Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Xu thế quốc tế hóa thương mại đã liên kết các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau thành một thị trường thống nhất, sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã đạt tới mức biên giới các quốc gia chỉ còn ý nghĩa về mặt hành chính. Cùng với quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta không ngừng phát triển. Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 đạt hơn 55,66 tỷ USD, tăng mạnh 19,5%, tương ứng tăng gần 9,08 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2025. Trong tháng 2/2026 xuất khẩu đạt kim ngạch gần 13,11 tỷ USD, giảm 8,6% so với tháng trước. Tính đến hết 2 tháng/2026 xuất khẩu cả nước đạt gần 27,43 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu trong tháng 2/2026 đạt gần 15,15 tỷ USD, tăng 14,9% so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch nhập khẩu trong 2 tháng/2026 đạt hơn 28,23 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước. Thông qua con đường ngoại thương, các quốc gia được gắn kết với nhau, hàng hóa được lưu chuyển từ nước này đến nước khác. Nhưng đồng thời sự gia tăng của ngoại thương đã đặt ra nhiều vấn đề mới trong nhiệm vụ vận tải hàng hóa, đặc biệt vận tải quốc tế. Cùng với hoạt động vận tải nội địa và vận tải quốc tế, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu đã trở thành một khâu hết sức quan trọng trong dây chuyền vận tải hàng hóa, nó không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy, mở rộng buôn bán mà còn góp phần đáng kể vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Có thể nói, vận tải tàu biển là chất xúc tác thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển và mở rộng hợp tác về kinh tế, về quan hệ chính trị và giao lưu văn hóa xã hội. Trong đó, hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển mặc dù còn rất non trẻ song đã chứng tỏ được tầm quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế giữa các quốc gia. Hoàn thiện công tác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, nó không thể tách rời quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam với khu vực và cả thế giới.
Từ thực tế trên, Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics) đã được hình thành. Công ty chuyên cung cấp dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu trong nước và quốc tế bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ, môi giới hàng hải và dịch vụ đại lý. Hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty là một chuỗi các bước quy trình nghiệp vụ nối tiếp nhau và mỗi phương thức vận tải khác nhau lại có một quy trình giao nhận khác nhau. Mỗi quy trình giao nhận có những ưu điểm và hạn chế nhất định, nó tác động trực tiếp tới hiệu quả làm việc và sự phát triển của Công ty. Sau một thời gian ngắn thực tập ở Công ty, được sự quan tâm giúp đỡ của các thành viên tại Công ty, kết hợp với những kiến thức đã được học ở trường tôi nhận thức được vai trò quan trọng của hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển đối với sự hoạt động và phát triển của Công ty. Vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics)”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu về Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics);
- Nghiên cứu về thực trạng quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển được diễn ra tại Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics), nhằm rút ra những ưu điểm và hạn chế của quy trình. Từ đó, đưa ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả quy trình này.
1.3. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics) từ năm 2022 đến nay.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics).
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics).
1.4. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng, danh mục hình ảnh, đề tài được gồm bốn chương:
- Chương 1: Phần mở đầu
Trình bày về mục đích, lý do chọn đề tài, phạm vi nghiên cứu đề tài, mục tiêu của đề tài và bố cục tóm tắt đề tài nhằm giới thiệu sơ lược về những vấn đề liên quan đến quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng container đường biển.
- Chương 2: Cơ sở lý luận
Trình bày về: khái niệm về giao nhận và người giao nhận, dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Việt Nam, quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu được tác giả sử dụng trong đề tài.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Giới thiệu một số thông tin về Công ty sinh viên thực tập và nghiên cứu đề tài như: tên, lịch sử hình thành và phát triển, quá trình hoạt động, bộ máy tổ chức… và phân tích thực trạng quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Công ty Palm Logistics.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
Tóm tắt đề tài, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị với doanh nghiệp, với Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển Công ty TNHH vận tải quốc tế và hậu cần Palm (Palm Logistics).
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Khái niệm về giao nhận (Freight Forwarding) và người giao nhận (Freight Forwarder)
Sự mở rộng giao lưu, hợp tác thương mại giữa các nước đã khiến cho việc giao nhận hàng hóa ngày càng có vai trò quan trọng. Điều này được thể hiện ở:
- Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận vào tác nghiệp;
- Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của các phương tiện vận tải, tận dụng được một cách tối ưu và có hiệu quả dung tích và tải trọng của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải, cũng như các phương tiện hỗ trợ khác;
- Giao nhận làm giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu;
- Giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết như chi phí xây dựng kho hàng bến bãi của người giao nhận hay do người giao nhận thuê, giảm chi phí đào tạo nhân công.
