Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam giai đoạn 2018- 2025 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I. KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2025

1.1. Quản lí nhà nước về du lịch

Nghị quyết Đổi mới của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI chính thức đi vào cuộc sống là một trong những điều kiện tiền đề mang tính quyết định và cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch Việt Nam phát triển. Đại hội Đảng khoá IX đã có nghị quyết về phát triển ngành du lịch trong “ Định hướng phát triển các ngành” như sau: “ Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử đáp ứng nhu cầu trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ khu vực. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất. Hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết các nước”. Tại điều 3 của Pháp lệnh du lịch đã ghi rõ: “ Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.”

Điều quan trọng nhất của thời kì này là ngành du lịch thực hiện kinh doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước.

Sau khi Tổng cục du lịch được thành lập lại, ở nhiều tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, nhiều Sở du lịch hoặc Sở thương mại và du lịch hoặc Sở du lịch và thương mại được thành lập thực hiện chức năng quản lí nhà nước về du lịch ở địa phương.

Mô hình quản lí nhà nước về du lịch được thể hiện ở sơ đồ 2.1 sau:

  • Sơ đồ 2.1 Quản lí nhà nước về hoạt động kinh doanh du lịch

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chủ trương phát triển du lịch được quán triệt sâu rộng trong cả nước. Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn từng bước được làm rõ. Đến năm 2023, cả nước có 41 tỉnh, thành phố thành lập ban chỉ đạo phát triển du lịch địa phương. Các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương đã xây dựng quy hoạch phát triển du lịch địa phương mình.

Từ năm 2019- 2023, Chính phủ đã phê duyệt kinh phí gần 30 tỷ đồng cho chương trình hành động quốc gia về su lịch. Chính phủ đã ban hành quy định miễn visa song phương với các nước trong khối Asean và đơn phương cho Nhật Bản và Hàn Quốc, đang triển khai miễn visa cho một số nước khác. Đây thực sự là giải pháp tích cực có ảnh hưởng rõ rệt nhất đến việc thu hút khách du lịch từ các quốc gia này đến Việt Nam.

Công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực bao gồm cả cán bộ quản lí kinh doanh và hướng dẫn viên du lịch cũng được chú trọng đã góp phần năng cao chát lượng phục vụ du lịch. Theo số liệu của Vụ tổ chức cán bộ – Tổng cục du lịch năm 2022 ngành du lịch Việt Nam đã có 22 vạn lao động trực tiếp và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm khoảng 2,5% lao động trong toàn quốc , phần lớn là ở độ tuổi dưới 30 (60%), 42,5% lao động được đào tạo các nghề du lịch khách sạn. Trong giai đoạn này ngành du lịch đá và đang có một sự chuyển biến khá mạnh mẽ.

1.2 Về hệ thống các nhà cung cấp sản phẩm du lịch: Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Nhà cung cấp sản phẩm du lịch được hiểu là bất cứ cá nhân hay tổ chức kinh doanh nào có chức năng cung cấp cho người du lịch một phần hay toàn bộ sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu phát sinh trong quá trình du lịch của cá nhân. Nhà cung cấp sản phẩm du lịch có thể là:

  • Hệ thống các cơ sở lưu trú
  • Các nhà hàng, các quán ăn giải khát,
  • Hệ thống các phương tiện vận chuyển,
  • Hệ thống các phương tiện thông tin liên lạc
  • Hệ thống các dịch vụ ăn uống giải trí,…

Về hệ thống các cơ sở lưu trú và ăn uống. Theo số liệu cuả vụ Khách sạn – Tổng cục du lịch đến tháng 12 năm 2022 cả nước có 3850 cơ sở lưu trú với 85839 buồng. Về thứ hạng khách sạn có 18 khách sạn 5 sao, 41 khách sạn 4 sao, 115 khách sạn 3 sao, 226 khách sạn 2 sao, 531 khách sạn 1 sao.

Về hệ thống các phương tiện vận chuyển. Các nhà cung cấp phương tiện vận chuyển cũng tăng lên nhiều, chất lượng phục vụ tốt hơn. Hàng không mở thêm các tuyến nội địa, các tuyến bay quốc tế với phương tiện hiện đại và chất lượng phục vụ cao. Hiện nay đã có 22 đường bay nội địa nối Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng tới 16 điểm khác trong cả nước, 25 đường bay quốc tế vươn tới 25 điểm trên thế giới trong đó có bay trực tiếp đến 24 điểm gồm: Bắc Kinh, Băng- Cốc, Cao Hùng, Côn Minh, Đài Loan, Phu Co Ca, Hồng Kông, Kua- Lam- pơ, Mát- cơ- va, Men- bon, Osaka, Pari, Phnompenh, Quảng Châu, Tokyo, Xê- un,…Tháng 12 năm 2022, số máy bay đang khai thác của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam là 38 chiếc, gồm 4 chiếc B777-200R, 7 chiếc B767- 300, 3 chiếc A321, 13 chiếc A320, 9 chiếc ATR72 và 2 chiếc FOKKER 70. Ngoài ra còn có công ty cổ phần Pacific Airline, các hãng hàng không quốc tế, công ty dịch vụ bay miền Bắc và miền Nam. Đường sắt, giảm giờ chạy tàu, đổi mới phương thức phục vụ, chất lượng phục vụ ngày càng cao, tần suất chạy tàu tăng lên. Hiện đại nhất là đôi tàu SE1 và SE2 chạy từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại với thời gian 29 tiếng (tàu đều dừng ở các ga nơi có nhiều giá trị của tài nguyên phục vụ du lịch). Hàng ngày có 26 chuyến tàu hoả đi từ Hà Nội đến các địa phương và ngược lại. Có 4 chuyến tàu điện liên vận quốc tế đi và đến Hà Nội. Đường thuỷ có nhiều sự đầu tư nâng cấp các phương tiện tàu thuyền phục vụ các tuyến du lịch tham quan hang động, sông, hồ, biển đảo,…Đặc biệt, vận chuyển đường bộ có thêm hệ thống vận tải ở các thành phố, điểm du lịch taxi lớn. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Hệ thống thông tin liên lạc được hiện đại hoá ngang tầm với thế giới được khách du lịch thừa nhận và đánh giá cao. Từng bước bỏ độc quyền nhà nước trong lĩnh vực này. Nhiều đơn vị tham gia vào cung cấp dịch vụ viễn thông, giá cả được điều chỉnh theo như cơ chế thị trường. Vì thế phương tiện thông tin cho khách và trong quản lý không còn là vấn đề khó khăn nữa.

