Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống các ngân hàng TMCP Việt Nam trong điều kiện hội nhập này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

3.1. Các cam kết quốc tế trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng và định hướng của NHNN:

3.1.1 Các cam kết quốc tế trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng và lộ trình thực hiện:

Lĩnh vực tài chính – ngân hàng là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất và cũng là lĩnh vực nhạy cảm nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các quan hệ kinh tế, tài chính của mỗi quốc gia. Chính vì lí do đó mà trong quá trình HNQT, hội nhập về tài chính – ngân hàng luôn được đề cập đến như một vấn đề quan trọng hàng đầu.

Trong hai thập niên vừa qua, nhiều nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đã có những bước đi quan trọng để tự do hoá hệ thống tài chính của mình thông qua việc mở rộng thị trường, đổi mới các công cụ tài chính. Không nằm ngoài xu hướng đó, trong những năm vừa qua Việt Nam đã tham gia kí kết nhiều hiệp định song phương cũng như đa phương trong đó có các nội dung về hội nhập vào thị trường tài chính và ngân hàng quốc tế.

Về hiệp định đa phương, có thể kể tới các hiệp định về việc nối lại quan hệ tín dụng giữa Việt Nam và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); ngân hàng thế giới (World bank); ngân hàng phát triển Châu á (ADB).

Về các hiệp định song phương, có thể kể tới các thoả thuận hợp tác với ngân hàng các nước như : Mỹ (Hiệp định thương mại Việt Mỹ); Nhật Bản, Pháp, Anh. Trong đó quan trọng nhất là Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nó đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Hoa Kì, với hiệp định này vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên một cách đáng kể tạo tiền đề cho Việt Nam tiến hành một cách thuận lợi việc gia nhập WTO (Tổ chức thương mại Thế Giới).

Mỗi hiệp định có nội dung và lộ trình thực hiện khác nhau tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa các bên. Để có thể đưa ra các định hướng phù hợp cho từng thời kì đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần nắm vững nội dung và lộ trình thực hiện.

3.1.1.1. Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, nội dung và lộ trình thực hiện:

  • Nội dung:

Cam kết giữa Việt Nam và Hoa Kì về hình thức pháp lí và loại hình dịch vụ các ngân hàng Hoa Kì được cung cấp trên tinh thần Hiệp định thương mại Việt Mỹ được quy định cụ thể tại Chương III và hai phụ lục F và G cụ thể như sau:

  • Về hình thức pháp lí của các Tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam:

Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính của Hoa Kì được hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức sau:

  • Chi nhánh Ngân hàng Hoa Kì.
  • Ngân hàng Liên doanh Việt Nam – Hoa Kì.
  • Công ty thuê mua tài chính 100% vốn của Hoa Kì.
  • Công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam – Hoa Kì.

Trong thời gian 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, hình thức pháp lí duy nhất mà các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kì có thể qua đó hoạt động tại Việt Nam là Liên doanh với các đối tác Việt Nam. Sau thời gian đó các hạn chế này sẽ được bãi bỏ. Các Tổ chức tín dụng hoạt động dưới các hình thức trên đây sẽ được đối xử quốc gia không hạn chế với những quy định cấp phép và vốn, được quyền tiếp cận Ngân hàng Trung Ương trong các hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu, Swap, Forward.

Như vậy, các ngân hàng Hoa Kì trong một tương lai không xa sẽ được tham gia đầy đủ các hoạt động như một ngân hàng Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Về các loại hình dịch vụ các Tổ chức tín dụng được cung cấp:

Loại hình dịch vụ mà các Tổ chức tín dụng Hoa Kì được phép cung cấp tại Việt Nam được quy định cụ thể tại mục ii.VI.B của phụ lục G. Qua đó, có thể thấy ngoài các dịch vụ ngân hàng truyền thống các Tổ chức tín dụng Hoa Kì còn được cung cấp rất nhiều các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Trong đó có một số nghiệp vụ mới chỉ được thực hiện ở Việt Nam như nghiệp vụ quyền chọn (Option), nghiệp vụ hoán đổi (Swap), nghiệp vụ kì hạn (Forward) còn lại các dịch vụ khác còn khá mới mẻ đối với các ngân hàng Việt Nam như: nghiệp vụ quản lí quỹ đầu tư tập thể, quản lí quỹ hưu trí, cung cấp và xử lí dữ liệu tài chính và các phần mềm của các nhà cung cấp dịch vụ khác.

  • Lộ trình thực hiện:

Theo thoả thuận chi tiết tại phụ lục G mục ii phần B, cam kết về lộ trình thực hiện các dịch vụ tài chính – ngân hàng cho phép phía Hoa Kì được hoạt động tại Việt Nam được quy định cụ thể như sau:

  • Trong vòng 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực, hình thức pháp lí duy nhất thông qua đó các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kì khác (ngoài ngân hàng và công ty thuê mua tài chính) có thể cung cấp các dịch vụ tại Việt Nam là liên doanh với các đối tác Việt Nam. Sau thời gian 3 năm các hạn chế này được gỡ bỏ.
  • Trong vòng 8 năm đầu kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa Kì nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ các pháp nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn pháp định của chi nhánh. Và đến năm thứ 8 thì sẽ được thực hiện đối xử quốc gia đầy đủ.
  • Sau 9 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực các ngân hàng Hoa Kì được phép thành lập tại Việt Nam các ngân hàng con 100% vốn của Hoa Kì.
  • Trong vòng 10 năm đầu kể từ khi hiệp định có hiệu lực, Việt Nam có thể hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa Kì nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn pháp định của chi nhánh. Hết năm thứ 10 quy định này sẽ được xoá bỏ.
  • Sau 8 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực các định chế có vốn đầu tư Hoa Kì được phép phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia.
  • Chi nhánh ngân hàng Hoa Kì không được đặt các máy rút tiền tự động tại các điểm ngoài văn phòng của mình cho tới khi các ngân hàng Việt Nam được phép làm như vậy. Chi nhánh các ngân hàng Hoa Kì không được lập các điểm giao dịch phụ thuộc. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Như vậy, qua việc xem xét nội dung và lộ trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt Mỹ có thể thấy trong một thời gian không xa nữa các ngân hàng của Mỹ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được tự do hoạt động với đầy đủ các chức năng như một ngân hàng trong nước. Với ưu thế nổi trội về mọi mặt các ngân hàng Mỹ sẽ là đối thủ đáng gờm nhất của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam.

3.1.1.2 Một số cam kết đa phương khác:

Một số cam kết quan trọng về mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng cũng đã được kí kết giữa các quốc gia trong khối ASEAN. Nhưng mức độ cam kết thấp hơn so với những cam kết đã kí kết trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Một phương án tự do hoá cho giai đoạn từ năm 2020 – 2040 đã và đang được Bộ Tài Chính gấp rút hoàn thiện nhằm mục đích tới năm 2040 sẽ xây dựng ASEAN thành một khu vực tự do về tài chính – ngân hàng.

Đối với WTO chúng ta đang gấp rút tiến hành những vòng đàm phán trên tinh thần những cam kết với Mỹ. Bởi vì Hiệp định thương mại Việt Mỹ được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy định chung của GATS. Do đó các cam kết cụ thể trong lĩnh vực ngân hàng không nằm ngoài khuôn khổ chung, thậm chí đã thể hiện được hầu hết các nội dung của GATS . Vì vậy, thực hiện Hiệp định thương mại Việt – Mỹ một cách thuận lợi thì viêc gia nhập WTO cũng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Qua nội dung và lộ trình thực hiện một số các cam kết quan trọng mà Việt Nam đã kí kết có thể thấy cơ hội để Việt Nam hoà nhập vào thị trường tài chính – Ngân hàng quốc tế là rất lớn. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ các ngân hàng phải tự mình đánh giá một cách chính xác về năng lực cạnh tranh của mình và xác định rõ đối thủ cạnh tranh. Có như vậy các Ngân hàng Thương mại Việt Nam mới có thể giữ vững thị phần trong nước và hướng tới thị trường nước ngoài.

3.1.2. Định hướng của NHNN về HNQT trong lĩnh vực ngân hàng: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

3.1.2.1 Định hướng chung toàn ngành ngân hàng:

Quán triệt Nghị quyết 07 – NQ/ Trung ương của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ về Hội nhập kinh tế QT, NHNN đã xây dựng Chương trình hành động về Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng và Kế hoạch hội nhập nền kinh tế quốc tế của Ngành ngân hàng Việt Nam, trong đó xác định những công việc trọng tâm của ngành cần triển khai từ thời điểm hiện tại cho tới năm 2040, với 3 giai đoạn cụ thể là:

Giai đoạn trước năm 2024: thực hiện các cam kết trong Hiệp định Thương Mại Việt – Mỹ với các nội dung như: nới lỏng các hạn chế đối với các ngân hàng thương mại Hoa Kì về nhận tiền gửi, cho phép phát triển một số loại hình tín dụng và thanh toán, tiếp cận các nghiệp vụ tái cấp vốn của Ngân hàng Trung Ương, tham gia hoạt động tư vấn và môi giới kinh doanh tiền tệ. Từng bước mở rộng các cam kết với Hoa Kì cho các ngân hàng thuộc EU và các nước khác theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Xúc tiến chuẩn bị mọi thủ tục để gia nhập WTO vào cuối năm 2024.

Từ năm 2025 – 2030, tiếp tục thực thi các cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ; bắt đầu thực hiện Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATTS) của WTO và các yêu cầu đã cam kết trong Hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN.

Từ 2030 – 2040, thực hiện những cam kết còn lại của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ và thực hiện thành công những yêu cầu còn lại của GATS và AFAS về mở cửa dịch vụ tài chính ngân hàng.

Trong khuôn khổ các nội dung cam kết với cộng đồng tài chính quốc tế, NHNN Việt Nam đã cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam( trừ chi nhánh ngân hàng Hoa Kì thực hiện theo lộ trình riêng) được nhận tiền gửi không kì hạn, có kì hạn và tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của cá nhân Việt Nam và pháp nhân là tổ chức Việt Nam không có quan hệ tín dụng với ngân hàng, tối đa 50% vốn được cấp. Đối với các chi nhánh ngân hàng thuộc khối EU tỷ lệ này là 250%.

Trong một vài năm tới một số Ngân hàng Thương mại QD cũng sẽ được cổ phần hoá nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động và thay đổi hình thức sở hữu. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

3.1.2.2 Định hướng HNQT đối với các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam:

Là một bộ phận của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam, các Ngân hàng Thương mại CP cũng phải phát triển theo định hướng chung của Chương trình tái cơ cấu lại hệ thống Ngân hàng Thương mại và các Tổ chức tín dụng khác đã được chính phủ phê duyệt từ năm 2017. Cơ cấu lại và phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại và các Tổ chức tín dụng là một trong những chương trình trọng tâm của chiến lược cải cách cơ cấu kinh tế từ nay đến năm 2030.

Cụ thể Chương trình này quy định, việc chấn chỉnh các ngân hàng cần được thực hiện ngay và hiệu quả với các mục tiêu định hướng phát triển sau:

Hình thành những Ngân hàng Thương mại CP trong sạch, lành mạnh về tài chính. Lành mạnh hoá tình hình tài chính của các Ngân hàng Thương mại CP được tiến hành dựa trên cơ sở cơ cấu lại nợ, giảm thiểu nợ quá hạn, kiện toàn các hoạt động khác có liên quan, thực hiện tốt các vấn đề về kế toán, kiểm toán.

Hình thành nên những Ngân hàng Thương mại CP có tiềm lực tài chính lớn với hoạt động đa năng và với quy mô lớn. Để đạt được điều đó các Ngân hàng Thương mại CP cần nỗ lực hơn nữa trong việc tăng vốn điều lệ. Đối với các ngân hàng có tiềm lực tài chính quá nhỏ, làm ăn thua lỗ thường xuyên rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng sinh lời thấp và trình độ quản lí không đảm bảo yêu cầu thì sẽ bị buộc phải giải thể hoặc sáp nhập. Bên cạnh đó các Ngân hàng Thương mại CP cần phải tiến hành cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng quy mô và chất lượng hoạt động.

Hình thành những Ngân hàng Thương mại CP an toàn trong hoạt động với bộ máy quản trị và điều hành tốt. Muốn vậy, các Ngân hàng Thương mại CP phải đẩy mạnh việc tái cơ cấu tổ chức và các chuẩn mực quản lí đặc biệt đối với các cơ quan quản lí rủi ro, quản lí tài sản nợ, tài sản có, giảm sát và kiểm toán nội bộ, quản lí vốn và đầu tư. Hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành có hiệu quả và giảm thiểu những vi phạm. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Cải tiến các Ngân hàng Thương mại CP thành những ngân hàng có công nghệ, kĩ thuật hiện đại, có cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đa dạng và phong phú. Đồng thời việc xây dựng và phát triển mạng lưới chi nhánh, mạng lưới phân phối sản phẩm cũng phải được chú trọng hơn.

Nói chung, để có thể hội nhập vào thị trường quốc tế, các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam còn rất nhiều việc cần phải làm. Trên đây chỉ là định hướng chung cho các Ngân hàng Thương mại CP, để có thể thành công trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt này mỗi ngân hàng cần căn cứ vào những thế mạnh và điểm yếu của mình từ đó xây dựng cho mình một chiến lược phát triển toàn diện. Và công cuộc Hội nhập kinh tế QT đã mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho mỗi quốc gia và toàn thế giới đó là điều không thể phủ định. Thực tế cho thấy, các thành tựu mà những nước phát triển đã gặt hái trong thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của việc NHKTQT.

Thời cơ mà Hội nhập kinh tế QT đem lại, đối với các quốc gia đang phát triển ( trong đó có Việt Nam) thì HNQT cũng tạo ra nhiều cơ hội giúp các nước này thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng HNQT mang lại những cơ hội rất rõ rệt:

Thứ nhất, HNQT mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các ngân hàng thương mại trên thế giới trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, trong các chiến lược hợp tác vĩ mô từ đó nâng cao được địa vị, uy tín của hệ thống các Ngân hàng Thương mại Việt Nam trên trường quốc tế. Khi đã có một vị trí nhất định trên thị trường tiền tệ thế giới các ngân hàng Việt Nam sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế

Thứ hai, Hội nhập kinh tế QT tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là nâng cao năng lực quản lí, cải thiện môi trường pháp lí trong lĩnh vực ngân hàng, lành mạnh hoá và công khai hoá hoạt động của ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện các cam kết với các tổ chức quốc tế. Điều đó sẽ làm cho thị trường Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ phục vụ cho công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

Thứ ba, tham gia vào quá trình Hội nhập kinh tế QT, ngành ngân hàng có điều kiện tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí và đào tạo đội ngũ cán bộ từ các nước tiên tiến. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thứ tư, hội nhập quốc tế thành công sẽ tạo cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam mở rộng thị trường, mở rộng quy mô kinh doanh, phát huy lợi thế so sánh của mình qua đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Thứ năm, quá trình HNQT sẽ thúc đẩy các Ngân hàng Thương mại Việt Nam phải chuyên môn hoá hơn nữa các nghiệp vụ ngân hàng, tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế, mở rộng việc khai thác và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

Cuối cùng, tham gia vào quá trình HNQT hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có thêm điều kiện đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng đạt trình độ chuyên môn cao có thể đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện hội nhập.

Nói chung, Hội nhập kinh tế QT tạo ra những cơ hội và động lực cho hệ thống các ngân hàng Việt Nam phát triển thành một hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Tuy nhiên không phải không tồn tại những thách thức. Bên cạnh những cơ hội, Hội nhập kinh tế QT cũng đặt hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam trước nhiều thách thức lớn.

Thách thức lớn nhất mà các Ngân hàng Thương mại Việt Nam sẽ phải trực tiếp đối mặt đó là chúng ta có xuất phát điểm và trình độ phát triển của ngành ngân hàng thấp hơn hẳn đối thủ cạnh tranh. Điều này thể hiện ở các điểm sau:

  • Thứ nhất là năng lực tài chính của các ngân hàng còn yếu kém. Với tiềm lực tài chính mỏng sẽ hạn chế khả năng mở rộng quy mô hoạt động, khả năng cung cấp các khoản tín dụng lớn và hiện đại hoá các trang thiết bị ngân hàng.
  • Thứ hai là trình độ quản lí, trình độ công nghệ, trình độ tổ chức của các ngân hàng còn non yếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
  • Thứ ba là các dịch vụ của Ngân hàng Thương mại Việt Nam hiện nay còn khá đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện lợi chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình đẳng cho các khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tiếp cận và sử dụng. Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng, các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại chưa được phát triển rộng rãi. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong điều kiện HNQT đối thủ của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam sẽ là các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính hùng mạnh, trình độ khoa học công nghệ cao, cơ cấu sản phẩm dịch vụ phong phú. Và nếu như những yếu điểm trên không được khắc phục kịp thời các ngân hàng của ta sẽ phải chịu thua thiệt trong cạnh tranh ngay chính trên đất nước mình.

Thách thức thứ hai cũng không nhỏ đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam là theo cam kết đã kí các ngân hàng nước ngoài sẽ được loại bỏ dần dần các rào cản, điều này cũng có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Điều này sẽ đặt các ngân hàng Việt Nam trước sức ép cạnh tranh, buộc các ngân hàng phải tăng thêm vốn đầu tư, đầu tư kĩ thuật, cải tiến phương thức quản trị, hiện đại hoá hệ thống thanh toán. Trong điều kiện các ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn trên thì đây dường như là “ nhiệm vụ bất khả thi”.

Một thách thức khác không kém phần gay gắt là hoạt động ngân hàng Việt Nam nằm trong bối cảnh của một nền kinh tế phát triển từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường với những chính sách chưa đồng bộ, chưa nhất quán và thích hợp theo các quy định của chuẩn mực quốc tế. Trong khi đó, khi đã mở cửa và tiến tới tự do hoá ngành ngân hàng chúng ta sẽ phải tuân theo luật chơi chung áp dụng cho tất cả các nước. Hạn chế này sẽ là trở ngại không nhỏ đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam trên co đường hội nhập vào thị trường tài chính thế giới.

Nói chung, HNQT mang lại cho các ngân hàng Việt Nam rất nhiều cơ hội tốt nhưng những thách thức mà nó đem lại cũng không nhỏ. Trong quá trình hội nhập quốc tế các Ngân hàng Thương mại Việt Nam không còn cách nào khác là tự mình phải tìm cho mình một hướng đi thích hợp nhất, tận dụng tối đa cơ hội, phát huy mọi lợi thế và điều quan trọng là phải biết khắc phục khó khăn để hội nhập thành công.

3.2. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

3.2.1. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam (sức mạnh nội tại):

Hệ thống các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đang đứng trước một cơ hội rất lớn để vươn ra thị trường quốc tế. Những nỗ lực của các ngân hàng trong thời gian vừa qua là rất đáng khen nhưng để có thể cạnh tranh được với những ngân hàng nước ngoài với tất cả các mặt đều nổi trội như các ngân hàng của Mỹ, Anh thì những cố gắng đó là chưa đủ. Theo lộ trình hội nhập đã được phê chuẩn thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam sẽ phải đối mặt với những cuộc cạnh tranh cực kì gay gắt. Trong cuộc cạnh tranh đó, đối thủ của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam không chỉ là các Ngân hàng Thương mại QD mà còn là các ngân hàng nước ngoài vượt trội chúng ta về mọi mặt. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ các ngân hàng cần nỗ lực hơn nữa trong việc khắc phục những hạn chế đã được đề cập đến trong nội dung Chương II. Để khắc phục được tất cả những yếu điểm đó trong thời gian 1;2 năm là một sức ép khá lớn đối với các ngân hàng. Tuy nhiên, để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập các ngân hàng Việt Nam không còn cách lựa chọn nào khác là phải cố gắng. Với những giải pháp sau đây, người viết hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó giúp các ngân hàng Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh.

  • Một số giải pháp nhằm tăng vốn tự có:

Mặc dù chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn của các Ngân hàng Thương mại CP nhưng vốn tự có lại đóng một vai trò then chốt, quyết định đến uy tín, khả năng mở rộng quy mô hoạt động, khả năng cung cấp các khoản tín dụng lớn, khả năng chống đỡ rủi ro và khả năng hiện đại hoá ngân hàng. Đối với các Ngân hàng Thương mại CP, có thể nói tăng vốn cổ phần là một trong những yêu cầu, đòi hỏi bức xúc nhất, tuy nhiên đây cũng là vấn đề nan giải nhất. Còn đối với các ngân hàng nước ngoài thì khả năng về vốn lại là ưu thế lớn nhất của họ. Với tiềm lực về vốn lớn việc tiếp cận với thị trường của các ngân hàng nước ngoài sẽ đơn giản và nhanh chóng hơn nhiều. Trong bối cảnh đó, nếu như vấn đề vốn của các Ngân hàng Thương mại CP không được tập trung giải quyết sớm thì sẽ trở thành trở lực trong quá trình cạnh tranh. Căn cứ vào thực trạng của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam hiện nay vấn đề này có thể được giải quyết theo hướng sau: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thứ nhất, các ngân hàng nên tích cực và chủ động hơn nữa trong việc sáp nhập các ngân hàng có số vốn nhỏ, thậm chí phải giải thể các ngân hàng hoạt động thua lỗ kéo dài. Từ trước tới nay, vẫn tồn tại quan điểm chỉ có các ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, yếu kém thì mới bị NHNN ép buộc phải giải thể hoặc sáp nhập với một ngân hàng khác. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay quan điểm trên phải được hiểu một cách thoáng hơn. Để có thể tăng sức cạnh tranh trên thị trường các ngân hàng không chỉ cạnh tranh để loại bỏ đối thủ mà còn phải biết liên doanh liên kết với nhau tạo nên những liên minh ngân hàng vững chắc. Theo quan điểm trên, các Ngân hàng Thương mại CP nhỏ và trung bình cần được khuyến khích kết hợp với nhau để tạo nên các ngân hàng lớn hơn; các Ngân hàng Thương mại CP lớn nên chủ động tìm kiếm và mua lại các Ngân hàng Thương mại CP nhỏ hơn. Việc sáp nhập sẽ đem lại lợi ích cho cả ngân hàng sáp nhập và ngân hàng bị sáp nhập về mọi mặt. Đối với xã hội mà nói sáp nhập sẽ tránh được việc sử dụng lãng phí nguồn lực và thị trường được khai thác có hiệu quả hơn.

Thứ hai, các Ngân hàng Thương mại cần có chính sách linh hoạt hơn nữa để có thể gọi thêm vốn cổ phần. Đây có lẽ là giải pháp hữu hiệu nhất và nhanh chóng nhất để tăng vốn. Trong vài năm gần đây, nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế tư nhân, hình thức ngân hàng cổ phần đang được nhà nước khuyến khích, Chính phủ đã có những chính sách hỗ trợ nhất định đối với các ngân hàng cổ phần tiêu biểu là nhà nước đã có những văn bản, chính sách điều chỉnh hoạt động của các Ngân hàng Thương mại CP. Điều này đã tạo thuận lợi cho các ngân hàng trong việc thu hút thêm vốn đầu tư để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới, việc khuyến khích và tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại CP mới chỉ được diễn ra trong vài năm trở lại đây, hệ thống pháp luật điều chỉnh thì chưa hoàn thiện nên các nhà đầu tư vẫn còn dè dặt trong việc bỏ vốn đầu tư. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động của mình các ngân hàng vẫn còn nhiều sai sót, kết quả hoạt động kinh doanh không mấy khả quan, chính sách phân phối lợi nhuận chưa thoả đáng, khả năng phát triển kém. Điều này đã gây tâm lí không an tâm khi bỏ vốn đầu tư và khả năng rủi ro cao cho các nhà đầu tư. Chính vì vậy, để có thể thu hút thêm vốn đầu tư việc đầu tiên mà các ngân hàng cần làm là tạo cho mình một uy tín và địa vị nhất định. Muốn vậy, các ngân hàng phải nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao kết quả kinh doanh của mình, bên cạnh đó các ngân hàng có thể tiến hành các hoạt động nhằm khuyếch trương hình ảnh của ngân hàng mình như công khai tình hình tài chính, tiếp thị, quảng cáo, công khai hoá các chính sách cổ đông, chính sách phân phối lợi nhuận, tham gia vào các hoạt động tài trợ và đồng tài trợ.

Việc thị trường chứng khoán đang được hoàn thiện và vận hành tại Việt Nam mở ra một cơ hội rất tốt cho các ngân hàng thu hút thêm vốn cổ phần. NHNN đã cho phép các Ngân hàng Thương mại CP được phép phát hành chứng khoán và tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán để tăng vốn. Hiện nay, NHNN và Uỷ ban chứng khoán nhà nước đang phối hợp để hoàn thiện điều kiện và thời gian tham gia đối với các Ngân hàng Thương mại CP. Nếu có thể trong một thời gian không lâu nữa cổ phiếu của các Ngân hàng Thương mại CP sẽ được phép niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trước khi đến lúc đó, các Ngân hàng Thương mại CP cẫn cố gắng hơn nữa trong hoạt động của mình vì khi đã tham gia thị trường chứng khoán điều kiện để có thể thành công là hoạt động kinh doanh có hiệu quả và minh bạch. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thứ ba, chúng ta đều biết rằng hàng năm các ngân hàng đều dùng lợi nhuận để lại để bổ xung vốn điều lệ và tái đầu tư. Như vậy, có thể nói đối với các ngân hàng không có ưu thế trong việc thu hút vốn cổ phần từ bên ngoài thì đây là nguồn bổ xung vốn chủ yếu. Tuy nhiên, muốn có lợi nhuận để lại nhiều các ngân hàng phải hoạt động thật sự hiệu quả. Điều này lại liên quan đến rất nhiều yếu tố như thu nhập, chi phí, thuế phải nộp, chính sách phân phối lãi. Giải pháp duy nhất để có thể tăng lợi nhuận để lại là các ngân hàng phải cố gắng tăng tối đa nguồn thu, giảm tối thiểu chi phí và đặc biệt có chính sách phân phối lợi nhuận phù hợp (có thể các ngân hàng nên có chính sách khuyến khích người đầu tư dùng toàn bộ lợi nhuận của năm trước tái đầu tư mở rộng quy mô hoạt động ngân hàng trong năm tiếp theo).

Theo chủ trương của NHNN cho tới năm 2030 số vốn điều lệ tối thiểu mà một Ngân hàng Thương mại CP cần phải có là từ 15 – 20 triệu USD. Đồng thời việc cấp phép cho một ngân hàng được phép hoạt động tín dụng sẽ chặt chẽ hơn nhằm mục đích xây dựng hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam thành một hệ thống hoạt động thật sự an toàn và hiệu quả. Lúc đó sẽ không còn chỗ cho những ngân hàng có số vốn nhỏ hoạt động lại kém hiệu quả tồn tại. Chính vì vậy, ngay từ lúc này nhiệm vụ của các ngân hàng là nhìn nhận một cách nghiêm túc về năng lực của chính mình để từ đó có thể tìm ra con đường đúng đắn nhất để tăng vốn điều lệ.

  • Giải pháp nhằm hiện đại hoá công nghệ ngân hàng:

Ngày nay, thành tựu công nghệ thông tin được áp dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống. Đặc biệt, trong ngành ngân hàng công nghệ, tin học được coi là chìa khoá, là đòn bẩy của sự phát triển và là điều kiện tiên quyết để có thể hội nhập vào thị trường tài chính – ngân hàng quốc tế.

Hiện đại công nghệ không chỉ nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí lao động mà còn nhằm mục đích phục vụ tốt cho công tác quản lí kinh doanh ngân hàng.

Nhờ có khoa học công nghệ mà tất cả các hoạt động của ngân hàng được tiêu chuẩn hoá, đảm bảo cho các ngân hàng có khả năng hội nhập vào thị trường quốc tế. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Nhận thức được vai trò của công nghệ thông tin trong vài năm gần đây các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đã chú trọng hơn đến việc áp dụng các quy trình quản lí đạt chuẩn quốc tế, đầu tư trang thiết bị hiện đại hoá ngân hàng… Tuy nhiên, đây là một vấn đề khó khăn và phức tạp, nó đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ trong toàn ngành ngân hàng. Chính vì vậy để triển khai thành công chiến lược hiện đại hoá công nghệ ngân hàng cần thực hiện theo hướng sau:

Tập trung mọi nguồn lực xây dựng một bộ máy tổ chức với hệ thống kết cấu hạ tầng thông tin của ngân hàng với toàn ngành Ngân hàng đảm bảo tính tổng thể khoa học và hiện đại. Đây có thể nói là vấn đề cốt lõi đối với các ngân hàng trong công tác hiện đại hoá ngân hàng. Các ngân hàng không thể mạnh ai người ấy làm, mỗi ngân hàng hiện đại hoá công nghệ của mình theo cách của riêng mình. Các ngân hàng trong cùng hệ thống phải sử dụng những máy móc thiết bị vừa đảm bảo hiện đại vừa phải phù hợp và tương thích với nhau. Có như vậy việc điều hành hoạt động từ trên xuống mới được thông suốt.

Tiêu chuẩn hoá quy trình quản lí, quy trình hoạt động, nhằm mục đích từng bước hoà nhập với thị trường tài chính quốc tế. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Qua đó có thể đánh giá được về trình độ phát triển công nghệ của mỗi ngân hàng. Với việc tiêu chuẩn hoá các quy trình hoạt động, việc quản lí sẽ trở nên dễ dàng hơn, khách hàng được hưởng các sản phẩm với chất lượng cao hơn và việc đánh giá chất lượng sản phẩm dễ dàng hơn. Bên cạnh đó việc chuẩn hoá các nghiệp vụ ngân hàng sẽ giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế.

Đầu tư nguồn lực vào việc xây dựng một hệ thống máy móc, thiết bị với chi phí hợp lí nhằm cung cấp một cách đầy đủ nhất các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Các mạng máy tính cục bộ được kết nối giữa các chi nhánh của ngân hàng, giữa khách hàng với ngân hàng. Có như vậy việc giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng mới có thể tiến hành một cách an toàn và nhanh chóng.

Các ngân hàng cũng nên tập trung xây dựng một hệ thống thanh toán chính xác và tự động hoá cao. Việc mở cửa nền kinh tế cũng đồng nghĩa với việc mở rộng quan hệ trao đổi thương mại giữa các quốc Lúc đó ngân hàng sẽ đứng ra đóng vai trò như một trung gian thanh toán. Do đó yêu cầu có một hệ thống thanh toán nhanh chóng và chính xác là cần thiết hơn bao giờ hết.

Bên cạnh đó các ngân hàng nên ứng dụng các phần mềm hiện đại trong quản lí rủi ro, quản lí tài sản nợ và có, kiểm soát nội bộ. Với những phần mềm này công tác quản lí rủi ro, công tác kiểm tra kiểm soát của ngân hàng sẽ chính xác và dễ dàng hơn.

Hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên chính xác, đơn giản và nhanh chóng hơn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đó là điều không thể phủ nhận. Là những ngân hàng đi sau các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn được tiếp cận với những công nghệ ngân hàng hiện đại nhất. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Chính vì vậy chúng ta cần tận dụng triệt để ưu thế này để hội nhập vào thị trường quốc tế.

  • Nâng cao trình độ quản lí và năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng:

Như chúng ta đã biết, con người là nhân tố trung tâm trong mọi hoạt động kinh tế xã hội. Trong lĩnh vực ngân hàng con người càng có vai trò quan trọng do đây là một hoạt động dịch vụ, việc duy trì quan hệ giữa khác hàng và ngân hàng là nhiệm vụ trung tâm cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

Nhận thức được vấn đề này, trong những năm gần đây công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn được đặt lên hàng đầu trong chiến lược của các ngân hàng.

Nói tới nguồn nhân sự trong ngân hàng phải nói tới hai đối tượng đó là các cán bộ làm công tác quản lí và đội ngũ nhân viên ngân hàng. Mỗi đối tượng này có nhiệm vụ khác nhau, yêu cầu về trình độ khác nhau nên hướng phát triển cũng khác nhau.

  • Đối với các cán bộ làm công tác quản lí:

Đây là những người điều hành hoạt động của ngân hàng mỗi quyết định của họ có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Vì vậy những người này cần được đào tạo để có một trình độ phân tích, đánh giá thị trường; khả năng ra quyết định một cách nhanh chóng, nhạy bén và linh hoạt trong xử lí tình huống và hơn hết là họ phải có trình độ tổng hợp và khả năng dùng người.

Để các cán bộ quản lí hoạt động thực sự có hiệu quả họ phải được trao quyền hạn và trách nhiệm tương xứng với nhau; được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong các quyết định của mình và đặc biệt phải có mức lương thoả đáng.

Công tác đào tạo lại đối với đội ngũ này là vô cùng quan trọng. Hiện nay, cả trong nước và ở các nước tư bản tiên tiến có rất nhiều khoá học nhằm bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho những người làm công tác quản lí. Các ngân hàng nên đầu tư cho các cán bộ tham gia những lớp học như vậy. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Bên cạnh đó, một cách đã được rất nhiều các nước tư bản áp dụng thành công đó là thuê những người có năng lực thực sự làm công tác quản lí. Và họ được trả lương căn cứ vào hiệu quả hoạt động. Các ngân hàng Việt Nam cũng nên nghiên cứu theo hướng này.

  • Đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng:

Đây là những người tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm và cung ứng sản phẩm do đó công tác đào tạo nghiệp vụ cần được đặt lên hàng đầu. Mục tiêu hàng đầu đối với các ngân hàng hiện nay là xây dựng một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo và mang tính chuyên nghiệp cao.

Để đạt được mục đích đó các ngân hàng cần phải chú ý:

  • Đầu tiên, công tác tuyển dụng của ngân hàng phải được tiến hành một cách nghiêm túc, chính xác, tuyển đúng người vào đúng vị trí.
  • Các ngân hàng phải tiến hành công tác đào tạo và đào tạo lại một cách thường xuyên và có hệ thống các nghiệp vụ như: Nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ tài sản nợ – có, nghiệp vụ Marketing.
  • Đào tạo ngoại ngữ.
  • Đào tạo về công nghệ thông tin (đặc biệt là việc sử dụng các máy móc thiết bị hiện đại)
  • Đào tạo nâng cao hiểu biết pháp luật.

Bên cạnh đó, để có thể khuyến khích, động viên người lao động ngân hàng cần có chính sách khen thưởng, đề bạt đối với những người có năng lực. Tổ chức bố trí sắp xếp công việc phù hợp với khả năng của từng người. Và một điều vô cùng quan trọng là phải tạo cho họ một môi trường lao động tốt, tạo động lực thúc đẩy họ hoàn thành tốt công việc được giao.

Trong những năm tới đây, hoạt động quản lí nhân sự của các ngân hàng cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn tiến tới việc chuẩn hoá quy trình tuyển dụng, quy trình đào tạo cũng như quản lí nhân sự. Đó sẽ là yếu tố giúp các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

  • Hoàn thiện bộ máy quản trị, điều hành:

Đây là một vấn đề khá bức xúc đối với hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam. Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều đang duy trì một bộ máy quản trị cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả mà chi phí để vận hành bộ máy này là rất lớn.

Nếu như tình hình này không được cải thiện thì các ngân hàng sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa trong quá trình hội nhập.

Giải pháp cho vấn đề này là: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Xây dựng kế hoạch tăng cường năng lực quản trị điều hành thông qua việc nghiên cứu và phát triển các mô hình quản trị kinh doanh vừa tuân theo chuẩn mực quốc tế lại phù hợp với điều kiện kinh tế của các ngân hàng.
  • Xây dựng một mô hình chuẩn cho các chi nhánh, các phòng giao dịch sao cho quy mô hoạt động của chi nhánh là hoàn toàn phù hợp với địa bàn.
  • Đồng thời các ngân hàng nên trao cho các chi nhánh những quyền độc lập nhất định.
  • Kiên quyết đóng cửa những chi nhánh hoạt động thua lỗ.
  • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Hội sở chính đối với các chi nhánh.
  • Các ngân hàng nên tinh giảm bộ máy quản trị, chỉ giữ lại những vị trí thật sự cần thiết và những cán bộ thật sự có năng lực. Đối với những người bị giảm biên chế, ngân hàng cần tìm nguồn tài chính để tài trợ hoặc tạo điều kiện cho họ được đào tạo các ngành nghề khác.
  • Xây dựng kế hoạch tăng cường năng lực quản trị điều hành thông qua việc nghiên cứu và phát triển các mô hình quản trị kinh doanh vừa tuân theo chuẩn mực quốc tế lại phù hợp với điều kiện kinh tế của các ngân hàng.

Việc đưa một bộ máy đã quen vận hành theo cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường không phải là việc đơn giản. Nhưng đó là điều mà các ngân hàng cần làm ngay để nâng cao khả năng quản trị điều hành ngân hàng, đáp ứng nhu cầu của quá trình hội nhập.

3.2.2. Giải pháp nhằm hỗ trợ hệ thống Ngân hàng Thương mại CP nâng cao năng lực cạnh tranh: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Đối với yếu tố cung ứng:

Đối diện với vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh trong vấn đề huy động vốn ( yếu tố cung ứng của NH ) thì không có cách nào khác NH không ngừng cải thiện các dịch vụ để thu hút KH gửi tiền cũng như các chính sách ưu đãi khác dành cho người gửi tiền. Đối với NH có thể áp dụng một số phương pháp như:

Đa dạng kỳ hạn tiền gửi thông qua nhận tiền gửi theo nhu cầu kỳ hạn khách quan của khách: Nhu cầu kỳ hạn gửi của khách hàng hiện chưa đáp ứng tại hầu hết các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN. Khi đến các NH này khách hàng thường chỉ có thể gửi tiền với các kỳ hạn tính từ ngày gửi: 1 tháng, 2 tháng; 3 tháng; 6 tháng;12; 18; 24; 36 tháng. Khách hàng không thể gửi tiền với các kỳ hạn như họ muốn như 45 ngày, 1 tháng 15 ngày; 25 tháng…Khách hàng sẽ rút trước hay sau hạn như đã đăng ký với NH ( vì thời hạn của NH đưa ra không phù hợp với nhu cầu của khách ) gây rủi ro thanh khoản. Để tăng cơ hội thu hút khách gửi tiền kỳ hạn, giúp NH có kế hoạch sử dụng vốn dài hạn và tránh rủi ro, các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN cần linh hoạt trong kỳ hạn gửi tiền, có thể sử dụng một phương pháp thay vì huy động vốn theo thời hạn cố định thì hoàn toàn có thể nhận tiền gửi theo nhu cầu kỳ hạn của khách. Khi đó lãi suất sẽ được quy định theo nhóm (phổ ) kỳ hạn Ví dụ như: với kỳ hạn tù 1- 15 ngày thì lãi suất sẽ là 0.1%, 16 – 30 ngày lãi suất là 0.15%, …., tương tự và kỳ hạn có thể mở rộng ra cho cả các kỳ hạn có tính chất dài hạn. Điều này được thực hiện sẽ nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu ngân quỹ của khách, khuyến khích khách gửi theo kỳ hạn đúng nhu chu kỳ thu nhập của họ, tăng khả năng thu hút khách hàng. Mặt khác giúp các NH chủ động hơn tron việc chuẩn bị vốn để thanh toán cho khách khi đến hạn, hạn chế rủi ro thanh toán; đồng thời giúp NH sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn.

Tăng cường phát hành các công cụ huy động dài hạn: Việc huy động vốn trung và dài hạn thông qua các công cụ như: Trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN đang ở mức thấp dao động quanh khoảng 10%. Trong khi đó nhu cầu của nền kinh tế đối với vốn trung dài hạn cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, chuyển đổi cơ cấu đầu tư. Các NH phải sử dụng một phần vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn nhưng mới chỉ đáp ứng được trên dưới 40% nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Để đáp ứng được nhu cầu cho nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời hạn chế rủi ro do sử dụng nhiều vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn cần nâng cao khả năng huy động vốn trung, dài hạn bằng cách tăng cường phát hành các công cụ nợ dài hạn như: Trái phiếu, Chứng chỉ tiền gửi.

  • Đối với yếu tố khách hàng: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Hiện nay, hoạt động chủ yếu của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam vẫn là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng còn rất đơn điệu, chủ yếu là cấp tín dụng theo đơn xin vay, kèm phương án sản xuất kinh doanh. Ngoài ra hoạt động mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường và một số hoạt động khác như tài trợ dự án, các phương thức cấp tín dụng dưới hình thức thuê mua tài chính không phát triển được.

Về hoạt động dịch vụ, chủ yếu vẫn là các dịch vụ thanh toán thẻ, chuyển tiền điện tử, dịch vụ bảo lãnh còn các dịch vụ như quản lí hộ tài sản tài chính, tư vấn đầu tư, cho thuê két sắt vẫn là những dịch vụ xa lạ đối với các ngân hàng Việt Nam.

Như vậy, doanh thu chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam vẫn là từ cấp tín dụng, một lĩnh vực cần nhiều vốn đầu tư lại chứa đựng nhiều rủi ro. Trong khi đó doanh thu của các ngân hàng nước ngoài lại chủ yếu là từ phí dịch vụ. Khi tham gia hội nhập quốc tế đó sẽ là điểm bất lợi lớn nhất đối với các ngân hàng của Việt Nam. Do vậy, có thể khẳng định, để có thể đứng vững và phát triển trong quá trình hội nhập đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói riêng và các Ngân hàng Thương mại CP nói chung phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ của mình.

Tuy nhiên, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đòi hỏi một số chi phí rất lớn cho việc nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, cho máy móc thiết bị, cho nghiên cứu thị trường. Với nguồn lực có hạn, các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam không thể cùng một lúc tung ra thị trường một loạt sản phẩm mới. Vì vậy, trước khi đưa ra một sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mới đòi hỏi các ngân hàng phải tìm tòi và nghiên cứu thị trường một cách kĩ lưỡng.

Căn cứ vào tình hình thực tế của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam, việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ nên được tiến hành theo hướng sau: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thứ nhất, hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng bằng cách đưa những thành tựu khoa học mới nhất vào quy trình cung ứng, làm cho các sản phẩm này ngày càng trở nên tiện dụng hơn, hoàn hảo hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của khách hàng. Đồng thời đưa sản phẩm của mình đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Cụ thể như đối với sản phẩm tiền gửi là một trong những sản phẩm quan trọng nhất mà ngân hàng cung ứng nhằm mục đích huy động vốn. Tuy vậy, sản phẩm này vẫn còn rất đơn điệu, chưa thật sự thuận tiện cho người gửi tiền. Khi muốn gửi tiền khách hàng có rất ít lựa chọn, họ chỉ có thể gửi tiền dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm. Để khuyến khích người dân gửi tiền các ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng các dịch vụ như:

  • Tiền gửi tiết kiệm với lãi suất linh hoạt, có thể chuyển nhượng, có thể cầm cố, bảo lãnh, được xác nhận số dư
  • Tiết kiệm dự thưởng.
  • Tiết kiệm cho các mục đích cụ thể như mua nhà cửa, xe cộ.
  • Tiết kiệm gửi góp.
  • Tiền gửi không kì hạn có thể phát hành sec với hạn mức thấu chi nhất định.

Với những khách hàng luôn có số dư tài khoản lớn hoặc với khách hàng là doanh nghiệp lớn ngân hàng có thể khuyến khích họ bằng cách cung cấp miễn phí dịch vụ thanh toán trong hệ thống, vay vốn với lãi suất ưu đãi, cấp séc thanh toán miễn phí.

  • Đối với sản phẩm tín dụng, các ngân hàng có thể đa dạng hoá theo hướng sau:

Với đối tượng khách hàng là những doanh nghiệp ngoài việc cung ứng các sản phẩm như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, ngân hàng có thể áp dụng các hình thức tín dụng mới như cầm cố, mua bán các giấy tờ có giá, chiết khấu thương phiếu. Thực tế cho thấy hình thức tín dụng chiết khấu thương phiếu là kiểu cấp tín dụng rất an toàn và phổ biến trên thế giới do đó Việt Nam cũng nên tìm hiểu và phát triển. Bên cạnh đó hình thức tín dụng theo dự án cũng nên được nghiên cứu đưa vào phát triển bởi vì rất nhiều dự án tốt song vẫn không thể thực hiện do thiếu vốn.

Với đối tượng khách hàng là cá thể và hộ kinh doanh cá thể các ngân hàng cần có chính sách quan tâm đặc biệt. Bởi vì, có thể nói rằng dịch vụ dân sinh là thị trường tiềm năng của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam. Đặc biệt, với một đất nước đang trong quá trình phát triển như nước ta nhu cầu về các dịch vụ dân sinh ngày càng đa dạng phong phú. Chính vì vậy bên cạnh việc cho vay tiêu dùng các ngân hàng nên mở rộng hình thức cho vay như cho vay để mua sắm nhà cửa, ô tô, cho vay đi du học, cho vay hỗ trợ kinh doanh cá thể. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng nên chú trọng hơn nữa đến việc đơn giản hoá, linh hoạt hoá các thủ tục vay vốn trong khuôn khổ quy định của pháp luật, khắc phục dần những vướng mắc tạo điều kiện để việc tiếp cận các sản phẩm ngân hàng đơn giản hơn.

Đối với sản phẩm đầu tư, việc đa dạng hoá là rất quan trọng nhằm mục đích lợi nhuận và phân tán rủi ro. Tuy nhiên, các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam lại chưa chú trọng đến hoạt động này lắm. Trong tương lai, để có thể phát triển các ngân hàng nên dành một tỷ trọng lớn hơn cho hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực như: thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ, thị trường bất động sản, hay liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế khác.

  • Thứ hai, các ngân hàng nên từng bước tiến hành nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.

Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới để hoà nhập vào thị trường quốc tế do đó nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng là vô cùng đa dạng và phong phú. Nếu như trước đây, ngân hàng tạo ra sản phẩm trước rồi sau đó khách hàng là người đánh giá và sử dụng thì hiện nay khách hàng lại là người “hướng dẫn” ngân hàng. Đó là bởi vì hiện nay ngân hàng cần bám sát vào những nhu cầu, mong muốn của khách hàng để từ đó tìm ra dịch vụ và phương thức cung ứng dịch vụ thích hợp nhất với họ. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Gần đây, một loạt các dịch vụ ngân hàng hiện đại đã ra đời và làm thay đổi thói quen của khách hàng như: các loại hình thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ Homebanking, dịch vụ giao dịch ngân hàng trực tuyến qua máy tính hoặc qua Mobile. Những dịch vụ này trong tương lai cần được tiếp tục phát triển rộng rãi hơn nữa. Các ngân hàng cần có hướng lắp đặt thêm máy ATM, mở rộng liên kết giữa các ngân hàng để việc rút tiền của khách hàng thuận lợi hơn. Bên cạnh đó các dịch vụ như: dịch vụ quản lí hộ tài sản, dịch vụ cho thuê két sắt, tư vấn đầu tư cũng cần được nghiên cứu và phát triển.

Nhìn chung, để có thể đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Tuy nhiên, trước khi đưa một sản phẩm mới ra thị trường chúng ta cần có quá trình tìm hiểu, cân nhắc kĩ lưỡng, tránh những tổn thất không đáng có.

  • Giải pháp nhằm lành mạnh hoá hình tài chính của hệ thống các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam:

Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất cho các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam. Thực tế cho thấy, nhìn chung các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đều có vốn tự có thấp (tỷ lệ vốn tự có/ tổng tài sản dưới mức 5% so với mức tối thiểu quy định là 8%) trong khi đó tỷ lệ nợ khó đòi/ tổng nợ của các ngân hàng là rất cao trên mức cho phép là 5%. Thực trạng này đòi hỏi các ngân hàng phải tiến hành các giải pháp triệt để và hiệu quả để hướng tới trong sạch và lành mạnh tình hình tài chính.

  • Xử lí nợ quá hạn tồn đọng:

Qua một số nghiên cứu cho thấy gần đây ở một số Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam không phát sinh nợ quá hạn mới nữa (như đi trình bày ở chương II). Đây là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn và bức xúc nhất đối với các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam hiện nay là việc giải quyết dứt điểm nợ quá hạn tồn đọng từ những năm trước. Việc xử lí nợ quá hạn tồn đọng nên được tiến hành theo một số bước sau: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thứ nhất, các ngân hàng phải tiến hành rà soát lại tình hình nợ quá hạn của ngân hàng mình, phân loại nợ theo thành phần kinh tế, theo trật tự thời gian hoặc theo mức độ khó đòi của các khoản nợ. Sau đó ngân hàng cần tìm hiểu nguyên nhân và tình trạng hiện tại của con nợ từ đó có những giải pháp xử lí thích hợp.

Thứ hai, sau khi đã nắm bắt rõ về từng khoản nợ các ngân hàng nên thành lập ban chỉ đạo xử lí nợ tồn đọng và lập đề án chi tiết về xử lí những khoản nợ tồn đọng theo từng giai đoạn. Căn cứ vào tính chất của từng món nợ quá hạn mà ngân hàng áp dụng các biện pháp xử lí khác nhau như sau:

Đối với các khoản nợ còn có khả năng thu hồi các ngân hàng cần tiến hành cử cán bộ theo dõi và đôn đốc sát sao. Nếu như cân nhắc thấy có thể ngân hàng có thể gia hạn nợ, giãn nợ, điều chỉnh kì hạn nợ và nếu thấy cần thiết các ngân hàng có thể tiến hành cho khách hàng vay thêm vốn sau đó giám sát và hướng dẫn họ tiến hành sản xuất kinh doanh.

Đối với các khoản nợ tồn đọng có đảm bảo, hồ sơ pháp lí đầy đủ, ngân hàng nên nhanh chóng thu hồi tài sản sau đó tìm cách khai thác, xử lí tài sản đó một cách triệt để. Các ngân hàng có thể thanh lí hoặc phát mại tài sản để bù đắp khoản vốn bị mất. Nếu như tài sản đó chưa thể bán được ngay, ngân hàng có thể xử lí bằng cách sửa chữa, nâng cấp để cho thuê, kinh doanh, hoặc góp vốn liên doanh để thu hồi các khoản nợ dần dần.

Đối với các khoản nợ tồn đọng không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn đang hoạt động, các ngân hàng nên tìm cách bán lại các khoản nợ đó cho các công ty chuyên mua bán nợ.

Thứ ba, các ngân hàng có thể dùng chính quỹ dự phòng rủi ro của mình để xử lí những khoản nợ tồn đọng. Hàng năm các ngân hàng đều phải trích một % nhất định trong lợi nhuận của mình để trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, số tiền trong quỹ là có hạn. Các ngân hàng chỉ nên lấy tiền từ quỹ này ra để bù đắp khi các khoản nợ không còn khả năng thu hồi thực sự.

Nhìn chung, thì việc thu hồi nợ quá hạn tồn đọng ở các Ngân hàng Thương mại CP vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân: Một số con nợ không còn hoạt động hoặc hoạt động một cách cầm chừng, một số khác thì không có khả năng trả nợ hoặc chây lì, tài sản làm đảm bảo thì không đầy đủ hồ sơ pháp lí, việc định giá tài sản còn nhiều khó khăn và sai sót. Để trong tương lai các ngân hàng không phải đau đầu trong việc xử lí nợ quá hạn ngay từ bây giờ các ngân hàng phải tìm cách hạn chế tối thiểu các khoản nợ quá hạn mới phát sinh. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

  • Hạn chế tối thiểu các khoản nợ quá hạn mới phát sinh:

Để có thể hạn chế đến mức tối thiểu các khoản nợ quá hạn mới phát sinh các Ngân hàng Thương mại CP phải tuân theo những nguyên tắc sau:

  • Một là, ngân hàng phải nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ các quy định của quy trình kể cả trước và sau khi cấp tín dụng.

Trước khi cấp tín dụng, cán bộ ngân hàng cần tiến hành nghiên cứu thị trường, phân tích, đánh giá một cách chính xác năng lực tài chính của khách hàng. Trong quá trình này tất cả các tiêu thức để đánh giá khách hàng không được bỏ sót một chi tiết nào đặc biệt các cán bộ ngân hàng cần chú ý đến việc thẩm định tính hợp pháp, hợp lệ của tài sản được dùng để đảm bảo, thẩm định tính đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ.

Trong thời gian thẩm định dự án, phương án vay vốn cán bộ thẩm định phải chú ý tới tính xác thực, hợp lí của những con số khách hàng đưa ra. Trên cơ sở kết hợp giữa phân tích các yếu tố định tính và các yếu tố định lượng từ đó rút ra kết luận về tính khả thi của dự án. Sau quá trình thẩm định cán bộ cần đưa ra quyết định chính xác là có cho vay hay không cho vay và lí do của việc quyết định như vậy.

Khi xác định số tiền cho vay cần tuân thủ đúng nguyên tắc: căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, căn cứ vào tài sản đảm bảo (số tiền cho vay không vượt quá 70% giá trị tài sản làm đảm bảo) và đặc biệt mức cho vay tối đa một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng.

Sau khi đã cho vay, các cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi sát sao xem vốn vay có được sử dụng đúng mục đích không? có hiệu quả không? Nếu như thấy khách hàng có những biểu hiện như sử dụng vốn sai mục đích ngân hàng cần gấp rút tìm cách xử lí trước khi quá muộn. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Để thực hiện tốt những công việc trên yêu cầu ở người cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm và điều quan trọng là phải có một đạo đức nghề nghiệp tốt.

Hai là, các ngân hàng cần nâng cao hơn nữa chất lượng của hệ thống thông tin tín dụng. Qua hệ thống thông tin này các ngân hàng có thể nắm rõ hơn và cập nhật hơn về thông tin thị trường để có thể chủ động và linh hoạt hơn trong việc xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với từng thời kì.

Cách thứ ba, là cách rất nhiều ngân hàng lựa chọn để giảm thiểu các khoản nợ mới phát sinh của mình đó là đa dạng hoá các hình thức đầu tư. Bên cạnh hoạt động cho vay truyền thống, hiện nay các ngân hàng còn có xu hướng mở rộng các loại hình đầu tư khác như đầu tư vào trái phiếu, cổ phiếu, tài trợ xuất khẩu. Việc đa dạng hoá danh mục đầu tư đã giúp ngân hàng phân tán rủi ro đồng thời cũng đem lại cho ngân hàng lợi nhuận cao hơn.

Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh như hiện nay, các Ngân hàng Thương mại CP cần chú ý hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng tín dụng và phân tán rủi ro. Hoạt động tín dụng có an toàn, hiệu quả thì mới có thể bảo toàn nguồn vốn, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của ngân hàng.

  • Các yếu tố khác:

Mô hình sức cạnh tranh tổng thể của Michael Porter đã chỉ ra rằng sức cạnh tranh của một ngân hàng là tổng hoà các yếu tố trong đó có yếu tố nội tại và yếu tố có tính chất tác động và thúc đẩy. Để nâng cao sức cạnh tranh thì chỉ chú ý đến yếu tố nội tại là chưa đủ. Các ngân hàng còn phải chú ý đến các yếu tố thúc đẩy, hỗ trợ. Theo kinh nghiệm thực tế ở các nước phát triển cho thấy thành công của các ngân hàng có sự đóng góp không nhỏ của các hoạt động như: quảng cáo, Marketing, tài trợ và đồng tài trợ. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Hoạt động của ngành ngân hàng không giống như các ngành khác, sản phẩm dịch vụ của ngân hàng sẽ không thể hình thành nếu không có sự tham gia của khách hàng. Do đó việc đầu tiên mà ngân hàng nào cũng cần phải làm đó là nắm bắt được nhu cầu của khách hàng.

Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều định chế tài chính và phi tài chính cùng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng nên việc lựa chọn ngân hàng đối với khách hàng là vô cùng khó khăn. Trước khi đi đến quyết định chọn ngân hàng điều mà khách hàng cần nhất đó chính là thông tin khái quát nhất về ngân hàng, về tình hình hoạt động của ngân hàng. Đó là một nhu cầu hoàn toàn chính đáng của khách hàng. Chính vì vậy các ngân hàng nên mở rộng hơn nữa việc công khai các thông tin về ngân hàng như: thông tin về cơ cấu tổ chức, các sự kiện nổi bật, tình hình tài chính lên các trang web của ngân hàng. Như vậy, khách hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với những thông tin về ngân hàng.

Với những khách hàng không có điều kiện truy cập các trang web, ngân hàng cần tạo điều kiện cho họ tiếp cận các thông tin về ngân hàng qua các phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, đài, báo. Đặc biệt, khi ngân hàng đưa ra một sản phẩm, dịch vụ mới công tác này càng phải được chú trọng hơn. Quảng cáo sẽ giúp khách hàng biết được những dịch vụ nào đang được ngân hàng cung cấp, dịch vụ nào đáp ứng được nhu cầu của mình. Tuy nhiên, trước khi quyết định lựa chọn phương thức quảng cáo ngân hàng cũng nên cân nhắc nên lựa chọn cách quảng cáo cho phù hợp.

Việc in những áp phích quảng cáo với những logo của ngân hàng đặt ở chi nhánh của ngân hàng, trung tâm thương mại, siêu thị là những phương thức quảng bá về hình ảnh ngân hàng hết sức hữu hiệu mà chi phí lại thấp. Các ngân hàng cũng nên xúc tiến hoạt động này.

Bên cạnh đó một hoạt động đang được rất nhiều ngân hàng quan tâm đó là việc tăng cường tiếp xúc với công chúng hơn như: tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, tham gia các hoạt động từ thiện, các hoạt động tài trợ và đồng tài trợ cho các sự kiện lớn. Thông qua các hình thức này mà uy tín, hình ảnh của các ngân hàng đã được nâng lên một cách rõ rệt. Khách hàng có thêm hiểu biết và tin cậy hơn đối với ngân hàng. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Việc đưa khách hàng đến với ngân hàng đã là một việc hết sức khó khăn thì việc giữ được khách hàng còn khó khăn hơn nhiều lần. Lúc này chất lượng sản phẩm ngân hàng hay nói cách khác là chất lượng phục vụ đóng vai trò là yếu tố quyết định sự trung thành của khách hàng. Tuy nhiên, để có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm ngân hàng là điều khó khăn vì nó là một chỉ tiêu mang tính định tính rất khó xác định. Chất lượng sản phẩm được phản ánh trong toàn bộ quá trình tạo ra và cung ứng sản phẩm và được thể hiện rõ nhất qua sự hài lòng, thoả mãn của khách hàng. Do đó ngân hàng phải luôn tìm hiểu xem khách hàng của mình đã thực sự hài lòng với sản phẩm của mình chưa? Việc tiếp cận với sản phẩm của khách hàng có gặp khó khăn trở ngại gì không? Để biết được điều đó ngân hàng không được chỉ chăm sóc khách hàng khi họ tìm đến mình mà ngân hàng phải tìm đến khách hàng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của họ qua các cuộc điều tra thị trường, dịch vụ hậu mãi. Trong quá trình này không thể không nói tới vai trò vô cùng quan trọng của các nhân viên ngân hàng. Có thể nói họ là đại diện của ngân hàng, là bộ mặt của ngân hàng. Chính họ đã tạo ra sự khác biệt góp phần tạo nên uy tín, hình ảnh của ngân hàng. Chính vì vậy, để có một hình ảnh đẹp trong lòng khách hàng, các ngân hàng phải xây dựng cho đội ngũ nhân viên của mình một phong cách phục vụ tận tình, chu đáo, trách nhiệm. Hiện nay, có rất nhiều dịch vụ ngân hàng hiện đại còn khá xa lạ và mới mẻ đối với khách hàng. Vì vậy, nhân viên ngân hàng cần để ý hơn đến việc tư vấn cho khách hàng, cung cấp cho họ thông tin về sản phẩm và phải hướng dẫn cho họ tận tình về quy trình thao tác.

Bên cạnh đó các ngân hàng cũng nên mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình, cung cấp thêm cho khách hàng nhiều kênh phân phối hơn nữa để việc tiếp cận với sản phẩm của khách hàng trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn.

Như vậy, qua đây có thể nói vai trò của công tác Marketing là rất quan trọng với các ngân hàng (đặc biệt là Ngân hàng Thương mại CP). Chính vì vậy trong các chiến lược phát triển của các ngân hàng không thể thiếu chiến lược Marketing luôn được đặt lên hàng đầu. Để có thể thành công đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại CP phải áp dụng chiến lược Marketing hỗn hợp gồm 5P đó là: giá cả (price), địa điểm (place), khuyếch chương (promote), sản phẩm (product) và đối với ngân hàng còn có yếu tố con người (people).

3.3 Kiến nghị: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ:

Nhìn chung, các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong quá trình hội nhập vào thị trường tài chính – ngân hàng quốc tế. Nhưng chỉ một mình các ngân hàng nỗ lực thôi là chưa đủ, có những vấn đề vượt khả năng giải quyết của các ngân hàng và họ rất cần sự hỗ trợ từ Chính phủ.

Trước hết, việc mà Chính phủ cần làm ngay đó là phải phổ cập các thông tin về hội nhập, các điều kiện, cam kết để gia nhập các tổ chức quốc tế, lộ trình thực hiện các cam kết để các ban ngành có thời gian để chuẩn bị và thu hút được sự tham gia nghiên cứu của nhiều người. Hiện nay, việc tiếp cận với các hiệp định, cam kết vẫn còn nhiều trở ngại ngay cả đối với các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu khoa học ngân hàng. Nếu muốn tìm hiểu họ phải tự mình thu thập thông tin, tìm kiếm tư liệu. Đây là công việc vừa tốn thời gian, tốn công sức. Hơn ai hết những nhà nghiên cứu phải là những người được cung cấp thông tin đầu tiên để họ có thể bổ sung kiến thức, nâng tầm hiểu biết để có thể đóng góp nhiều hơn cho ngành và cho xã hội.

Thứ hai, Chính phủ cần xây dựng một hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô ổn định và hợp lí; duy trì một nền chính trị ổn định. Ngành ngân hàng vốn là một ngành rất nhạy cảm trước những biến động về kinh tế – xã hội, vì vậy việc duy trì một nền kinh tế, chính trị ổn định là điều kiện cần cho sự phát triển của ngân hàng.

Thứ ba, trong quá trình hội nhập quốc tế sẽ có sự tham gia của rất nhiều quốc gia, chính vì vậy tất cả các quan hệ kinh tế đều được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế. Do đó nhiệm vụ đặt ra đối với Chính phủ là cần phải hoàn thiện các hệ thống văn bản pháp lí đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm tạo nên một hành lang pháp lí ổn định, đồng bộ, minh bạch và công bằng tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển. Đặc biệt là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ trong ngành ngân hàng:

  • Hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan đến hệ thống các Ngân hàng Thương mại CP, các văn bản có liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán để các ngân hàng có cơ sở pháp lí rõ ràng hơn trong hoạt động.
  • Ban hành các văn bản rõ ràng hơn liên quan đến vấn đề huy động vốn, hoạt động tín dụng, việc xử lí các khoản nợ quá hạn của các Ngân hàng Thương mại CP. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
  • Đồng thời Chính phủ cần sớm ban hành hệ thống văn bản mới phù hợp với tình hình hội nhập hiện nay như : Luật thương phiếu, quy chế phát hành và sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử, văn bản hướng dẫn thực hiện hoạt động thương mại điện tử, xác nhận giá trị chứng từ của văn bản điện tử, chữ kí điện tử.

Thứ tư, Chính phủ cần có biện pháp kiên quyết trong việc cổ phần hoá một số Ngân hàng Thương mại QD. Đồng thời, Chính phủ nên dần xoá bỏ những ưu đãi đối với các Ngân hàng Thương mại QD, tạo môi trường để các ngân hàng cạnh tranh với nhau một cách công bằng hơn.

Thứ năm, Chính phủ cần có các biện pháp giúp đỡ các Ngân hàng Thương mại CP trong việc tăng vốn điều lệ bằng cách cho phép các Ngân hàng Thương mại QD tham gia mua cổ phần của các Ngân hàng Thương mại CP, tạo điều kiện để cho mỗi ngành kinh tế thành lập cho mình một ngân hàng riêng chỉ phục vụ cho mình, cho phép các công ty mua bán nợ được thành lập để giúp các ngân hàng xử lí nợ quá hạn.

Thứ sáu, Chính phủ cần xây dựng một hệ thống thông tin hiện đại nhằm cung cấp cho các ngân hàng cơ sở hạ tầng thông tin hiện đại nhất qua đó tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp cận các nguồn thông tin cập nhật hơn, chính xác hơn.

Cuối cùng, Chính phủ nên củng cố và tăng cường hơn nữa vai trò quản lí, giám sát của mình.Trong quá trình hội nhập, sẽ có rất nhiều thành phần kinh tế, nhiều quốc gia tham gia vào thị trường. Hoạt động của các ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa với những sản phẩm mới, phạm vi hoạt động rộng sẽ gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan giám sát. Do đó, ngay từ lúc này Chính phủ cần nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát của mình mặc dù đó là một việc không hề đơn giản.

3.3.2 Kiến nghị đối với NHNN: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trong thời gian vừa qua, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của NHNN Việt Nam đã có những bước đi đáng kể trong việc chuyển từ một hệ thống tài chính kiểm soát trực tiếp sang hệ thống vận hành theo cơ chế thị trường, điều hành bằng luật pháp. Bằng sự chuyển dịch các chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá… cùng với việc thực hiện các đề án cải tổ ngân hàng hệ thống ngân hàng của ta đã từng bước tiếp cận và hội nhập vào hoạt động của hệ thống các ngân hàng thế giới. Có được điều này là do sự lãnh đạo của Chính phủ và sự chỉ đạo sát sao của NHNN. Tuy nhiên, những nhiệm vụ trước mắt đặt ra đối với ngành ngân hàng ( đặc biệt là hệ thống Ngân hàng Thương mại CP ) là rất nặng nề và đòi hỏi sự chỉ đạo sáng suốt và kịp thời hơn nữa của ngân hàng nhà nước. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết NHNN phải tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình:

Trước hết, NHNN cần tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ quốc gia một cách hiệu quả, linh hoạt. Nâng cao khả năng kiểm soát tiền tệ của mình nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, NHNN cần tiếp tục đẩy nhanh chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các Tổ chức tín dụng Việt Nam. Đối với Ngân hàng Thương mại CP, NHNN cần tạo điều kiện để các ngân hàng này có thể tăng vốn điều lệ bằng cách khuyến khích các Ngân hàng Thương mại QD đóng góp cổ phần, hoặc tạo điều kiện cho họ huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó NHNN nên tiếp tục xúc tiến các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các Ngân hàng Thương mại CP để đẩy nhanh tốc độ xử lí nợ quá hạn.

Thứ ba, NHNN nên tập trung nghiên cứu và ban hành các văn bản hướng dẫn đối với các ngân hàng trong hoạt động thanh toán, hoạt động tín dụng để các hoạt động này được thống nhất giữa các ngân hàng.

Thứ tư, NHNN cần củng cố và tăng cường vai trò thanh tra giám sát. Tiếp tục đổi mới công tác thanh tra cả về nghiệp vụ và đội ngũ cán bộ nhằm tạo chuyển biến mạnh về chất trong hoạt động thanh tra. Muốn vậy, NHNN cần thực hiện các biện pháp sau :

  • Bám sát thực tiễn tình hình hoạt động của các Tổ chức tín dụng để sớm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai phạm (đặc biệt là chú ý đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng nhằm mục đích lành mạnh hoá ngân hàng).
  • Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về mức độ rủi ro nhằm ngăn chặn sự gia tăng của nợ xấu. Xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu giám sát từ xa theo chuẩn mực quốc tế. Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
  • Đổi mới và nâng cao chất lượng của công tác thanh tra. Trao quyền và trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, tổ chức.

Hoạt động của ngành ngân hàng có công khai, minh bạch thì mới có thể củng cố lòng tin của khách hàng.

Thứ năm, song song với việc tăng cường khả năng giám sát đối với các ngân hàng trong nước nhằm lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng, NHNN cũng cần nâng cao hơn nữa khả năng giám sát đối với các ngân hàng nước ngoài. Hoạt động của các ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa với những sản phẩm mới, tốc độ nhanh, phạm vi rộng lớn.. chính vì vậy nếu như chỉ dùng các phương pháp kiểm soát truyền thống là chưa đủ. Do đó NHNN cần chuẩn hoá hệ thống kiểm tra giám sát của mình theo tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ sáu, NHNN cần nâng cao mức độ độc lập trong việc xử lí các vấn đề có liên quan đến hoạt động tín dụng, hoạt động huy động vốn, xử lí nợ quá hạn của các Ngân hàng Thương mại QD để tạo môi trường cạnh tranh công bằng giữa các Ngân hàng Thương mại QD và CP. Ngoài ra NHNN cũng nên xúc tiến việc cổ phần hoá một số Ngân hàng Thương mại QD.

Cuối cùng, NHNN cũng cần phải cải tổ lại theo hướng nâng cao năng lực quản lí, khả năng phân tích tài chính, phân tích kinh tế vĩ mô.

Sự nỗ lực của bản thân các ngân hàng cùng với định hướng của Chính phủ và sự chỉ đạo sát sao của NHNN chắc chắn sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp giúp cho các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam vượt qua mọi thử thách trong quá trình hội nhập.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Trước hết, phải khẳng định rằng hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu khách quan, là bước đi không có quyền lựa chọn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng. Tiến trình hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được đánh dấu bằng nhiều sự kiện nổi bật đó là việc kí kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, Hiệp định khung về hợp tác thương mại, dịch vụ (AFAS) của ASEAN. Điều đó cũng có nghĩa là trong một thời gian không xa nữa các hàng rào ngăn cách giữa các Tổ chức tín dụng nước ngoài và Việt Nam sẽ được xoá bỏ. Đó là cơ hội nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam (đặc biệt là đối với hệ thống Ngân hàng Thương mại CP mới hơn 10 năm tuổi). Khi những rào cản được rỡ bỏ cũng có nghĩa là các ngân hàng sẽ được cạnh tranh trong một “sân chơi” với luật chơi là luật lệ quốc tế. Phần thắng sẽ thuộc về ai có sức mạnh cạnh tranh lớn hơn.

Nhận thức được vấn đề này, trong những năm qua các Ngân hàng Thương mại CP đã tiến hành những cuộc cải tổ mạnh mẽ cả về chất và về lượng nhằm nâng cao sức mạnh cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, với hạn chế là có xuất phát thấp, lại không được hưởng sự ưu đãi của chính phủ nên các Ngân hàng Thương mại CP gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh của ngân hàng là tổng hoà của nhiều yếu tố trong đó yếu tố nội lực của ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất sau đó là đến các yếu tố mang tính chất thúc đẩy, hỗ trợ như các lĩnh vực có liên quan phụ trợ, nhu cầu của khách hàng. Do đó sự nỗ lực của bản thân ngân hàng là chưa đủ cần có sự hỗ trợ của các cơ quan, ban ngành khác.

Với mong muốn giúp cho các Ngân hàng Thương mại CP có được một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, khoá luận đã tập trung vào một số vấn đề sau:

  1. Đưa ra một cơ sở lí luận cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng và vấn đề cạnh tranh trong HNQT.
  2. Đưa ra một số kinh nghiệm hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng từ đó rút ra bài học đối với Việt
  3. Cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát về hệ thống Ngân hàng Thương mại CP từ khi thành lập đến nay.
  4. Đánh giá khái quát về năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam theo mô hình sức cạnh tranh tổng thể của Michael
  5. Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam.
  6. Đề xuất một số kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm hỗ trợ các Ngân hàng Thương mại CP.

Tuy nhiên, đây là một đề tài phức tạp, lại mới mẻ và liên quan đến nhiều bộ ngành khác nhau do đó những đề xuất, kiến nghị chỉ là một đóng góp nhỏ trong tổng thể các biện pháp nhằm hỗ trợ các ngân hàng. Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do trình độ hiểu biết cả về lí luận và thực tế có hạn, phạm vi nghiên cứu khá rộng nên chắc chắn khoá luận không thể tránh khỏi thiếu xót. Do vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như từ phía các thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Không có các thầy cô giáo ở trường Đại học Ngoại thương chắc chắn bài khóa luận này sẽ không được hoàn thành, vì vậy em xin được chân thành cảm ơn: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng

One thought on “Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537