm 2026 sẽ đạt 1,5 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2025.
Trong 6/ 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tại các thị trường chính như Đức, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan… tăng cao. Kim ngạch xuất khẩu sang Đức đạt 38 triệu USD, tăng 51% so với tháng 5, xuất khẩu sang Anh đạt 22,7 triệu USD, tăng 41%, xuất khẩu sang Tây Ban Nha tăng 12%, đạt 18 triệu USD. Tuy xuất khẩu sang hai nước thành viên mới là Bungari và Rumani vẫn còn thấp nhưng kim ngạch xuất khẩu có tăng hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu sang Rumani tăng tới 84% so với nửa đầu năm ngoái đạt 4,4 triệu USD.
Nhìn chung, trong nửa đầu năm nay xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang hầu hết các nước thành viên của EU đều tăng khá so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu phổ biến từ 15 – 20%. Chỉ có một vài thị trường có kim ngạch xuất khẩu giảm như:
- Xuất khẩu sang Pháp chỉ đạt 66,5 triệu USD, giảm 6% so với nửa đầu năm 2025.
- Xuất khẩu sang Ba Lan giảm 1% đạt 8,7 triệu USD
- Xuất khẩu sang Phần Lan giảm 34%, đạt 2,3 triệu USD
- Xuất khẩu sang Slovakia giảm 23%, đạt 2,1 triệu USD
Trong số các mặt hàng dệt may xuất khẩu sang EU thì quần là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất trong nửa đầu năm nay, đạt 111 triệu USD, tương đương với 22,6 triệu cái, tăng 19% về lượng và 20,6% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Đơn giá xuất khẩu trung bình mặt hàng quần của Việt Nam sang EU trong nửa đầu năm nay chỉ đạt 4,94 USD/cái, tăng nhẹ 0,88% so với năm ngoái. Xuất khẩu áo jacket của Việt Nam sang EU đang khá thuận lợi về giá, mặc dù khối lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng không nhiều. Tăng trưởng khối lượng xuất khẩu áo jacket của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm chỉ gần 6%, nhưng tăng trưởng về giá trị xuất khẩu đạt tới 18% do đơn giá xuất khẩu trung bình mặt hàng này của Việt Nam sang EU đã tăng gần 12%, đạt trung bình 15,06 USD/cái. Như vậy, trong năm 2025 khối lượng xuất khẩu áo jacket của Việt Nam sang EU giảm, thì trong 6 tháng đầu năm 2026 mặt hàng này đã lấy lại tiến độ, mặc dù mức độ tăng trưởng vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu tích cực đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU, đặc biệt là vào mùa xuất khẩu cao điểm.
- Nhật Bản
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS), Nhật Bản hiện là một trong những thị trường nhập khẩu hàng dệt may rất lớn, chiếm 13,4% thị phần dệt may toàn thế giới. Số liệu 7 tháng đầu năm nay cho thấy, xuất khẩu dệt may sang Nhật Bản tăng trưởng khá, đạt 389.472.316 USD, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện nay, phía Việt Nam đang tiến hành đàm phán Hiệp định kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, trong đó có đề cập tới quy tắc xuất xứ hàng dệt may. Theo quy tắc này phía Nhật yêu cầu Việt Nam phải nâng cao tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm dệt may, hạn chế nhập khẩu nguyên phụ liệu nước ngoài. Đại diện Bộ Công thương cho biết, đến thời điểm hiện tại, Nhật Bản đã đạt được tiêu chí xuất xứ với mặt hàng dệt may trong EPA với 6 nước ASEAN (gồm Singapore, Malaisia, Philippines, Indonesia, Brunei và Thái Lan), và các nước này đã được xoá bỏ thuế quan xuống 0%.
Ngành dệt may nước ta mặc dù đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhưng tới 80% nguồn nguyên phụ liệu vẫn đang phải nhập khẩu, mà chủ yếu từ các nước ngoài ASEAN như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông. Theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam, nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Nhật Bản chỉ chiếm 10% còn tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập từ các nước ASEAN còn thấp. Dự kiến đàm phán EPA sẽ được kết thúc vào cuối năm 2027. Khi EPA có hiệu lực, trong trường hợp 10% kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc của Trung Quốc được thay thế bằng kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường Nhật Bản, người ta tính ra rằng: kim ngạch xuất khẩu mặt hàng áo dệt kim của nước ta sang Nhật Bản sẽ đạt 1.299 triệu USD, tăng khoảng 279%, và kim ngạch xuất khẩu quần áo từ vải dệt thoi sẽ tăng hơn 9 lần, đạt 1.027 triệu USD. Tuy nhiên để đạt được kết quả như vậy, ngành dệt may trong nước phải tăng tốc vì với tình hình đầu tư cho ngành dệt như hiện nay thì phải mất 5 đến 10 năm chúng ta mới có thể nội địa hoá được nguồn nguyên vật liệu. Và nếu Việt Nam không đáp ứng quy tắc xuất xứ do Nhật Bản đề ra, thì rất có thể thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại thị trường này sẽ giảm do phải chịu thuế cao, đồng thời lại chịu sự cạnh tranh với hàng hoá từ Trung Quốc và 6 nước ASEAN.