Giao nhận hàng hoá quốc tế là một bộ phận cấu thành quan trọng của buôn bán quốc tế, là một khâu không thể thiếu được trong quá trình lưu thông nhằm đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Giao nhận hàng hóa được định nghĩa như là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá.
Giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Nói một cách ngắn gọn, giao nhận hàng hóa là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng). Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. Như vậy, dịch vụ giao nhận là một dịch vụ liên quan đến quá trình vận tải nhằm tổ chức việc vận chuyển hàng hoá từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng.
Trước kia, việc giao nhận có thể do người gửi hàng (nhà xuất khẩu) người nhận hàng (nhà nhập khẩu) hay do người chuyên chở đảm nhiệm và tiến hành. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của buôn bán quốc tế, phân công lao động quốc tế với mức độ và qui mô chuyên môn hoá ngày càng cao, giao nhận cũng dần dần được chuyên môn hóa, do các tổ chức, các nghiệp đoàn giao nhận chuyên nghiệp tiến hành và giao nhận đã chính thức trở thành một nghề.
Người giao nhận hàng hóa là người thực hiện các dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác của khách hàng hoặc người chuyên chở. Nói cách khác, người kinh doanh các dịch vụ giao nhận hàng hóa gọi là người giao nhận. Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi anh ta tự đứng ra thực hiện các công việc giao nhận cho hàng hoá của mình), là chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt người chủ hàng thực hiện các dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó.
Theo điều 167 Luật thương mại quy định, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác;
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng;
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng;
- Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn thêm.
Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận FIATA qui định: “Người giao nhận là người lo toan để hàng hoá được chuyên chở theo hợp đồng uỷ thác và hành động vì lợi ích của người uỷ thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm tra hàng hoá…”
2.1.1 Đặc trưng của người giao nhận Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
- Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng uỷ thác ký với chủ hàng và bảo vệ lợi ích của người chủ hàng;
- Người giao nhận lo liệu vận tải nhưng không phải là người chuyên chở. Anh ta cũng có thể có phương tiện vận tải, có thể tham gia chuyên chở nhưng đối với với hàng hoá, anh ta chỉ là người giao nhận ký hợp đồng uỷ thác giao nhận, không phải là người chuyên chở;
- Cùng với việc tổ chức vận tải người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi uỷ thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo những điều khoản đã cam kết.
Khởi đầu người giao nhận chỉ làm đại lý thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu uỷ thác, thay mặt cho họ như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục hải quan, lo liệu vận tải nội địa, làm thủ tục thanh toán tiền hàng… Sau này, do sự mở rộng của thương mại quốc tế và sự phát triển của các phương thức vận tải phạm vi dịch vụ giao nhận đã được mở rộng thêm. Ngày nay, người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá.
Khi mới ra đời, vai trò truyền thống của người giao nhận chỉ thể hiện ở trong nước. Hầu hết, các hoạt động của người giao nhận đều chỉ diễn ra trong đất nước họ. Tại đó, người giao nhận tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu bằng một việc hoàn tất thủ tục hải quan cho hàng hoá vào nước nhập khẩu với vai trò là một môi giới hải quan. Mặt khác, người giao nhận hoàn tất thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất khẩu và dành chỗ cho hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với hãng tàu với chi phí cho người xuất khẩu hoặc nhập khẩu chịu tuỳ thuộc vào điều kiện thương mại (Incoterms) được chọn trong hợp đồng mua bán. Tại một số nước như Pháp, Mỹ hoạt động của người giao nhận yêu cầu phải có giấy phép làm môi giới hải quan. Khi người giao nhận đóng vai trò đại lý, nhiệm vụ của anh ta chủ yếu là do khách hàng qui định. Những nhiệm vụ này thường được quy định trong luật tập tục về đại lý hoặc luật dân sự về uỷ quyền.
Quyền hạn của người của người giao nhận khi đóng vai trò là đại lý theo điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy ước chung của Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận (FIATA-Federation Internationale des Associations de Transitaires et Assimiles), người giao nhận có quyền: Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
- Tự do lựa chọn người ký hợp đồng phụ và tuỳ ý quyết định sử dụng những phương tiện và tuyến đường vận tải thông thường;
- Cầm giữ hàng hoá để đảm bảo được thanh toán những khoản tiền khách hàng nợ.