Hệ thống các dịch vụ văn hoá và giải trí. Tuy hệ thống này chưa đáp ứng được mong muốn của khách du lịch quốc tế nhưng những năm qua hệ thống sản phẩm này cũng đã bắt đầu được quan tâm chú ý. Hệ thống các công viên, khuôn viên giải trí, điện ảnh, sân khấu, hệ thống các bảo tàng, thư viện được quan tâm, đặc biệt là viện bảo tàng dân tộc học với tầm cỡ lớn nhất Đông Nam á được khai thác phục vụ khách du lịch. Các hoạ sĩ liên tục tổ chức triển lãm các phòng tranh, báo chí, truyền thanh, truyền hình phong phú, đa dạng, chất lượng tốt hơn. Nhiều điểm tham quan du lịch mới được khai thác phục vụ du khách. Các lễ hội, các liên hoan (festival) du lịch, các cuộc thi đấu thể thao với các giải khác nhau đã được chú ý đăng cai tổ chức ở Việt Nam trong những năm gần đây. Đặc biệt hơn trong khoảng thời gian này ở Việt Nam đã được UNESCO công nhận 7 di sản thế giới, gồm Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Nhạc nhã Cung Đình Huế, Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên.

1.3 Về thị trường khách du lịch

Thị trường khách du lịch quốc tế được mở rộng. Các thị trường trọng điểm của du lịch quốc tế đến Việt Nam từ trước là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Pháp. Hiện nay thị trường này đã được mở rộng sang các nước Đông Nam á như: Thái Lan, Sinh- ga- po, Cam- pu- chia,..các nước châu âu như: Hà Lan, Đức, Nga,…và cả những nước châu Mĩ như: Canada….Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ngày càng tăng cường quan hệ giao dịch, ký kết hợp đồng. Các hãng lữ hành của ta có bạn hàng là trên 1000 hãng du lịch ở 60 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới [16]. Các công ty du lịch lữ hành tham gia ngày càng nhiều vào các hội chợ, hội nghị du lịch quốc tế.

II. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2025 Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh lữ hành tại Việt Nam giai đoạn 2018-2025

2.1.1. Quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành

Vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành cũng đã có bước tiến bộ đáng kể. Điều này được thể hiện thông qua những văn bản liên quan đến quản lý kinh doanh lữ hành. Căn cứ vào tính chất của văn bản có thể phân loại thành: các văn bản chung, các văn bản quy định về xuất nhập cảnh, các văn bản của Tổng cục du lịch về lữ hành.

Các văn bản chung:

  • Quyết định của thủ tướng chính phủ số 307/TTg ngày 24/5/2013 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2013-2027.
  • Nghị định của chính phủ số 87/CP ngày 12/12/2013 về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá, du lịch văn hoá đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng.
  • Nghị định của Chính phủ số 88/CP ngày 14/12/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các hoạt động văn hoá, du lịch văn hoá và phòng chống một số tệ nạn xã hội.
  • Nghị định số 59/CP ngày 3/10/2014. Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước.
  • Luật doanh nghiệp.
  • Nghị định số 27/2019/NĐ-CP ngày 5/6/2019. Nghị định của chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch.
  • Luật số 4/2023/QH11, Luật du lịch có hiệu lực từ 1/1/2024.

Các văn bản quy định về xuất nhập cảnh:

  • Thông tư số 163-NG/TT ngày 25/5/2013 của Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện Nghị định 24/CP ngày 24/3/2013 của Chính phủ về thủ tục xuất nhập cảnh.
  • Nghị định của Chính phủ số 76/CP ngày 6/11/2013 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 24/CP ngày 24/3/2013 về thủ tục xuất nhập cảnh.
  • Pháp lệnh số 24/2017/PLUBTVQH10, pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
  • Nghị định số 05/2018/ND-CP ngày 3/3/2018 của chính phủ về xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam.
  • Nghị định số 21/2019/ND-CP ngày 28/5/2019 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh xuất nhập cảnh cho người nước ngoài.

Các văn bản của Tổng cục du lịch về lữ hành: Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

  • Quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch số 235-DL-HTDT ngày 4/10/2012 ban hành Quy chế hướng dẫn viên du lịch.
  • Hướng dẫn thực hiện Quy chế hướng dẫn viên số 347/TCDL ngày 2/5/2014.
  • Quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch số 66/QĐ ngày 29/4/2013 ban hành Quy chế quản lý lữ hành.
  • Thông tư số 948/TCDL ngày 11/9/2013 hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý lữ hành.
  • Quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch số 374/TCDL ngày 23/9/2014 ban hành Quy chế tham gia hội chợ du lịch ở nước ngoài.
  • Thông tư số 29-thị trường/LB ngày 6/4/2013 hướng dẫn bổ sung Thông tư số 71/thị trường/LB ngày 5/12/1991 của Liên bộ Tài chính – Ngoại giao – Nội vụ.
  • Thông tư số 04/2018/TT-TCDL ngày 24/12/2019. Thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định số 27/2019/NĐ-CP ngày 5/6/2019 của Chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch.

Tổng cục du lịch đã phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Văn hoá Thông tin để xây dựng và ban hành 3 chương trình khung đào tạo ngắn hạn nghiệp vụ hướng dẫn du lịch (Quyết định số 564/QĐ-TCDL ngày 31/12/2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch). Cho phép các cơ sở đào tạo du lịch tại các trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Văn hoá Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Dân lập Duy Tân xây dựng chương trình theo 3 chương trình khung và mở các lớp đào tạo cấp chứng chỉ nghiệp vụ hương dẫn. Theo quyết định số 69/QĐ-TCDL ngày 9/2/2022 của Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch ban hành tạm thời khung chương trình đào tạo ngắn hạn ngoại ngữ du lịch cấp chứng chỉ ngoại ngữ du lịch, cho phép cơ sở đào tạo ngoại ngữ tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội xây dựng chương trình và mở các lớp đào tạo cho những người có chứng chỉ trình độ ngoại ngữ từ trình độ C trở lên, thời gian đào tạo 3 tháng, cấp chứng chỉ ngoại ngữ du lịch. Điều kiện đủ để cấp thẻ hướng dẫn du lịch dài hạn: bằng tốt nghiệp Đại học trở lên, chứng chỉ nghiệp vụ hướng dẫn du lịch, chứng chỉ Ngoại ngữ du lịch do các cơ sở đào tạo được Tổng cục du lịch cho phép. Cơ quan quản lý nhà nước du lịch cấp Tỉnh (các Sở Du lịch, hoặc Sở Thương mại- du lịch hoặc Sở Du lịch- Thương mại) được Tổng cục du lịch uỷ quyền cấp thẻ hướng dẫn du lịch. Để giải quyết tình trạng thiếu hướng dẫn viên sử dụng một số ngoại ngữ hiếm Tổng cục du lịch đã có văn bản số 734/TCDL-LH ngày 22/6/2022 hướng dẫn các sở thực hiện việc kiểm tra và cấp thẻ hướng dẫn viên cho các học viên có ngoại ngữ hiếm (Tiếng Nhật Bản, Hàn Quốc, Italia, Đức, Tây Ban Nha, Hà Lan, TháI Lan…). Chính các văn bản quản lý này đã góp phần không nhỏ vào việc chuẩn hoá lao động hướng dẫn viên du lịch của Quốc gia, nâng cao được chất lượng sản phẩm lữ hành. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Quy định rõ các điều kiện được phép kinh doanh lữ hành quốc tế và kinh doanh lữ hành nội địa đã giúp cho toàn ngành lần đầu tiên thống nhất quản lý được các đầu mối kinh doanh lữ hành, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt đọng và là cơ sở kiểm tra xử lý vi phạm.

Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã tạo ra sự hợp tác, phối hợp hành động giữa các ngành hữu quan, các địa phương trong phục vụ khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế trong du lịch của Việt Nam ở thời kỳ này cũng phát triển mạnh. Bao gồm hội nhập quốc tế về du lịch trong khối nước ASEAN, Tổ chức Du lịch thế giới, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu A – Thái Bình Dương (PTA). Việc thành lập chi hội PATA tại Việt Nam từ năm 2012, tham gia Hiệp hội Du lịch ASEANTA, hợp tác du lịch trên vùng sông Mê Kông-sông Hằng, hợp tác du lịch hành lang Đông- Tây, hợp tác du lịch Việt- Lào- Campuchia và ký 18 hiệp định hợp tác song phương với các Chính phủ về du lịch, 1tuyên bố chung hợp tác du lịch Việt Nam- Đức. Việc hội nhập kinh tế quốc tế về du lịch đã tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi hơn cho việc khai thác khách, mở rộng thị trường khách và các hoạt động khuyến mại của các công ty du lịch lữ hành ở Việt Nam.

2.1.2. Số lượng, quy mô của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam

  • Số lượng

Từ năm 1990-2022 lực lượng kinh doanh lữ hành ngày càng phát triển, có bước trưởng thành, thực sự đóng vai trò chủ lực, là chiếc cầu nối giữa khách với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch Việt Nam. Các doanh nghiệp lữ hành thể hiện rõ vai trò phân phối sản phẩm cho ngành du lịch và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân với việc thực hiện đồng thời 3 chức năng: thông tin, tổ chức và thực hiện thoả mãn các nhu cầu đặc trưng trong chuyến đi của khách. Đến tháng 12/2022, toàn ngành có 329 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế trong đó có 123 doanh nghiệp nhà nước, 206 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Trong đó công ty trách nhiệm hữu hạn là 157, công ty cổ phần là 38, công ty liên doanh là 8 và công ty tư nhân là 3. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội. Miền Bắc chiếm 47%, Miền Trung chiếm 11%, và Miền Nam chiếm 42%. Có 2.462 doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa. Trong đó có 88 doanh nghiệp nhà nước, 581 công ty cổ phần, 1730 công ty trách nhiệm hữu hạn và 63 doanh nghiệp tư nhân [16].

  • Vốn và lao động của các doanh nghiệp lữ hành Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Năng lực kinh doanh lữ hành của các doanh nghiệp được phản ánh thông qua tổng số vốn đầu tư, số lượng lao động hàng năm mà doanh nghiệp tập trung cho kinh doanh lữ hành. Qua số liệu về vốn đăng ký kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có quy mô nhỏ vốn cố định thường dưới 5 tỉ Việt Nam đồng. Về lao động của các doanh nghiệp lữ hành, trình độ học vấn của đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp này khá cao. 66% tốt nghiệp đại học ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Trong đó, 13% có trình độ đại học chuyên ngành về du lịch, 31% tốt nghiệp đại học ngoại ngữ khoa tiếng anh, 21% tốt nghiệp các ngành khác. Trên 3000 hướng dẫn viên được cấp thẻ. Độ tuổi trung bình là 32, nam giới chiếm tỉ lệ khoảng 64%, 36% là nữ giới.

2.2 Các thành tựu đạt được của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam giai đoạn 2018-2025

2.2.1. Về chỉ tiêu doanh thu

Những năm gần đây, thị trường khách quốc tế đến Việt Nam được mở rộng. Nhờ vào các chính sách phát triển du lịch lữ hành của nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam ngày càng tăng cường quan hệ ngoại giao với các hãng du lịch lữ hành trên thế giới. Do vậy mà doanh thu của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế đã đóng góp một phần không nhỏ trong GDP qua các năm. Ví dụ như năm 2022, doanh thu từ hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế đóng góp 4% GDP quốc gia, năm 2023 chiếm 4,9 % GDP quốc gia.

  • Bảng 2.1 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế ở Việt Nam giai đoạn 2018-2025

2.2.2 Về chỉ tiêu số lượt khách

  • Biểu đồ 2.2. Tổng số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 2018-2025 (theo phương tiện)

Phương tiện chủ yếu khách du lịch sử dụng là đường hàng không (chiếm 52%) và đường bộ (chiếm 36%). Phương tiện đường biển (chiếm 12%) còn hạn chế do hệ thống tàu biển chở khách và hệ thống cảng biển của nước ta còn ít và chưa hiện đại. Do vậy, khách du lịch châu Âu thường hay đi máy bay. Bên cạnh đó, khách du lịch đến từ Trung Quốc, Lào, Đài Loan,… chủ yếu dùng các phương tiện đường bộ. Khi các cửa khẩu đường bộ được mở rộng, các thủ tục xuất nhập cảnh đón khách từ các nước láng giềng sang được cải tiến, cơ chế đi lại giữa nước ta và nước bạn đã dễ dàng hơn thì phương tiện đường bộ được khách du lịch từ Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan ưa thích nhất.

  • Biểu đồ 2.3. Tổng số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 2018-2025 (theo mục đích)

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chủ yếu nhằm mục đích du lịch, nghỉ ngơi. Tỷ trọng khách du lịch với mục đích này chiếm khoảng 55-60%. Bởi tài nguyên du lịch nước ta vô cùng phong phú và hấp dẫn. Khách du lịch đến tham quan không những những danh lam thắng cảnh mà còn những di tích lịch sử, lễ hội truyền thống,… Nếu như năm 2018, số khách du lịch đến Việt Nam để du lịch và nghỉ ngơi mới chỉ dừng lại ở con số 1138,9 nghìn lượt khách thì đến năm 2025 con số ấy đã tăng lên 2569,1 nghìn lượt tức là gấp 2,3 lần. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Tỷ trọng khách du lịch với mục đích công tác chiếm khoảng 15 – 20%. Khách du lịch đến với mục đích này chủ yếu là những nhà kinh doanh đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư. Bên cạnh đó còn có những quan khách của Chính phủ các nước sang thăm nước ta với mục đích ngoại giao.

Số còn lại là với mục đích thăm thân nhân hoặc các mục đích khác như: chữa bệnh, giải trí…

Cơ cấu tỷ trọng theo mục đích chuyến đi như trên có xu hướng ít thay đổi.

  • Bảng 2.4: Tổng số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 2018-2025 (theo thị trường khách du lịch)

Cơ cấu khách du lịch chia theo thị trường gồm nhiều nước trên thế giới. Nổi bật nhất là 6 thị trường trọng điểm gửi khách đến Việt Nam: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Pháp, ngoại trừ Anh. Thị trường khách du lịch Trung Quốc là thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Đó là nhờ các cửa khẩu đường bộ được mở rộng, các thủ tục xuất nhập cảnh đón khách từ các nước láng giềng sang được cải tiến, cơ chế đi lại giữa nước ta và nước bạn đã dễ dàng hơn. Nhưng những năm gần đây có chiều hướng giảm nhẹ.

Thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn thứ hai là thị trường Mỹ. Lượng khách đến từ Mĩ ngày càng tăng mạnh, năm 2025 cao gấp gần 2 lần so với năm 2018.

Bên cạnh đó, các thị trường trọng điểm khác cũng thu lại những kết quả đáng mừng như thị trường khách du lịch từ Nhật Bản, Đài Loan, Pháp. Lượng khách ở các thị trường khác tăng càng nhanh, năm 2025 tăng 1071,8 nghìn lượt so với năm 2018. Điều đó là bởi lượng khách ở các thị trường mới như: Australia, Campuchia, Singapore, Thái Lan…tăng lên.

2.2.3. Về chỉ tiêu thời gian khách lưu trú và mức chi tiêu Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Cùng với sự gia tăng tổng số lượt khách quốc tế đến Việt Nam, thời gian khách lưu trú cũng tăng lên đáng kể. Nếu như năm 2018 tổng số ngày khách quốc tế lưu trú lại Việt Nam là hơn 9 triệu ngày thì đến năm 2025, con số ấy đã tăng thêm 3,5 triệu ngày. Nguyên nhân tăng số ngày lưu trú của khách có nhiều nhưng căn băn vẫn là nhờ các sản phẩm du lịch của nước ta ngày càng phong phú, đa dạng, mới mẻ hơn, chất lượng hơn, tổ chức được nhiều tuyến điểm du lịch hấp dẫn hơn. Mặt khác, Việt Nam đang trong thời kì hội nhập với thế giới nên thu hút nhiều nhà đầu tư, nhà nghiên cứu đến tìm hiểu và tìm kiếm cơ hội đầu tư. Nếu như năm 2015 thời gian lưu trú trung bình của một khách du lịch quốc tế là 5,8 ngày thì năm 2018 con số này đã tăng lên 6.7 ngày. Theo khảo sát thống kê, trung bình mỗi năm thời gian lưu trú trung bình của mỗi khách quốc tế tăng lên 0,22 ngày.

Mức chi tiêu trung bình của khách cũng tăng lên đáng kể. Năm 2025 trung bình mỗi người khách quốc tế chi tiêu 800USD, tương đương xuất khẩu 4 tấn gạo.

2.2.4. Về hoạt động xúc tiến, quảng bá hoạt động du lịch

Bản chất của hoạt động xúc tiến hỗn hợp là phối hợp các hoạt động truyền thông marketing về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng mục tiêu nhằm thuyết phục họ mua chương trình du lịch do doanh nghiệp thiết kế và thực hiện. Mục tiêu duy nhất của các hoạt động này làm cho các chương trình du lịch của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có nhiều người mua hơn. Nhận thức rõ điều này, Đảng, nhà nước và các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam đều rất chú trọng đến hoạt động này. Hoạt động này được thực hiên trên 4 mảng nội dung như sau:

  • Thông tin tuyên truyền trên báo chí.

Công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển du lịch, về tình hình du lịch trong và ngoài nước và hoạt động của Ngành được duy trì thường xuyên trên hệ thống thông tin đại chúng trong nước:

Trên Đài truyền hình Trung ương: xây dựng các chương trình giới thiệu về đất nước-con người, về các điểm du lịch trọng điểm của Việt Nam phát sóng định kỳ trên “Du lịch qua màn ảnh nhỏ” của VTV2 và gần đây là VTV4. Cung cấp tư liệu, thông tin thời sự về hoạt động của Ngành và phối hợp với VTV1 tổ chức các buổi trao đổi, tọa đàm, đối thoại về du lịch. Trong một số sự kiện xúc tiến quan trọng ở cả trong và ngoài nước, mời đại diện của VTV tham dự, kịp thời phản ánh rộng rãi hoạt động của Ngành trên sóng truyền hình. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Hợp tác phát sóng định kỳ (vào Thứ Tư và Chủ nhật hàng tuần) trên Đài Tiếng nói Việt Nam các chuyên mục “Tìm hiểu chính sách du lịch”, “Bảo vệ môi trường du lịch” “ý kiến doanh nghiệp”, “Câu chuyện hướng dẫn viên”, “Đi đâu, xem gì, ăn gì” và trang tin du lịch trong nước, quốc tế “Việt nam-Đất nước con người”, “Nhìn ra thế giới”, “Thư bạn yêu du lịch”:,….

Trên các báo viết có lượng phát hành lớn: Mở chuyên trang Du lịch, cung cấp thông tin cho độc giả về chính sách, định hướng phát triển, về vị trí, vai trò và hoạt động của Ngành trên các báo Nhân Dân, Quan hệ Quốc tế, Lao Động, Vietnam News, Báo ảnh Việt Nam, Báo và Tạp chí Du lịch.

Đối với thị trường ngoài nước, bên cạnh việc thông tin trực tiếp tại chỗ nhân các sự kiện xúc tiến, Chương trình đã phối hợp với các cơ quan, đối tác liên quan, nhất là Hàng không và hệ thống cơ quan đại diện của nước ta để tăng cường thông tin, giới thiệu hình ảnh điểm đến Việt Nam trên các chuyến bay quốc tế của Vietnam Airlines, trên một số kênh truyền hình quốc tế lớn và báo viết chuyên ngành (TTG của Thái Lan, Travel của Hoa Kỳ, Echo Tourisme và Voyages Ebdo của Pháp, Paradise của Australia). Đã chủ trì tổ chức mời và tổ chức đón tiếp 38 đoàn đại diện các hãng lữ hành, thông tấn báo chí của các thị trường gửi khách lớn vào tham quan, khảo sát (fam trip) và viết bài về điểm đến Việt Nam (đoàn NHK Nhật Bản, lữ hành-báo chí Hoa Kỳ, Pháp, Thuỵ Sỹ, Đức, Hàn Quốc,…). Ngoài ra, đã phối hợp với Vietnam Airlines, Air France, Cathay Pacific,… tổ chức hàng chục đoàn fam tour khác, giới thiệu sản phẩm của Du lịch Việt Nam.

  • Ứng dụng công nghệ tin học, quảng bá hình ảnh điểm đến Việt Nam trên mạng INTERNET.

Chương trình đã từng bước đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị tin học phục vụ quảng bá trên mạng INTERNET gồm 04 máy chủ riêng biệt, máy chuyên dụng thiết kế công nghệ cao, bổ sung thiết bị mạng và phần mềm hỗ trợ để nâng cao hiệu quả website; đồng thời, thuê bao server và đường truyền dùng riêng (tốc độ 128 KB), duy trì tên miền phục vụ quản lý, cung cấp và khai thác thông tin. Trên cơ sở đó, đã xây dựng, duy trì, nâng cấp các websites:

  • http://www.vietnamtourism: Giới thiệu tổng quan về văn hóa, lịch sử, đất nước, con người và tiềm năng du lịch Việt Nam bằng 5 ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp, Trung, Nhật. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.
  • http://www.vietnamtourism.gov: Trang thông tin điện tử của Tổng cục Du lịch (bằng tiếng Anh và tiếng Việt).
  • http://www.vietnamtourism-info.
  • http://www.dulichvn.org: thông tin du lịch trực tuyến, thể hiện bằng 2 ngôn ngữ Anh, Việt.
  • http://www.myhotelvietnam: Hệ thống đặt phòng trực tuyến.

Bên cạnh đó cũng đã xây dựng và phát hành một số sản phẩm quảng bá công nghệ cao như CD-ROM Di sản Thế giới ở Việt Nam, CD-ROM Lễ hội truyền thống Việt Nam (bằng 3 ngôn ngữ Việt, Anh và Pháp).

  • Xây dựng các loại sản phẩm quảng bá du lịch

92 biển quảng cáo tấm lớn được xây dựng tại các nút giao thông, cửa khẩu quốc tế quan trọng và tại các trung tâm du lịch thuộc 53 địa phương trong cả nước giới thiệu điểm đến Du lịch Việt Nam với du khách trong và ngoài nước. Sử dụng trên 2.000 băng rôn, cờ phướn các loại phục vụ công tác tuyên truyền quảng bá du lịch trong dịp tổ chức các lễ hội truyền thống và sự kiện du lịch của Ngành. Đối với sản phẩm multimedia, đã sản xuất phim giới thiệu về Du lịch Việt Nam (20′) và phim quảng bá Con đường Di sản miền Trung (15′), phim tư liệu Du lịch Việt Nam 45 năm xây dựng và trưởng thành; xây dựng phim quảng cáo 30 giây và thuê phát trên màn hình điện tử LED-VINAVISON với tần suất 60 lần/ngày liên tục trong 1 năm; hoàn thành và đưa vào sử dụng 1 CD-ROM về Di sản Thế giới và 1 CD-ROM về Lễ hội Du lịch ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Chương trình đã phối hợp và hỗ trợ Tổng cục Cảnh sát Nhân dân-Bộ Công an hoàn thành phim phóng sự về tình hình thực hiện Chỉ thị 07/TTg của Thủ tướng Chính phủ về đảm bảo an ninh, an toàn và trật tự xã hội tại các điểm du lịch và trong dịp diễn ra các lễ hội, sự kiện du lịch.

Về ấn phẩm, Chương trình đã in, phát hành trên 4,5 triệu đầu ấn phẩm các loại bằng 5 ngoại ngữ Anh, Pháp, Trung, Nhật, Đức và một phần bằng tiếng Việt. Các ấn phẩm này chủ yếu được sử dụng trong các chiến dịch xúc tiến hình ảnh điểm đến ở ngoài nước như hội chợ, road show, hội nghị, hội thảo, diễn đàn về Du lịch, festival,… và cung cấp 32.000 kg ấn phẩm các loại cho 29 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đã thiết kế, sản xuất và sử dụng trên 20.000 đầu tặng phẩm, đồ lưu niệm các loại như huy hiệu logo Ngành, ca ra vát, áo phông, nón, mũ, túi vải,…(có in logo và slogan của Chương trình hoặc logo của Ngành).

Chương trình đã phối hợp mở và hỗ trợ duy trì hoạt động (địa điểm, thiết bị, ấn phẩm, nhân công) của 5 phòng thông tin du lịch tại các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Phú Bài, Đà Nẵng và Cần Thơ giải đáp, chỉ dẫn và cung cấp thông tin cần thiết tại chỗ cho khách. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

  • Quảng bá du lịch nhân các sự kiện quốc tế lớn tại Việt Nam

Tranh thủ các sự kiện quốc tế được tổ chức tại Việt Nam, đã tiến hành các hoạt động giới thiệu hình ảnh điểm đến Việt Nam, về đất nước, con người Việt Nam với các đối tượng trực tiếp tham dự sự kiện và, thông qua các kênh báo chí (cả báo nói, hình và viết) với công chúng quốc tế.

Chương trình du lịch thể thao tổng hợp RAID Gauloises với sự tham gia của 544 khách quốc tế (255 vận động viên, 56 nhà báo, 102 trợ lí vận động viên và trên 100 nhà điều hành) đến từ 17 quốc gia trên thế giới. Đây là chương trình lớn, kéo dài 2 tuần lễ, đi qua 9 tỉnh phía bắc của Việt Nam (từ Bắc Hà-Lao Cai và kết thúc tại Cát Bà-Hải Phòng), các hoạt động đa dạng, từ đi bộ, đua xe đạp địa hình, thuyền cao su, leo thác, đi trên dây cáp, đua bè và thuyền nan, thuyên kayak, hành trình dài trên 1000 km với cảnh quan hùng vĩ và con người thân thiện, tổ chức an toàn và chuyên nghiệp cao. Hình ảnh và tin tức về Việt Nam được phát trên 40 kênh truyền hình quốc tế và đăng tải trên hàng chục tờ báo nước ngoài liên tục trước, trong và sau sự kiện.

Ngay từ năm 2019, dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch và Ban Tổ chức SEA GAMES 22, Chương trình đã phối hợp với các bộ ngành, địa phương liên quan triển khai các hoạt động xúc tiến du lịch và phục vụ Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 22. Chương trình đã hỗ trợ 11 địa phương (được chọn làm nơi thi đấu của SEA GAMES 22 và PARA GAMES 2) tổ chức các hoạt động hưởng ứng, chào đón và tuyên truyền trên báo chí; chỉnh trang môi trường tại các điểm du lịch, nơi đón khách; tổ chức 50 lớp tập huấn nghiệp vụ (nấu các món ăn đạo Hồi, lễ tân, hướng dẫn, phục vụ bàn, buồng, pha chế rượu, ngoại ngữ) cho 3000 lượt người tham gia phục vụ Đại hội; đầu tư xây dựng mới 5 tours và nâng cấp, cải tiến trên 30 tours các loại (tour trong ngày, mua sắm, tham quan cho các phu nhân, các vận động viên,…) phục vụ các đối tượng khách; hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch làng nghề Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương), Đông Hồ (Bắc Ninh),….và sản xuất các loại đồ lưu niệm du lịch phục vụ khách tham dự Đại hội. Bên cạnh đó, Chương trình tham gia và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở Tiểu ban Hậu cần, chịu trách nhiệm bố trí 75 khách sạn cho các vận động viên, trọng tài, quan chức và 100 khách sạn phục vụ các phòng viên báo chí quốc tế; lên 13 thực đơn chuẩn (kể cả thức ăn Halal food-hợp khẩu vị mọi đối tượng) và bố trí đội ngũ đầu bếp lành nghề phục vụ, đảm bảo an toàn, vệ sinh và chất lượng); tổ chức biên soạn sách hướng dẫn về điều kiện ăn nghỉ phục vụ khách tham dự SEA GAMES 22 và PARA GAMES 2. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Nhân Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á-Thái Bình Dương tại Huế (6/2022, với sự tham gia của 187 đại biểu từ gần 20 quốc gia khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đại diện các tổ chức quốc tế UNESCAP, UNESCO, Cơ quan phát triển của Hà Lan-SNV), Chương trình đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng về Hội nghị trên báo chí và tổ chức gian hàng bên lề Hội nghị để trưng bày hình ảnh về Du lịch Việt Nam. Tuyên bố của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) về Du lịch văn hóa và xóa đói giảm nghèo mang tên “Tuyên bố Huế” đã góp phần nâng cao vị trí, quảng bá điểm du lịch Cố đô Huế và tô đậm hình ảnh Việt Nam trên thế giới. Thông qua việc tổ chức thành công Hội nghị, các quan chức WTO và đại biểu tham dự Hội nghị đánh giá cao khả năng phát triển loại hình du lịch MICE của Việt Nam.

Ngoài các sự kiện trên, Chương trình còn tích cực tổ chức các họat động xúc tiến du lịch nhân các sự kiện quốc tế khác tổ chức tại nước ta: Hội nghị ASEM 5 (10/2022), Đoàn xe tay lái bên phải Ấn Độ-ASEAN (12/2022),…

Tổ chức và tham gia các sự kiện xúc tiến trong và ngoài nước:

  • Trong nước

Cùng với việc xúc tiến, tuyên truyền quảng bá trên báo chí, internet, thông qua các sự kiện quốc tế lớn được tổ chức tại Việt Nam, Chương trình đã tổ chức và đầu tư hỗ trợ, hướng dẫn, tham gia tổ chức tuyên truyền quảng bá du lịch qua hoạt động của gần 100 sự kiện du lịch trong nước: Hội chợ Xuân Du lịch 2018 (Hà Nội), Liên hoan Du lịch Đất phương Nam 2018 (TP.HCM), Liên hoan Du lịch quốc tế Hà Nội (2018, 2021, 2023), Giao Thừa Thiên niên kỷ (Đồng Nai), Tuần Văn hóa-Du lịch Hội An năm 2018, Lễ hội Tháp Bà Ponaga (Khánh Hòa), Quán Thế Âm (Đà Nẵng), Ka tê (Ninh Thuận), Ooc Om Booc (Sóc Trăng), Bà Chúa Xứ (An Giang), Festival Huế 2 năm một lần, 110 năm Đà Lạt, Festival Hoa Đà Lạt, 100 năm Sapa, Đêm rằm phố cổ Hội An, Nhịp cầu xuyên Á-Quảng Trị, Con đường Di sản miền Trung, Liên hoan Du lịch Cà Mau, Liên hoan Văn hóa-Du lịch Đà Nẵng, Hè Phố biển Nha Trang, Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á-Thái Bình Dương tại Huế, Lễ hội Việt-Nhật tại TP. Hồ Chí Minh, Lễ hội Sắc hoa Đà Lạt… Đặc biệt, Chương trình đã phối hợp tổ chức các hoạt động theo chủ đề hàng năm: Năm Du lịch Hạ Long 2021, Năm Du lịch Điện Biên Phủ 2022, Năm Du lịch Nghệ An 2023 và hưởng ứng các năm du lịch này là chuỗi các hoạt động phối hợp ở cả trong và ngoài nước.

  • Ngoài nước Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Hoạt động xúc tiến trên thị trường ngoài nước là một trong các trọng tâm của Chương trình. Trong 5 năm, Chương trình đã tổ chức tham gia 52 hội chợ du lịch quốc tế định kỳ hàng năm và tổ chức 29 chương trình giới thiệu điểm đến (road show) tại các thị trường gửi khách quan trọng. Cụ thể, năm 2018: Tham gia 10 hội chợ du lịch quốc tế chuyên ngành (WTM-Anh, JATA-Nhật Bản, ITB-Đức, TOP RESA-Pháp, CITM-Thượng Hải-Trung Quốc, ITE Hồng Kông, các hội chợ tại Lào, Thái Lan, Singapore, Reunion-Pháp) và 4 đợt road show tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Australia; năm 2019: 7 hội chợ (ITB-Đức, ITE-Hồng Kông, CITM-Côn Minh-Trung Quốc, JATA-Nhật Bản, Bressure-Pháp, Lễ hội Du lịch-Việt Nhật, Tuần lễ Du lịch Việt Nam tại Bỉ) và 4 đợt road show tại Đức, Pháp, Singapore và Thái Lan; năm 2020: 7 hội chợ (ITB-Đức, Brussels Holiday (Bỉ), TOP RESA-Pháp, WTF-Nhật Bản, TUR-Thụy Điển, ATF-Campuchia, Salon Mondial-Pháp) và 5 đợt road show tại Trung Quốc, Australia, 2 đợt tại Hàn Quốc, Pháp; năm 2021: 10 hội chợ (ITB-Đức, AHETE-Malaysia, WTF-Nhật, ATF-Lào, Stockholm và TUR-Thụy Điển, WTM-Anh, TOP RESA-Pháp, Hội Báo Nhân đạo-Pháp, IT &CMA-Thái Lan) và 9 road show tại Mỹ, Đức, 2 ở Nhật, Australia, Anh, Pháp, Thụy Điển, Lào; năm 2022: 8 hội chợ (ITB-Đức, JATA-Nhật, TOP RESA-Pháp, AHETE-Malaysia, Hội báo Nhân đạo-Pháp, KOTFA-Hàn Quốc, WTM-Anh, Hội chợ Beer-Đức) và 4 road show (Thụy Sĩ, Thụy Điển, Ấn Độ, Trung Quốc); năm 2023: đã tổ chức được 12 hội chợ (ATF-Malaysia, ITB-Đức, Barcelona-Tây Ban Nha, BITTM-Bắc Kinh, World Expo-Nhật Bản, TTM-Thái Lan, KOTFA-Hàn Quốc, Côn Minh-Trung Quốc, JATA-Nhật, TOP RESA-Pháp, Lugano-Thụy Sĩ, WTM-Anh) và 3 road show (Frankfurt-Đức, Nga và Hoa Kỳ).

2.3. Những hạn chế cần khắc phục của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

2.3.1 Về chủng loại và giá bán các chương trình du lịch

Về chủng loại chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở Việt Nam là tương đối giống nhau về tuyến điểm, độ dài, các dịch vụ có trong chương trình và giá cả. Các chương trình du lịch có thể chia thành 2 nhóm chính. Nhóm 1 bao gồm các chương trình du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam dành cho người nước ngoài và nhóm 2 bao gồm các chương trình du lịch ra nước ngoài. Các chương trình du lịch nội địa chiếm khoảng 85% là các chương trình du lịch tổng hợp ( kết hợp cả tham quan nghỉ ngơi, giả trí, tìm hiểu) với nhiều đối tượng tham quan ở các điểm đến du lịch nổi tiếng ở Việt Nam. Các chương trình du lịch chuyên đề như du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu lịch sử, văn hoá nghệ thuật chiếm tỷ lệ nhỏ với thời gian ngắn từ 1 đến 2 ngày ở trong phạm vi hẹp. Các chương trình du lịch ra nước ngoài chủ yếu là chương trình du lịch tham quan, mua sắm đến Trung Quốc và các nước trong khối Asean, với độ dài ít nhất là 4 ngày, nhiều nhất là 7 ngày, phương tiện vận chuyển chủ yếu là máy bay. (Riêng đến Trung Quốc băng ô tô và tàu hoả). Vào thời điểm năm 2018, mức giá trung bình một ngày khách châu Âu, châu Mĩ khoảng 85 USD, khách châu á khoảng 40 USD( không bao gồm chi phí giá vé máy bay từ nơi xuất phát đến Hà Nội và ngược lại). Giá trung bình một ngày khách cho người Việt Nam đi Trung Quốc khoảng 60 USD, đi các nước Asean (trừ Lào và Campuchia) khoảng 120 USD ( bao gồm cả vé máy bay đi về). Giá trung bình một ngày khách trong chương trình du lịch nội địa là 125.000 VNĐ. Nếu so sánh với giá cả trung bình ngày khách vơí chương trình du lịch có chất lượng tương tự của các doanh nghiệp lữ hành của Trung Quốc, Thái Lan thì giá cả của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam luôn luôn đắt hơn.

2.3.2. Về hoạt động xúc tiến hỗn hợp các chương trình du lịch

Đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch chưa được nhận thức đúng trong các cấp các ngành, còn lẫn với quảng cáo nên chưa được chú ý quan tâm xây dựng cơ chế tạo nguồn kinh phí và phối hợp lực lượng trong các chiến dịch quảng bá về đất nước, con người và du lịch Việt Nam. Thông qua sự điều phối của Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch, hoạt động phối hợp liên ngành tuy đã được cải thiện nhưng các cấp, các ngành chưa thực sự coi việc triển khai hoạt động xúc tiến là một trong những trách nhiệm của mình; sự phối kết hợp chưa thất tốt, chưa đủ để đáp ứng đòi hỏi của hoạt động du lịch mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Công tác đạo tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ xúc tiến quảng bá tuy đã có nhiều cố gắng song vì nhu cầu lớn, hiện nay chưa kịp chuẩn bị đồng bộ về cơ sở vật chất kĩ thuật, về chương trình và đội ngũ giáo viên nên chưa đáp ứng được yêu cầu đạo tạo lại và đào tạo mới cho lực lượng làm công tác xúc tiến, quảng bá trong ngành. Một số hoạt động xúc tiến ở nước ngoài, nhất là việc tham gia hội chợ du lịch quốc tế, tổ chức các chương trình giới thiệu điểm đến còn mang nặng hình thức, theo lối mòn, đơn điệu, thiếu tính chuyên nghiệp và hiệu quả chưa cao.

2.3.3. Về hoạt động xây dựng chương trình du lịch Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Chương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế muốn tiêu thụ được trước hết nội dung thiết kế của nó phải phù hợp với các nội dung tiêu dùng du lịch của khách, những mong đợi của họ về chương trình và cảm nhận được của họ ( mức độ thoả mãn) khi tiêu dùng chương trình du lịch của doanh nghiệp. Do đó, hoạt động nghiên cứu thị trường khách là hoạt động đóng vai trò tiền đề quyết định tới sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát ở 10 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế cho thấy các doanh nghiệp chưa quan tâm đến hoạt động này. Chỉ có 3 doanh nghiệp trả lời là có nghiên cứu thị trường khách du lịch với chi phí không đáng kể (từ 4 triệu đồng đến 20 triệu đồng/ năm) còn lại 7 doanh nghiệp trả lời là không thực hiện hoạt động nghiên cứu thị trường khách du lịch [16]. Mặt khác, việc nghiên cứu các nhà cung cấp, lựa chọn các nhà cung cấp cũng không hơn gì. Nguồn thông tin để nghiên cứu thị trường chủ yếu là nguồn thông tin thứ cấp, chưa doanh nghiệp nào thực sự đầu tư vào việc thu thập nguồn thông tin sơ cấp thông qua việc sử dụng các phương pháp quan sát, trưng cầu ý kiến khách hàng và các nhà cung cấp, hay làm nghiên cứu thực nghiệm để xây dựng các chương trình du lịch. Vì vậy hoạt động xây dựng chương trình du lịch của các doanh nghiệp Việt Nam mang tính sao chép, dựa vào những chương trình du lịch truyền thống với khuôn mẫu và thông tin có sẵn. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho các chương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế chưa hấp dẫn các thi trường mục tiêu khác nhau. Vì bỏ qua hoặc xem nhẹ hoạt động nghiên cứu thị trường mà bộ phận Marketing trong các doanh nghiệp lữ hành đã không được xác định đúng vai trò, vị trí trong doanh nghiệp. Tất cả doanh nghiệp kinh doanh lữ hành được khảo sát đều không có bộ phận Marketing hoạt động độc lập với đầy đủ vai trò và chức năng của bộ phận này trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp [10].

2.3.4 Về hoạt động bán và thực hiện chương trình du lịch

Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam có quy mô nhỏ, hạn hẹp về nguồn lực nên chọn phương thức ban chương trình du lịch cho khách nước ngoài thông qua các doanh nghiệp lữ hành tại chỗ. Mặt khác, thực hiện chiến lược liên kết ngang sử dụng kênh phân phối marketing chiều ngang là thích hợp nhất. Và các doanh nghiệp lữ hành nước ngoài là kênh phân phối chương trình trọn gói quan trọng bậc nhất cho các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam. Do vậy, họ có quyền mặc cả cao trong điều kiện thuận lợi là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế ở Việt Nam cạnh tranh với nhau hết sức quyết liệt không phải bằng sự khác biệt về chất lượng sản phẩm mà bằng giá cả. Điều này dẫn đến thiệt hại chung cho toàn ngành.

Việc tổ chức thực hiện chương trình du lịch trọn gói là công việc và trách nhiệm chính của bộ phận điều hành và hướng dẫn trong doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế. Nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chương trình du lịch ở các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế nổi lên các vấn đề: thiếu sự phân cấp quản lí, phân công công việc không rõ ràng giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, thiếu thông tin thường xuyên kịp thời, chính xác, thiếu các phương án xử lí tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện chương trình du lịch. Đội ngũ hướng dẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của nghề nghiệp, đặc biệt là các kĩ năng giao tiếp và tất cả các doanh nghiệp đều bỏ qua dịch vụ sau khi kết thúc chương trình du lịch. Ví dụ, khách du lịch người Đức đánh giá hướng dẫn viên du lịch của Hà Nội mới đáp ứng được 50% yêu cầu của khách du lịch như sau:

  • Bảng 2.5. Mức độ đáp ứng của hướng dẫn viên đối với các yêu cầu của khách du lịch

2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt đông kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

2.2.1 Nguyên nhân từ phía nhà nước

Quản lí nhà nước với hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tuy đã được cải thiện nhưng còn nhiều bất cập. Một mặt, hệ thống các quy phạm pháp luật nhiều nhưng thiếu tính đồng bộ và nhất quán.Mặt khác, công tác kiểm tra, thanh tra giám sát của cơ quan nhà nước về du lịch chưa được coi trọng. Do vậy mà công tác quản lí ngành trên cơ sở pháp luật và bằng chứng pháp luật còn nhiều yếu kém.

Các chính sách khuyến khích việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chậm đổi mới. Ví dụ, chính sách thuế giá trị gia tăng áp dụng cho ngành du lịch quá cao, trong khi đó kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách lại thực hiện việc xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vô hình và cả tái xuất. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho chương trình du lịch trọn gói của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam có mức giá cao, không có sức hấp dẫn khách du lịch quốc tế. Trong khi đó nhiều quốc gia đã áp dụng thuế giá trị gia tăng ở mức thấp nhất cho khách du lịch quốc tế. Ngoài ra còn miễn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch khi họ mua hàng hóa (trên cơ sở hoá đơn mua hàng khách du lịch được trả lại giá trị gia tăng mà họ đã phải trả trước khi xuất cảnh tại quốc gia đó).

Các biện pháp để thực hiện các Quy hoạch phát triển Du lịch Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chưa đủ mạnh. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực của ngành du lịch chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với trọng trách được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn.

2.2.2 Nguyên nhân từ phía doanh nghiệp

Số lượng các doanh nghiệp lữ hành tuy đã nhiều nhưng lại phân tán, manh mún, dàn trải thiếu tập trung, thiếu chiến lược và tầm nhìn hạn chế. Sự liên doanh, liên kết của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam ở mức độ thấp. Bên cạnh đó là sự thiếu vốn trong kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp. Qua điều tra nghiên cứu thấy rằng: hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam có quy mô nhỏ, vốn cố định thường dưới 5 tỷ VNĐ. Mặt khác, mối quan hệ tỉ lệ giữa vốn cố định và vốn lưu động cũng không phù hợp với tính chất của kinh doanh lữ hành.

Quy trình kinh doanh chương trình du lịch chưa được các doanh nghiệp thực sự coi trọng. Đặc biệt là ở khâu thiết kế, khâu tổ chức bán và sau khi khách tiêu dùng chương trình du lịch. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam chưa đặt đúng vai trò của bộ phận Marketing như là chiếc cầu nối giữa khách hàng với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay, việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp chỉ quan tâm đến trình độ ngoại ngữ và hình thức của người lao động. Các yêu cầu khác như: trình độ đại học chuyên ngành du lịch còn bị xem nhẹ. Bên cạnh đó, đội ngũ hướng dẫn viên đều là cộng tác viên và làm hợp đồng ngắn hạn. Một người hướng dẫn viên làm việc ở nhiều công ty khác nhau. Và phần lớn hướng dẫn viên đều nói tiếng Anh, còn một số thứ tiếng khác như: Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc, Italia, Tây Ban Nha, Thái… còn hạn chế trong khi thị trường khách du lịch ở các nước này đang tăng lên nhanh. Hơn nữa, việc kiểm soát chất lượng của các hướng dẫn viên không chuyên nghiệp khi gặp sự cố bất đắc dĩ thì khả năng xử lí của họ không Đặc biệt hướng dẫn viên lại là người có tác động trực tiếp đối với khách hàng vì họ là người tiếp xúc thường xuyên nên uy tín của các doanh nghiệp là phụ thuộc vào họ.

  • Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế còn nhiều hạn chế.

Có thể nói những năm gần đây nhận thức của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành về thương mại điện tử thay đổi nhanh theo hướng tích cực. Theo kết quả điều tra của Bộ Thương mại tiến hành gần đây cho thấy, gần 100% các doanh nghiệp đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của Thương mại điện tử đối với hoạt động kinh doanh lữ hành, đặc biệt là hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế. Thế nên, nhiều doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đã quan tâm đầu tư hiệu quả cho hoạt động Thương mại điện tử. Nhưng nhìn một cách toàn diện khi so sánh với các nước phát triển thì ứng dụng Thương mại điện tử của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Việt Nam còn ở mức độ sơ khai. Hầu hết các website của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế đều chỉ dừng lại ở mức cung cấp thông tin khái quát về doanh nghiệp và sản phẩm chứ chưa thực sự là công cụ tương tác giữa khách hàng và doanh nghiệp.

2.2.3 Các nguyên nhân khác Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

Sự phát triển mất cân đối, lại không đồng bộ trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu của các nhà cung cấp sản phẩm du lịch cho các doanh nghiệp lữ hành trong việc sản xuất các chương trình du lịch ( dịch vụ lưu trú và ăn uống thừa trong khi dịch vụ vận chuyển bằng máy bay, dịch vụ tham quan giải trí-thành phần vừa là cốt lõi vừa là đặc trưng của chương trình du lịch thì vừa thiếu về số lượng vừa kém về chất lượng phục vụ)

Mối quan hệ lỏng lẻo giữa các nhà cung cấp với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế và ngược lại chưa thực sự tôn trọng lợi ích của nhau. Các hình thức quan hệ giữa nhà cung cấp sản phẩm với nhà kinh doanh lữ hành quốc tế ở Việt Nam chủ yếu là tiêu thụ sản phẩm để hưởng hoa hồng, không cùng các nhà cung cấp chia sẻ rủi ro.

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

Dựa trên những lí luận cơ bản của chương I, chương II là quá trình phân tích, đánh giá và nhận xét về thực trạng hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025. Hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam giai đoạn này đã đạt được những thành tựu đáng mừng, đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân, mang lại những lợi ích thiết thực về chính trị, văn hoá, xã hội như : doanh thu từ hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế đã đóng góp 4% GDP quốc gia năm 2022 và 4,9% năm 2023, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, khôi phục nhiều làng nghề thủ công truyền thống,…Hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch được đẩy mạnh không chỉ giới thiệu du lịch Việt Nam với bạn bè thế giới mà còn tạo dựng hình ảnh một Việt Nam an toàn, thân thiện, mến khách và trù phú, tạo cơ sở thu hút đầu tư nước ngoài,…Bên cạnh đó cũng không thể không kể đến những hạn chế cần khắc phục của hoạt động này như: hoạt động xây dựng chương trình du lịch còn mang tính sao chép, khuôn mẫu, chưa thực sự hấp dẫn khách du lịch quốc tế; về hoạt động bán và thực hiện chương trình du lịch, giá cả còn cao, chất lượng phục vụ chưa tốt,…Những hạn chế này xuất phát từ những nguyên nhân từ cả hai phía: nhà nước và các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế. Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do sự quản lí của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế chưa đồng bộ và hiệu quả, quy mô các doanh nghiệp còn nhỏ, tổ chức lỏng lẻo, năng lực kinh doanh còn yếu. Bằng việc phân tích những nguyên nhân nêu trên, chương II đã tạo bước đệm quan trọng để chương III đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam trong giai đoạn sắp tới. Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Thực trạng kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537