Trước tình hình này, một giải pháp nhằm tăng thị phần hàng dệt may Việt Nam tại thị trường Nhật Bản đó là sử dụng quy tắc cộng gộp ASEAN – Nhật Bản, bằng cách sử dụng nguyên liệu dệt (vải) từ các nước ASEAN hoặc từ Nhật Bản để sản xuất. Theo các chuyên gia thương mại, nếu thực hiện phương án này, Việt Nam sẽ đáp ứng các tiêu chuẩn phía Nhật đưa ra, và hàng dệt may Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất nhập khẩu là 0%. Nhờ đó sẽ giúp hàng dệt may Việt Nam sẽ cạnh tranh được với các sản phẩm không chỉ từ các nước ASEAN khác mà còn từ Trung Quốc về giá cả (do hàng Trung Quốc không được giảm thuế). Hơn nữa, việc thực hiện quy tắc cộng gộp còn thúc đẩy phát triển nguồn nguyên liệu trong ASEAN và Nhật Bản, tăng cường quan hệ hợp tác trong ASEAN.
Đặc biệt, nó sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn cho ngành dệt may nước ta, tăng thị phần trên thị trường Nhật, tạo nhiều việc làm mới và thu hút đầu tư của Nhật vào ngành dệt may nước ta, từ đó tăng cường tính cạnh tranh toàn cầu của hàng dệt may Việt Nam. Mặc dù vây, các chuyên gia khuyến cao điều quan trọng nhất là các doanh nghiệp trong ngành phải tính toán kỹ càng và nêu lên được ý kiến cụ thể rút ra từ chính thực tiễn hoạt động của mình để Việt Nam có thể đạt được những thoả thuận tối ưu sau đàm phán EPA.
4 Phân tích ưu và nhược điểm của ngành dệt may Việt Nam
4.1 Ưu điểm.
Với số dân trên 85 triệu người, trong đó tỷ lệ nữ giới lại rất lớn, đó là đội ngũ rất phù hợp cho ngành dệt may, một ngành đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, cần mẫn. Người dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam nổi tiếng là những người siêng năng chuyên cần, nhanh nhẹn tháo vát, thông minh, có kỷ luật, có khả năng tiếp thu kỹ thuật công nghệ nhanh. Người công nhân Việt Nam có tay nghề tốt, có khả năng may các sản phẩm có độ phức tạp cao.
Giá lao động rẻ hơn nhiều nước vào khoảng 3 USD/giờ (thuộc loại thấp nhất trong khu vực). Chi phí đầu tư thấp nhờ có sẵn nhà xưởng cho thuê với giá rẻ của Nhà nước và tiếp cận được nhiều chủng loại thiết bị cơ bản không đắt tiền mới cũng như đã qua sử dụng của một số nước làm chi phí sản xuất dệt may của Việt Nam thấp (0,08 USD/phút) hơn mức bình quân là 0,13 USD bằng chi phí sản xuất của Bangladesh thấp hơn so với Trung Quốc (0,09 USD).
- Có một thị trường tiêu thụ các sản phẩm dệt may rộng lớn do dân số đông.
- Ngành may mặc khá phát triển, thết bị được đổi mới và hiện đại hoá tới 90%. Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, bán lẻ lớn trên thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.
- Đất nước ổn định, an toàn, đang trên đà phát triển và hội nhập.
4.2 Nhược điểm.
Thiếu công nhân cục bộ tại các thành phố lớn. Mối quan hệ lao động, tiền lương đang có chiều hướng phức tạp. Thiếu lao động trung, cao cấp về công nghệ, thương mại và quản trị.
May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, thiết kế mẫu mốt còn kém, tỷ lệ làm hàng FOB thấp (tự mua nguyên vật liệu và bán thành phẩm), hiệu quả chưa cao do không chủ động được nguyên phụ liệu. Phần lớn doanh nghiệp chưa xây dựng được thương hiệu.
Năng lực cạnh tranh quốc gia còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thấp so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may còn yếu. Hàng may mặc của Việt Nam được các khách hàng trong và ngoài nước biết tới là sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên chúng ta lại thua một số đối thủ khác, ví dụ như Trung Quốc về mẫu mã, kiểu dáng, giá cả. Mẫu mã sản phẩm và cơ cấu mặt hàng của nước ta còn nhiều bắt cập, mới chỉ tập trung ở những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật không cao như: áo sơmi, jacket, quần áo thể thao… chứ chưa sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao như veston… Bên cạnh đó, giá cả hàng dệt may của chúng ta lại cao hơn so với nhiều nước khác. Hầu hết các chủng loại hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu đều có giá cao hơn 5 – 7%, thậm chí 10% so với các đối thủ như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh. Nếu không nhanh chóng điều chỉnh những yếu tố này thì hàng may mặc của Việt Nam rất khó tìm được chỗ đứng trên thị trường trong điều kiện tự do cạnh tranh như hiện nay.
Ngành công nghiệp phụ trợ còn yếu nên ngành dệt may Việt Nam gần như phụ thuộc vào thị trường thế giới cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Việt Nam không hề có nguồn cung cấp nguyên phụ liệu tại chỗ, trên 70% nguyên phụ liệu dệt may phải nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó, đa số các đơn hàng thực hiện dưới hình thức gia công, phụ thuộc vào khách hàng từ khâu thiết kế đến thị trường dẫn tới giá trị gia tăng rất thấp.
- Giá thành sản xuất cao do cơ sở hạ tầng chưa tốt, cước vận tải, giá điện, nước, điện thoại, internet… cao hơn các nước khác.
- Thiếu khả năng cung cấp các dịch vụ trọn gói.
II Ngành dệt may Trung Quốc
1 Một số nhận định về ngành dệt may Trung Quốc kể từ khi nước này trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Trong những năm gần đây Trung Quốc được coi là một hiện tượng của nền kinh tế thế giới. Về một mặt nào đó, Trung Quốc gần như đứng sau tất cả những thay đổi có liên quan đến kinh tế toàn cầu. Nhiều quốc gia đã thừa nhận có nhiều hoạt động thương mại của Trung Quốc đang tràn vào nước họ. Nền kinh tế của Trung Quốc không chỉ phát triển tăng tốc một cách rõ rệt, mà nó còn tạo ra những làn sóng làm chao đảo nền kinh tế toàn cầu. Từ năm 2019 cho đến nay, Trung Quốc góp phần tăng trưởng GDP toàn cầu gấp đôi so với 3 quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh là Ấn Độ, Brazil, LB Nga. Các sản phẩm của Trung Quốc có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới với tất cả các mặt hàng đủ mọi chủng loại. Trong số đó đáng chú ý nhất phải kể tới ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc là nhà sản xuất, xuất khẩu dệt may lớn nhất trên thế giới. Ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc không chỉ là nỗi lo ngại đối với công nghiệp may mặc của nhiều quốc gia trong khu vực mà còn là thách thức đối với ngành công nghiệp này trên phạm vi toàn cầu.
Công nghiệp may mặc của Trung Quốc bắt đầu hình thành vào đầu những năm 80. Trong những năm đầu mới thành lập, các công ty may mặc của Trung Quốc chủ yếu sản xuất dưới dạng gia công sản phẩm cho các công ty nước ngoài của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Nhờ đó, ngành dệt may đã giúp đất nước đông dân nhất thế giới giải quyết vấn đề lao động, tạo việc làm cho người dân, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, cách thức sản xuất này cũng có những nhược điểm muôn thủa là giá gia công thấp, mức độ phụ thuộc vào các hãng nước ngoài lớn, các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao cho sản phẩm đều do công ty nước ngoài đảm trách.
Hơn 20 năm sau, khi mà Trung Quốc đã tiến hành cải cách mở của nền kinh tế thì các công ty may của Trung Quốc không chỉ còn làm gia công cho các công ty nước ngoài nữa mà đã tự mình sản xuất ra sản phẩm, đưa sản phẩm mang thương hiệu Trung Quốc tràn ngập khắp nơi trên toàn thế giới. Ngân hàng Thế giới dự đoán kim ngạch xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sẽ chiếm từ 20 – 47% của tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của thế giới vào năm 2029. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, người ta thường nhắc tới sự bùng nổ ngành công nghệ cao của Trung Quốc. Song thực tế, ngành kinh doanh hưởng lợi trực tiếp từ việc gia nhập WTO chính là dệt may. Với quy mô dân số khổng lồ, giá lao động rẻ Trung Quốc có đủ tiềm năng để trở thành trung tâm sản xuất hàng dệt may chi phí thấp của thế giới. Bên cạnh việc chú trọng vào thị trường tiêu thụ nội địa khổng lồ, nhiều hãng may mặc ở Trung Quốc đã bắt đầu hợp tác với các hãng thời trang nổi tiếng hàng đầu trên thế giới. Hòn đảo Mauritius nhỏ bé giữa Ấn Độ Dương là trung tâm sản xuất quần bò hàng đầu thế giới với các nhãn hiệu nổi tiếng như Gap và Tommy Hilfiger. Nhưng đằng sau những sản phẩm Made in Mauritius là các nhà máy, nhân công đến từ Trung Quốc. Năm 2018, khi Bắc Kinh đạt được thoả thuận thương mại với Washinton, rất nhiều nhà sản xuất may mặc lớn đã bắt đầu chuyển hay mở rộng hoạt động của mình tại Trung Quốc. I.C.Isaacs, sở hữu nhãn hiệu Marithe & Francois Girbaud đã chuyển mọi hoạt động từ Mehico sang Trung Quốc để tranh thủ giá cả rẻ. Frontline Clothing Ltd, nhà cung cấp hàng may mặc chất lượng cao sang thị trường EU và Hoa Kỳ cũng đã đóng cửa các nhà máy tại Campuchia, Lào và Bangladesh để chen chân vào Trung Quốc. Năm 2024, hãng Cartier có kế hoạch mở 6 chi nhánh đại lý tại Trung Quốc. Tập đoàn Firs của Hoa Kỳ cũng đã phối hợp với các công ty Trung Quốc xây dựng được 18 nhãn hiệu mới cho sản phẩm thời trang may mặc của nước này, kế hoạch đến năm 2029 sẽ xây dựng được 30 nhãn hiệu. Ngay những nước có chi phí sản xuất thấp tại Đông Nam Á như Indonesia và Việt Nam cũng không thể cạnh tranh với Trung Quốc. Thực tế, cái các nhà sản xuất muốn tìm kiếm không chỉ là giá cả rẻ mà cả qui mô, kinh nghiệm, sự linh hoạt và hiệu quả. Đây là những yếu tố mà Trung Quốc vượt trội hơn các quốc gia khác.
Năm 2021, ngay sau khi được bãi bỏ hạn ngạch, Trung Quốc đã nhanh chóng chiếm 78,1% thị trường may mặc và 47,5% thị trường vải sợi của Nhật Bản. Cũng trong năm này, tại Mỹ, giá trị nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng đến 125% và tại châu Âu là 53%. Chỉ trong năm 2021, Trung Quốc đã giữ thế thượng phong ngay trên đăt Mỹ với giá trị nhập khẩu sản phẩm áo choàng, áo ngủ vào Mỹ tăng 557%, quần áo trẻ em tăng 306%, áo lót phụ nữ tăng 250%, găng tay là 242%.
Đến 1/1/2024, khi mà hệ thống hạn ngạch đối với hàng dệt may sẽ được dỡ bỏ hoàn toàn thì Trung Quốc lại càng gặp nhiều thuận lợi hơn, nhưng đây lại sẽ là khó khăn rất lớn đối với các nước có năng lực cạnh tranh yếu hơn trong lĩnh vực dệt may. Tính riêng trong tháng 1/2024, xuất khẩu của Trung Quốc sang EU đã tăng nhanh ngoài sức tưởng tượng, tăng tới 47% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó tại thị trường Hoa Kỳ xuất khẩu dệt may của Trung Quốc trong tháng 1/2024 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 65,26%. Sự bành trướng của Trung Quốc đã khiến rất nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp gia tăng. Chỉ tính tới đầu năm 2024, khoảng 7.600 lao động dệt may của Mỹ đã mất việc. Cũng trong thời gian này, 14 nhà máy dệt và may mặc ở 5 bang của Mỹ buộc phải đóng cửa. Tình trạng tương tự như vậy cũng xảy ra ở khu vực Trung Mỹ với khoảng 500.000 lao động đang bị đe doạ mất việc làm. Trước nguy có bị mất thị phần, các công ty dệt may ở các nước đã lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ của Chính phủ. Liên minh châu Âu (EU) kêu gọi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường của mình nếu không EU sẽ buộc phải áp đặt các biện pháp hạn chế đối với hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc như áo Tshirt, áo chui cổ, áo khoác nữ để đề phòng việc thị trường nội địa bị lũng doạn bởi loại hàng này của đối tác khổng lồ đến từ châu Á. Tới ngày 10/6/2024, do tốc độ tăng trưởng quá nóng của hàng dệt may Trung Quốc, EU và Trung Quốc đã ký thoả thuận mức hạn chế nhập khẩu 10 mặt hàng dệt may từ Trung Quốc trong 3 năm từ 2024 đến 2026 để ngăn chặn nguy cơ tranh chấp thương mại giữa hàng dệt may giữa EU và Trung Quốc. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã quyết định áp dụng biện pháp tự vệ với hàng dệt may có xuất xứ từ Trung Quốc sau khi điều tra thấy sản lượng của các chủng loại dệt may nhập từ Trung Quốc tăng 7.5% so với cùng kỳ 2023 và có nguy cơ “đe doạ làm đảo lộn” thị trường dệt may nước này. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngành dệt may của Trung Quốc. Nhiều doanh nghiệp đã phải cắt giảm sản lượng đáng kể, giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu để duy trì sản xuất. Đồng thời, các khách hàng nhập khẩu cũng có tâm lý lo ngại và quay sang tìm kiếm những nhà sản xuất thay thế, dự phòng nhằm tránh bị động. Đây chính là cơ hội cho hàng dệt may của các nước xuất khẩu truyền thống trong đó có Việt Nam.
2 Thực trạng ngành dệt may Trung Quốc
2.1 Tình hình sản xuất của ngành dệt
Trong tháng 5/2026, sản lượng sợi sản xuất của Trung Quốc đạt 1,64 triệu tấn, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Trong vòng 5 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng sợi trong cả nước đạt 7,41 triệu tấn, tăng 20,6%. Luỹ kế sản phẩm sợi từ năm 2025 đến nay đạt 13,8 triệu tấn. Nói chung là trong vòng 5 tháng đầu năm 2026 tốc độ tăng trưởng của ngành dệt Trung Quốc tương đối ổn định.
2.2 Tình hình xuất nhập khẩu ngành dệt may
- Bảng 8: Tình hình xuất nhập khẩu trong ngành dệt may của Trung Quốc
Sau một thời gian kim ngạch bị giảm mạnh vào cuối quý I, đến tháng 4/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu ngành dệt may Trung Quốc đã tăng trở lại, đạt mức cao nhất trong những tháng đầu năm nay, góp phần làm cho kim ngạch xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt mức 44,19 tỷ USD, tăng 15%, tốc độ tăng dần dần ổn định. Trong khi đó nhập khẩu duy trì mức tăng ổn định, kim ngạch trong tháng 4 đạt 1,72 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ, lập mức tăng kỷ lục trong những năm gần đây.
Theo số liệu thống kê của Hải quan Trung Quốc, từ tháng 1- 5 năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc tăng 15,8% so với cùng kỳ. Dự kiến trong cả năm sẽ tăng trưởng khoảng 12%.
Như vậy, trong 5 tháng đầu năm 2026, trừ tháng 2 thì 4 tháng còn lại kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc đều tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng đều 15%. Theo phân tích, do có sự điều chỉnh tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu vào tháng 7 nên các xí nghiệp đều đẩy mạnh xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm này nhằm giảm thiểu thất thu do chính sách điều chỉnh gây ra. Tới tháng 7/2026, Trung Quốc vẫn là quốc gia xuất khẩu mạnh với kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may là 17,37 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm ngoái và đây cũng là một tháng kỷ lục đối với xuất khẩu dệt may Trung Quốc. Xuất khẩu dệt may Trung Quốc tăng một phần do việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành dệt may đã được tăng cường. Các thành phố tham gia xuất khẩu dệt may của Trung Quốc đang đưa ra những yêu cầu mới về việc quản lý quá trình sản xuất hàng dệt may từ bao bì, đóng gói cho tới vận chuyển. Bên cạnh đó, năng suất và chất lượng hàng dệt may của Trung Quốc tăng cũng giúp xuất khẩu hàng dệt may ngày càng mở rộng, thậm chí giá thành sản hàng xuất khẩu tiếp tục tăng. Mặc khác, việc giảm thuế VAT cũng không gây tác động nhiều tới quá trình xuất khẩu hàng dệt may.
Sau khi xem xét tình hình xuất khẩu hiện nay, tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm về cơ bản bình ổn ở mức 15%, còn trong 6 tháng cuối năm do chịu ảnh hưởng của việc điều chỉnh giảm tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu và đồng NDT tăng giá nên xuất khẩu sẽ giảm ở mức độ nhất định, mức tăng sẽ vào khoảng từ 12 – 15% so với cùng kỳ, mức tăng cả năm dự kiến vào khoảng 12%.
2.3 Xuất khẩu dệt may vào thị trường Hoa Kỳ tăng ổn định
Trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may Trung Quốc sang 2 thị trường đứng đầu là EU và Hoa Kỳ lần lượt đạt 7,55 tỷ USD và 6,61 tỷ USD, tăng trưởng 14% và 33,1%. Tốc độ tăng xuất khẩu sang thị trường EU chậm lại giảm gần 10 điểm phần trăm so với cuối quý I. Trong khi đó, tốc độ tăng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tương đối ổn định, tương đương với cuối quý I/2026. Tổng cộng kim ngạch xuất sang 2 thị trương nay chiếm 32% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may.
Kim ngạch xuất khẩu sang 12 nước Đông Âu thuộc EU mở rộng giảm 41%, giảm 36,5 điểm so với cuối quý I. Trong khi đó, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Hong Kong, Hàn Quốc, Nga sau khi giảm vào tháng 3 đển tháng 4 lại tăng trở lại, những mức tăng lớn không đều, mức tăng lớn nhất là 5% đối với thị trường Hong Kong. Ngoài ra, trong các thị trường chủ yếu khác có mức tăng tương đối nhanh đó là Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Thuỵ Sĩ… các nước này đều có mức tăng từ 50% trở lên.
Nhập khẩu từ các nước chủ yếu vẫn bình thường. Nhập khẩu từ Nhật bản tăng nhẹ 2,4%, Hàn Quốc giảm 1,9%, Đài Loan giảm 1,3%. Nhập khẩu từ thị trường EU và Hoa Kỳ tăng ổn định, mức tăng là 23,2% và 31,3%.
2.4 Kim ngạch xuất khẩu của các xí nghiệp dệt may dân doanh tăng
So với 2 năm trước, mức tăng xuất khẩu của các xí nghiệp dân doanh có giảm sút nhiều, nhưng tỷ lệ kim ngạch so với toàn quốc vẫn tiếp tục tăng. Trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của các xí nghiệp dân doanh đạt 18,47 tỷ USD, chiếm 42% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, tăng 25% so với cùng kỳ. Trong đó, xí nghiệp tư doanh tăng 32,8%. xí nghiệp tập thể giảm 5,7%. Nhập khẩu của xí nghiệp dân doanh đạt 850 triệu USD, chiếm tỷ trọng 14,9%, có tốc độ tăng trưởng là 15,4%, tăng nhanh nhất trong các loại hình xí nghiệp.
Xuất khẩu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15,69 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 36%, kim ngạch xuất khẩu tăng 16,8%. Nhập khẩu đạt 4,15 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 73%, kim ngạch nhập khẩu tăng 6%. Cũng giống như xí nghiệp dân doanh, mức tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều vượt qua giá trị bình quân.
Chỉ có xuất nhập khẩu của xí nghiệp quốc doanh và xí nghiệp có cổ phần Nhà nước là không ngừng giảm, xuất khẩu đạt 9,88 tỷ USD, tỷ trọng giảm xuống còn 22,3%, nhập khẩu đạt 720 triệu, chiếm tỷ trọng 12,6%. Kim ngạch xuất nhập khẩu giảm lần lượt là 2,9% và 8,4%.
2.5 Hàng may mặc bằng sợi bông, sợi tổng hợp tăng nhanh nhất
Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hàng dệt đạt 15,98 tỷ USD, tăng 10,7%; xuất khẩu hàng may mặc đạt 28,21 tỷ USD, tăng 17,6%, tốc độ tăng không thay đổi nhiều so với cuối quý I. Tốc độ xuất khẩu của hàng may mặc vẫn vượt so với hàng dệt may.
Trong mặt hàng may mặc, xuất khẩu của 3 mặt hàng lớn là dệt kim, dệt thoi và phụ liệu có mức tăng trưởng lần lượt là 25,8%; 15,7% và 12,5%. Trong đó, mặt hàng may mặc truyền thống bằng sợi bông và sợi tổng hợp tăng nhanh nhất, mức tăng lần lượt là 30,1% và 13,8%; hàng len tăng 9,5%; hàng tơ tằm giảm 6%, nhưng mức giảm thấp hơn so với thời gian trước. Trong 4 tháng đầu năm nay, hàng may mặc xuất khẩu sang EU đạt 5,39 tỷ USD, tăng 14,5%; giảm 13 điểm phần trăm so với cuối quý I. Hàng may mặc xuất khẩu sang Mỹ đạt 4,76 tỷ USD, tăng 47,4%, tương đương với mức cuối quý I. Trong đó hàng may mặc bằng sợi bông tăng nhanh nhất, xuất khẩu mặt hàng này sang EU tăng 26,2% và sang Mỹ tăng 1,2 lần.
Trong những mặt hàng dệt xuất khẩu ra thị trường quốc té thì mặt hàng sợi tăng trưởng nhanh nhất, mức tăng là 19,4%, thành phẩm và vải nguyên liệu tăng lần lượt là 9,6% và 9,2%. Mặt hàng sợi tổng hợp trong mặt hàng sợi vải và vải nguyên liệu có tốc độ tăng nhanh nhất là 12,7%; xuất khẩu mặt hàng bằng sợi bông và len lần lượt tăng trưởng là 6,5% và 6%, mặt hàng tơ giảm 25%. Trong thành phần hàng dệt, xuất khẩu mặt hàng gia dụng tăng 10,2%.
Số lượng hàng may mặc (bao gồm cả hàng dệt thoi lẫn dệt kim) trong 4 tháng đầu năm 2026 đạt 9,11 tỷ chiếc (bộ), tăng 8,4%; tốc độ tiếp tục giảm so với thời gian trước. Đơn giá xuất khẩu bình quân là 2,76 USD/chiếc (bộ), tăng 11%, tương đương với cuối quý I năm 2026. Trong đó, đơn giá mặt hàng dệt thoi tăng 6,8%, mặt hàng dệt kim tăng 15,2%; trong khi đó đơn giá xuất khẩu sang Mỹ giảm 2,2%. Đơn giá hàng sợi xuất ra thị trường quốc tế giảm 8%, đơn giá xuất khẩu vải nguyên liệu về cơ bản giữ được mức tăng nhẹ.
2.6 Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng đều tăng.
Từ tháng 1 – 4/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng dệt của Trung Quốc đạt 5,17 tỷ USD, tăng 5,2%. Kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc đạt 550 triệu USD, tăng 5,7%. Tốc độ nhập khẩu hàng dệt, may về cơ bản thống nhất với nhau. Trong hàng may mặc, nhập khẩu hàng dệt kim tăng 6,2%, hàng dệt thoi tăng 4,5%. Trong đó nhập khẩu hàng len tăng nhanh nhất, với mức tăng gần 34,4%. Hàng lông thú tăng 60,3%. Đơn giá hàng may mặc nhập khẩu (bao gồm cả hàng dệt kim lẫn dệt thoi) có mức tăng chung là 28,1%. Nhập khẩu 0,6 triệu tấn sợi với trị giá 1,47 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu tăng lên với mức tăng nhẹ là 0,3%. Vải nguyên liệu nhập khẩu đạt 2,73 tỷ, tăng 6,7%.
2.7 Tình hình điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu
Trong tháng 6/2026, Bộ Tài Chính, Tổng cục thuế, Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã công bố “Thông tư giảm tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu đối với một bộ phận hàng hoá”. Theo thông tư này, quy định từ 1/7/2026 tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu hàng may mặc giảm xuống còn 11%.
Mục đích của việc điều chỉnh chính sách hoàn thuế xuất khẩu lần này nhằm: khống chế thêm một bước tăng trưởng quá nhanh trong xuất khẩu hàng hoá, giải quyết mâu thuẫn nổi trội phát sinh do xuất siêu quá lớn mang lại, làm tốt cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, khống chế xuất khẩu các mặt hàng “tiêu hao năng lượng nhiều, gây ô nhiễm cao, mang tính tài nguyên”, thúc đẩy thay đổi phương thức tăng trưởng ngoại thương và cân bằng xuất nhập khẩu, giảm thiểu cọ sát thương mại, thúc đẩy chuyển biến phương thức tăng trưởng kinh tế và duy trì phát triển kinh tế xã hội.
III Tương quan về khả năng cạnh tranh giữa hàng dệt may Việt Nam và Trung Quốc
Trung Quốc là đầu tầu kinh tế của châu Á, là nước có công vực dậy nền kinh tế khu vực. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng tương đối cao, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 9,1%, nhập khẩu tăng 40% và tiếp nhận 50% hàng xuất khẩu của châu Á. Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế Trung Quốc cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho những nền kinh tế mới nổi trong khu vực ví dụ như Việt Nam. Rất nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ lớn trước sực ép cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc.
Hàng hoá Trung Quốc có thể chia thành hai loại. Một loại hàng hoá có hàm lượng lao động cao, đơn giản như dệt may, da giày và một loại là hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao vừa có lao động giản đơn vừa có lao động lành nghề như điện tử dân dụng. Hiện nay, Trung Quốc có sức cạnh tranh rất lớn ở cả hai loại hàng này, trong khi đó Việt Nam chỉ có ở loại thứ nhất còn loại thứ hai thì Việt Nam chưa thể cạnh tranh với Trung Quốc. Việt Nam đang phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc ngay trên một số thị trường quan trọng như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và cả ASEAN.
Dệt may hiện là một trong số những sản phẩm cạnh tranh chính giữa Việt Nam và Trung Quốc do ngành dệt may của Viêt Nam đang phát triển với tốc độ cao có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu trong số những mặt hàng chủ lực của Việt Nam, trong khi Trung Quốc lại là nhà sản xuất, xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thé giới, chiếm khoảng 50% thị phần dệt may toàn cầu. Có thể nói, ngay sau khi gia nhập WTO Trung Quốc đã nhanh chóng tạo nên những cơn sóng thần trên thị trường dệt may thế giới.
1 Những điểm tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc
- Thực tế thì cả Việt Nam và Trung Quốc đều có những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dệt may.
Thứ nhất, dệt may là ngành sản xuất truyền thống lâu đời ở cả hai nước. Cách đây cả ngàn năm, con đường tơ lụa đã lưu dấu một bước phát triển kinh ngạc của Trung Quốc. Năm 1949, Trung Quốc có gần 180.000 xưởng dệt tư nhân với xấp xỉ 800.000 công nhân và 8.000 chuyên gia kỹ thuật. Dệt may nhanh chóng đã trở thành một trong những ngành ưu tiên phát triển của Chính phủ Trung Quốc. Trong khi đó, ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam cũng đã được đầu tư phát triển ngay từ những năm 50 của thế kỷ 20. Với sự giúp đỡ của các nước anh em và bạn bè quốc tế, chúng ta đã cải tạo và xây dựng được hàng loạt nhà máy dệt may có công suất lớn như: Dệt 8 – 3, Dệt Vĩnh Phú, Dệt kim Đông Xuân, Dệt Nam Định, May 10, May Thăng Long. Hiện nay, Chính phủ hai nước đều rất chú trọng phát triển ngành này, nhiều chính sách hỗ trợ ngành dệt may đã được thực hiện.
Thứ hai, cả Trung Quốc và Việt Nam đều được xếp vào danh sách những nước có dân số đông nhất trên thế giới với khoảng 1,8 tỷ dân của Trung Quốc và hơn 85 triệu dân của Việt Nam cung cấp một lượng lớn lao động cho ngành dệt may của mỗi nước. Đây là một lợi thế trong ngành dệt may mà không phải nước nào cũng có được. Đồng thời, dân số đông chính là một thị trường tiêu thụ nội địa lớn cho ngành may mặc. Hiện nay, 2/3 sản lượng hàng dệt may của Trung Quốc chủ yếu là để phục vụ thị trường trong nước. Còn ở Việt Nam, Nhà nước và Chính phủ đã xác định các doanh nghiệp trong nước phải dùng thị trường nội địa làm căn bản, thị trường xuất khẩu là động lực phát triển của ngành dệt may. Năm 2025, tổng tiêu thụ nội địa ước đạt 1,8 tỷ USD, trong khi xuất khẩu dệt may đạt gần 6 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ nội địa đạt khoảng 15%/năm. Hiện tại mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp dệt may là làm thế nào để chiếm lĩnh thị trường dệt may nội địa trước cuộc “đổ bộ” của nhiều nhãn hiệu thời trang danh tiếng của nước ngoài vào thị trường Việt Nam, đặc biệt là hàng thời trang của Trung Quốc.
Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc đều đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế của cả hai nước. Những rào cản trong ngành dệt may được xoá bỏ sẽ tạo điều kiện cho các sản phẩm của hai nước thâm nhập vào các thị trường nước ngoài dễ dàng hơn.
Thứ tư, Việt Nam và Trung Quốc có ý thức hệ giống nhau, cùng chung chủ trương xây dựng CNXH theo hoàn cảnh mỗi nước. Theo điều tra của Liên hợp quốc, đây là hai quốc gia ổn định, an toàn nhất trên thế giới, do đó ngày càng có nhiều nhà đầu tư tìm tới đây kinh doanh buôn bán.
2 Những điểm khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc trong quá trình phát triển ngành dệt may
Mặc dù có rất khá nhiều điểm chung nhưng giữa hai nước vẫn tồn tại nhiều điểm khác biệt tác động không nhỏ tới ngành dệt may của hai nước.
Theo nhận định của các chuyên gia thì hiện tại hàng dệt may của Trung Quốc vẫn có lợi thế hơn, có năng lực cạnh tranh cao hơn hàng dệt may của Việt Nam.
- Về chất lượng sản phẩm và kiểu cách mẫu mốt.
Theo đánh giá của Uỷ Ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), Trung Quốc được lựa chọn là nguồn cung ứng số một của hầu hết các nhà nhập khẩu dệt may Hoa Kỳ vì nước này có khả năng sản xuất hầu như tất cả các loại sản phẩm dệt may ở mọi cấp độ chất lượng với giá cạnh tranh. Các sản phẩm dệt may mang thương hiệu Trung Quốc đa dạng về chủng loại, phong phú về mẫu mã, với nhiều cấp độ chất lượng, ở các mức giá khác nhau đã có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn các mặt hàng phù hợp với sở thích và khả năng thanh toán của khách hàng. Đa dạng hoá sản phẩm đã mang lại lợi nhuận rất lớn cho Trung Quốc. Song Trung Quốc cũng phải tính tới trường hợp để giảm thiểu rủi ro do phải mua hàng từ một nước duy nhất, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ cũng có kế hoạch mở rộng quan hệ thương mại với những nước có giá thấp khác, đặc biệt là Ấn Độ. Còn về phần Việt Nam, như chúng ta đã biết, hàng dệt may của nước ta từ trước tới nay vẫn được biết tới là mặt hàng có chất lượng cao. Tuy nhiên, hàng dệt may của Việt Nam vẫn chỉ tập trung ở một số chủng loại nhất định như quần, áo jacket, áo thun, áo sơmi…với mẫu mã nghèo nàn, mà vẫn chưa sản xuất được những sản phẩm hàng cao cấp đòi hỏi kỹ thuật cao như veston. Những sản phẩm được coi là sản phẩm cao cấp của Việt Nam thực chất chỉ tập trung vào chất lượng hoặc cao lắm là thương hiệu nhằm phục vụ cho một phân khúc tiêu dùng riêng biệt cụ thể nào đó. Trong khi đó, một sản phẩm được coi là hàng cao cấp đúng nghĩa phải đảm bảo 3 yếu tố: sản xuất, thương hiệu, phân phối. Nếu tình trạng này kéo dài lâu thì hàng dệt may Việt Nam sẽ nhanh chóng chịu thát bại trước sự cạnh tranh ngày càng tăng của Trung Quốc.
- Về nguyên phụ liệu.
Theo đánh giá của các chuyên gia, sản phẩm dệt may của Việt Nam chưa cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc một phần là vì Việt Nam chưa có hoặc chưa phát triển ngành nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, 70% nguyên phụ liệu của Việt Nam là nhập khẩu từ nước ngoài. Nếu ai đó sang Trung Quốc và đến các trung tâm hoặc chợ nguyên phụ liệu sẽ thấy rằng ngành sản xuất nguyên phụ liệu của Trung Quốc cực kỳ phát triển không dễ gì quốc gia nào có thể có được. Trong khi đó ở Việt Nam hiện giờ mới đang đi vào xây dựng một trung tâm nguyên phụ liệu dệt may đầu tiên tại Bình Dương. Chính việc không chủ động được nguồn nguyên phụ liệu đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới năng lực sản xuất của ngành dệt may. Phần lớn các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam là làm gia công cho nước ngoài, lợi nhuận thu được thấp, không có khả năng phát huy sáng tạo trong việc thiết kế mẫu mã kiểu dáng. Thử lấy một ví dụ về nguyên liệu tơ tằm của Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Tổng công ty Dâu tằm Việt Nam, diện tích dâu tằm của Việt Nam vào khoảng 25.000 ha, đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Trung Quốc. Về lý thuyết, với diện tích trồng dâu như vậy, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất kén, tơ nguyên liệu có hạng. Thế nhưng, hiện chúng ta vẫn phải nhập tơ sống từ Trung Quốc để se tơ và dệt lụa với số lượng trên 200 tấn/năm. Đây lại là một nghịch lý nữa trong vấn đề nguyên liệu trong ngành dệt bởi nghề trồng dâu, nuôi tằm từ xưa tới nay vẫn được coi là một ngành truyền thống của dân tộc ta.
- Về giá các sản phẩm dệt
Theo Bộ Công Thương, hầu hết các chủng loại hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu đều có giá cao hơn 5-7%, thậm chí là 10% so với hàng cùng loại của Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh. Cụ thể, đối với cat 338/339 (áo sơmi dệt kim cotton) đơn giá trung bình thực hiện tại Việt Nam là 5,79 – 8,2 USD/m2, trong khi đó ở Trung Quốc là 4,68 – 5,84 USD/m2. Nguyên nhân chính là do Việt Nam chưa chủ động được nguyên phụ liệu, đa số phải nhập từ nước ngoài nên đã đẩy giá thành phẩm lên cao hơn. Trong khi đó, Trung Quốc lại được coi là quốc gia sản xuất rẻ nhất thế giới. Không chỉ riêng mặt hàng may mặc mà ở tất cả các mặt hàng từ những hàng có hàm lượng kỹ thuật thấp cho tới những mặt hàng công nghệ cao, Trung Quốc đều có thể sản xuất được với chi phí thấp hơn nhiều so với những đối thủ của mình. Ở cả những nước nghèo, đang phát triển hay những trung tâm mua sắm của thế giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Italy… hàng may mặc của Trung Quốc đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường. Nếu bạn muốn những bộ quần áo giá rẻ, có rất nhiều sản phẩm với mẫu mã phong phú đa dạng có xuất xứ từ Trung Quốc để cho bạn lựa chọn. Còn nếu bạn muốn những mặt hàng chất lượng cao, mẫu mã đẹp thuộc loại “hàng hiệu”, bạn có thể tìm thấy những sản phẩm do Trung Quốc sản xuất tại những trung tâm thương mại lớn, hiện đại của New York, London, Tokyo, Paris, Milan… Mục tiêu mà Trung Quốc đặt ra là đảm bảo tất cả mọi người kể cả người có thu nhập cao hay có thu nhập thấp đều có thể tìm được sản phẩm mình mong muốn
- Về giá lao động.
Từ trước tới nay Việt Nam vẫn được coi là có lợi thế về nguồn nhân công giá rẻ. Giá lao động tại Việt Nam vào loại thấp nhất trong khu vực (3 USD/ giờ), nhờ đó làm cho chi phí sản xuất hàng may mặc của Việt Nam cũng thấp hơn nhiều nước khác. Tuy nhiên, theo nhận định của Chủ tịch Hội tư bản công nghiệp trẻ Hoa Kỳ, trong vòng 30 – 50 năm tới nguồn nhân công giá rẻ sẽ không còn là yếu tố mang tính quyết định đối với nhà đầu tư.
Như vậy, có thể nói, các sản phẩm dệt may của Việt Nam đang thua kém Trung Quốc về nhiều mặt. Và đặc biệt tình hình sẽ càng xấu đi khi Hoa Kỳ bãi bỏ hàng rào hạn chế nhập khẩu (còn gọi là biện pháp tự vệ) đối với hàng dệt may Trung Quốc vào năm 2027. Khi đó, Trung Quốc sẽ được tự do xuất khẩu trở lại và ngành dệt may của Việt Nam sẽ phải chịu một sức ép mạnh hơn bao giờ hết.
Có thể nói, trong vòng một vài năm tới Trung Quốc vẫn sẽ là nước sản xuất, xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, là đối thủ cạnh tranh lớn của nhiều quốc gia trên cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Nếu không có những chiến lược giải pháp cụ thể để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may nước mình thì các quốc gia trong đó có Việt Nam sẽ rất dễ bị hàng Trung Quốc loại khỏi những thị trường chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và bị lấn át tại ngay chính thị trường nội địa.