Mặc dù người giao nhận có các quyền của người đại lý đối với chủ của mình, nhưng quyền này không thực sự đủ để bảo vệ cho họ trong thực tế giao nhận hiện đại ngày nay. Vì lý do đó, tốt hơn hết là người giao nhận nên giao dịch theo những điều kiện và điều khoản đã biết và những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn của các hiệp hội giao nhận quốc gia. Nghĩa vụ của người giao nhận với tư cách là đại lý. Theo điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy ước chung của FIATA, người giao nhận phải:
- Thực hiện sự uỷ thác của khách hàng với một sự quan tâm hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng;
- Tổ chức và lo liệu vận chuyển hàng hoá được uỷ thác theo sự chỉ dẫn của khách hàng.
2.1.2 Trách nhiệm đối với khách hàng
Người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với khách hàng về những mất mát hoặc hư hỏng vật chất về hàng hoá nếu mất mát hoặc hư hỏng là do lỗi của anh ta hoặc người làm người làm công của anh ta. Mặc dù theo những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người giao nhận không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất hoặc hậu quả gián tiếp nhưng người giao nhận nên bảo hiểm cả nhũng rủi ro đó vì khách hàng vẫn có thể khiếu nại;
Người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với khách hàng về những lỗi lầm về nghiệp vụ như: người giao nhận hoặc người làm công của anh ta có thể có lỗi lầm hoặc sơ suất không phải do cố ý nhưng gây thiệt hại về tài chính cho khách hàng của mình.
Ví dụ:
- Giao hàng trái với chỉ dẫn: giao hàng không đúng như chỉ dẫn của khách hàng;
- Quên mua bảo hiểm mà khách hàng đã có chỉ thị mua;
- Sai sót khi làm thủ tục hải quan gây nên chậm trễ về khai hải quan hoặc gây tổn thất cho khách hàng;
- Gửi hàng sai địa chỉ: chuyển hàng đến sai địa điểm;
- Tái xuất hàng mà không tuân theo những thủ tục cần thiết để xin hoàn thuế gây thiệt hại cho khách hàng, không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho người nhận hàng về thời gian giao hàng, giao hàng mà không thu tiền của chủ hàng;
- Giao hàng thiếu mà không có giám định của hải quan hoặc của Vinacontrol.
2.1.3 Trách nhiệm đối với hải quan Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
Hầu hết ở tất cả các quốc gia, người giao nhận có giấy phép được tiến hành thông qua hải quan, phải chịu trách nhiệm trước cơ quan hải quan về sự tuân thủ những qui định hải quan về sự khai báo đúng về trị giá số lượng và tên hàng nhằm tránh thất thu cho chính phủ. Nếu vi phạm những qui định này người giao nhận có thể sẽ phải chịu phạt tiền mà tiền phạt đó không đòi lại được từ phía khách hàng. Về chi phí, người giao nhận phải gánh chịu mọi chi phí trong quá trình điều tra, khiếu nại để bảo vệ quyền lợi cho mình và hạn chế tổn thất như chi phí giám định, chi phí pháp lý, phí lưu kho.
Ngoài ra, người giao nhận còn phải giao dịch với các bên thứ ba trong qúa trình phục vụ khách hàng của mình như:
Các cơ quan quản lý của nhà nước:
- Các bộ chủ quản;
- Các tổ chức xuất nhập khẩu;
- Cơ quan Hải quan;
- Cơ quan Cảng vụ;
- Các cơ quan kiểm soát xuất nhập khẩu.
Các tổ chức dịch vụ liên quan:
- Người chuyên chở hay các đại lý hãng tàu;
- Dịch vụ xếp dỡ;
- Kho hàng;
- Dịch vụ bảo hiểm;
- Dịch vụ ngân hàng.
Người làm dịch vụ này trên cơ sở uỷ thác của chủ hàng, người vận tải, hoặc làm dịch vụ tiếp vận khác (gọi chung là khách hàng) tổ chức thực hiện một số, hoặc tất cả các công việc về vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, lập các chứng từ và làm các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hoá, kế cả bao bì đóng gói, ghi kỹ mã hiệu và phân phối hàng hoá trong quá trình từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
Với vai trò môi giới, người giao nhận chỉ là một trung gian giữa các khách hàng là chủ hàng hoặc người chuyên chở, anh ta chỉ thực hiện nhiệm vụ như một chiếc cầu nối giữa các khách hàng là chủ hàng hoặc người chuyên chở với nhau và nhờ đó anh ta được hưởng phí môi giới hoặc tiền thưởng của khách hàng. Trách nhiệm của người giao nhận trong vai trò môi giới này nói chung rất thấp và hầu như không đáng kể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người giao nhận làm môi giới nhưng lại nhận được sự uỷ thác của khách hàng để hành động thay mặt họ trong một giới hạn nhất định. Khi đó người giao nhận trở thành như một đại lý có quyền hạn nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại lý đã đề cập ở phần trên.
Ngoài những vai trò đã nêu ở phần trên, người giao nhận còn có những vai trò mới phát sinh thêm trong quá trình thực hiện nghiệp vụ giao nhận của mình:
- Người giao nhận với vai trò là người chuyên chở:
Khi người giao nhận đã cung cấp dịch vụ vận tải, tức là nhận chuyên chở hàng hoá từ một điểm này tới một địa điểm khác dù bằng phương tiện của mình hay thuê của người khác anh ta không còn đóng vai trò là đại lý nữa mà đóng vai trò là một người chuyên chở một bên chính của hợp đồng. Do đó, anh ta không được lợi dụng những quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm dành cho đại lý nữa mà phải có trách nhiệm thực hiện hợp lý toàn bộ quá trình vận tải và chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hoá dù là do lỗi của mình hay do hành vi hoặc khuyết điểm của nhân viên hay đại lý của mình.
Nếu người giao nhận tự đứng ra vận chuyển hàng hoá và thực hiện các dịch vụ giao nhận khác bằng phương tiện của mình hoặc thuê của người khác thì anh ta được gọi là người chuyên chở thực sự. Trường hợp theo hợp đồng với khách hàng, anh ta là người chuyên chở nhưng khi ký các hợp đồng phụ, thuê người chuyên chở hoặc người khác thực hiện các dịch vụ giao nhận (người nhận lại dịch vụ giao nhận) thì anh ta được gọi là người chuyên chở theo hợp đồng. Nhưng dù là người chuyên chở thực tế hay chuyên chở theo hợp đồng thì người giao nhận vẫn mang vị trí của người chuyên chở.
Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở trong các trường hợp: anh ta cung cấp dịch vụ gom hàng (gọi là người gom hàng), dịch vụ vận tải đa phương thức (gọi là người kinh doanh vận tải đa phương thức) hoặc anh ta cung cấp dịch vụ vận tải trọn gói (tự vận chuyển bằng các phương thức vận tải khác nhau và các dịch vụ để thực hiện quá trình vận chuyển đó). Hay nói cách khác người gom hàng và người kinh doanh vận tải đa phương thức thực chất cũng chính là người chuyên chở. Tuy nhiên với vai trò là người gom hàng hoặc người kinh doanh vận tải đa phương thức, người giao nhận có những đặc trưng riêng do những dịch vụ này mang những đặc điểm riêng biệt không giống những dịch vụ vận tải thông thường.
Trừ một số trường hợp bản thân người gửi hàng/người nhận hàng muốn tự mình tham gia bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào đó, còn thông thường, người giao nhận thay mặt anh ta lo liệu quá trình vận chuyển hàng hoá qua các công đoạn. Người giao nhận có thể làm các dịch vụ trực tiếp hay thông qua những người kí hợp đồng phụ hay những đại lý mà họ thuê, người giao nhận cũng sử dụng những đại lý của họ ở nước ngoài. Những dịch vụ này bao gồm:
- Thay mặt người gửi hàng (người xuất khẩu)
Theo những chỉ dẫn của người gửi hàng người giao nhận sẽ:
- Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp;
- Lưu cước với người chuyên chở đã chọn lọc;
- Nhận hàng và cấp chứng từ thích hợp như: giấy chứng nhận hàng của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận…; Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và tất cả những luật lệ của chính phủ áp dụng cho việc giao hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng như ở bất cứ nước quá cảnh nào và chuẩn bị những chứng từ cần thiết;
- Đóng gói hàng hoá (trừ phi việc này do người gửi hàng làm trước khi giao nhận) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản chất của hàng hoá và những luật lệ áp dụng nếu có ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh và nước gửi hàng đến;
- Lo liệu việc lưu kho hàng hoá nếu cần;
- Cân đo hàng hoá;
- Lưu ý người gửi hàng cần phải mua bảo hiểm và nếu người gửi hàng yêu cầu thì mua bảo hiểm cho hàng;
- Vận chuyển hàng hoá đến cảng, lo liệu khai báo hải quan, lo các thủ tục chứng từ liên quan và giao hàng cho người chuyên chở;
- Lo việc giao dịch ngoại hối (nếu có);
- Thanh toán phí bao gồm cả tiền cước;
- Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở, giao cho người gửi hàng;
- Thu xếp việc chuyển tải trên đường (nếu cần);
- Giám sát việc vận chuyển hàng hoá trên đường đưa tới người nhận hàng thông qua những mối liên hệ người chuyên chở và đại lý của người giao nhận ở nước ngoài;
- Ghi nhận những tổn thất của hàng hoá (nếu có);
- Giúp đỡ người gửi hàng tiến hành khiếu nại người chuyên chở về những tổn thất của hàng hoá (nếu có).
- Thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu)
Theo những chỉ dẫn giao hàng của người nhập khẩu người giao nhận sẽ:
- Thay mặt người nhận hàng giám sát việc vận chuyển hàng hoá từ khi người nhận hàng lo liệu vận tải hàng;
- Nhận và kiểm tra tất cả chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá;
- Nhận hàng của người chuyên chở và thanh toán cước (nếu cần);
- Thu xếp việc khai báo hải quan, trả lệ phí, thuế và những chi phí khác cho hải quan và những cơ quan liên quan khác;
- Thu xếp việc lưu kho quá cảnh (nếu cần);
- Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận hàng;
- Nếu cần giúp đỡ người nhận tiến hành khiếu nại đối với người chuyên chở về những tổn thất của hàng hoá (nếu có);
- Giúp người giao nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối (nếu cần);
Người giao nhận cũng có thể thông báo khách hàng của mình về nhu cầu tiêu dùng, những thị trường mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, những điều khoản thích hợp cần đưa vào hợp đồng mua bán ngoại thương và tóm lại tất cả những vấn đề có liên quan đến công việc kinh doanh của khách hàng.
2.2. Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng container đường biển tại Việt Nam Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
Dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là một nghề mới xuất hiện ở Việt Nam khoảng trên 10 năm nay. Người kinh doanh dịch vụ giao nhận vừa là người thiết kế, tổ chức và làm mọi thủ tục liên quan đến vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu. Dịch vụ này phải sử dụng các phương thức vận tải bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường sắt. Loại hình dịch vụ này đưa lại việc làm cho nhiều người lao động mà không cần nhiều vốn đầu tư cũng như kỹ thuật hiện đại.
Các công ty cung cấp dịch vụ giao nhận tại Việt Nam đa phần đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực. Phần lớn các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận trong vận tải biển ở Việt Nam mới chỉ đóng vai trò là một nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các đối tác nước ngoài. Hầu như chưa có một doanh nghiệp nào của Việt Nam đủ sức để tổ chức và điều hành toàn bộ quy trình hoạt động giao nhận.
Theo tính toán mới nhất của Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong Logistics là vận tải biển thì doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự là một thua thiệt lớn cho doanh nghiệp Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển.
Khoảng trên 10 năm nay, người kinh doanh dịch vụ giao nhận vừa là người thiết kế, tổ chức và làm mọi thủ tục liên quan đến vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu. Dịch vụ này phải sử dụng các phương thức vận tải bằng đường biển hàng không, đường bộ, đường sắt. Loại hình dịch vụ này đưa lại việc làm cho nhiều người lao động mà không cần nhiều vốn đầu tư cũng như kỹ thuật hiện đại.
Gia nhập WTO, áp lực với cạnh tranh trong ngành giao nhận của Việt Nam ngày một cao hơn. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải logistics 100% vốn nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt doanh nghiệp Việt Nam trước thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà.
Thị trường dịch vụ tại Việt Nam nói chung và dịch vụ giao nhận nói riêng đang ngày càng trở nên sôi động. Điều này đồng nghĩa với việc công ty phải đối đầu với áp lực cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, không chỉ với các doanh nghiệp khác cùng quy mô hoặc các đối thủ lớn dày dặn về kinh nghiệm mà còn với cả các công ty mới gia nhập thị trường (trong đó có không ít công ty liên doanh hoặc có vốn đầu tư nước ngoài với nguồn lực tài chính hùng hậu). Khóa luận: Hiệu quả quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: PPNC đến quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu


Pingback: Khóa luận: KQNC đến quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu