Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1. CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY

Cùng với sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài (đến nay là Luật Đầu tư), hệ thống chính sách pháp luật về thuế nói chung, và thuế đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài nói riêng cũng được xây dựng và ngày càng hoàn thiện.

Từ năm 2021 đến nay, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của cơ chế người nộp thuế tự tính, tự kê khai và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế, cải cách thuế bước III đã chính thức đưa cơ chế quản lý thuế tự khai, tự nộp _ một cơ chế quản lý thuế hiện đại vào đời sống kinh tế – xã hội. Đồng thời, hệ thống chính sách thuế cũng được xây dựng theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, đó là cắt giảm thuế suất theo lộ trình, mở rộng cơ sở tính thuế nhằm xoá bỏ phân biệt đối xử về mức thuế xuất đối với các thành phần kinh tế, công tác quản lý thuế công khai, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện và phù hợp với thông lệ quốc tế.

2.1.1. Giai đoạn 1/2021 – 7/2024 (Giai đoạn thực hiện thí điểm)

Để triển khai có hiệu quả cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên phạm vi toàn quốc. Bộ Tài Chính đã thực hiện triển khai thí điểm cơ chế tự khai, tự nộp thuế đối với 4 Cục thuế là: Cục thuế TP Hồ Chí Minh, Cục thuế Quảng Ninh, Cục thuế TP Hà nội, Cục thuế Bà Rịa – Vũng Tàu với yêu cầu của việc thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế như sau:

Yêu cầu của việc thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế (TKN):

  • ĐTNT phải có sự hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, có ý thức tuân thủ Pháp luật về thuế.
  • Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện.
  • Cơ quan thuế phải có đủ thẩm quyền về điều tra, khởi tố và thực hiện quyền cưỡng chế thuế.
  • Bộ máy cơ quan thuế phải được tổ chức tập trung, chuyên môn hoá theo các chức năng, công việc ở từng cấp.
  • Công chức thuế được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng theo từng chức năng công việc.
  • Công tác quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại, và kỹ thuật quản lý rủi ro.

Nội dung cơ bản của việc quản lý thuế theo cơ chế TKN:

  • Về tổ chức bộ máy: (ở Cục thuế Hà Nội)
  • Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện đề án TKN.

Chọn phòng quản lý thu là Phòng thuế Đầu tư nước ngoài, và tổ chức theo mô hình chức năng, gồm 04 tổ bộ phận:

  • Tổ tuyên truyền và hỗ trợ Đối tượng nộp thuế;
  • Tổ xử lý dữ liệu và tổng hợp thuế (Quản trị và tổng hợp);
  • Tổ đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế;
  • Tổ thanh tra, kiểm tra thuế.

Nội dung cơ bản của nghiệp vụ quản lý thuế phân theo chức năng:

Chức năng, nhiệm vụ hỗ trợ và tuyên truyền Đối tượng nộp thuế:

Chức năng: Tuyên truyền, phổ biến, hỗ trợ Đối tượng nộp thuế trong quá trình thực hiện Pháp luật về thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế khi áp dụng cơ chế tự khai tự nộp. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn:

Tiếp nhận hồ sơ thuế và tiến hành các thủ tục hướng dẫn, trả lời, giải đáp các vướng mắc của Đối tượng nộp thuế trong quá trình thực hiện các quy định hiện hành về chính sách Thuế, phí và lệ phí thông qua các hình thức trả lời tại cơ quan thuế, qua điện thoại hoặc bằng văn bản theo đúng hướng dẫn về nghiệp vụ tại các quy trình do Tổng cục Thuế ban hành về việc hướng dẫn thực hiện công tác hỗ trợ Đối tượng nộp thuế trong thẩm quyền. Đối với những vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền của Phòng thuế Đầu tư nước ngoài thì hướng dẫn Đối tượng nộp thuế các thủ tục và liên hệ với cấp có thẩm quyền để giải quyết.

Chủ trì phối hợp với các Phòng chức năng của Cục Thuế tổ chức tiếp xúc thông qua các hình thức hội nghị, hội thảo, tập huấn để phổ biến hướng dẫn chính sách và thủ tục về thuế cho Đối tượng nộp thuế thực hiện cơ chế TKN.

Lưu trữ và tổ chức phổ biến chính sách thuế mới trong phạm vi cán bộ Phòng Đầu tư nước ngoài, thực hiện việc đào tạo và đào tạo tại chỗ về chuyên môn nghiệp vụ đối với lực lượng cán bộ chuyên trách của Phòng Đầu tư nước ngoài.

Lưu trữ và thông báo các nội dung hướng dẫn chính sách thuế đã tiến hành cho Đối tượng nộp thuế đến các Bộ phận chức năng của Phòng nhằm thống nhất các biện pháp thi hành Pháp luật về thuế.

  • Chức năng, nhiệm vụ xử lý tờ khai và tổng hợp:

Chức năng: Xử lý dữ liệu và tổng hợp về số thuế phát sinh của Đối tượng nộp thuế kê khai, phân tích và lưu trữ thông tin về thuế theo hồ sơ của Đối tượng nộp thuế. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn:

Tiếp nhận tờ khai, hồ sơ thuế của Đối tượng nộp thuế, và tiến hành xử lý trong thẩm quyền hoặc chuyển cho các Bộ phận chức năng theo phân công, phân cấp của Lãnh đạo Phòng và hoặc theo qui định tại quy trình TKN.

Căn cứ vào số liệu kê khai thuế của Đối tượng nộp thuế tiến hành các bước theo quy trình xử lý thông tin về số thuế phát sinh của Đối tượng nộp thuế nhằm mục đích quản trị dữ liệu thuế theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ.

Theo dõi, giám sát việc xử lý thông tin về số thuế phát sinh theo kê khai của Đối tượng nộp thuế, trên cơ sở dữ liệu đó tiến hành phân tích, đánh giá chung tình hình thực hiện của từng Đối tượng nộp thuế nhằm mục đích thu thuế, hoàn thuế và các mục đích khác theo yêu cầu tại hồ sơ thuế của Đối tượng nộp thuế và các Bộ phận chức năng của Phòng, cũng như các Bộ phận có liên quan của Cục, Ngành.

Xây dựng dự toán thu và tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu của Phòng.

  • Chức năng, nhiệm vụ thu nợ và cưỡng chế thuế:

Chức năng: Thi hành các biện pháp về đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế thuộc thẩm quyền đối với các Đối tượng nộp thuế trong quá trình thực hiện Pháp Luật về Thuế.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn: Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Nhận hồ sơ pháp lý thuế của Đối tượng nộp thuế và tổ chức thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ, cưỡng chế về thuế từ Bộ phận xử lý dữ liệu – tổng hợp.

Phân tích dữ liệu – thông tin về tình trạng thuế trên hồ sơ thuế của Đối tượng nộp thuế, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý, phối hợp thực hiện nhằm mục tiêu đôn đốc thu nợ, cưỡng chế về thuế đối với các Đối tượng nộp thuế không tuân thủ Pháp luật Thuế một cách có hiệu quả.

Tổ chức thực hiện quy trình theo dõi, đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, và theo thực tiễn của việc áp dụng cơ chế TNK trong phạm vi phân cấp, phân quyền.

Giúp lãnh đạo xây dựng các biện pháp, cơ chế phối hợp, cũng như hành lang Pháp lý về việc thực thi quyền hành pháp về thuế – mà cụ thể là quyền đôn đốc thu nợ và cưỡng chế về thuế.

  • Chức năng thanh tra, kiểm tra:

Chức năng: Tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp về việc thi hành Pháp luật về các Luật Thuế, Pháp lệnh phí và lệ phí trong phạm vi phân cấp, phân quyền quản lý, không phân biệt thanh tra, kiểm tra toàn diện các loại thuế, một sắc thuế, hoặc một kỳ tính thuế.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn:

Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm đối với các Đối tượng nộp thuế trong phạm vi phân cấp, phân quyền quản lý trên cơ sở thông tin thuế đã được thu thập, và phân tích theo quy trình.

Theo kế hoạch đã được lãnh đạo duyệt, phối hợp với các Phòng chức năng của Cục, cũng như các cơ quan ban ngành tại địa phương để thực hiện việc thanh tra,kiểm tra Đối tượng nộp thuế theo quy trình thanh tra, kiểm tra thuế do Tổng cục Thuế ban hành nhằm tránh chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm tra.

Thực hiện thanh tra, kiểm tra tại cơ sở theo quyết định về thanh tra, kiểm tra đúng theo các qui định tại quy trình thanh tra, kiểm tra do Tổng cục Thuế ban hành.

Lập hồ sơ trình Lãnh đạo Cục chỉ đạo giải quyết hoặc đề nghị cơ quan chức năng khởi tố theo quy định của Pháp luật đối với các Đối tượng nộp thuế vi phạm nghiêm trọng Pháp luật Thuế.

Tiếp nhận, kiểm tra, phân loại hồ sơ đề nghị hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế của các Đối tượng nộp thuế, dự thảo quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế trình Lãnh đạo Cục phê duyệt, nhập số thuế được hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế theo quyết định.

  • Thực hiện xác minh và trả lời kết quả xác minh hoá đơn theo quy định.
  • Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế theo thẩm quyền.

2.1.2. Giai đoạn từ 1/7/2024 đến nay (Thực hiện theo Luật Quản lý thuế) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

  • Về tổ chức bộ máy ở Cục thuế Hà nội:

Theo Quyết định số 49/2024/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đến nay, Cục thuế TP Hà Nội được tổ chức thành 17 phòng (khối văn phòng cục) và 14 chi cục thuế quận huyện trực thuộc, với tổng số 2.200 cán bộ, nhân viên. Khối văn phòng Cục thuế TP Hà Nội có trên 500 cán bộ. Tại 14 chi cục thuế quận huyện có 1.700 cán bộ.

  • Biểu đồ 3. Sơ đồ tổ chức bộ máy Cục thuế TP Hà Nội

Theo phân cấp quản lý, văn phòng Cục thuế TP Hà Nội thực hiện quản lý thu của các doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp dân doanh có hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp dân doanh có quy mô kinh doanh lớn. Các chi cục thuế thực hiện quản lý thu của các doanh nghiệp dân doanh nhỏ và chủ yếu là quản lý thu của các hộ cá thể. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Số thu ngân sách được tập trung phần lớn tại văn phòng Cục thuế chiếm khoảng 95%, bình quân hàng năm số đối tượng quản lý chiếm khoảng 6%; tại các chi cục thuế số thu ngân sách chỉ chiếm khoảng 5% nhưng số đối tượng quản lý chiếm tới 94%, và số cán bộ chiếm trên 75%, trong đó số cán bộ thực hiện quản lý thu hộ cá thể là chủ yếu.

  • Nội dung cơ bản của nghiệp vụ quản lý thuế phân theo chức năng:

Theo quy định của Luật Quản lý thuế, bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp được cải cách theo hướng tổ chức tập trung theo 4 chức năng nhằm chuyên môn hoá, nâng cao năng lực quản lý thuế ở từng chức năng, gồm: Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; Theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; Đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế.

Trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng, cơ quan thuế phân định rõ chức năng nhiệm vụ giữa các phòng, ban, bộ phận, giữa cấp trung ương và cấp địa phương, trong đó tăng cường vai trò của cấp trung ương trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn giám sát và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của các địa phương. Tương ứng với việc cải cách về bộ máy tổ chức, cán bộ thuế được đào tạo, có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện kỹ năng quản lý thuế chuyên sâu (tính chuyên nghiệp cao) theo từng chức năng quản lý.

Phòng Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý.

Phòng Kê khai và Kế toán thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ kê khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế trong phạm vi Cục Thuế quản lý.

Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý.

Phòng Kiểm tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục Thuế kiểm tra, giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế. Phòng kiểm tra được chia làm 4 phòng kiểm tra phân theo đối tượng quản lý và lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp. Bao gồm:

  • Phòng kiểm tra 1 quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, ngoại giao trên địa bàn thủ đô.
  • Phòng kiểm tra 2 quản lý các doanh nghiệp thuộc khối ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, hàng hải
  • Phòng kiểm tra 3 quản lý các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, xăng dầu
  • Phòng kiểm tra 4 quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn

Phòng Thanh tra thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuế thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý. Ba phòng thanh tra có chức năng chung, nhiệm vụ công tác của mỗi phòng từng năm tuân theo sự phân công của Lãnh đạo cục và có sự luân phiên thay đổi theo từng năm. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế trong việc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xây dựng và thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý.

Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý;

Phòng Kiểm tra nội bộ: Phòng kiểm tra nội bộ được thành lập để phù hợp với những quy định của luật Quản lý thuế. Có thể coi đây là phòng chức năng mới được thành lập, có chức năng giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cục trưởng Cục thuế.

Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuế trong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý.

Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương, đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế.

Phòng Quản trị – Tài vụ – Ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý và hướng dẫn các nghiệp vụ về ấn chỉ thuế trong toàn Cục thuế.

Phòng Hành chính – Lưu trữ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện công tác hành chính, chương trình, kế hoạch công tác của Cục Thuế trong phạm vi toàn Cục Thuế.

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ Thu nhập doanh nghiệp ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

2.2.1. Khái quát quá trình hình thành và tình hình phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và trên địa bàn Hà Nội

2.2.1.1. Sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1987 đã tạo môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Luật Đầu tư nước ngoài đã bổ sung và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Trong hơn 20 năm qua, Luật đầu tư nước ngoài đã 4 lần được sửa đổi vào các năm 1990, 1992, 2013, 2017 và năm 2023 được hợp nhất với Luật Khuyến khích đầu tư trong nước thành Luật Đầu tư. Cho đến nay, chúng ta cũng đã xây dựng một khung pháp lý chung dựa trên Luật Đầu tư điều chỉnh tất cả các loại hình doanh nghiệp trong cả nước không có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Từ năm 1988 tính đến hết năm 2025, cả nước có 9.803 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 88,1 tỷ USD; vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần 33 tỷ USD. (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 45 tỷ USD). FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.

Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 64,3% về số dự án và 58,62% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ chiếm 25,75% về số dự án và 38,18% (tăng từ mức 34,3% năm 2024) về số vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.

  • BẢNG 1. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH 1988 – 2025 (tính tới ngày 19/12/2025 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Phân theo hình thức đầu tư: Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,26% về số dự án và 58,5% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,6% về số dự án và 34,44% về tổng vốn đăng ký. Số còn còn lại đầu tư theo hình thức Hợp doanh, BOT, công ty cổ phần và công ty quản lý vốn.

  • BẢNG 2. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ 1988 – 2025 (tính tới ngày 19/12/2025 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Phân theo nước: Đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 66% tổng vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm 29% tổng vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 4% vốn đăng ký. Riêng 4 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam theo thứ tự: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Nhật Bản đã chiếm 55% tổng vốn đăng ký. Riêng Hàn Quốc đã có 1.837 dự án với tổng vốn đầu tư 13,5 tỉ USD. Tuy nhiên trong vài năm gần đây, lượng vốn đầu tư của các quốc gia Tây Âu và Bắc Mĩ cũng đã tăng lên nhanh chóng.

Phân theo địa phương: Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc vẫn là những địa phương dẫn đầu thu hút Đầu tư nước ngoài, trong đó 5 địa phương dẫn đầu theo thứ tự như sau:

  • Hồ Chí Minh chiếm 27,6% về số dự án và 20% tổng vốn đăng ký;
  • Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký;
  • Đồng Nai chiếm 10,5% về số dự án; 13,7% tổng vốn đăng ký;
  • Bình Dương chiếm 18,2% về số dự án; 10,0% tổng vốn đăng ký;
  • Bà Rịa –Vũng Tàu chiếm 1,8% về số dự án; 7,2% tổng vốn đăng ký;

Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2025:

Trong năm 2025, tổng số dự án FDI được cấp mới vào Việt Nam là 1.171 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 60,217 tỷ USD (bên Việt Nam chiếm khoảng 10%) tăng 222% so với năm 2024. Số dự án tăng vốn cũng rất lớn với 311 dự án đăng ký tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 3,74 tỷ USD. Chỉ tính riêng số vốn tăng thêm của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm nay đã tương đương với tổng số vốn đăng ký mới trong một năm của đầu những năm 2017. Do đó, tính chung cả vốn đăng ký cấp mới và vốn đăng ký tăng thêm, tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2025 (tính đến 19/12) đạt 64,011 tỷ USD, tăng 199,9% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Vốn giải ngân tháng 12 trên cả nước là 1,45 tỷ USD, nâng tổng số vốn giải ngân trong năm 2025 của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2024.

Cấp mới theo lĩnh vực đầu tư: Trong năm 2025, vốn đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông -lâm-ngư.

Cấp mới theo đối tác đầu tư: Trong năm 2025 đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7% về số dự án và 24,8% về vốn đầu tư đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2 có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, chiếm 11,3% về số dự án và 14,3% về vốn đầu tư đăng ký. Nhật Bản đứng thứ 3 có 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD, chiếm 9,0% về số dự án và 12,1% về vốn đầu tư đăng ký dự án. Singapore đứng thứ 4 có 101 dự án, vốn đầu tư đăng ký 4,46 tỷ USD, chiếm 8,6% về số dự án và 7,4% về số vốn đăng ký. Brunei đứng thứ 5 có 19 dự án, vốn đầu tư 4,4 tỷ USD, chiếm 7,3% về vốn đầu tư đăng ký.

Cấp mới theo hình thức đầu tư: Các dự án Đầu tư nước ngoài trong năm 2025 thực hiện chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài (882 dự án, vốn đăng ký 31,16 tỷ USD), chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký. Số dự án theo Hình thức liên doanh có 213 dự án với vốn đăng ký 27,16 tỷ USD, chiếm 18,2% về số dự án và 45,1% về vốn đăng ký. Còn lại là các dự án theo hình thức khác.

Cấp mới theo cơ cấu vùng: trừ 8 dự án thăm dò, khai thác dầu khí (chiếm 17,5% tổng vốn đăng ký), trong 11 tháng đầu năm 2025 tỉnh Ninh Thuận đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia với Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa -Vũng Tàu đứng thứ 2 trong số 43 địa phương của cả nước, có 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD, chiếm 15,5% tổng vốn đăng ký. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Quy mô dự án: bình quân 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

Tình hình kinh doanh: Doanh thu của các doanh nghiệp FDI tháng 12 đạt 5,1 tỷ USD, đưa tổng doanh thu của khối này trong năm 2025 lên 50,55 tỷ USD, tăng 24,4% so với năm 2024. Trong đó, giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI năm 2025 đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, Khối doanh nghiệp FDI cũng chính là khối có kim ngạch nhập khẩu rất lớn, 28,458 tỷ USD. Do đó, khối doanh nghiệp FDI vẫn là khối nhập siêu trong năm 2025, với tổng kim ngạch nhập siêu 4 tỷ USD, chiếm khoảng 25% thâm hụt thương mại của Việt Nam năm 2025.

Đóng góp ngân sách và tạo việc làm: Năm 2025, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăng 25.8% so với năm 2024. Cũng trong năm nay, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người, góp phần quan trọng vào giải quyết vấn đề công ăn việc làm vốn đang rất nóng bỏng của Việt Nam hiện nay.

2.2.1.2. Sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội trong thời gian qua

Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước. Các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước đều được đặt tại Thủ đô Hà Nội. Đến 2020, mặc dù chỉ chiếm 3,6% về dân số và 0,3% diện tích quốc gia, Thủ đô Hà Nội đóng góp khoảng 8,1% GDP, 9,4% giá trị sản xuất công nghiệp, 10% kim ngạch xuất khẩu, 9,6% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và 11,7% tổng đầu tư xã hội cả nước. Thủ đô Hà Nội phát triển nhanh và khá toàn diện, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 18,7%/năm, giá trị dịch vụ tăng 10,2%/năm. (Nguồn: Báo cáo của Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội).

Cơ cấu kinh tế Hà Nội chuyển dịch theo xu thế tiên tiến, hiện đại hoá, và bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp. Tỷ trọng của các khu vực đó trong GDP là: dịch vụ 57% – công nghiệp 40,5% – nông nghiệp 2,5%. Các thành phần kinh tế đều phát triển, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá; kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh; kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới. Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Thủ đô được tăng cường, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Sau khi mở rộng, trong điều kiện nền kinh tế trong nước cũng như kinh tế toàn cầu gặp nhiều khó khăn nhưng thành phố Hà Nội đã đạt được kết quả khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố đạt 10,58%, công nghiệp tăng 11,7%, dịch vụ tăng 10,78%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố năm 2025 đạt khoảng 6.936 triệu USD, tăng 35,5% so với thực hiện năm 2024 và tăng 26,5% so với chỉ tiêu kế hoạch do Ủy ban Nhân dân thành phố đề ra. Trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 3.552,3 triệu USD. Các thành phần kinh tế trên địa bàn đều có tốc độ tăng trưởng khá: Khu vực kinh tế nhà nước đạt kim ngạch xuất khẩu là 3.828,2 triệu USD – chiếm tỉ trọng 55,2%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 714 triệu USD – chiếm tỉ trọng 10,3%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2.393,8 triệu USD – chiếm tỉ trọng 34,5%.

Sau khi Luật Đầu tư Nước ngoài ở Việt Nam được ban hành cùng với việc áp dụng hàng loạt các chính sách khuyến khích của một nền kinh tế mở, hơn 42 quốc gia và vùng lãnh thổ với hàng trăm các tập đoàn, công ty nước ngoài đã vào Hà Nội để tìm kiếm cơ hội đầu tư và kinh doanh tại thị trường này, một thị trường mà các chuyên gia nước ngoài đánh giá là còn nhiều tiềm năng có thể khai thác.

Trong các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Thủ đô, Hàn Quốc đứng đầu về số vốn đầu tư với 600 triệu USD. Xếp sau đó là, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore, Thụy Điển và Australia. Tuy xuất hiện khá muộn song lượng vốn đầu tư của Hoa Kỳ cũng ngày càng tăng, đặc biệt là 2 năm gần đây.

Năm 1989, Hà Nội mới chỉ có 4 dự án đầu tư với vốn đăng ký 48 triệu USD, đến năm 2020 đã có 441 dự án với vốn đăng ký 7,75 tỷ USD. Tính đến hết tháng 12/2025, Hà nội đã thu hút được tổng cộng 1.287 dự án,với tổng vốn đăng ký đạt 17,4 tỷ USD.

Theo Cục thống kê thành phố Hà Nội , ước tính cả năm 2025, Hà Nội thu hút được khoảng 300 dự án (giảm 17,8%), với vốn đầu tư đăng ký khoảng trên 5 tỷ USD (tăng 53,3%) so với năm 2024. Trong đó, cấp mới 270 dự án (giảm 19,6%), với vốn đầu tư ước tính 4,4 tỷ USD (tăng 54,9%), bổ sung tăng vốn 30 dự án (tăng 3,4%) với khoảng 0,6 tỷ USD (tăng 42,2%) ; vốn thực hiện ước đạt 600 triệu USD, tăng 10% so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, môi trường đầu tư của Hà nội còn khá nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế như: chất lượng công tác quy hoạch còn thấp; quản lý đô thị, quản lý đất công còn lỏng lẻo; tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án lớn còn chậm; ách tắc giao thông và ô nhiễm môi trường ngày càng tăng.

2.2.2. Thực trạng hoạt động quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội thời gian qua

Trong những năm qua số thu về thuế và phí trên địa bàn thủ đô luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ têu pháp lệnh do Tổng Cục Thuế – Bộ tài Chính, cũng như kế hoạch phấn đấu do Hội đồng nhân dân TP giao cho. Tỷ lệ tăng thu cho Ngân sách Nhà nước hàng năm đạt mức tăng cao, bình quân năm sau so năm trước đạt mức tăng trên 17%/năm, cụ thể số thu năm 2025 so với năm 2020 tăng gần 3 lần (49,527 tỷ năm 2025, so với 18,073 tỷ năm 2020). Riêng số thu của các doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài tăng 27%/năm, và mức tăng 2025/2020 khoảng hơn 4 lần.

  • Biểu đồ 4. Tỷ trọng số thu thuế của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài trên tổng số thu về thuế và phí trên địa bàn Hà nội (2020 – 2025)

Tính đến 31/12/2025, Cục thuế TP Hà Nội quản lý thu thuế đối 1.820 công ty, và chi nhánh công ty có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 25,18% trên tổng số đối tượng nộp thuế thuộc khối văn phòng Cục thuế. So với cùng kỳ năm 2024, số lượng đối tượng tăng khoảng 20,1%. Biểu đồ 3. Số lượng đối tượng nộp thuế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài so với tổng số đối tượng nộp thuế tại văn phòng Cục thuế (2022 – 2025)

  • Công tác thu thuế:

Từ năm 2021 đến nay, do dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng mạnh, số thu thuế Thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng qua các năm. Trong 3 năm gần đây, tốc độ tăng số thu thuế Thu nhập doanh nghiệp lớn hơn những năm trước đó.

  • Biểu đồ 5. Tăng trưởng số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế Hà Nội (2020 – 2025)

Tuy nhiên, thực tế cho thấy là trong thời gian qua mặc dù số vốn đầu tư vào các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài là không ngừng tăng lên xong tỷ lệ báo lỗ của các doanh nghiệp cũng ngày càng tăng. Theo số liệu của Phòng Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc Tổng cục thuế, trên cơ sở tham khảo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, trong trên 3000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, doanh nghiệp làm ăn có lãi trong năm 2024 chỉ chiếm khoảng 40%, số thuế thu nhập doanh nghiệp nộp Ngân sách Nhà nước có tỷ trọng thấp hơn 12% so với tổng số thu thuế, xu hướng chuyển đổi doanh nghiệp sang 100% vốn nước ngoài ngày càng gia tăng… – Trích tổng hợp số liệu Tổng cục thuế 12/2024.

  • Bảng 3. Số thu thuế Thu nhập doanh nghiệp của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và toàn Cục thuế Hà Nội (2020 – 2025) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Có thể thấy rằng số thu thuế Thu nhập doanh nghiệp đối từ các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số thu về thuế (chỉ khoảng 6% – 8%) trong khi số vốn đầu tư vào nước ta trong những năm gần đây ngày một tăng.

Theo thống kê mới nhất của Tổng Cục thống kê trong 3 năm 2023, 2024 và 2025, tỷ lệ doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài kê khai lỗ dao động từ 60% – 74% tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các địa phương trên toàn quốc.

Như vậy, mặc dù có lợi thế trình độ công nghệ, trình độ quản lý, kinh nghiệm kinh doanh,… doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài vẫn kinh doanh kém hiệu quả hơn các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác của Việt Nam. Trong giai đoạn 2021 – 2025, tỷ lệ doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài bị lỗ nhiều gấp 2,3 đến 3,1 lần doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh.

Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia kinh tế và chuyên gia thuế, đây chỉ là tình trạng “lỗ giả” do hành vi gian lận thuế của các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài và do chính sách định giá chuyển nhượng của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam.

Để làm giảm số thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp, hiện nay các doanh nghiệp sử dụng rất nhiều các thủ đoạn ngày một tinh vi và khó phát hiện hơn. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài, với những đặc điểm riêng có về nguồn phát sinh thu nhập và nơi cư trú cũng như những ưu đãi mà nước sở tại giành cho, thì việc lợi dụng những khe hở này để trốn thuế là không thể tránh khỏi. Ngành thuế Việt Nam và Cục thuế Hà Nội thông qua nghiệp vụ của mình cũng cần có cái nhìn tổng quát về hiện tượng này để giảm tối đa những hành vi gian lận thuế:

  • Gian lận thuế thông qua “chuyển giá” (định giá chuyển nhượng):

Ngoài các hình thức gian lận thuế mà các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng để trốn, tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài mà hầu hết là các công ty đa quốc gia, gian lận thuế Thu nhập doanh nghiệp được thực hiện một cách tinh vi hơn: gian lận thông qua “chuyển giá” (còn gọi là định giá chuyển nhượng). Cụ thế đó là việc các doanh nghiệp này: Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

  • Xác định giá hàng nhập khẩu thường là các bán thành phẩm, lãi tiền vay, giá trị công nghệ chuyển giao hoặc các khoản tiền chi trả cho các hợp đồng tư vấn, đào tạo,… thông qua công ty mẹ từ các cơ sở kinh doanh tại Việt Nam cao hơn giá thị trường rất nhiều làm chi phí của cơ sở kinh doanh được dùng để tính thu nhập chịu thuế giảm đi nhiều lần.
  • Xác định giá hàng xuất khẩu, lãi tiền cho vay, giá bán công nghệ,… thấp hơn mức giá thị trường chung khiến doanh thu giảm đi.
  • Công ty mẹ ở nước ngoài thường phân bổ một phần chi phí cho các công ty con phải chịu khiến các công ty con luôn rơi vào tình trạng thua lỗ.
  • Đặc biệt, các công ty mẹ thường thực hiện bao tiêu sản phẩm nhưng lại định giá rất thấp khiến cho doanh thu giảm, chi phí kê khai luôn tăng khiến tình trạng thu lỗ ở các công ty con diễn ra thường xuyên.

Thực tế ở Việt Nam, lợi dụng sự thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh của các đối tác Việt Nam, lợi dụng sự yếu kém về khả năng thẩm định của các cơ quan giám định Nhà nước, tài sản góp vốn của phía nước ngoài thường được định giá cao hơn so với giá trị thực của nó. Sau khi góp vốn, nhằm trốn thuế phía nước ngoài lại tiếp tục định giá các máy móc thiết bị cũng như hàng hoá, vật liệu phục vụ sản xuất cung cấp cho phía Việt Nam cao hơn rất nhiều giá thị trường.

  • Tình trạng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:

Một thực trạng cũng rất đáng báo động trong quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là tình trạng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Các công ty đa quốc gia với số chi nhánh rải khắp thế giới rất thuận lợi để thực hiện hành vi gian lận thuế của mình dựa trên sự khác biệt về thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp, các quy định về miễn, giảm thuế giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới.

  • Bảng 4. Thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới từ 2021 – 2025

Khi so sánh các mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam so với các nước trên thế giới, có thế nhận thấy trong trường hợp Việt Nam áp dụng mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp tương đối cao (28%) trong các năm trước đây thì các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện gian lận thuế thông qua việc chuyển lợi nhuận ra các nước có mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp thấp như Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan,… Bên cạnh những thất thoát về thuế Thu nhập doanh nghiệp thì thông qua việc chuyển lợi nhận ra nước ngoài, các công ty này còn có thể dùng phần tiền này chi trả trực tiếp lương thông qua tài khoản ở nước ngoài cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Điều này lại dẫn đến gây thất thu thuế Thu nhập cá nhân. Với Việt Nam, đây sẽ là một sự thất thoát rất lớn nguồn thu từ thuế cho Ngân sách nhà nước. Từ năm 2026, mức thuế suất mới 25% được kỳ vọng vừa có tác dụng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vừa giảm bớt tình trạng gian lận thuế thông qua “chuyển giá”.

  • Công tác kiểm tra, thanh tra thuế: Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Nhận thức thanh tra thuế là một chức năng cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý thuế, vì vậy ngay từ khi thành lập, Cục thuế Hà Nội đã chú trọng xây dựng hệ thống thanh tra được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.

  • Bảng 5. Kết quả thanh tra đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (2021 – 2025)

Theo bảng số liệu, số lượng các doanh nghiệp bị thanh tra ngày càng tăng cho thấy công tác thanh tra ngày càng được mở rộng. Nhờ đó, số thuế truy thu được qua công tác thanh tra cũng tăng qua các năm.

Việc đẩy mạnh công tác thanh tra, xử lý các vi phạm về thuế đã góp phần răn đe ngăn chặn các hành vi gian lận về thuế, mà trước tiên là ngăn chặn, đầy lùi tình trạng thành lập “doanh nghiệp ma”. Điều này góp phần tạo lập công bằng về nghĩa vụ thuế, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp phải thanh tra vẫn lớn và rõ ràng là số lượng các doanh nghiệp có hành vi gian lận thuế trên thực tế còn lớn hơn. Tình trạng này vừa làm thất thu Ngân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội và tính nghiêm minh của pháp luật thuế.

  • Công tác thu nợ và cưỡng chế thuế:

Với việc triển khai quy trình thu nợ và cưỡng chế thuế một cách chặt chẽ và sát sao hơn, số nợ đọng thuế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội ngày càng giảm từ 6% tổng thu ngân sách trong những năm trước đó xuống còn 4% tổng thu ngân sách trong vài năm gần đây.

Tuy nhiên tình trạng các doanh nghiệp chây ỳ vẫn còn tồn tại. Tình trạng này có thể do nhiều doanh nghiệp khó khăn trong hoạt động kinh doanh nên không có khả năng nộp thuế đúng hạn. Trong khi đó, cũng có những doanh nghiệp lợi dụng các chính sách hoặc sự ưu đãi để cố tình chây ỳ, trì hoãn nộp thuế.

2.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ Thu nhập doanh nghiệp ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

2.3.1. Thành tựu đạt được

Quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi phải đáp ứng nhiều điều kiện mới có thể thực hiện thành công nhưng lại được tiến hành trong hoàn cảnh nước ta bắt đầu hội nhập kinh tế toàn cầu cũng như chưa có kinh nghiệm thực tế. Vì vậy có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công tác chống gian lận, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là rất đáng ghi nhận.

  • Về hệ thống chính sách thuế:

Hình thành một hệ thống chính sách thuế bao quát được một cách tương đối hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế và từng bước thích ứng với yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường.

Nếu như coi cải cách thuế bước I là quá trình luật hoá hệ thống thuế và là thành công đầu tiên của sự nghiệp đổi mới trên lĩnh vực tài chính thì nét nổi bật trong giai đoạn sau (Cải cách thuế bước II, III) là hệ thống thuế đã được luật hoá ở mức cao và luôn được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Triển khai và thực hiện tương đối tốt quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế và hoàn thành một bước cơ bản hiện đại hoá công tác quản lý thuế. Nhờ vậy, nguồn thu ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn luôn đảm bảo ổn định và tăng trưởng cao.

Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam đã có những qui định sơ khai để thực hiện chống gian lận Thuế Thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là chống gian lận qua định giá chuyển nhượng. Những qui định của pháp luật đã trao cho cơ quan thuế một số quyền hạn nhất định trong việc yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp thông tin, chứng minh, xác định lại doanh thu, chi phí cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Đồng thời, các phương pháp xác định giá thị trường của phần tài sản góp vốn của phía nước ngoài cũng được đưa vào những văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp đã giúp cơ quan thuế địa phương và các doanh nghiệp bước đầu làm quen với việc xác định giá theo nguyên tắc thị trường.

  • Trong hợp tác quốc tế về thuế đã đạt được các thành tựu chủ yếu là:

Ngành thuế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã tranh thủ được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức và cơ quan thuế các nước trong việc phổ biến kinh nghiệm xây dựng hệ thống qui phạm pháp luật, đào tạo đội ngũ cán bộ chống gian lận thuế. Việc hợp tác tốt với các cơ quan thuế nước ngoài trong việc trao đổi thông tin thuế đã giúp cơ quan thuế Việt Nam có những tài liệu có giá trị, góp phần không nhỏ trong thành công của quá trình đấu tranh với các công ty đa quốc gia.

Đã đàm phán và ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với 42 nước, tạo cơ sở pháp lý để các nhà đầu tư nước ngoài, người nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh sinh sống không bị đánh thuế trùng lắp, thực sự được hưởng chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; thu hút các nhà nghiên cứu, các giáo sư, các chuyên gia nước ngoài đầu tư chất sám vào Việt Nam.

Hệ thống chính sách thuế từng bước tiến tới đơn giản, rõ ràng, tạo điều kiện giảm chi phí hành chính thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.

Tăng cường quản lý hạch toán kinh doanh trong từng doanh nghiệp, thúc đẩy việc tổ chức và sắp xếp lại doanh nghiệp.

  • Về quản lý thuế:

Thứ nhất, công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản khép kín sang chế độ người nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế, và đến nay đã triển khai và thực hiện tương đối tốt quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế và hoàn thành một bước cơ bản hiện đại hoá công tác quản lý thuế.

Thứ hai, đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả nước ngày càng được củng cố và tăng cường về mọi mặt; chịu sự lãnh đạo đồng thời của ngành dọc và cấp uỷ, chính quyền địa phương.

Công tác quản lý thuế toàn ngành, và tại Cục thuế TP Hà Nội từng bước được chuyên môn hoá theo chức năng với 4 bộ phận. Điều này đã hạn chế được tiêu cực trong công tác quản lý thuế theo kiểu “khép kín” trước đây, cũng như kiểu cơ chế tự khai, tự nộp theo thông báo của cơ quan thuế, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thuế.

Về quy trình nghiệp vụ ban hành cho cả bốn chức năng: là bước chuẩn hoá, và là căn cứ thực hiện mang tính định hình cao nhất của công tác quản lý thuế với việc quản lý người nộp thuế tự động hoá bằng công nghệ thông tin ở cả bốn chức năng; khai thác thông tin tích hợp trên hệ thống cơ sở dữ liệu ngành để phục vụ phân tích rủi ro xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra; phân loại nợ thuế để đôn đốc cưỡng chế thuế,… Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục thuế TP Hà Nội: Các bộ phận chức năng đã được xây dựng trên nguyên tắc tập trung về một đầu mối theo chức năng nhiệm vụ, không còn rải rác tại tất cả các phòng như trước đây. Điều này bước đầu đã hạn chế được tình trạng công tác thi hành các luật thuế trái ngược nhau trong cùng một nội dung thực hiện.

Công tác tuyển truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế:

  • Tổ chức phổ biến pháp luật thuế qua việc in ấn, cấp phát các tài liệu về thuế và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
  • Giải đáp các vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế thông qua trả lơi bằng văn bản, điện thoại hoặc trực tiếp tại cơ quan thuế. Phổ biến các chính sách mới, các thủ tục hành thu.

Nhờ tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, hỗ trợ nên ý thức tuân thủ các qui định của pháp luật và chính sách thuế của các doanh nghiệp ngày một cao. Các sai sót và vi phạm về thuế giảm dần: tỷ lệ nộp tờ khai đúng hạn đạt trên 90%, các sai sót trong tờ khai giảm,…

Công tác xử lý tờ khai, kế toán thuế: Nhận và xử lý nhanh chóng các tờ khai thuế; phát hiên, theo dõi các lỗi kê khai của đối tượng nộp thuế; hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời nghĩa vụ thuế của từng doanh nghiệp.

Công tác kiểm tra, thanh tra: Tiến hành trên cơ sở thu thập các thông tin về đối tượng nộp thuế, nghiên cứu và lựa chọn một số tiêu thức đánh giá rủi ro để đánh giá, xác định các trường hợp có nghi ngờ gian lận về thuế. Việc thanh tra trên cơ sở phân tích báo cáo tài chính, các thông tin từ các bộ ngành khác giúp thanh tra viên nắm vững thông tin về doanh nghiệp, rút ngắn thời gian kiểm tra, thanh tra tại doanh nghiệp.

  • Công tác quản lý thu nợ, cưỡng chế thuế:

Cơ quan thuế theo dõi sát tình hình nộp tờ khai và nộp thuế của từng đối tượng nộp thuế, từ đó đôn đốc thu nợ sát thực tế. Để nâng cao công tác thu nợ, một số biện pháp đã được Cục thuế áp dụng như sau:

Chủ động tham mưu cho Ủy ban Nhân dân thành phố ban hành các văn bản về việc tăng cường các biện pháp thu hòi nợ, chỉ đạo các sở, ban, ngành phối hợp với cơ quan thuế để tích cực thu nợ đọng.

  • Thành lập ban chỉ đạo thu hồi nợ thuế gồm cơ quan thuế, công an kinh tế,…
  • Tiến hành phạt nộp chậm và yêu cầu các doanh nghiệp cam kết thời hạn trả nợ hoặc tạm đình chỉ bán hóa đơn cho các đơn vị chây ỳ không nộp thuế.

Tóm lại, có thể khẳng định cơ chế quản lý thuế trong thời gian qua đã thể hiện rõ sự tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế. Cụ thể, thuế đã góp phần tích cực vào việc ổn định và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, thu ngân sách ngày càng tăng, phù hợp với sự chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường và thực hiện đúng lộ trình hội nhập quốc tế.

2.3.2. Hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Mặc dù đã thu được một số thành tựu đáng tự hào nhưng nếu đánh giá một cách khách quan và toàn diện thì hoạt động chống gian lận thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế, bất cập cũng như gặp quá nhiều khó khăn trong quá trình triển khai. Việc phát hiện những hạn chế, bất cập và khó khăn cũng như xác định nguyên nhân chính của những hạn chế, bất cập này là tiền đề quan trọng bậc nhất, quyết định rất lớn đến kết quả hoạt động chống gian lận thuế tại Việt Nam trong thời gian tới.

2.3.2.1. Hạn chế

  • Về hệ thống chính sách:

Do thường xuyên phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nên việc áp dụng các qui định của pháp luật thuế trong hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động chống gian lận thuế qua định giá chuyển nhượng nói riêng còn tồn tại rất nhiều kẽ hở:

Trước hết, các văn bản pháp luật thuế đã qui định bắt buộc phải xác định giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ sử dụng để xác định thuế phải tuân thủ nguyên tắc thị trường nhưng những quy định này chưa được thực hiện 1 cách triệt để. Mặt khác, các qui định về khấu trừ tại nguồn đối với các khoản thu nhập từ Việt Nam của các cơ sở kinh doanh nước ngoài chưa chặt chẽ và không bao quát được nguồn thu. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Trong Luật Đầu tư cũng như Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, các vấn đề cơ bản của hoạt động xác định giá chuyển nhượng, của nguyên tắc thị trường và các biện pháp, các chế tài xử lý hành vi gian lận trong định giá chuyển nhượng gần như không được đề cập đến hoặc nếu được đề cập đến thì rất chung, khó áp dụng trong thực tế. Các qui định về đầu tư nước ngoài của Việt Nam cũng không qui định rõ phạm vi và trách nhiệm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc cung cấp tài liệu chứng minh cho các giao dịch với các cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kết.

Chính việc chưa qui định hoặc qui định không rõ ràng trong Luật Đầu tư về vấn đề xác định lại thu nhập chịu thuế đã gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung, cơ quan thuế nói riêng trong quá trình thực hiện kiểm soát kết quả hoạt động sảng xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ hai, các thủ tục quy định về quản lý và chuyển giao công nghệ, cũng như ưu đãi thuế đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, áp dụng kĩ thuật mới còn phức tạp, và phần nào chưa rõ ràng đã và đang là vấn đề để cho các cơ sở kinh doanh lợi dụng điều kiện định giá chuyển nhượng công nghệ. Ví dụ như:

  • Qui định giá hàng hoá nhập khẩu thuộc diện chịu thuế nhập khẩu được xác định theo hoá đơn thương mại. Qui định doanh nghiệp được toàn quyền xác định giá bán của sản phẩm.
  • Qui định giá trị công nghệ chuyển giao do các bên liên quan thoả thuận.

Rõ ràng với những qui định “mở” như vậy sẽ khuyến khích các công ty đa quốc gia tăng cường hoạt động định giá chuyển nhượng để giảm thiểu nghĩa vụ thuế, chuyển bớt lợi nhuận ra nước ngoài mà các cơ quan quản lý Nhà nước khó có thể can thiệp. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Thứ ba, những ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài như: miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định, miễn thuế nhập khẩu của nguyên liệu sản xuất của các dự án đầu tư vào địa bàn hoặc lĩnh vực khuyến khích,… là những kẽ hở mà các công ty đa quốc gia rất hay lợi dụng để khai tăng giá trị hàng hoá nhập khẩu, làm tăng chi phí giảm thu nhập tính thuế Thu nhập doanh nghiệp mà vẫn không phải nộp thêm thuế nhập khẩu.

  • Về công tác quản lý thuế:

Khả năng thu thập và xử lí thông tin còn thiếu và yếu không đáp ứng yêu cầu chống gian lận thuế. Để chống gian lận thuế thành công, một điều kiện không thể thiếu là phải có cơ sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên, đầy đủ, toàn diện về đối tượng nộp thuế, về các cơ sở kinh doanh có mối quan hệ liên kết của đối tượng nộp thuế, về tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới.

Tuy nhiên hiện nay do chưa có một bộ phận chuyên thu thập, xử lí thông tin cũng như chưa có một cơ chế thu thập thông tin nên việc phân tích, đánh giá và xử lí hành vi gian lận thuế, xác định lại doanh thu và chi phí thực tế hay chính là xác định một cách chính xác thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp là rất khó khăn.

Mặt khác, ngay cả khi đã thu thập được đủ thông tin kinh tế tài chính để tiến hành phân tích thì cũng chưa có những phần mềm hỗ trợ phân tích hiệu quả khiến việc phân tích mất nhiều thời gian, độ chính xác không cao,…

Vì thế, có thể khẳng định: một trong những việc cần làm ngay để công tác chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt hiệu quả cao chính là xây dựng được một cơ sở dữ liệu tốt và có những phần mềm hỗ trợ hiệu quả việc xử lý, phân tích cơ sở dữ liệu đó.

Công tác quản lý và điều hành thu nộp cũng còn rất nhiều bất cập. Tình trạng chậm trễ, thủ tục rườm rà vẫn luôn là hạn chế lớn đối với bộ máy ngành thuế. Thời gian để doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp thuế thường rất lâu. Mặc dù đã có những cải tiến trong thời gian qua nhưng đây vẫn là khâu yếu nhất trong quá trình thu thuế của các cơ quan thuế.

Nhiều tiêu chuẩn như các tiêu chuẩn về đối tượng ngừng kê khai, các tiêu chuẩn về dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, lĩnh vực thanh tra, xử lý tờ khai thuế,… chưa được xây dựng hoặc chưa được hoàn thiện.

Quản lý thu thuế ở nước nào cũng gặp khó khăn bởi các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh cố ý tìm mọi thủ đoạn, dưới mọi hình thức gian lận các khoản tiền thuế phải nộp; không những không nộp thuế mà còn tìm cách chiếm đoạt tiền từ Ngân sách Nhà nước thông qua việc kê khai khống giá mua hàng, lập hồ sơ khống để hoàn thuế GTGT,… Tình trạng trốn, lậu thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến ở nhiều khoản thu và diễn ra ở các lĩnh vực, vùng, miền khác nhau, vừa làm thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội. Do đó, tùy theo từng nước và từng thời gian nhất định, việc áp dụng cơ chế thuế hợp lý với những tiêu chuẩn được ưu tiên để đạt được mục tiêu đề ra trong việc hoạch định chiến lược, chương trình là cần thiết.

Đối với Việt Nam, cho đến nay ngành thuế đã xây dựng được một số tiêu chuẩn nhất định (như các tiêu chuẩn về chỉ tiêu số thu, thời gian đăng ký mã số thuế, thời gian xử lý tờ khai, phát hành thông báo thuế, thời gian hoàn thuế,… ). Tuy nhiên, còn nhiều tiêu chuẩn khác chưa được xây dựng hoặc chưa được hoàn thiện (như các tiêu chuẩn về đối tượng ngừng kê khai, các tiêu chuẩn về dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, lĩnh vực thanh tra, xử lý tờ khai thuế,…).

Công tác thanh – kiểm tra chống gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là kém hiệu quả. Hiện nay, ngành thuế vẫn chưa xây dựng được một qui trình thanh tra tiên tiến nói chung và qui trình thanh tra chống gian lận thuế hiệu quả nói riêng. Do đó, công tác kiểm tra, thanh tra thuế thu nhập doanh nghiệp còn rất thủ công nên thường bị kéo dài và hiệu quả thấp. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Mặt khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trình độ và nghiệp vụ của các cán bộ ngành thuế ở các cơ quan thuế địa phương còn nhiều hạn chế, cũng chưa chủ động tiến hành hoạt động thanh tra chống gian lận thuế. Chính điều này đã góp phần khiến hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiêp của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam nói chung và Cục thuế Hà Nội nói riêng ngày càng phổ biến và nghiêm trọng.

2.3.2.2. Nguyên nhân

  • Việc xây dựng và ban hành Luật thuế, Luật đầu tư còn thiếu tính đồng bộ và ổn định lâu dài:

Có thể dễ dàng nhận thấy, văn bản quy phạm pháp luật về thuế ở Việt Nam thiếu tính ổn định lâu dài, thường xuyên phải thay đổi bổ sung. Điều này không chỉ tạo nên sự chồng chéo mà còn khiến cho cán bộ ngành thuế gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong một số trường hợp, trong thời gian giao thoa tiến tới thực hiện theo văn bản mới, các doanh nghiệp còn lợi dụng những kẽ hở này để thực hiện những hành vi gian lận thuế.

Tình trạng này xảy ra còn do các cơ quan thi hành luật chưa có cái nhìn bao quát, dù đã quan tâm tới tính trễ về thới gian của các văn bản luật nhưng thờì gian áp dụng của các văn bản này thường không dài. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ban hành đã bộc lộ những lạc hậu so với điều kiện mới.

Một thực tế nữa là việc thi hành luật ở Việt Nam còn phải chờ đợi Nghị định và Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ban, ngành cho nên dù trên giấy tờ thời gian thi hành Luật đã có hiệu lực nhưng khi chưa có hướng dẫn thì những quy định mới này cũng chưa thế được thực hiện.

Tất cả những điều này đang gây ra một cản trở rất lớn đến công tác quản lý thuế nói chung và thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn Đầu tư nước ngoài nói riêng. Nó gây ra tâm lý bất an đối với các doanh nghiệp làm ăn hợp pháp nhưng lại là kẽ hở lớn để những doanh nghiệp làm ăn thiếu minh bạch lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận, trốn thuế.

  • Công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế chưa linh hoạt, hiệu quả:

Có thể dễ dàng nhận thấy, các hình thức tuyên truyền chính sách thuế hiện nay rất đơn điệu, cứng nhắc và không có tính thu hút. Việc tổ chức công tác tuyên truyền về thuế chưa chủ động, không thường xuyên, liên tục cũng như chưa thật sự thống nhất, đồng bộ, chưa đi vào chiều sâu để xã hội nhận thức rõ tác động tiêu cực của hành vi gian lận thuế. Do đó, chưa gây được sức ép của công luận đối với các cơ sở kinh doanh đang thực hiện hành vi gian lận thuế…

  • Ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp còn thấp:

Nhìn chung các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các cơ quan thông tấn, báo chí chưa hiểu rõ bản chất của thuế, chưa nắm được nội dung cơ bản của chính sách thuế. Do đó, nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các cơ quan thông tấn, báo chí chưa lên án kịp thời, mạnh mẽ các hành vi gian lận thuế và chưa hỗ trợ tích cực với cơ quan thuế để chống gian lận thuế,… Không những thế, một số tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thuế – tài chính còn gợi ý cho các cơ sở kinh doanh thực hiện những biện pháp để khai giảm doanh thu, tăng chi phí để giảm thuế phải nộp để giúp các công ty đa quốc gia trốn thuế. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

Về phía đối tượng nộp thuế, do chưa nắm bắt được quyền lợi, nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các qui định của pháp luật thuế nên ý thức tự giác chấp hành các qui định về thuế, về xác định giá đối với các giao dịch liên kết chưa cao.

  • Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thuế làm công tác chống gian lận thuế còn hạn chế:

Nếu so với yêu cầu của công tác chống gian lận thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới ngày càng mở rộng và phức tạp thì đội ngũ cán bộ thuế hiện nay không thể đáp ứng. Đội ngũ cán bộ thuế làm công tác chống gian lận thuế còn thiếu kiến thức chuyên sâu, không chuyên nghiệp và thiếu kĩ năng quản lý thuế hiện đại. Khả năng phân tích, đánh giá và kĩ năng sử dụng máy tính để tính toán và xử lý các vấn đề phát sinh còn kém.

Đồng thời, do hiện nay ngành thuế chưa có những chuyên gia kinh tế, kĩ thuật giỏi, hiểu biết sâu rộng về các ngành kinh tế, về kế toán quốc tế nên khi thực hiện việc phân tích hoạt động và tình hình tài chính của các cơ sở kinh doanh để phát hiện hành vi chuyển lợi nhuận để gian lận thuế rất hạn chế, làm cho công tác chống gian lận thuế tiến hành không triệt để, hiệu quả thấp.

Mặt khác, một bộ phận cán bộ thuế chưa có ý thức trách nhiệm trong công tác, thiếu rèn luyện và tu dưỡng về đạo đức, tiếp tay cho những hành vi gian lận. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập DN có vốn nước ngoài

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537