Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM
1 Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
1.1. Các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam
Khái niệm nhượng quyền thương mại còn rất mới mẻ đối với các nhà làm luật Việt Nam. Trước ngày 1/1/2026, hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam vẫn chưa được luật hoá, thuật ngữ “nhượng quyền thương mại” chưa chính thức xuất hiện trong bất cứ quy định pháp luật nào của Việt Nam, chỉ một vài khía cạnh liên quan đến hoạt động này được nhắc đến trong các văn bản pháp quy về sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ.
Điều 35 và 37, Nghị định số 63/2016/NĐ-CP ngày 24-10-2016 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp đã nhắc đến khía cạnh chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trong hoạt động nhượng quyền thương mại, theo đó thì chủ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu) có quyền chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của mình cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác. Việc chuyển giao này phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản (gọi là “hợp đồng li-xăng”) và chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Tại Điều 4, Nghị định số 11/2025/NĐ-CP ngày 2/2/2025 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ, hoạt động nhượng quyền thương mại được đề cập đến dưới tên gọi “cấp phép đặc quyền kinh doanh”. Theo Nghị định này thì cấp phép đặc quyền kinh doanh là một nội dung trong hoạt động chuyển giao công nghệ và được định nghĩa như sau “Cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó Bên nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết của Bên giao để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại”.
Luật Thương mại sửa đổi năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, mới chính thức đưa vào thuật ngữ “nhượng quyền thương mại”. Lần đầu tiên định nghĩa “nhượng quyền thương mại” được đề cập đến trong một bộ luật của nước ta. Mục 8 Luật Thương mại gồm các điều từ 284 đến 291 đã nêu định nghĩa nhượng quyền thương mại, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, đồng thời thừa nhận nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại và phải đăng ký. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại chỉ được nêu vẻn vẹn trong 8 điều của Luật Thương mại chưa đủ rõ ràng và cụ thể để làm căn cứ pháp lý cho hoạt động này. Nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại, thủ tục đăng ký nhượng quyền thương mại vẫn chưa được đề cập, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên còn sơ sài.
Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại. Trong Nghị định này, định nghĩa “quyền thương mại” đã được mở rộng và làm rõ. Nếu điều 284 Luật Thương mại 2025 quy định quyền thương mại là “quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung câp hàng hoá hoặc dịch vụ theo một hệ thống do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền”, thì theo Mục 6, Điều 3, Nghị định 35/2026/NĐ-CP, quyền thương mại không chỉ có vậy, nó còn bao gồm thêm một số hoặc toàn bộ các quyền sau đây: “quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung”, “quyền được bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung”, “quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại”. Định nghĩa này của Nghị định đầy đủ hơn, bao quát được tất cả các hình thức nhượng quyền thương mại.
Nghị định 35/2026/NĐ-CP còn bổ sung điều kiện đối với bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong Điều 5 và Điều 6. Theo đó, đối với bên nhương quyền, hệ thống kinh doanh phải đã hoạt động ít nhất 01 năm, hàng hoá dịch vụ kinh doanh phải hợp pháp và phải có văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Đối với bên nhận quyền, phải có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với đối tượng của quyền thương mại. Đồng thời, Nghị định cũng bổ sung trách nhiệm cung cấp thông tin của bên nhượng quyền mà Luật Thương mại 2025 chưa đề cập đến. Điều 8 của Nghị định quy định: “bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp bản sao hợp đồng nhượng quyền thương mại và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu các bên không có thoả thuận khác”. Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng đã được nêu rõ trong Điều 11 của Nghị định, bao gồm các điều khoản chủ yếu sau: “1- Nội dung của quyền thương mại. 2- Quyền, nghĩa vụ của bên nhượng quyền. 3- Quyền, nghĩa vụ của bên nhận quyền. 4- Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán. 5- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng. 6-Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp”. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Việc đăng ký nhượng quyền thương mại được quy định tại Mục 3 Nghị định 35/2026/NĐ-CP. Cơ quan tiếp nhận đăng ký nhượng quyền thương mại là Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) đối với hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và là Sở Thương mại đối hoạt động nhượng quyền thương mại mang tính nội địa. Hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn đăng ký và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu của Bộ Thương mại; bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận sẽ chấp thuận đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại cho thương nhân.
Ngày 25/5/2026 Bộ Thương mại ban hành Thông tư số 09/2026/TT-BTM hướng dẫn cụ thể hơn việc đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Thông tư đã quy định chi tiết về mẫu đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại (Phụ lục 1) và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại (Phụ lục 2).
Ngoài các quy định pháp luật hiện hành của Bộ Thương mại, hiện nay hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam còn chịu sự điều tiết của Bộ Khoa học và Công nghệ. Điều 10, Nghị định 35/2026/NĐ-CP, đã khẳng định “Phần chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu công nghiệp”. Như vậy, việc chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại đang chịu sự điều chỉnh của Luật Chuyển giao công nghệ 2026 và Nghị định số 11/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ. Theo Điều 4 của Nghị định 11/2025/NĐ-CP, việc chuyển giao này có tên gọi là “cấp phép đặc quyền kinh doanh” và Nghị định cũng quy định hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ và được xác nhận đăng ký bởi Bộ / Sở Khoa học và Công nghệ.
1.2. Những vướng mắc trong các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Hoạt động nhượng quyền thương mại mới được luật hoá tại Việt Nam không lâu, chính vì vậy trong các quy định pháp luận liên quan đến hoạt động này còn nhiều thiếu sót và bất cập.
Thứ nhất, có sự chồng chéo về thẩm quyền giữa Bộ Công thương và Bộ Khoa học Công nghệ. Nói cách khác, hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam đang phải chịu cơ chế “một cổ hai tròng”, cùng một lúc có hai cơ quan nhà nước có thẩm quyền cùng điều tiết hoạt động này. Khi thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại có liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp, thương nhân cùng một lúc phải đăng ký với hai cơ quan nhà nước khác nhau là Bộ Công thương và Bộ Khoa học Công nghệ, phải ký kết cùng một lúc hai loại hợp đồng là hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh. Điều này gây ra rất nhiều phiền toái và khó khăn.
Thứ hai, các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục đăng ký nhượng quyền kinh doanh còn nhiều thiếu sót và chưa rõ ràng. Điều 18, Nghị định 35/2026/NĐ-CP khi quy định việc phân cấp thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại không nêu rõ trường hợp nhượng quyền từ khu chế xuất, khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại thì đăng ký tại cơ quan nào. Hiện tại, Bộ Tài chính cũng chưa ban hành quy định về mức phí đăng ký nhượng quyền thương mại, điều này gây ra sự lúng túng cho các cơ quan đăng ký khi thực hiện. Đồng thời, cũng chưa có các quy định cụ thể về cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong trường hợp thương nhân bị từ chối đăng ký nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, một số quy định pháp luật cho hoạt động nhượng quyền thương mại chưa phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay. Theo mẫu bản giới thiệu về nhượng quyền của Bộ Thương mại ban hành kèm theo Thông tư số 09/2026/TT-BTM ngày 25/5/2026, bên nhượng quyền phải trình báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong 01 năm gần nhất (Phụ lục 2). Yêu cầu này đúng với chuẩn mực của pháp luật nhượng quyền thương mại quốc tế, được nhiều nước áp dụng nhưng lại chưa thực sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay khi đa phần các doanh nghiệp thuộc quy mô vừa và nhỏ, chưa quen với việc kiểm toán.
Thứ tư, các cơ chế pháp lý về nhượng quyền thương mại chưa hoàn chỉnh và đầy đủ. Pháp luật về thuế chưa có các quy định cụ thể về việc hạch toán, tính thuế đối với mức phí nhượng quyền và các khoản thu khác liên quan đến nhượng quyền. Chính phủ cũng chưa ban hành các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hoạt động nhượng quyền thương mại.
2 Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
2.1. Các quy định pháp luật về kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam
Hiện nay, hoạt động kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam chịu sự điều tiết của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm 12/2023/PL-UBTVQH11 và Nghị định số 163/2024/NĐ-CP ngày 7/9/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, còn có một số văn bản pháp quy khác hướng dẫn thi hành các quy định của Pháp lệnh và Nghị định.
Khoản 1, Điều 3, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm 2023 đưa ra định nghĩa về thực phẩm như sau: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”. Khoản 3 của Điều này cũng đưa ra định nghĩa về sản xuất, kinh doanh thực phẩm, theo đó đây là “việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển, buôn bán thực phẩm”.
Điều 4 của Pháp lệnh khẳng định “kinh doanh thực phẩm là kinh doanh có điều kiện” và những điều kiện đó được chi tiết hoá trong Nghị định 163/2024/NĐ-CP. Cụ thể, Điều 4 của Nghị định liệt kê các các điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam: “1- Điều kiện về cơ sở gồm: địa điểm, môi trường; yêu cầu thiết kế, bố trí nhà xưởng, kết cấu nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước; hệ thống cung cấp nước đá; hệ thống cung cấp hơi nước; khí nén, hệ thống xử lý chất thải; phòng thay bảo hộ lao động, nhà vệ sinh. 2- Điều kiện về trang thiết bị, dụng cụ gồm: phương tiện rửa và khử trùng tay; nước sát trùng; thiết bị phòng chống côn trùng, động vật gây hại; thiết bị dụng cụ giám sát chất lượng; thiết bị dụng cụ chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển. 3- Điều kiện về con người gồm: sức khoẻ của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm; kiến thức, thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của người sản xuất kinh doanh thực phẩm”.
Điều 14 Nghị định 163/2024/NĐ-CP đưa ra danh mục thực phẩm có nguy cơ cao gồm 10 nhóm: “Thịt và các sản phẩm từ thịt; sữa và các sản phẩm từ sữa; trứng và các sản phẩm chế biến từ trứng; thuỷ sản tươi sống và đã qua chế biến; các loại kem, nước đá, nước khoáng thiên nhiên; thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm bổ sung, phụ gia thực phẩm; thức ăn, đồ uống chế biến để ăn ngay; thực phẩm đông lạnh; sữa đậu nành và các sản phẩm chế biến từ đậu nành; các loại rau, củ, quả tươi sống ăn ngay”. Như vậy có thể thấy hầu hết tất cả các nhà hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống hiện nay đều thuộc nhóm cơ sở kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao. Theo Điều 15 của Nghị định thì tất cả những cơ sở kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao đều phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Ngoài ra, Điều 17 của Nghị định quy định cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có đăng ký kinh doanh phải công bố tiêu chuẩn sản phẩm và Giấy chứng nhận công bố tiêu chuẩn sản phẩm có giá trị trong 03 năm kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
2.2. Những vướng mắc trong các quy định pháp luật về kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Nhìn chung, những quy định pháp luật của Việt Nam về kinh doanh thực phẩm mới chỉ tập trung vào khía cạnh vệ sinh an toàn thực phẩm, chưa bao quát hết được tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh thực phẩm. Bên cạnh đó, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam còn lỏng lẻo. Thứ nhất, mặc dù Pháp lệnh 2023 đã siết chặt quản lý đối với hoạt động kinh doanh thực phẩm bằng cách quy định “kinh doanh thực phẩm là kinh doanh có điều kiện”, song các điều kiện mới chỉ được liệt kê chung chung, chưa có những chuẩn mực cụ thể cho từng điều kiện, vì vậy các cơ quan kiểm tra, thanh tra sẽ gặp nhiều khó khăn khi đánh giá xem doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh thực phẩm hay không. Thứ hai, Nghị định 163/2024/NĐ-CP có quy định rằng các cơ sở “có đăng ký kinh doanh” thì phải công bố tiêu chuẩn sản phẩm, nhưng không có quy định xem cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm như thế nào thì phải đăng ký kinh doanh. Thứ ba, các quy định pháp luật tại Việt Nam chưa có các quy định nghiêm ngặt và rõ ràng về hình thức xử lý và mức phạt đối với các cơ sở kinh doanh thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, vi phạm pháp luật kinh doanh thực phẩm.
II. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH KINH DOANH THỰC PHẨM VIỆT NAM
1 Quy mô của ngành kinh doanh thực phẩm Việt Nam
Đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam, ngành thực phẩm có điều kiện rất thuận lợi để phát triển, đồng thời đây cũng là ngành có vai trò đặc biệt quan trọng – gắn kết nông nghiệp với thị trường. Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 1,5 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm, trong đó hơn 90% là các cơ sở mọc lên tự phát và không có giấy phép kinh doanh. Như vậy có thể nói tại Việt Nam số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm rất lớn, song đa phần các cơ sở đều là quy mô nhỏ.
- Bảng 2: Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm và liên quan đến lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam tại thời điểm 31/12/2025 Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Nếu xét theo các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh thì đến thời điểm 31/12/2025, Việt Nam có 5.076 doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống với 427.775 lao động và 99.694 tý đồng vốn sản xuất kinh doanh, chiếm 21,13% số lượng doanh nghiệp, 13,8% số lượng lao động và 16,76% vốn sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến (Bảng 2). Nếu tính cả các lĩnh vực khác liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp và thuý sản, số lượng các doanh nghiệp có thể lên tới 7.200 doanh nghiệp với 666.318 lao động và 145.471 tý đồng vốn sản xuất kinh doanh, chiếm 8,1% số lượng doanh nghiệp, 10,7% số lượng lao động và 6% tổng vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cả nước (Bảng 2). Như vậy, nếu so với các ngành khác trong nước thì ngành thực phẩm có số lượng và quy mô các doanh nghiệp tương đối lớn. Nhưng khi so với thế giới thì quy mô của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam còn rất nhỏ bé. Nếu tính trung bình thì mỗi doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam có khoảng 92 lao động với 20,2 tý đồng (1,26 triÖu USD) vốn sản xuất kinh doanh, những con số này còn quá khiêm tốn so với thế giới (Bảng 2).
Về quy mô vốn đầu tư, ngành thực phẩm Việt Nam đang được rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Tính đến năm 2026, công nghiệp thực phẩm có 253 dự án FDI có hiệu lực với tỗng số vốn đăng ký trên 3 tý USD, trong đó thực hiện được hơn 1,8 tý USD. Ngành công nghiệp thực phẩm hiện chiếm hơn 7,1% tỗng số vốn thực hiện toàn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, còn thu hút được nhiều vốn hơn cả các lĩnh vực: giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và khách sạn du lịch.
Về quy mô xuất khẫu, ngành thực phẩm là một trong những ngành xuất khẫu chủ lực của Việt Nam. Trong danh sách các mặt hàng xuất khẫu chủ yếu của Việt Nam từ năm 2022 – 2026, có 14 trên tỗng số 32 mặt hàng là lương thực thực phẫm và nguyên liệu chế biến thực phẫm, bao gồm: hàng rau, hoa quả; hạt tiêu; cà phê; gạo; hạt điều nhân; lạc nhân; thịt đông lạnh và chế biến; thực phẫm chế biến từ tinh bột và bột; sữa và các sản phẫm từ sữa; đường; chè; dầu mỡ động thực vật; quế; hàng thủy sản. Từ năm 2020 – 2025, ngành thực phẫm đạt trị giá xuất khẫu trung bình là 4667,3 triệu USD/năm, đóng góp 22,3% vào kim ngạch xuất khẫu bình quân hàng năm của cả nước (Bảng 3).
- Bảng 3: Trị giá xuất khẩu lương thực thực phẩm của Việt Nam 2020 – 2025
Về sức mua thực phẩm, với dân số hơn 84 triệu dân hiện nay, Việt Nam có nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm rất lớn. Theo các số liệu thống kê của Bộ Công thương, sức mua thực phẩm chế biến của người Việt Nam hiện nay là khoảng 125USD/người/năm, như vậy sức mua của cả nước là 10 tỷ USD/năm, và trong 10 năm tới con số này có thể lên tới 20 tỷ USD/năm. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Tóm lại, thực phẩm là một ngành chủ lực đối với nền kinh tế quốc dân Việt Nam, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa mà còn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh thực phẩm tại Việt còn ở quy mô vừa và nhỏ, chưa thực sự xứng đáng với tầm vóc của ngành. Thêm vào đó, số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực phẩm có đăng ký kinh doanh còn quá ít, đa phần là các cơ sở là nhỏ lẻ và tự phát, rất khó cho công tác quản lý và thống kê. Điều này đỏi hỏi Nhà nước và các Bộ, Ban, Ngành cần có biện pháp quy mô hoá và tổ chức lại hệ thống các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm trong nước.
2 Chất lượng của ngành kinh doanh thực phẩm Việt Nam
Để đánh giá chất lượng của ngành kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam, tác giả sử dụng 3 tiêu chí cơ bản trong kinh doanh thực phẩm là: “tính đặc sắc, tính vệ sinh an toàn và tính chuyên nghiệp” làm cơ sở.
Tính đặc sắc: Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, Việt Nam là quê hương của rất nhiều loại nông sản, hải sản, thuỷ sản, nguyên liệu và gia vị chế biến thực phẩm. Bên cạnh sự đa dạng và dồi dào về nguồn cung cấp thực phẩm, Việt Nam có một nền văn hoá ẩm thực truyền thống phong phú với rất nhiều món ăn ngon mang hương vị đặc sắc. Đặc biệt, mỗi vùng miền Bắc, Trung, Nam lại có những đặc sản riêng, làm phong phú thêm kho tàng ẩm thực của dân tộc. Ngay cả cùng một món ăn, mỗi vùng miền khác nhau lại có một cách chế biến và phong cách thưởng thức ẩm thực khác nhau. Chẳng hạn như cùng là phở, nhưng mùi vị của phở Hà Nội khác với phở Sài Gòn và phở Nam Định, hay ngay cả cùng là phở Hà Nội, phở ở mỗi quán lại mang hương vị riêng. Tính đặc sắc của các sản phẩm thực phẩm Việt Nam còn thể hiện ở chỗ mang tính tiện ích và phù hợp với xã hội công nghiệp mà không đánh mất đi nghệ thuật ẩm thực truyền thống. Khi bước chân vào các siêu thị tại Việt Nam, tại khu thực phẩm chế biến đóng gói, đông lạnh ta thấy đa dạng các chủng loại thực phẩm Việt Nam chế biến sẵn rất tiện ích nhưng vẫn giữ được nét truyền thống. Ví dụ, cá kho tộ đông lạnh được nấu trong niêu đất, với đầy đủ các loại gia vị truyền thống; nem, giò, chả đông lạnh được cuốn theo kiểu truyền thống với những mùi vị đặc trưng… Những quán Phở 24, Phở Vuông, Phở 2020 khang trang và hiện đại mọc lên với phong cách phục vụ chuyên nghiệp nhưng hương vị phở, cách nấu phở vẫn mang đậm nét truyền thống. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Tính vệ sinh an toàn: Văn hoá ẩm thực của Việt Nam rất đặc sắc, tuy nhiên chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam lại là một vấn đề vô cùng nhức nhối. Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y Tế), trong tổng số 1,5 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam, có đến 99,7% chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Như vậy, sau hơn 3 năm Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm có hiệu lực, cả nước mới có 352.777 trên tổng số hơn 1,5 triệu cơ sở kinh doanh thực phẩm được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Cũng theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, từ năm 2020-2026, cả nước có 1358 vụ ngộ độc thực phẩm với 34.411 người mắc và 379 người chết. Bên cạnh đó, công tác quản lý thị trường và chất lượng vệ sinh thực phẩm chưa tốt. Trong đợt dịch cúm gia cầm và lợn tai xanh vừa qua, mặc dù Chính phủ đã có chỉ thị cấm vận chuyển gia cầm, gia súc không rõ nguồn gốc xuất xứ, vậy mà vẫn có hàng nghìn tấn thịt gia cầm, thịt lợn không rõ xuất xứ được vận chuyển trái phép vào Việt Nam, hoặc từ các vùng có dịch lên các thành phố lớn. Thử hỏi như vậy, người tiêu dùng, đặc biệt là khách quốc tế có thể yên tâm thưởng thức ẩm thực tại Việt Nam hay không? Chất lượng vệ sinh thực phẩm yếu kém tại Việt nam thứ nhất là do đội ngũ nhân lực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm tại Việt Nam còn rất mỏng. Với một số lượng lớn các cơ sở kinh doanh thực phẩm như vậy nhưng tại Việt Nam chỉ có 2 cơ quan chuyên ngành an toàn thực phẩm là Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) và Cục Quản lý chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản (Bộ Thuỷ sản). Nguyên nhân thứ hai là sự thiếu hụt trang thiết bị kiểm nghiệm an toàn thực phẩm. Thông thường ở các nước mỗi tỉnh, địa bàn đều có một Viện kiểm nghiệm thực phẩm, còn ở Việt Nam mới chỉ có 64 labô xét nghiệm phục vụ công tác an toàn thực phẩm tại 64 tỉnh thành. Nguyên nhân thứ ba là nhận thức và thực hành của các nhóm đối tuợng về an toàn thực phẩm còn rất yếu. Theo điều tra của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, chỉ có 38% số người kinh doanh thực phẩm có kiến thức về an toàn thực phẩm, ngay cả bản thân người tiêu dùng cũng chỉ có 38% số người được điều tra hiểu về an toàn thực phẩm. Một nguyên nhân nữa là các quy định pháp luật vể an toàn vệ sinh thực phẩm còn lỏng lẻo, tạo kẽ hở cho các cơ sở kinh doanh vi phạm.
Tính chuyên nghiệp: Tính chuyên nghiệp của ngành kinh doanh thực phẩm Việt Nam còn rất thấp. Công nghệ, dây chuyền sản xuất, chế biến của các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm Việt Nam còn lạc hậu, khiến chất lượng sản phẩm không đồng đều, năng suất thấp. Mạng lưới phân phối thực phẩm tại Việt Nam cũng chưa chuyên nghiệp. Theo thống kê của Bộ Thương mại, năm 2026 cả nước có khoảng 200 siêu thị, 1.000 cửa hàng tự chọn, 9.063 chợ trong đó có 165 chợ đầu mối cấp vùng và cấp tỉnh. Như vậy, kênh phân phối thực phẩm chủ yếu ở Việt Nam hiện nay là các chợ, trong đó có hàng nghìn chợ cóc, chợ tạm nơi chất lượng và nguồn gốc thực phẩm không được kiểm định; trong khi đó kênh phân phối chuyên nghiệp và đảm bảo bao gồm hệ thống các siêu thị và cửa hàng tự chọn lại rất hạn chế. Bên cạnh đó, các nhà hàng dịch vụ ăn uống tại Việt Nam đa phần là các hộ kinh doanh cá thể, cửa hàng đường phố, vỉa hè, bán rong, chất lượng thực phẩm không đảm bảo, thái độ phục vụ kém, nhân viên không được đào tạo, giá cả không thống nhất.
Tóm lại, lợi thế nổi bật của ngành kinh doanh thực phẩm Việt Nam là tính đặc sắc cao. Nét đặc sắc đó được thể hiện ở sự đa dạng phong phú chủng loại sản phẩm, nguyên liệu chế biến và sự độc đáo, riêng biệt trong bí quyết, công thức chế biến món ăn, phong cách thưởng thức ẩm thực của người Việt Nam. Chính vì vậy, theo xu thế hội nhập hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể không chỉ xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm mà còn thêm cả bí quyết chế biến, công thức kinh doanh ra thế giới thông qua hình thức nhượng quyền kinh doanh. Tuy nhiên, để làm được điều đó, các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm tại Việt Nam cần khắc phục hai nhược điểm chính là: chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm kém và tính chuyên nghiệp chưa cao.
III. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
1 Quá trình phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam
Hoạt động nhượng quyền kinh doanh bắt đầu có ở Việt Nam vào giữa những năm 1990 và tăng trưởng rất mạnh trong một vài năm gần đây. Theo thống kê của International Business Strategies, một tổ chức nghiên cứu thị trường uy tín trên thế giới, hoạt động nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam trong một vài năm gần đây đạt tốc độ tăng trưởng cao, trung bình 20%/năm với khoảng 70 hệ thống nhượng quyền của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Chỉ riêng năm 2016, doanh thu từ hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam là 1,5 triệu USD, như vậy với tốc độ tăng trưởng trung bình 20%/năm, con số này hiện nay có thể đã lên đến 20 triệu USD.
Khởi nguồn của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam được đánh dấu trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm với các thương hiệu thức ăn nhanh nổi tiếng thế giới như Lotteria, KFC, Jollibee… Cho đến ngày nay, sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động này tại Việt Nam cũng được thể hiện rõ nét nhất trong ngành kinh doanh thực phẩm. Có thể dễ dàng nhận thấy đa phần các hệ thống nhượng quyền trên thị trường Việt Nam hiện nay đều thuộc lĩnh vực thực phẩm và đồ uống. Vì hoạt động nhượng quyền thương mại còn khá mới mẻ tại Việt Nam nên chưa có số liệu thống kê cụ thể trong từng hoạt động, lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên, khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tiến hành thu thập, chọn lọc và tổng hợp các nguồn thông tin khác nhau để có được số liệu về một số hệ thống nhượng quyền tiêu biểu trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam hiện nay (Bảng 4).
- Bảng 4: Các hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam tại thời điểm 30/9/2027 Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Theo thống kê tại Bảng 4, có thễ thấy trong giai đoạn những năm 1990, thị trường nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẫm tại Việt Nam hoàn toàn bị các thương hiệu nước ngoài chiếm lĩnh, đi đầu là 3 nhà khỗng lồ trong lĩnh vực đồ ăn nhanh là Lotteria, KFC và Jollibee, cho đến năm 2018 mới xuất hiện thương hiệu nhượng quyền thương mại đầu tiên của Việt Nam là cà phê Trung Nguyên. Nhưng từ năm 2022 đến nay lại là giai đoạn bùng nỗ của các thương hiệu Việt Nam kinh doanh nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẫm. Lần lượt các hệ thống nhượng quyền như: Highlands Coffee, Phở 24, Alo Trà, Kinh Ðô Bakery, Nước Mía Siêu Sạch… ra đời với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các cửa hàng trong cả nước, riêng Phở 24 và cà phê Trung Nguyên đã nhượng quyền ra cả nước ngoài. Cùng với làn sóng nhượng quyền thương mại mạnh mẽ này, số lượng các hệ thống nhượng quyền của nước ngoài vào thị trường Việt Nam cũng tăng mạnh, xuất hiện những thương hiệu hàng đầu như: Subway Restaurants, Pizza Hut, Gloria Jean’s Coffees, còn các hệ thống đã tồn tại trên thị trường thì không ngừng mở rộng quy mô, tăng số lượng các cửa hàng.
2. Thực tiễn hoạt động của các bên nhượng quyền tại Việt Nam
2.1 Giai đọan chuẩn bị nhượng quyền
Mô hình kinh doanh mau và thương hiệu là hai điều kiện quan trọng hàng đầu mà doanh nghiệp phải có trước khi có thễ tiến hành nhượng quyền kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẫm nói riêng chưa chú trọng đến việc xây dựng mô hình kinh doanh mau. Ðiều này thễ hiện ở sự thiếu đồng bộ và nhất quán trong mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay. Ngay cả với một mô hình nhượng quyền điễn hình trong lĩnh vực thực phẫm và đồ uống như cà phê Trung Nguyên, ta cũng có thễ de dàng nhận ra sự thiếu đồng bộ và chuẫn hoá của hệ thống này. Ðó là sự chênh lệch về giá cả, chất lượng cà phê, cung cách phục vụ, cách bài trí không gian tại các cửa hàng Trung Nguyên khác nhau: có những quán rất đẹp và bề thế, có quán lại rất đơn sơ, khiêm tốn; có quán có máy lạnh sang trọng, phục vụ chuyên nghiệp, có quán lại rất bình dân, tay nghề kém; cùng một ly cà phê như nhau giá tại mői quán lại khác nhau. Sự thiếu đồng bộ trong mô hình kinh doanh là do các doanh nghiệp chưa có điều kiện đầu tư công nghệ hiện đại tiên tiến đễ đảm bảo sự đồng đều trong chất lượng sản phẫm, bên cạnh đó do nhượng quyền thương mại còn mới mẻ tại Việt Nam nên các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm trong việc phát triễn đội ngũ nhân lực, xây dựng chương trình đào tạo nhân viên, xây dựng cẫm nang hoạt động – những nhân tố làm nên một mô hình kinh doanh chuẫn.
Về vấn đề xây dựng và bảo hộ thương hiệu, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẫm, sau một loạt những bài học đau thương về việc bị “đánh cắp” thương hiệu trên thị trường quốc tế như: Vifon tại Ba Lan, bia Sài Gòn tại Canada và Mỹ, bánh phồng tôm Sa Giang tại Châu Âu, kẹo dừa Bến Tre tại Trung Quốc, nước mắm Phú Quốc tại Thái Lan, cà phê Trung Nguyên tại Mỹ, sản phẫm giò rế của Việt Nam bị người Nhật đăng ký bảo hộ độc quyền… , đã bắt đầu có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thương hiệu và việc đăng ký bảo hộ thương hiệu. Theo số liệu thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, năm 2025 có 21.000 nhãn hiệu nộp đơn xin bảo hộ độc quyền và đến năm 2026 Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp bằng bảo hộ độc quyền cho 120.000 nhãn hiệu hàng hoá trong đó có 30.000 nhãn hiệu thuộc sở hữu của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong khi đó, cách đây 5 năm, trong một cuộc nghiên cứu về xây dựng và quảng bá thương hiệu do báo Sài Gòn Tiếp Thị và Câu lạc bộ hàng Việt Nam chất lượng cao thực hiện, chỉ có 4,2% doanh nghiệp tham gia cho rằng thương hiệu là vũ khí cạnh tranh và 5,4% cho rằng thương hiệu là một thứ tài sản của doanh nghiệp. Ðiều này cho thấy nhận thức của các doanh nghiệp về thương hiệu đã được nâng cao. Tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, song các doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng và thiếu hiễu biết trong việc đăng ký bảo hộ thương hiệu. Ðiều này cũng dễ hiễu, bởi vì Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của quá trình hội nhập nên các doanh nghiệp trong nước chưa quen với các thủ tục, quy định pháp lý về đăng ký bảo hộ trên thị trường quốc tế. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
2.2 Giai đọan thực hiện nhượng quyền
Khi thực hiện nhượng quyền các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm xây dựng hợp đồng nhượng quyền. Theo ông Trần Anh Tuấn – đại diện nhóm công ty tư vấn FT – Pathfinder Consulting Group, một trong những công ty tư vấn lớn ở châu Á chuyên về kinh doanh nhượng quyền thì hợp đồng nhượng quyền của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn “lỏng lẻo và không toàn diện”, phần lớn các hợp đồng là “nhượng quyền một phần”, ví dụ: nhượng quyền phân phối sản phẩm như cà phê Trung Nguyên, cấp phép sử dụng công thức pha chế sản phẩm như quán trà T-Bar hoặc hình thức tự sở hữu các cửa hàng như Alo Trà. Các hợp đồng “nhượng quyền một phần” này thường thiếu ràng buộc chặt chẽ đối với bên nhận quyền về tính nhất quán, đồng bộ trong việc sử dụng và khai thác thương hiệu. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì ngay cả đối với các nhà làm luật Việt Nam, thuật ngữ “franchise” còn mới mẻ thì nói gì đến các doanh nghiệp. Các quy định pháp lý về hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam mới chỉ chính thức được ban hành trong Luật Thương mại sửa đổi 2025 và có hiệu lực từ 1/1/2026, song vẫn còn nhiều thiếu sót, bất hợp lý, gây lúng túng cho các doanh nghiệp trong quá trình thi hành. Bên cạnh đó, tại Việt Nam dịch vụ tư vấn về nhượng quyền thương mại chưa phát triển, chúng ta cũng chưa có hiệp hội các doanh nghiệp nhượng quyền hay hội đồng tư vấn cấp quốc gia về nhượng quyền thương mại để giúp đỡ, tư vấn, giải đáp thắc mắc cho các doanh nghiệp khi bắt đầu xây dựng hợp đồng nhượng quyền.
Xây dựng chiến lược nhân rộng mô hình kinh doanh là một khâu quan trọng khi tiến hành nhượng quyền kinh doanh, song hoạt động marketing, quảng bá thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực thực phẩm còn rất yếu. Đối với đặc điểm quy mô vừa và nhỏ của các doanh nghiệp Việt Nam thì việc quảng cáo trên các phương tiện truyền thông như truyền hình, đài báo là rất tốn kém và dường như phương thức quảng cáo qua các trang thông tin điện tử (websites) là tiết kiệm và hiệu quả nhất khi mà hiện nay số người sử dụng Internet trên thế giới đã lên tới hơn 1,2 tỷ người (chiếm 18.9% dân số thế giới). Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ ứng dụng Internet trong việc quảng cáo còn rất thấp: mới chỉ có 31,31% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử (website) riêng; 37,07% doanh nghiệp dự định có website và 33,62% doanh nghiệp hoàn toàn không có khái niệm về website. Một số hệ thống nhượng quyền của Việt Nam đang kinh doanh khá thành công như Dilmah, Qualitea, Nước Mía Siêu Sạch đều chưa có website riêng, khiến việc tìm hiểu các thông tin về doanh nghiệp nhượng quyền rất khó khăn. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp có website nhưng lại không thường xuyên cập nhật thông tin, ngôn ngữ sử dụng trên website còn hạn chế, nhiều trang chỉ có tiếng Việt khiến các đối tác nước ngoài khó truy cập. Ví dụ, một công ty lớn như Trung Nguyên, vậy mà tin tức trên website của công ty này từ năm 2025 đến nay chưa được cập nhật. Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã truy cập vào website của Phở 24, đóng vai một khách hàng viết email liên hệ với doanh nghiệp hỏi một số thông tin về hệ thống nhượng quyền nhưng sau hơn một tháng vẫn không hề nhận được hồi âm. Một điều đáng nói nữa là khi vào các website về nhượng quyền thương mại nổi tiếng thế giới chuyên quảng bá giới thiệu các thương hiệu nhượng quyền kinh doanh gần như không thấy hình ảnh một doanh nghiệp Việt Nam nào. Ngay cả trên các website quảng bá thương hiệu của Việt Nam số lượng các doanh nghiệp tham gia rất hạn chế. Khi truy cập vào “Triển lãm thương hiệu Việt Nam trên internet” tại địa chỉ www.thuonghieuviet., nơi giới thiệu và quảng bá những thương hiệu, sản phẩm hàng đầu Việt Nam, chỉ thấy 175 thương hiệu trong lĩnh vực nông sản, thuỷ sản, thực phẩm và đồ uống tham gia, trong khi tại nước ta có những trên 7.2023 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan này. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
2.3. Giai đoạn duy trì và phát triển hệ thống
Hoạt động hỗ trợ bên nhận quyền của chủ thương hiệu Việt Nam chưa tốt, nhiều chủ cửa hàng nhượng quyền phàn nàn về việc không nhận được sự hỗ trợ kịp thời. Đối với hầu hết các hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm của Việt Nam hiện nay, hoạt động hỗ trợ các bên nhận quyền chủ yếu tập trung ở việc đào tạo ban đầu, giúp đỡ xây dựng, bài trí, quảng cáo cửa hàng trước khi khai trương, còn lại sự hỗ trợ thường xuyên sau khi cửa hàng đã đi vào hoạt động còn rất yếu. Các hệ thống nhượng quyền như Nước Mía Siêu Sạch và Kinh Đô Bakery còn quá non trẻ, mới bắt đầu thực hiện nhượng quyền kinh doanh chưa lâu nên thiếu kinh nghiệm và nguồn lực để có thể duy trì sự hỗ trợ thường xuyên cho các bên nhận quyền. Còn Trung Nguyên, hệ thống nhượng quyến lớn nhất Việt Nam hiện nay, do thực hiện “franchise ồ ạt” nên doanh nghiệp không thể kiểm soát được chất lượng các cửa hàng nhượng quyền. Hiện nay, trong tất cả các hệ thống nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm của Việt Nam, Phở 24 là hệ thống có hoạt động hỗ trợ thường xuyên tốt nhất, tuy vậy hoạt động hỗ trợ của Phở 24 mới chỉ dừng ở việc tổ chức các khoá đào tạo huấn luyện nâng cao tay nghề, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ nhân viên các cửa hàng, cử các đội chuyên gia thường xuyên đến thăm hỏi các cửa hàng để tư vấn và giúp đỡ. Như vậy tất cả các hệ thống nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm của Việt Nam hiện nay chưa thiết lập được kênh thông tin liên lạc trực tiếp giữa chủ thương hiệu và các đối tác nhận quyền. Chính điều đó khiến cho việc duy trì chất lượng và phát triển hệ thống của các chủ thương hiệu rất khó khăn.
Một nguyên nhân nữa khiến việc duy trì chất lượng cho các hệ thống nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam trở nên khó khăn đó là hiện nay chúng ta chưa có các mạng lưới cung ứng ổn định và đảm bảo tiêu chuẩn. Khi một hệ thống nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm được nhân rộng, nhu cầu về các loại nguyên liệu và gia vị chế biến cũng tăng theo. Để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền, cần phải có một nguồn cung cấp các loại nguyên liệu và gia vị ổn định, thường xuyên với khối lượng lớn, chất lượng đồng đều cho tất cả các cửa hàng trong chuỗi nhượng quyền. Tại Việt Nam, nguồn nguyên liệu, gia vị rất phong phú, dồi dào; song các mạng lưới phân phối lại nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp. Trung Nguyên đã tự xây các nhà máy chế biến cà phê và các đại lý phân phối cà phê trên khắp cả nước để đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều cho các cửa hàng nhượng quyền. Phở 24 khi mở rộng mô hình kinh doanh trên quy mô lớn hơn nữa có thể phải tính đến việc phát triển một vùng nuôi bò riêng để đảm bảo cung cấp đủ thịt bò chất lượng cao cho các cửa hàng nhượng quyền mỗi ngày. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực và điều kiện để xây dựng mạng lưới cung ứng riêng. Chính vì lẽ đó, bài toán về nguồn cung cứng vẫn là vấn đề khiến các doanh nghiệp nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam trăn trở khi duy trì và phát triển hệ thống.
3 Thực tiễn hoạt động của các bên nhận quyền tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
3.1. Giai đoạn chuẩn bị mua nhượng quyền
Cũng giống như các chủ thương hiệu Việt Nam, các doanh nghiệp nhận quyền ở nước ta còn thiếu kiến thức pháp luật về nhượng quyền thương mại và chưa chủ động trong việc tìm kiếm các đối tác nhượng quyền. Các thuật ngữ chuyên môn về nhượng quyền thương mại như “tài liệu UFOC”, “cẩm nang hoạt động”… còn khá mới lạ với các doanh nghiệp Việt Nam. Pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại cũng chưa đầy đủ, cụ thể khiến các doanh nghiệp càng lúng túng khi tham gia hoạt động này. Ngoài ra, sự hạn chế về vốn cũng là nguyên nhân gây cản trở cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tìm mua nhượng quyền. Việc mua nhượng quyền của các thương hiệu nước ngoài đòi hỏi phải tốn hàng triệu USD cho việc trả phí nhượng quyền và đầu tư ban đầu trong khi đa phần các doanh nghiệp Việt Nam là quy mô vừa và nhỏ, ở Việt Nam lại chưa có sự kết hợp giữa các ngân hàng và doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện cho vay vốn ưu đãi để phát triển kinh doanh nhượng quyền. Chính vì vậy, cho đến nay rất ít công ty trong nước mua được nhượng quyền trực tiếp từ các thương hiệu lớn trong lĩnh vực thực phẩm. KFC hay Pizza Hut đều được nhượng quyền lại tại Việt Nam thông qua các liên danh với nước ngoài. Công ty KFC Việt Nam là một liên doanh với Singapore. Chuỗi nhà hàng Pizza Hut tại Việt Nam được đầu tư bởi 2 công ty là IFB Holdings (Việt Nam) và Jardin Restaurant Group (Hồng Kông). Riêng Lotteria thì do chính công ty mẹ tại Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam. Đánh giá về khả năng nhận quyền của các doanh nghiệp Việt Nam, bà Nguyễn Phi Vân – giám đốc điều hành Gloria Jean’s Coffees ở Việt Nam nhận định: “Vì giới hạn về năng lực tài chính và kinh nghiệm quản lý trong ngành nhượng quyền thương mại mà các công ty trong nước khó lọt vào “mắt xanh” của những thương hiệu toàn cầu”.
3.2. Giai đoạn mua nhượng quyền
Trước khi mua nhượng quyền, tất cả các doanh nghiệp đều phải điều tra, đánh giá hệ thống nhượng quyền. Song các doanh nghiệp Việt Nam lại không có điều kiện tiếp cận đầy đủ với các kênh thông tin để có được sự đánh giá chính xác. Hiện nay, tại Việt có rất ít trang thông tin điện tử (website) giới thiệu về hoạt động nhượng quyền thương mại trên thế giới và nội dung các website này còn sơ sài, không được cập nhật thường xuyên. Các sách báo, ấn phẩm về nhượng quyền thương mại cũng rất ít; còn sổ niên giám nhượng quyền của Việt Nam thì hoàn toàn chưa có. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa có một hiệp hội nhượng quyền để cùng nhau trao đổi, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm. Chính phủ cũng chưa thành lập chương trình quốc gia hỗ trợ phát triển nhượng quyền thương mại hoặc hội đồng tư vấn nhượng quyền cấp nhà nước, nơi mà các doanh nghiệp có thể tin tưởng tìm kiếm thông tin về các hệ thống nhượng quyền. Gần đây tại Việt Nam bắt đầu có có các buổi hội thảo, nói chuyện chuyên đề về nhượng quyền thương mại, đặc biệt vào tháng 6/2025 hội chợ triển lãm về nhượng quyền thương mại đầu tiên tại Việt Nam mang tên “Franchising Viet Nam 2025” đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên những hoạt động này chưa được tổ chức thường xuyên, định kỳ và chưa thu hút được đông đảo các doanh nghiệp tham gia.
Không chỉ thiếu thông tin để đánh giá các hệ thống nhượng quyền, các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng mua nhượng quyền. Cũng giống như trường hợp các bên nhượng quyền, nguyên nhân khiến các doanh nghiệp nhận quyền Việt Nam lúng túng khi ký kết hợp đồng là do hoạt động nhượng quyền thương mại còn quá mới mẻ. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam còn lầm tưởng hợp đồng nhượng quyền do bên bán soạn thảo và đã được cố định sẵn, hoàn toàn không thể thay đổi nhưng trên thực tế các điều khoản trong hợp đồng đều có thể đàm phán và điều chỉnh được bởi vì bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
3.3. Giai đoạn triển khai kinh doanh cửa hàng nhượng quyền
Từ thực tế có thể thấy việc xây dựng các cửa hàng nhượng quyền tại Việt Nam được tiến hành khá tốt. Các bên nhận quyền nhận thức rất rõ tầm quan trọng của địa điểm, mặt tiền kinh doanh nên hầu hết các cửa hàng nhượng quyền tại Việt Nam đều nằm ở những khu trung tâm thương mại lớn hoặc những phố chính, thuận tiện đường giao thông, cảnh quan đẹp và nhiều khách qua lại. Ví dụ điển hình là chuỗi cà phê Highlands tại Hà Nội, các cửa hàng của hệ thống này đều nằm ở những vị trí đẹp và đắt đỏ bậc nhất của Thủ Đô như Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, đường Điện Biên Phủ, Tháp Hà Nội, Tháp Vincom… và đặc biệt các cửa hàng của Highlands bao giờ cũng có một khoảng không gian thoáng đãng phía trước để khách hàng vừa thưởng thức cà phê vừa có thể thư giãn, tận hưởng không gian thoáng mát. Đối với chuỗi Phở 24, các cửa hàng luôn được đặt ở khu vực có nhiều du khách, khách sạn, nhà hàng, cao ốc văn phòng và khu dân cư có thu nhập khá.
Việc xây dựng các cửa hàng nhượng quyền được triển khai khá tốt ở Việt Nam, tuy nhiên công tác tuyển dụng nhân viên của các bên nhận quyền chưa tốt. Việc tuyển dụng nhân viên của đa số các cửa hàng thường được dựa trên cơ sở mối quan hệ thân quen, thiếu tính khách quan nên không chú trọng đến năng lực thực sự của nhân viên. Đây dường như là phương thức tuyển dụng rất phổ biến đối với các doanh nghiệp nhỏ và các cửa hàng nhượng quyền. Tuyển dụng nguồn nhân lực từ người quen hay họ hàng là một phương thức tiết kiệm, không mất chi phí quảng cáo, đăng tuyển trên các phương tiện truyền thông, bên cạnh đó tuyển dụng người quen, người nhà vào những vị trí chủ chốt như quản lý, kế toán giúp chủ cửa hàng cảm thấy an tâm, tin tưởng hơn. Tuy nhiên, phương thức tuyển dụng này không được hoan ngênh đối với các hệ thống nhượng quyền. Mối quan hệ thân quen hoặc họ hàng giữa chủ cửa hàng và các nhân viên sẽ làm hạn chế tính chuyên nghiệp của hệ thống, nhiều khi tình cảm cá nhân ảnh hưởng xấu đến công việc. Bên cạnh đó, việc quản lý những nhân viên này rất khó khăn và phức tạp, nhất là khi có những vi phạm xảy ra. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Trong việc điều hành cửa hàng nhượng quyền, các bên nhận quyền Việt Nam còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn. Điều này là do 2 nguyên nhân chính: một là hiện nay ở Việt Nam chưa có các trường lớp đào tạo chuyên nghiệp về nhượng quyền thương mại; hai là hoạt động nhượng quyền thương mại còn mới mẻ ở Việt Nam nên các thương nhân Việt chưa quen với tính hệ thống và tiêu chuẩn cao trong mô hình kinh doanh này. Nhận xét về hoạt động của các bên nhận quyền tại Việt Nam, bà Hà Ngọc Anh, chuyên gia về nhượng quyền thương mại của thương vụ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cho biết: “Chắc tại Việt Nam franchise quá mới nên tôi thấy nhận thức về vấn đề này còn rất mơ hồ. Nhiều người nghĩ đơn giản rằng họ bỏ tiền ra mua và không mất nhiều công sức kinh doanh hoặc khi mua rồi ta muốn làm gì thì làm với thương hiệu đó”. Trên thực tế, trong quá trình triển khai kinh doanh cửa hàng nhượng quyền, nhiều bên nhận quyền Việt Nam cố tình vi phạm hoặc do năng lực quản lý kém nên không giữ được các chuẩn mực về tính đồng bộ của hệ thống. Chẳng hạn tập đoàn Nam An đã phát hiện ra một số tiệm Phở 24 làm trái quy định khi tìm cách cắt giảm chi phí hoạt động bằng việc giảm số lượng thịt trong một bát phở, tắt điều hoà, giảm số lượng nhân công… khiến nhiều khách hàng phàn nàn, ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu. Theo ông Lý Quí Trung, chủ tịch tập đoàn Nam An đồng thời là một chuyên gia về nhượng quyền thương mại hàng đầu Việt Nam thì những sự cố kiểu này là những “tai nạn” thường xuyên đối với các hệ thống nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều chủ thương hiệu phàn nàn rằng các bên nhận quyền tại Việt Nam không chịu hợp tác với họ trong việc quảng cáo tiếp thị hệ thống, đào tạo huấn luyện nhân viên. Theo nhận định của ông Trần Anh Tuấn, đại diện FT – Pathfinder Consulting Group tại Vietnam, thì các bên nhận quyền tại Việt Nam còn quá “dựa hơi” mà quên rằng muốn thành công, bản thân họ cũng phải chịu trách nhiệm làm tiếp thị, quảng bá tại khu vực địa phương, phải giữ đúng cam kết bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng.
4 Đánh giá chung về thực tiễn hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam
Nhìn chung, sau 10 năm bắt đầu kinh doanh nhượng quyền mà chủ yếu trong một vài năm gần đây, hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam đã có những thành tựu nhất định. Đó là sự tăng lên đáng kể về số lượng và chất lượng của các hệ thống nhượng quyền lẫn các cửa hàng nhượng quyền. Các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu quan tâm đến việc xây dựng và quảng bá thương hiệu, tìm kiếm đối tác mua, bán nhượng quyền trong và ngoài nước. Pháp luật về nhượng quyền tại Việt Nam cũng bắt đầu được hình thành và đang dần được hoàn chỉnh, bổ sung.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Hoạt động này còn mang tính tự phát cao, chưa thể hiện sự chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú trọng đúng mức đến việc xây dựng mô hình kinh doanh mẫu và thiếu kinh nghiệm trong việc đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ. Kinh nghiệm và kiến thức về nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp cũng còn hạn chế do sự mới mẻ của hoạt động này tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam hiện nay còn mang tính trào lưu, chưa thực sự dựa trên cơ sở phân tích đánh giá nghiêm túc của các doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống nhượng quyền nhưng không duy trì được tính đồng bộ và chất lượng của hệ thống, rơi vào tình trạng mất kiểm soát hoặc nhiều doanh nghiệp mua nhượng quyền nhưng khi triển khai kinh doanh lại vi phạm quy định về tính chuẩn mực của hệ thống, gây ảnh hưởng đến uy tín của chủ thương hiệu. Mặt khác, cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam còn nhiều vướng mắc, thiếu sót; Nhà nước và các Bộ, Ban, Ngành chưa có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền cũng như đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, các mạng lưới cung ứng chuyên nghiệp cho hoạt động kinh doanh mới mẻ này.
5 Một số mô hình nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tiêu biểu của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
5.1. Cà phê Trung Nguyên – hệ thống nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam từ trước đến nay
Khởi nguồn của cà phê Trung Nguyên là một cơ sở chế biến cà phê nhỏ ở Buôn Ma Thuột, nhưng với khát vọng xây dựng một thương hiệu cà phê nổi tiếng và đưa hương vị cà phê Việt Nam ra khắp thế giới, 4 chàng sinh viên trẻ tuổi đã cùng nhau lập nên công ty cổ phần Trung Nguyên vào năm 2016. Năm 2018, Trung Nguyên ra mắt cửa hàng nhượng quyền đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh với khẩu hiệu “khơi nguồn sáng tạo” và các loại cà phê với tên gọi riêng “sáng tạo 1”, “sáng tạo 2”, “sáng tạo 3”… Với nỗ lực hết mình làm thế nào để đưa sản phẩm của mình tới đông đảo người tiêu dùng, Trung Nguyên đã lựa chọn một phương thức kinh doanh độc đáo, đó là mở hàng loạt các quán cà phê mang thương hiệu Trung Nguyên nhưng lại do những người khác đầu tư và tự làm chủ, tại đây Trung Nguyên sẽ cung cấp cho họ sản phẩm, công thức pha chế, đổi lại cửa hàng không được bán bất kỳ loại cà phê nào khác ngoài Trung Nguyên. Đây là một phương thức kinh doanh chưa có tiền lệ và cũng chưa từng được biết đến tại Việt Nam vào thời điểm đó. Tuy nhiên, trên thế giới phương thức kinh doanh này đã được biết đến từ lâu với tên gọi “nhượng quyền phân phối sản phẩm”.
Phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm đã đem lại cho Trung Nguyên khả năng lan toả lớn. Đến năm 2022 Trung Nguyên đã xây dựng được mạng lưới hơn 1.000 cửa hàng trên khắp cả nước trong đó chỉ có chưa đến chục quán thuộc sở hữu của Trung Nguyên. Đến năm 2023 Trung Nguyên bắt đầu vươn ra thị trường quốc tế, đầu tiên là ở Campuchia. Đến nay Trung Nguyên có 1.086 cửa hàng trong cả nước với 121 nhà phân phối và đã có mặt tại nhiều thị trường các nước khác nhau trên thế giới như: Campuchia, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ… Điều gì đã làm nên thành công của Trung Nguyên? Đó là khẩu hiệu “khơi nguồn sáng tạo” đầy quyến rũ; bí quyết rang, xay, pha chế cà phê độc đáo; chiến lược quảng bá tiếp thị rầm rộ; kinh nghiệm quản lý của Ban Giám Đốc. Song điều quan trọng nhất làm nên thành công của Trung Nguyên đó là lợi thế của người đi đầu. Cách đây khoảng chục năm, các quán cà phê tại Việt Nam chủ yếu mang tính chất kinh doanh gia đình nhỏ lẻ, nguồn cung cấp không rõ ràng, không có tính hệ thống và chiến lược phát triển dài hạn. Trung Nguyên đã nắm lấy cơ hội đó, xây dựng một thương hiệu cà phê đầu tiên của Việt Nam và thực hiện việc quảng bá thương hiệu đó một cách bài bản trên thị trường thông qua chiến lược nhượng quyền phân phối sản phẩm. Trung Nguyên trở thành một hiện tượng của làng cà phê Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Hình thức nhượng quyền phân phối đem lại cho Trung Nguyên khả năng lan toả nhanh chóng, nhưng xét dưới góc độ lý luận về nhượng quyền thương mại, hình thức này có tính chuẩn mực thấp. Hệ thống nhượng quyền của Trung Nguyên có quy mô lớn nhưng lại thiếu tính đồng bộ, một số lượng khổng lồ các quán cà phê Trung Nguyên trong cả nước tạo ra một dải rất rộng về đẳng cấp. Có những quán bài trí đẹp, phong cách phục vụ tốt có những quán lại quá bình dân, đơn sơ. Thêm vào đó, các quy định lỏng lẻo đối với bên nhận quyền của hình thức nhượng quyền phân phối khiến Trung Nguyên không thể kiểm soát tốt chất lượng của số đông cửa hàng như vậy. Đứng trước thực trạng đó, năm 2021 Trung Nguyên đã quyết định trả 3 triệu USD cho một công ty tư vấn tại New Zealand để làm hệ thống nhượng quyền của Trung Nguyên chuyên nghiệp và nhất quán hơn. Tuy nhiên, việc điều chỉnh lại một hệ thống trên dưới 1.000 cửa hàng trải dài khắp cả nước với các chủ sở hữu khác nhau là cả một thách thức lớn. Nhưng dù sao, bước đi này của Trung Nguyên cũng chứng tỏ một xu thế tất yếu của hoạt động nhượng quyền kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam – đó là chuyển từ phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm sang nhượng quyền mô hình kinh doanh.
5.2. Phở 24 – mô hình nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm hoàn hảo nhất của Việt Nam hiện nay
Phở 24 là một chuỗi các cửa hàng Phở cao cấp thuộc tập đoàn Nam An, một doanh nghiệp có tiếng tại Việt Nam chuyên về các lĩnh vực nhà hàng, ăn uống. Tên gọi Phở 24 mang ý nghĩa biểu tượng cho 24 thành phần nguyên liệu để chế biến phở, 24 giờ đồng hồ để ninh nước dùng phở, giá phở khởi điểm 24.000 đồng/bát và mong muốn được phục vụ khách hàng 24/24 giờ trong ngày. Phở 24 được thành lập 2023 và là thương hiệu phở đầu tiên của Việt Nam được kinh doanh nhượng quyền.
Khác hoàn toàn so với Trung Nguyên về định hướng phát triển, ngay từ khi ra đời Phở 24 đã chủ đích kinh doanh nhượng quyền và lựa chọn phương thức nhượng quyền mô hình kinh doanh làm chiến lược. Nếu chiến lược kinh doanh của Trung Nguyên là phát triển hế thống trên quy mô rộng thì Phở 24 lại đặt trọng tâm phát triển chiều sâu lên hàng đầu. Chính vì vậy, việc đặt tên thương hiệu mang tính quốc tế cho đến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường mục tiêu trong và ngoài nước đều được Phở 24 cân nhắc kỹ lưỡng và có tầm nhìn dài hạn. Phở 24 đã chuẩn hoá mọi quy trình ngay từ đầu, các bước từ chế biến, phục vụ, trang trí, đào tạo, đến đồng phục nhân viên, vật phẩm, tài liệu in ấn… đều được chuẩn hoá và đảm bảo có khả năng nhân rộng. Ví dụ, nhân viên phục vụ của Phở 24 khi lấy “order” (đơn gọi món ăn) của khách phải qua 9 bước, trần bánh phở phải 6 động tác, nấu nước lèo phải 6 bước, các khâu đảm bảo vệ sinh cũng theo đúng những tiêu chuẩn cụ thể trên giấy trắng mực đen. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
Ngoài ra, việc đào tạo nhân viên của Phở 24 cũng rất bài bản. Trong cuốn sách “Franchise bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh”, tác giả Lý Quí Trung, đồng thời là chủ thương hiệu Phở 24 cho biết chương trình đào tạo đối tác mua nhượng quyền của Phở 24 gồm 2-3 tuần huấn luyện tại trung tâm đào tạo của tập đoàn dưới hình thức lớp học lý thuyết và thực hành ngay tại các cửa hàng phở đang hoạt động; phía đối tác nhận quyền phải gửi ít nhất một nhân viên quản lý, một nhân viên bếp và một chủ đại diện đến trung tâm để được huấn luyện miễn phí rồi sẽ về truyền lại cho các nhân viên còn lại trong cửa hàng; đồng thời đội ngũ chuyên gia của tập đoàn sẽ có mặt tại cửa hàng nhượng quyền trước và sau ngày khai trường ít nhất là 3 ngày. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân sự của Phở 24 cũng được xây dựng dựa trên chiến lược lâu dài. Chủ trương của công ty là luôn chuẩn bị đào tạo và tuyển dụng đủ nhân sự giỏi và có kinh nghiệm để sẵn sàng làm việc cho công ty 2-3 năm sau, chứ không phải khi nào cần mới bắt đầu tuyển dụng. Phở 24 cũng không dễ dãi như Trung Nguyên trong việc tìm kiếm đối tác mua nhượng quyền, công ty nghiên cứu hồ sơ và phỏng vấn đối tác rất kỹ để có thể “chọn mặt gửi vàng”.
Như vậy, phương châm kinh doanh của Phở 24 là chứng tỏ sự thành công của hệ thống trước khi tiến hành nhượng quyền thương mại cho đối tác. Chính vì phương châm phát triển chiều sâu như vậy nên một mặt Phở 24 phải chấp nhận tốc độ nhân rộng mô hình kinh doanh chậm hơn nhiều so với nhu cầu của thị trường, mặt khác Phở 24 phải đối mặt với rủi ro bị các đối thủ cạnh tranh sao chép mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, bằng những bước đi “chậm mà chắc” cùng nỗ lực không ngừng phát triển, quảng bá thương hiệu, Phở 24 đã chứng minh được thành công to lớn. Sau 4 năm phát triển, đến nay Phở 24 đã phát triển được 52 cửa hàng tại Việt Nam và 7 cửa hàng ở các nước như: Philipines, Indonesia, Singapore, Australia. Phở 24 cũng đang đặt mục tiêu rộng thị trường sang các nước: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc và Mỹ, nâng tổng số cửa hàng lên 80 cửa hàng đến cuối năm 2027 và 100 cửa hàng đến cuối năm 2028. Trong tương lai gần, Phở 24 sẽ tiến tới phục vụ khách hàng 24 giờ/ ngày và 7 ngày/ tuần. Kết quả kinh doanh của các cửa hàng Phở 24 trong và ngoài nước đều rất khả quan. Trung bình mỗi cửa hàng bán được 350 bát phở/ngày với giá bình quân là 1.5USD/bát, mang lại doanh thu khoảng 16000 USD/tháng/cửa hàng và lợi nhuận của hệ thống Phở 24 được ước tính đạt 4,5 – 5 triệu USD/năm.
Thành công của Phở 24 đã khẳng định tính ưu việt của hình thức nhượng quyền mô hình kinh doanh và mở đường cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm Việt Nam phát triển nhượng quyền kinh doanh, đưa nền văn hoá ẩm thực của Việt Nam vươn ra thế giới. Khóa luận: Thực trạng nhượng quyền thương mại trong thực phẩm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp nhượng quyền thương mại trong thực phẩm


Pingback: Khóa luận: Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm