Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của hệ thống Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam:
2.1.1. Giai đoạn 1951 – 2008:
Cách đây 53 năm, ngày 06/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam đánh dấu bước phát triển cách mạng của công tác tiền tệ – tín dụng ở nước ta. Qua hơn 5 thập kỉ tồn tại và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, trong những ngày đầu mới thành lập hệ thống ngân hàng của nước ta là hệ thống ngân hàng một cấp, Ngân hàng Nhà nước vừa làm nhiệm vụ quản lí nhà nước, vừa kinh doanh trực tiếp với các doanh nghiệp sản xuất. Đứng trước yêu cầu đổi mới nền kinh tế, trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các quốc gia khác trên thế giới đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải có những thay đổi căn bản.
Chính vì vậy, từ tháng 9/2008 cùng với việc xây dựng đề án đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của ngân hàng, hai nhóm nghiên cứu đổi mới ngân hàng do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thành lập đã cùng NHNN Việt Nam xây dựng hai pháp lệnh: Pháp lệnh về NHNN và Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính.
Tháng 5/2009 Hội đồng Nhà nước đã thông qua và công bố hai pháp lệnh trên, có hiệu lực từ tháng 10/2009. Trong đó có các định hướng cơ bản:
- Tách bạch chức năng: NHNN là Ngân hàng Trung Ương có chức năng quản lí nhà nước đối với hệ thống ngân hàng; chức năng kinh doanh thuộc về các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
- Tạo lập một hệ thống các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức kinh doanh được phép kinh doanh tiền tệ và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật với các hình thức sở hữu phong phú, loại hình đa dạng.
Sự ra đời của hai pháp lệnh Ngân hàng đã mở ra khả năng đổi mới triệt để hệ thống ngân hàng và đây được coi là một mũi đột phá, mở đầu cho sự nghiệp đổi mới quản lí kinh tế quốc dân. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam kể từ đó có sự tách bạch giữa hai cấp, cấp I (NHNN) có chức năng quản lí và cấp II (gồm các Ngân hàng Thương mại, Tổ chức tín dụng) có chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ.
2.1.2. Giai đoạn từ 2008 đến nay: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhằm thực hiện chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, trong hơn 10 năm qua Đảng và nhà nước ta đã chủ trương cho phép mở rộng hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là hệ thống Ngân hàng Thương mại CP, cho phép các ngân hàng nước ngoài tới hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình dịch vụ. Đồng thời, trong thời gian tới nước ta chủ trương sẽ cổ phần hoá một số Ngân hàng Thương mại quốc doanh.
Thực hiện chủ trương đó, chỉ sau 10 năm đổi mới hệ thống Ngân hàng Thương mại Cổ phần đã không ngừng lớn mạnh cả về lượng và chất. Nếu như trong đầu những năm 2009 cả nước chỉ có khoảng 15 Ngân hàng Thương mại Cổ phần thì tới năm 2016 có tới 52 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (trong đó bao gồm 32 Ngân hàng Thương mại Cổ phần đô thị và 20 Ngân hàng Thương mại Cổ phần nông thôn, được phân bố chủ yếu ở các thành phố lớn và một số tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long (những vùng có nền kinh tế hàng hoá phát triển).
Tuy nhiên, việc các ngân hàng ồ ạt được thành lập mà không hề chú ý tới chất lượng hoạt động đã dần bộc lộ hạn chế. Đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực xảy ra từ cuối năm 2016 tới năm 2017. Nhiều ngân hàng đã vướng mắc vào những sai phạm nghiêm trọng như liên quan tới các vụ án kinh tế lớn, sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời, do yêu cầu của HNQT về ngân hàng công cuộc cải tổ ngân hàng đã được tiến hành trong toàn hệ thống bắt đầu từ năm 2017. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Một trong những khó khăn lớn nhất của hệ thống các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam là hạn chế về nguồn vốn, từ đó ảnh hưởng tới khả năng mở rộng quy mô và hiệu quả của hoạt động ngân hàng (trong thời gian đầu sau khi thành lập, chỉ khoảng trên 30% số ngân hàng đăng kí là đủ vốn điều lệ). Chính vì vậy một đề án nhằm chấn chỉnh và củng cố hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cuối năm 2017. Trong giai đoạn 2017 – 2019 một loạt các thay đổi quan trọng đã diễn ra trong hệ thống các Ngân hàng Thương mại CP, một loạt các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả đã bị giải thể (như Ngân hàng Thương mại CP Châu á-Thái Bình Dương; Ngân hàng Thương mại CP Mê Kông.), bị bán lại hoặc bị sáp nhập (như Ngân hàng Thương mại CP Phương Nam sáp nhập với Ngân hàng Thương mại CP Đại Nam, Ngân hàng Thương mại CP nông thôn Đồng Tháp, Ngân hàng Thương mại CP Châu Phú; Ngân hàng Thương mại CP quốc tế mua lại Ngân hàng Thương mại CP Quế Đô, Ngân hàng Thương mại CP Đông á mua lại Ngân hàng Thương mại CP Tứ giác Long Xuyên). Trong năm 2022, ngân hàng nhà nước đã cho phép sáp nhập 4 ngân hàng cổ phần nông thôn vào các ngân hàng khác, thu hồi giấy phép hoạt động của 2 công ty tài chính cổ phần (1 công ty giải thể, 1 công ty sáp nhập vào ngân hàng khác). Cho tới nay sau hơn 7 năm thực hiện đề án chấn chỉnh, củng cố, sắp xếp lại những Ngân hàng Thương mại CP nước ta còn 34 Ngân hàng Thương mại CP đô thị và 1 Ngân hàng Thương mại CP nông thôn ( ngân hàng Mỹ Xuyên )( Chi tiết các tổ chức tín dụng có thể xem thêm các phụ lục ở cuối khóa luân ).
Sự xuất hiện với số lượng lớn các Ngân hàng Thương mại CP cùng với 7 Ngân hàng Thương mại quốc doanh đã làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam lớn mạnh về số lượng, làm giảm độc quyền trong kinh doanh ngân hàng.
Trong quá trình HNQT về ngân hàng nhà nước ta đã cho phép các ngân hàng được hoạt động tại Việt Nam. Cho tới nay đã có 5 ngân hàng liên doanh, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 9 công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, thị trường tài chính còn có sự tham gia của các quỹ tín dụng nhân dân. Hiện nay hình thức tổ chức này vẫn còn rất phổ biến và đóng một vai trò không kém phần quan trọng ở Việt Nam. Hiện nay trên cả nước có khoảng hơn 1000 quỹ tín dụng nhân dân.
Với một cơ cấu tổ chức đa dạng, phong phú và vẫn không ngừng được mở rộng như vậy đã chứng tỏ phần nào vai trò quan trọng của ngành ngân hàng trong nền kinh tế Việt Nam.
2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhằm mục đích từng bước hội nhập thị trường tài chính toàn cầu, trong vài năm qua một loạt các hiệp định, cam kết song phương và đa phương trên lĩnh vực ngân hàng đã được kí kết giữa Việt Nam và các tổ chức quốc tế. Theo đúng lộ trình hội nhập, trong một thời gian không xa chúng ta sẽ phải mở cửa thị trường tài chính, tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam không hạn chế số lượng và loại hình dịch vụ. Quá trình này đã đặt các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam trước những cơ hội rất lớn đồng thời cũng đặt ra cho họ những thách thức rất lớn. So với các loại hình tổ chức tín dụng khác Ngân hàng Thương mại CP có xuất phát thấp hơn hẳn cả về thâm niên hoạt động, quy mô nguồn vốn và uy tín. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại CP phải nỗ lực rất nhiều, đặc biệt là phải tập trung mọi nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng có thể căn cứ vào nhiều chỉ tiêu, tuỳ thuộc mô hình được sử dụng để nghiên cứu. Trong điều kiện cho phép và trong khuôn khổ khoá luận này, người viết xin chọn và đưa ra một số Ngân hàng Thương mại CP tiêu biểu (với phương thức đánh giá theo mẫu) để đánh giá năng lực cạnh tranh như: Ngân hàng Thương mại CP Kỹ Thương (Techcombank); NH Quốc Tế (VIBank); Ngân hàng Thương mại CP á Châu (ACB); Ngân hàng Thương mại CP Xuất – Nhập khẩu (Eximbank). Đây là các ngân hàng đại diện cho các ngân hàng có quy mô hoạt động khác nhau, tình hình hoạt động cũng khác nhau. Và để đánh giá năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng, ở đây người viết sử dụng mô hình sức cạnh tranh tổng thể của Michael Porter với các yếu tố đã được xem xét ở trên.
Trong thời gian qua, cùng với toàn ngành ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại CP này đã hết sức nỗ lực trong việc tái cơ cấu lại nhằm mục đích xây dựng mình thành một ngân hàng lành mạnh, có quy mô phù hợp hơn và đặc biệt là có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Và thực tế cho thấy họ đã đạt được những kết quả nhất định.Trước tiên theo mạch Logic của mô hình M.Porter người viết xin đưa ra nét đánh giá khái quát nhất về môi trường hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần nước ta.
2.2.1. Đánh giá khái quát về môi trường (vĩ mô ) tác động tới hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Về tốc độ tăng trưởng GDP:
- Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng GDP từ năm 2020 đến năm 2025:
- Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2017 – 2025
Từ số liệu nêu trên ta có thể thấy: “kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, vượt qua thời kỳ suy giảm về tốc độ tăng trưởng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cũng theo như tổng cục thống kê cho hay: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 2016 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Tổng sản phẩm trong nước trong những năm 2011-2016 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngột giảm xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 2017 và tăng 4,8% vào năm 2018. Nhưng từ năm 2019 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2019 tăng 6,79%; năm 2020 tăng 6,89%; năm 2021 tăng 7,08%; năm 2022 tăng 7,34%; năm 2023 tăng 7,79% và năm 2024 ước tính tăng 8,43%). Tính ra trong 5 năm 2020-2024, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2024 gấp 1,44 lần năm 2019. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong 5 năm 2020-2024 đạt 7,51% không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân 6,95% mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 2015-2019 mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới.
Như vậy tốc độ tăng GDP của nước ta so với các nước trong khu vực là tương đối cao. Đây cũng có thể coi là một dấu hiệu thuân lợi cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như ngành NH nói riêng. Và với tốc độ tăng GDP của nền kinh tế Việt Nam như vậy chắc chắn sẽ tạo điều kiện rất nhiều cho các Ngân hàng Thương mại VN có thể gia tăng mức huy động và tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp một phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới đất nước!
Về hoạt động XNK: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
- Bảng 2: Số liệu về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2025
Nhận xét: Với việc GDP tăng trưởng tương đối cao cộng với những chính sách mở cửa đã tạo điều kiện rất nhiều cho các DN thúc đẩy hoạt động xuất – nhập khẩu, Từ bảng trên ta có thể thấy xuất khẩu liên tục tăng trong suốt quá trình từ năm 2009 cho đến nay, qua đó phản ánh phần nào chế độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế. Việc hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng tăng cao đã bắt đầu khắc phục dần tình trạng nhập siêu. Theo mức độ mở cửa của nền kinh tế, và trong tương lai không xa thì các mặt hàng của Việt Nam sẽ còn phát triển rộng khắp trên thị trường các nước trong khu vực cũng như thế giới. Đây chính là tiền đề cho các DN của Việt Nam có thể mở rộng thị trường của mình với một quy mô lớn hơn. Và đây cũng chính là tiềm năng cũng như cơ hội cho các Ngân hàng Thương mại VN tiếp cận và phát triển thị trường ra nước ngoài thông qua việc bám sát và thúc đẩy các hoạt động tài trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Sự ổn định của tiền tệ: Theo như báo cáo thường niên năm 2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì nhìn chung Ngân hàng Thương mại Nhà nước không tăng lãi suất tiết kiệm nhưng mở rộng hình thức phát hành giấy tờ có giá với mức lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn khoảng 0,3 – 0,5%/năm. Điều này có tác động nhất định làm tăng mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường. Những tháng cuối năm, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay về cơ bản ít biến động. Lãi suất huy động phổ biến kỳ hạn 3 tháng là 7,56 – 8,52%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 7,8 – 8,88%/năm, kỳ hạn 12 tháng là 8,4 – 9,36%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến là 9,6-13,8%/năm và lãi suất cho vay trung, dài hạn phổ biến là 11,4 -16,2%/năm. Lãi suất USD tăng khoảng 0,2-0,6%/năm do tác động của lãi suất trên thị trường quốc tế: Trong 6 tháng đầu năm 2025, Fed 3 lần điều chỉnh tăng lãi suất định hướng liên hàng, do đó lãi suất USD trong nước có xu hướng tăng nhưng với mức tăng thấp hơn so với mức điều chỉnh tăng lãi suất của Fed. Trong những tháng cuối năm 2025, lãi suất USD tương đối ổn định do cung – cầu vốn trong nước ở mức phù hợp và lãi suất định hướng liên ngân hàng của Fed được trì duy trì ổn định. Lãi suất huy động USD phổ biến kỳ hạn 3 tháng là 3,9 – 4,4%/năm, 6 tháng là 4,1 – 4,5%/năm, 12 tháng là 4,7 – 5,0%/năm; lãi suất cho vay khoảng 5,8 – 6,7%/năm đối với cho vay ngắn hạn và 6,0 – 8,0%/năm đối với cho vay trung, dài hạn.
Rõ ràng là trong những tháng cuối năm khi mà tình hình trên thế giới có đôi chút biến động thì mặt bằng lãi suất huy động và cho vay về cơ bản là ít biến động. Điều này phản ánh một phần sự ổn định của thị trường tiền tệ – tất nhiên là dưới sự kiểm soát hợp lý của NHNN VN. Và sự ổn định này sẽ tạo một môi trường tốt cho hoạt động của các Ngân hàng Thương mại, giúp hạn chế phần nào rủi ro về tỷ giá, về lãi suất cũng như đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Năm 2025, tình hình chính trị diễn biến phức tạp và điều kiện bất lợi về thời tiết làm cho thị trường hàng hóa trên thế giới có nhiều biến động tăng, giảm đột biến về giá của nhiều mặt hàng, nhất là giá dầu thô và giá vàng: “Giá dầu thô ngày 14/7/2025 đã tăng lên mức cao 78,4 USD/thùng và vẫn vững ở mức trên 60 USD/thùng trong những ngày cuối năm; giá vàng ngày 12/5/2025 lên tới mức 730 USD/ounce, bình quân cả năm ở mức 604,2 USD/ounce; giá một số kim loại tiếp tục có xu hướng tăng mạnh, trong đó giá niken ngày 15/12/2025 đã tăng lên mức cao nhất 34.950 USD/tấn kể từ khi được đưa ra giao dịch; giá kẽm ngày 27/11/2025 đạt mức kỷ lục 4.850 USD/tấn kể từ năm 1915; giá thiếc ngày 11/12/2025 tăng lên mức cao nhất trong 17 năm qua là 11.250 USD/tấn; giá cao su ở mức 2600 USD/tấn… Nhìn chung: giá các nguyên vật liệu luôn ở mức cao và tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm nhưng lại hạ nhiệt trong 6 tháng cuối năm với mức tăng bình quân thấp hơn năm 2024. Do tác động của mức giá gia tăng, trong 6 tháng đầu năm nhiều nước trên thế giới đã liên tục tăng lãi suất, nhưng kinh tế thế giới vẫn phát triển khả quan. Theo báo cáo mới nhất của IMF, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 5,1% so với năm 2024. Kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh đã thúc đẩy chu chuyển thương mại toàn cầu tăng 8,9%, cao hơn mức tăng 7,4% của năm 2024”. Trong khi đó, Các nền kinh tế châu Á đang trở thành đầu tàu kinh tế và được hưởng lợi từ nhu cầu ngày càng tăng về hàng hóa sản xuất trong khu vực, nhất là những sản phẩm điện tử. Theo “Báo cáo triển vọng phát triển châu Á 2025” của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “dẫn đầu vẫn là Trung Quốc và Ấn Độ với mức tăng trưởng lần lượt là 10,0% và 8,3%. ADB cũng đánh giá cao vị trí cũng như vai trò của kinh tế Việt Nam đối với khu vực, hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đứng thứ 2 châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ), đạt 8,17%. Tuy nhiên, một số nước trong khu vực Đông Nam Á đã có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại do tác động của giá dầu tăng cao và chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát như Indonesia, Cam-pu-chia, Myanmar”.
Như vậy các số liệu cho thấy tình hình kinh tế thế giới trong một vài năm gần đây có xu hướng phục hồi và phát triển ổn định trở lại mặc dù có những biến động bởi một số biến cố chính trị hay sự phá hoại của thiên tai. Trong khi các nước công nghiệp phát triển đã phục hồi dần trở lại (mặc dù vẫn còn một số dao động như nền kinh tế Mỹ trong những tháng đầu năm 2025 ) thì các nước đang phát triển ( trong đó có Việt Nam ) cũng không ngừng đi lên và đứng đầu trong tăng trưởng GDP khu vực như Trung Quốc (10%), Ấn Độ (8.3%). Theo IMF dự kiến thì nền kinh tế toàn cầu vẫn còn tiếp tục xu hướng ổn định và các nước châu Á sẽ không dừng lại ở tốc độ phát triển như hiện tại. Một cái nhìn khả quan vào nền kinh tế toàn cầu và một triển vọng vào sự phát triển của kinh tế trong khu vực sẽ góp một phần không nhỏ vào việc ổn định kinh tế của từng quốc gia cũng như sự đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính trong đó có các Ngân hàng Thương mại VN.
Nhận xét: Qua việc xem xét và đánh giá môi trường cạnh tranh cho thấy có rất nhiều yếu tố thuận lợi khi mà nước ta đang từng bước trên con đường tiến tới hội nhập, bên cạnh đó cũng không hẳn không có những yếu tố tác động bất lợi đến năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại VN trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh tổng thể, môi trường đó đã và đang có những tác động tích cực đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại VN. Với sự tác động tích cực đó cùng một viễn cảnh tương đối thuận lợi sẽ đảm bảo cho một sự phát triển ổn định cho toàn hệ thống NH tại Việt Nam ( trên hầu hết các phương diện tín dụng, huy động vốn…) cũng như sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế VN trong thời gian tới ! Sau đây người viết xin được trình bày về thực trạng cụ thể năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam:
2.2.2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN:
2.2.2.1 Yếu tố nội tại: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
- Tiềm lực tài chính (quy mô vốn và các vấn đề liên quan ):
Vốn điều lệ của ngân hàng là một trong những điều kiện tiền đề cho việc đảm bảo tính an toàn cũng như phát triển mở rộng quy mô hoạt động và thể hiện tính cạnh tranh của ngân hàng. Đặc biệt, đối với các Ngân hàng Thương mại CP khoản vốn lớn sẽ giúp họ có uy tín cao hơn, tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng hiệu quả hơn.
Với sự trợ giúp từ ngân hàng nhà nước (NHNN) cùng sự nỗ lực của bản thân trong thời gian qua các Ngân hàng Thương mại CP đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nếu như trong 3 năm 2017 – 2019 mới chỉ có khoảng trên 30% các Ngân hàng Thương mại CP đăng kí có đủ vốn điều lệ theo quy định của nhà nước (số vốn tối thiểu mà một Ngân hàng Thương mại CP phải đảm bảo là 70 – 100 tỷ VND) thì trong 2 năm 2020 và 2021 hầu hết các ngân hàng đã tăng đủ vốn điều lệ theo quy định (chỉ còn hai Ngân hàng Thương mại CP là chưa đủ). Đến đầu năm 2023 một loạt các ngân hàng đã đồng loạt thông báo tăng vốn cổ phần như : Techcombank thông báo vốn điều lệ của họ là trên 180 tỷVND (năm 2025 là 1500 tỷ, đầu năm 2026 là 1700 tỷ) , còn vốn điều lệ của ACB kể từ 25/02/2023 là 481 tỷ VND (hiện nay năm 2026 đã đạt tới: 2530,106 tỷ đồng )…
Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/2008 theo quyết định số 140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import bank), là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam. Ngày 17/01/2009 ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động. Đến năm 2011 chính phủ kí quyết định đổi tên ngân hàng thành “Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu”. Là một trong những Ngân hàng Thương mại CP đi đầu nên Eximbank đã gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên trong suốt hơn 15 năm hoạt động ngân hàng đã đạt được một số thành tích đáng kể như việc được chọn là 1 trong 6 ngân hàng Việt Nam tham gia thực hiện dự án hiện đại hoá ngân hàng, năm 2017 được CHASE MANHTTAN BANK (US) New York tặng giải thưởng “Ngân hàng có chất lượng phục vụ tốt nhất” và tới tháng 04 năm 2020 sau 3 lần tăng vốn điều lệ, số vốn điều lên năm 2021 lên tới 300 tỷ VND, hiện nay theo những số liệu mới nhất từ báo cáo thường niên năm 2025 số vốn này đã nên tới 1212 tỷ VNĐ. Exim bank đã thiết lập quan hệ đại lí với 590 ngân hàng ở 59 quốc gia trên thế giới. Để tiện theo dõi ta có biểu đồ so sanh tốc độ tăng trưởng về vốn điều lệ qua các năm của Eximbank như sau:
- Biểu đồ 2: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân hàng Eximbank Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Techcombank Được chính thức thành lập vào ngày 27/09/2012 với số vốn điều lệ rất khiêm tốn trên 20 tỷ VND và 20 nhân viên. Trong suốt hơn 13 năm hoạt động Techcombank đã trải qua rất nhiều thăng trầm có lúc tưởng như không vượt qua nổi. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây Techcombank đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc. Tiêu biểu là tới đầu năm 2023 Techcombank đã tăng vốn điều lệ của mình lên 180 tỷ, tổng tài sản đạt trên 5000 tỷ đồng, với 400 nhân viên và 14 điểm giao dịch. Cho tới năm 2025, Techcombank còn được nhận giải thưởng về thanh toán quốc tế từ the Bank of NewYorks, Citibank, Wachovia. Và gần đây tháng 8/2025: Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới đã công bố xếp hạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam được xếp hạng bởi Moody’s. Ngoài các tiến bộ về mặt chuyên môn như: Hoàn thiện hệ thống siêu tài khoản với các sản phẩm mới Tài khoản Tiết kiệm đa năng, Tài khoản Tiết kiệm trả lãi định kỳ thì trong năm 2025, Techcombank đã nâng số vốn điều lệ của mình lên 1500 tỷ VNĐ, và cho tới năm 2026 thì số vốn này là 1700 tỷ đồng. Ta có thể xem diễn biến về sự phát triển vốn điều lệ của Techcombank qua bảng biểu và sơ đồ sau:
- Bảng 3: Vốn điều lệ của Ngân hàng Techcombank qua các năm 2021 – 2025
- Biểu đồ 3: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân hàng Techcombank các năm 2021 – 2025
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế – VIB Bank) được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm các cá nhân và doanh nhân hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Quốc Tế đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam. Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/09/2015 với số vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam, Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển thành một trong những tổ chức tài chính trong nước dẫn đầu thị trường Việt Nam. Là một ngân hàng bán lẻ, Ngân hàng Quốc Tế tiếp tục cung cấp một loạt các sản phẩm, dịch vụ tài chính trọn gói cho khách hàng với nòng cốt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động lành mạnh và những cá nhân, gia đình có thu nhập ổn định. Đến cuối tháng 9 năm 2026, vốn điều lệ của Ngân hàng Quốc Tế là 1.500 tỷ đồng. Tổng tài sản đạt trên 22.000 tỷ đồng. Ngân hàng Quốc Tế luôn được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại tốt nhất theo các tiêu chí đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp. Ta có thể thấy được sự phát triển vốn điều lệ của VIBank qua các năm như sau:
- Bảng 4: Vốn điều lệ của Ngân hàng VIBank qua các năm 2021 – 2025
- Biểu đồ 4: Mức tăng trưởng về vốn điều lệ của ngân hàng VIB bank
Như vậy qua việc điểm qua tình hình hoạt động của 3 Ngân hàng Thương mại CP cho thấy: các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam còn rất non trẻ,lâu đời nhất duy chỉ có Eximbank (thành lập từ 2008) đến nay là gần được 18 năm còn lại hầu hết các ngân hàng mới chỉ có thời gian hoạt động dao động trong khoảng từ 10 đến 15 năm ( như VIBank thành lập từ 2015 – 11 năm, Techcombank thành lập từ 2012 – 14 năm, cũng tương tự đối với hầu hết các ngân hàng khác, người đọc có thể tham khảo thêm ở phụ lục số 2,3 ). Một đặc điểm nổi bật nữa là trong thời gian đầu hoạt động cả 3 ngân hàng đều không đáp ứng được số vốn điều lệ tối thiểu. Tuy nhiên, trong thời gian qua các ngân hàng đã nỗ lực cùng với toàn ngành ngân hàng đẩy nhanh chương trình cơ cấu lại để bắt kịp với tiến trình hội nhập của Việt Nam và điều mà cả 3 ngân hàng đã làm được là đáp ứng đủ và vượt yêu cầu về vốn điều lệ của Ngân hàng Nhà nước. Mặc dù vậy quy mô vốn của các Ngân hàng Thương mại CP này vẫn còn quá nhỏ bé so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong 3 ngân hàng nêu trên thì Techcombank là ngân hàng có số vốn điều lệ lớn nhất thì cũng chỉ là 1500 tỷ VND (tương đương 94 triệu USD- tỷ giá USD/VND=16000) . Nếu như đem những con số này so sánh với số vốn của một số ngân hàng nước ngoài đã mở chi nhánh tại Việt Nam như ANZ; Citibank hay HSBC thì con số này quả là quá nhỏ bé. Nhấn mạnh rằng chỉ giám so sánh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam thôi (vì với tiềm lực kinh tế như hiện nay có lẽ sẽ phải mất một thời gian khá xa để VN có thể so sanh trực tiếp các NH của mình với các NH của các nước trên thế giới!!)Theo bảng cân đối kế toán năm 2025 cuả ANZ ( phụ lục số 9) thì trong tổng tài sản 335 771 triệu USD số vốn cổ phần của ngân hàng này chiếm tới 19 872 triệu USD (với số vốn điều lệ là 8271 triệu USD). Còn chi nhánh của NH này tại Việt Nam theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì số vốn điều lệ cũng lên tới 20 triệu USD. Cũng tương tự từ nguồn đáng tin cậy này ta có thể tham khảo thêm một số số liệu khác như: Chinfon Com Bank (Đài Loan) với số vốn pháp định là 30 triệu USD, City bank ( Mỹ ) là 20 triệu USD, Sumitomo-Mitsui Banking Corporation (Nhật Bản)(SMBC) với số vốn 15 triệu USD…..(Và còn rất nhiều chi nhánh NH nước ngoài khác mà người đọc có thể tham khảo ơ phụ lục số 3 với các số liệu lấy từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ). Rõ ràng không thể phủ định những nỗ lực của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần VN dưới sự dẫn dắt và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nâng cao số vốn điều lệ của NH mình để có thể trước mắt đối mặt với các chi nhánh NH ở nước ngoài tại VN. Nhưng đó chỉ là một thành công nhỏ so với cả một chặng đường dài và khó nhọc phía trước khi mà cánh cửa hội nhập đang dần phải mở một cách rộng rãi hơn với các tổ chức tài chính quốc tế trong điều kiện và các cam kết hội nhập như hiện nay ở nước ta. Phải nói thêm rằng với uy tín và tiềm lực tài chính hùng mạnh như đã liệt kê ở trên thì áp lực mà các ngân hàng Việt Nam sẽ phải chịu trong thời gian tới là rất lớn. Càng đặc biệt hơn khi thời hạn mà Việt Nam phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường tài chính không còn xa!. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhận xét: Về vốn điều lệ: các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam trong những năm vừa qua mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc tăng vốn điều lệ nhưng hầu hết các ngân hàng đều chưa hoàn thành mục tiêu đề ra. Theo chiến lược NHNN đặt ra, đến năm 2030 các ngân hàng lớn ít nhất phải đạt 500 triệu USD; các ngân hàng nhỏ và vừa phải đạt từ 50 đến 100 triệu USD. Tuy nhiên, cho tới nay đã là năm 2025, trong số các Ngân hàng Thương mại Cổ phần xem xét tới NH có số vốn điều lệ lớn nhất đó là Ngân hàng Thương Mại cổ phần Kỹ thương cũng chỉ có 1500 tỷ VND tương đương với 94 triệu USD, còn lại các ngân hàng khác chỉ có số vốn khiêm tốn khoảng 5 – 10 triệu USD. Nếu như đem so sánh với các Ngân hàng Thương mại nước ngoài thì có thể nói các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam có số vốn ít hơn rất nhiều lần: Citibank (Mỹ) 85 381 triệu USD, Credit Lionnais (Pháp) 337,6 tỷ USD, ngay cả so sánh với khu vực thì Ngân hàng Thương mại lớn nhất Việt Nam cũng chỉ có số vốn bằng 1/5 số vốn của một ngân hàng trung bình. Với số vốn tự có thấp như vậy ngân hàng sẽ không có khả năng cung cấp các khoản tín dụng lớn (theo quy định mức cho vay tối đa đối với một khách hàng là bằng 15% vốn tự có), tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đồng thời gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình cải tiến công nghệ.
Việc vốn tự có của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam quá nhỏ bé ngoài nguyên nhân do các ngân hàng của ta mới được thành lập còn do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác. Thứ nhất, là chúng ta chưa có một hệ thống pháp luật thực sự cởi mở, thông thoáng cho phép các Ngân hàng Thương mại CP chủ động hơn nữa trong việc huy động vốn cổ phần. Thứ hai, là trong tâm lí của người dân Việt Nam vẫn còn tồn tại ý thức là “ngại rủi ro“. Do đó họ chỉ thích đầu tư vào các ngân hàng nhà nước. Nguyên nhân cuối cùng thuộc về bản thân các Ngân hàng Thương mại CP đó là bản thân các ngân hàng chưa nỗ lực hoặc chưa có các giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn từ các nhà đầu tư.
- Thực trạng về trình độ công nghệ của các Ngân hàng Thương mại CP:
Trong bối cảnh HNQT hầu hết các ngân hàng đều nhận thức được vai trò then chốt của công nghệ trong định hướng phát triển của mình. Trong hiện tại và cả tương lai, công nghệ sẽ là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và góp phần mang lại các dịch vụ tiện ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mang lại thành công và sức cạnh tranh trong quá trình phát triển.
Nhận thức được vấn đề này, ngay từ năm 2012, khi Techcombank được thành lập, ngân hàng đã xác định đầu tư công nghệ tin học là một trong những mục tiêu hàng đầu để phát triển ngân hàng. Do đó ngân hàng đã mua phần mềm của SIBA và FPT. SIBA được ứng dụng cho các hoạt động như kế toán, tiền gửi, tiền vay, tiết kiệm, L/C. Trong mấy năm qua Techcombank luôn chú trọng tới việc phát triển nâng cao công nghệ thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và yêu cầu tác nghiệp ngân hàng. Năm 2020 Techcombank đã kết nối hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT). Năm 2021 Techcombank đã tạo một bước tiến về công nghệ bằng việc cho ra mắt sản phẩm Homebanking và chuyển sang sử dụng phần mềm Globus. Globus là hệ thống quản trị ngân hàng hoàn chỉnh từ hệ thống giao dịch ngân hàng bán lẻ cho đến quản trị nguồn vốn, tài trợ thương mại, quản trị thông tin quản lí MIS và quản trị rủi ro. Trong 2024, Techcombank đã nâng cấp thành công phần mềm quản trị ngân hàng lõi ( core banking ) từ phiên bản Globus lên phiên bản T24 ( T24r5 ) của nhà cung cấp các giải pháp ngân hàng hàng đầu thế giới Temenos.Hệ thống phần mềm quản trị ngân hàng T24r5 với các tính năng tiên tiến nổi bật như hỗ trợ đa máy chủ, cải thiện đáng kể tốc độ hạch toán và truy xuất thông tin, cho phép thực hiện tới 1000 giao dich ngân hàng/giây, cùng lúc cho phép tới 110000 người truy cập, và quản trị tới 50 triệu tài khoản khách hàng. T24r5 cũng hỗ trợ thực hiện giao dịch qua hệ thống bị ngừng trệ trong thời gian quyết toán theo phương thức khóa ngày truyền thống. Một phần mềm quan trọng khác cũng được Techcombank khai trương trong năm 2024, đó là hệ thống phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ Compass Plus, hệ thống thẻ mới và hiện đại này đã cung cấp cho Techcombank những ứng dụng công nghệ tiên tiến theo các chuẩn mực quốc tế., tạo điều kiện cho Techcombank chủ động xây dựng một hệ thống sản phẩm thẻ đa dạng có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong lĩnh vực thẻ. Cũng trong năm 2024, Techcombank đã ký kết thỏa thuận hợp tác với công ty điện toán và truyền số liệu VDC, qua đó 2 bên sẽ hợp tác với nhau trong việc gắn kết cơ sỏ hạ tầng Thông tin và Truyền thông – Ngân hàng để cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng cho khách hàng và người sử dụng. Với nền tảng công nghệ hiện đại đã xây dựng được, Techcombank có định hướng tung ra thị trường một loạt các sản phẩm mới mang hàm lượng công nghệ cao, đặc biệt là các sản phẩm, hướng tới khối khách hàng thể nhân, phục vụ chiến lược bán lẻ của ngân hàng trong giai đoạn sắp tới
Cũng như Techcombank, ACB và Eximbank cũng rất chú trọng đến việc áp dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào quy trình hoạt động và giao dịch ngân hàng nhằm mục đích cung cấp cho khách hàng các dịch vụ một cách nhanh chóng, an toàn, thuận tiện nhất đồng thời cũng là để giảm thiểu các giấy tờ lưu chuyển trong nội bộ hệ thống. Chính vì vậy cả ACB và Eximbank đều tham gia Hội viễn thông Tài Chính Liên Ngân hàng toàn thế giới (SWIFT) nhằm đảm bảo phục vụ khách hàng trên toàn thế giới 24/24. Ngân hàng ACB bắt đầu trực tuyến hoá các giao dịch ngân hàng từ tháng 10/2020 thông qua hệ quản trị ngân hàng bán lẻ TCBS (The complete banking solution), có cơ sở dữ liệu tập trung và xử lí giao dịch theo thời gian thực.
ACB còn sử dụng dịch vụ tài chính Reuters gồm Reuter Monitor cung cấp mọi thông tin tài chính và công cụ mua bán ngoại tệ Reuter Dealing System. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Việc giao dịch giữa các ngân hàng với ngân hàng nhà nước đều được tiến hành thông qua hệ thống thanh toán bù trừ điện tử. Hình thức này đã thay thế hình thức trao đổi trực tiếp bằng chứng từ, nhờ đó thời gian được rút ngắn, đảm bảo độ chính xác cao.
Bên cạnh việc chuẩn hoá quy trình hoạt động cho phù hợp với nhu cầu hội nhập, các ngân hàng còn tập trung vào việc tập trung nghiên cứu và đưa vào hoạt động các dịch vụ như ATM, Home banking, Internet banking, Mobile banking. Những dịch vụ ngân hàng hiện đại này đã làm thay đổi thói quen dùng tiền mặt của khách hàng. Giờ đây chỉ với một chiếc thẻ khách hàng có thể rút tiền ở mọi lúc, mọi nơi. Khách hàng không phải mang theo tiền mặt nên có thể tránh bị mất cắp, tiền được đảm bảo an toàn. Với hàng ngàn máy rút tiền tự động ở khắp nơi làm cho các giao dịch ngân hàng không còn hạn chế về không gian, thời gian. Đặc biệt, trong những năm vừa qua 11 ngân hàng (cả Ngân hàng Thương mại CP và quốc doanh) cùng tham gia liên minh thẻ ATM nghĩa là khách hàng có thể thực hiện việc rút tiền từ các tài khoản gửi tại các ngân hàng khác nhau ở cùng một máy ATM. Điều này đã tạo lên một liên minh vững chắc trong việc cung ứng dịch vụ rút tiền tự động.
Nhận xét: Nhìn chung là quốc gia đi sau nên Việt Nam có điều kiện “đi tắt đón đầu” nghĩa là áp dụng các thành tựu công nghệ mới nhất. Trong thời gian qua các ngân hàng đã có rất nhiều cố gắng tuy nhiên so với các nước khác trong cùng khu vực và so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì các sản phẩm dịch vụ của các Ngân hàng Thương mại CP trên còn kém xa về mức độ hiện đại, tự động hoá và tiện dụng.
- Thực trạng năng lực quản trị điều hành, trình độ cán bộ của các Ngân hàng Thương mại CP:
Trong quá trình hội nhập mọi thứ đều mới mẻ, từ quy trình quản lí đến quy trình hoạt động, tư duy về quản trị, tư duy về kinh doanh và kể cả phong cách phục vụ của nhân viên. Do đó đòi hỏi các ngân hàng cần có sự cải tổ toàn diện từ cán bộ làm công tác quản lí, cán bộ tác nghiệp và nhân viên. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lí nhân sự, ngay từ khi thành lập Techcombank đã rất chú trọng tới hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Từ một ngân hàng chỉ có vẻn vẹn 20 nhân viên, tính đến ngày 31/12/2024 Techcombank đã có trên 1039 cán bộ nhân viên, trong đó 4% cán bộ có trình độ trên đại học, 80% cán bộ công nhân viên có trình độ cao đẳng và đại học. Techcombank đã xây dựng cho mình một hệ thống chương trình đào tạo nhân sự tương đối hoàn chỉnh từ việc phân tích xác định nhu cầu đào tạo tới việc sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu đào tạo. Sở dĩ có được kết quả này là do Ban lãnh đạo của Techcombank đã thực sự quan tâm, đầu tư đáng kể và có những chỉ đạo đúng đắn và kịp thời. Trải qua chặng đường hơn 10 năm, công tác quản lí nhân sự của Techcombank đã có những bước tiến đáng kể cả về chất và lượng, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các mục tiêu chung của ngân hàng.
Đối với ACB, ngân hàng có hơn 90 chi nhánh phân bố ở khắp 3 miền đất nước công tác quản lí nhân sự càng được chú trọng. Để có thể quản lí được đội ngũ nhân viên của mình hoạt động một cách thống nhất và hiệu quả đòi hỏi Hội đồng quản trị, Ban giám đốc ngân hàng cần có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực, quy trình quản trị đồng bộ và đặc biệt là cần có một chính sách đãi ngộ hợp lí, công bằng. Đến cuối năm 2022 ACB đã có đội ngũ cán bộ công nhân viên là 1.286 người và tới 2025 con số này lên tới 2892 người, trong đó cán bộ có trình độ đại học là 2468 và trên đại học 104 người. Với mục tiêu xây dựng một đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp ACB đã luôn đầu tư cho công tác đào tạo nâng cao nghiệp vụ. Trong hai năm 2017 – 2018 ACB được công ty Tài chính Quốc tế (IFC) tài trợ một chương trình trợ giúp kĩ thuật chuyên đề đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên, do ngân hàng Far East Bank và Trust company của Philippin thực hiện. Để đáp ứng với những yêu cầu mới, trong năm 2023 và 2024 các cấp điều hành ngân hàng cũng đã tham gia các khoá học về quản trị ngân hàng của Trung tâm đào tạo Ngân hàng.
Nhìn chung, các ngân hàng đều nhận thức được vai trò trung tâm của yếu tố con người trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Những thành tựu mà các ngân hàng đạt được trong thời gian qua là rất đáng khen. Tuy nhiên với đòi hỏi của quá trình hội nhập thì như vậy là chưa đủ. Trong những năm tới để có thể khẳng định vị thế của mình trên thị trường tài chính, các ngân hàng phải tiếp tục đầu tư cho hoạt động này một cách thích đáng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhận xét : Về Yếu tố con người: Trong mọi hoạt động kinh tế xã hội con người luôn đóng vai trò là yếu tố trung tâm. Trong lĩnh vực ngân hàng con người còn đóng vai trò quan trọng hơn nữa do đây là một loại hình dịch vụ, việc duy trì quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là nhiệm vụ trung tâm cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Sự thành công của một ngân hàng không chỉ cần có sự đóng góp của đội ngũ công nhân viên giỏi mà còn cần những người lãnh đạo nhạy bén và sáng suốt. Xét một cách toàn diện, trong vài năm trở lại đây trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lí tại các Ngân hàng Thương mại CP đã được nâng lên trông thấy. Hầu hết các cán bộ quản lí ở các Ngân hàng Thương mại CP đều có trình độ đại học và trên đại học do đó họ được trang bị những kiến thức rất cơ bản về quản trị ngân hàng, về kinh doanh và về thị trường. Chính vì vậy những quyết định họ đưa ra chính xác và kịp thời hơn.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ quản lí ngân hàng cũng đã chú trọng hơn tới công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ theo hướng chuyên nghiệp cao. Các Ngân hàng Thương mại luôn hướng tới mục tiêu đào tạo đội ngũ nhân viên năng động, sáng tạo và chuyên nghiệp. Công tác đào tạo nghiệp vụ, vi tính, ngoại ngữ, nghiệp vụ marketing được các ngân hàng tiến hành thường xuyên. Có nhiều ngân hàng đã xây dựng cho mình những trung tâm đào tạo riêng với đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm, trang thiết bị hiện đại thậm chí các ngân hàng còn thường xuyên cử các cán bộ đi công tác và học tập tại các nước phát triển để học tập những công nghệ tiên tiến.
Nhìn chung, đội ngũ nhân viên ngân hàng đã phần nào tạo được hình ảnh và phong cách phục vụ mới. Nói tới nhân viên ngân hàng khách hàng không còn ấn tượng về phong cách phục vụ của một thời quan liêu bao cấp. Nhiều ngân hàng đã tạo cho nhân viên của mình những phong cách phục vụ rất riêng như Techcombank, ACB…!
Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm qua, hoạt động quản lí nhân sự của các Ngân hàng Thương mại CP đã có những bước tiến cả về lượng và về chất. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học của các ngân hàng đạt trung bình trên 70%. Đạt được điều này là do các ngân hàng đã có những chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân sự hợp lí như: có những chính sách khuyến khích động viên kịp thời, tạo môi trường làm việc và học tập thuận lợi, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực và trình độ của họ.
Mười năm là thời gian dài tuy nhiên vẫn chưa đủ để xoá bỏ hẳn phong cách làm việc theo chế độ quan liêu bao cấp đã tồn tại mấy chục năm. Do đó việc quản lí nhân sự của các ngân hàng vẫn còn một số bất cập. Thứ nhất, một số cán bộ làm công tác quản lí vẫn còn nặng tư tưởng kinh doanh thời quan liêu bao cấp, một số khác lại chưa được đào tạo cơ bản về kinh tế thị trường nên các quyết định họ đưa ra phần thì kém nhanh nhạy, phần thì sai lầm. Điều này đã dẫn tới những sai sót đáng tiếc trong quá trình điều hành ngân hàng. Thứ hai là đội ngũ nhân viên, mặc dù đã được đào tạo rất cơ bản nhưng do việc đào tạo ồ ạt, ngắn hạn nên bộc lộ những vấn đề về chất lượng đào tạo. Một số ít được đào tạo tại một số nước phương Tây, được trang bị kiến thức thị trường và phương pháp luận khá tốt, tuy nhiên khả năng vận dụng lí luận vào thực tế còn hạn chế.
Ngoài ra, một vấn đề nổi cộm trong các Ngân hàng Thương mại CP là trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ còn kém. Đặc biệt, trong đội ngũ lãnh đạo có rất ít người thành thạo ngoại ngữ và vi tính. Trong điều kiện hội nhập, ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp, kí kết hợp đồng, trao đổi thông tin sẽ là ngoại ngữ chính vì thế các ngân hàng cần khắc phục ngay tình trạng này. Các ngân hàng cần phải cố gắng hơn nữa trong việc xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực và quy trình quản lí nhân sự thống nhất đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
2.2.2.2 Các nhân tố tác động và hỗ trợ:
- Yếu tố cung ứng – Khả năng huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại CP và nhà cung cấp công nghệ:
Nếu như vốn tự có là cơ sở ban đầu đảm bảo cho sự an toàn của ngân hàng thì nguồn vốn huy động là điều kiện tiên quyết cho việc mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Với một nguồn vốn lớn các ngân hàng sẽ có khả năng cung cấp các khoản tín dụng lớn, giảm bớt rủi ro, cải tiến công nghệ từ đó có thể cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng thì vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, để có thể huy động vốn đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại CP phải có uy tín. Mà điêù đó thì lại phụ thuộc vào tiềm lực tài chính của ngân hàng. Với một số vốn tự có ít như đã phân tích như trên thì việc huy động được một nguồn vốn lớn là một bài toán khó đối với các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam.
Theo chủ trương của chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, chuẩn bị cho hội nhập quốc tế ngân hàng nhà nước đã chỉ đạo: “Các tổ chức tín dụng thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Phương hướng chỉ đạo là vậy nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều yếu tố hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các ngân hàng.
Theo bảng cân đối kế toán của ngân hàng VIBank cho tới ngày 31/12/2025 tổng nguồn vốn của ngân hàng này là 16 526,623 tỷ VND thì trong đó tổng nợ đã lên tới 15 336,692 tỷ VND. Như vậy, với phép chia đơn giản ta có thể thấy nguồn vốn huy động và đi vay chiếm tới 92,8 %. Đây không phải là một tỷ lệ an toàn cho hoạt động của một ngân hàng. Nếu như phân theo đối tượng, nguồn vốn huy động của ACB trong năm qua chủ yếu được hình thành từ các nguồn sau:
- Từ tiền gửi của các tổ chức tài chính: 30%
- Từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế và cá nhân: 59%
- Từ các nguồn khác: 3%
Biểu đồ 5: Cơ cấu nguồn vốn năm 2025 của Ngân hàng VIBank
Phải nói rằng để mà hoàn thiện ngay thì không phải là một điều đơn giản! Từ số liệu trong báo cáo hoạt động và từ biểu đồ cơ cấu nguồn vốn của VIBank thì so với chính bản thân ngân hàng thì không phải không có những bước tiến triển. So với năm 2024, hoạt động nguồn vốn của Ngân hàng Quốc Tế đạt mức tăng trưởng khá cao. Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2025 đạt 16.526 tỷ đồng, tăng 84% so với năm trước. Vốn chủ sở hữu đạt 1.190 tỷ đồng, tăng 200% so với cuối năm 2024. Vốn điều lệ tăng lên 1000 tỷ đồng không những tạo thêm nguồn vốn đáp ứng yêu cầu kinh doanh của Ngân hàng Quốc tế, đặc biệt là nguồn vốn trung dài hạn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn khi mở rộng kinh doanh, mà còn tạo điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng. Vốn huy động từ các tổ chức tài chính tại thời điểm 31/12/2025 đạt 5.112 tỷ, bằng 179% so với đầu năm và chiếm 31% tổng nguồn vốn. Trong đó tiền gửi của các tổ chức tài chính đạt 5.045 tỷ đồng, chiếm 98% tổng nguồn vốn huy động từ các tổ chức tài chính. Việc tăng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng cùng với kết quả hoạt động tăng cường cao và an toàn, uy tín giao dịch trên thị trường và các quan hệ hợp tác được duy trì tốt đã dẫn đến việc các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam tăng hạn mức tiền gửi tại Ngân hàng Quốc tế. Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư đạt 9.814 tỷ đồng, bằng 186% so với đầu năm và chiếm 59% tổng nguồn vốn. Có thể là khiêm tốn so với những số liệu chuẩn trên thị trường Ngân hàng trên thế giới nhưng cũng được coi là một kết quả đáng ghi nhận trong điều kiện phải đối mặt với sự cạnh tranh của các NH tương tự.[ nguồn: báo cáo hoạt động năm 2025 của ngân hàng VIBank] Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Phải thừa nhận rằng năm 2025 đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng đối với thị trường tài chính và việc huy động vốn của Techcombank không nằm ngoài những ảnh hưởng của năm. Năm 2025 là một năm đặc biệt đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, lượng vốn đổ vào thị trường chứng khoán đã tăng lên đáng kể. Nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư rót vào thị trường chứng khoán tăng mạnh. Thực tế đã đặt ra thử thách không nhỏ cho công tác huy động vốn của Techcombank nói riêng, của các ngân hàng thương mại nói chung. Tuy nhiên, công tác huy động vốn của Techcombank trong năm 2025 của Techcombank tiếp tục là điểm nhấn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ( Bảng dưới ). Vốn huy động từ dân cư trong năm 2025 đạt 6.684,45 tỷ đồng tăng 72% so với năm 2024 chiếm 46% trong cơ cấu huy động chung của ngân hàng. Bên cạnh đó việc mở rộng mạng lưới từ 46 điểm thời điểm cuối năm 2024 lên đến gần 80 điểm cuối năm 2025, huy động dân cư còn được thúc đẩy nhờ vào chính sách chăm sóc khách hàng và những cải tiến liên tục trong quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ, tăng thêm tiện ích cho các khách hàng. Đặc biệt nhờ việc chú trọng phát triển sản phẩm huy động tiết kiệm nên công nghệ tài khoản như Tiết kiệm đa năng, Tiết kiệm trả lãi định kỳ, Tiết kiệm giáo dục…, các sản phẩm huy động vốn cải tiến khác cũng đang dần dần thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của khách hàng. Các chương trình khuyến mại, tặng quà… cũng đã góp phần quan trọng trong công tác huy động vốn của NH [nguồn: báo cáo dịch vụ khách hàng cá nhân của NH Techcombank năm 2025].Nhìn chung việc tăng được hiệu quả huy động vốn trong tinh hình thức tế nhiều những thách thức đó thực sự là những dấu hiệu tốt cho thị trường tài chính cũng như các NH TM nước ta.Tuy nhiên sẽ vẫn còn nhiều việc phải làm trong bối cảnh hội nhấp sắp tới và có lẽ việc huy động vốn sẽ vẫn còn phải là điểm nhấn trong những năm tiếp theo của các NH nếu như muốn phát huy thế mạnh của mình!
- Bảng 5: Cơ cấu huy động vốn của Techcombank 2024-2025
Tuy nhiên giống như VIBank, Techcombank cũng ở trong tình trạng tỷ lệ Tổng nợ/tổng tài sản luôn >90%. Kể từ năm 2020 tổng tài sản của Techcombank luôn tăng. Lượng vốn mà Techcombank huy động được từ dân cư, tính đên cuối năm 2025 đạt 6.684 tỷ đồng tăng 172%(so với năm 2024), theo như bảng cân đối trong báo cáo tài chính của Techcombank, tổng tài sản (năm 2025 ) đạt 17.326,353 tỷ VND, tăng 162,44% so với cùng kì năm ngoái (năm 2024 đạt 10.666,106 tỷ VND). Trong khi, tại thời điểm đó vốn điều lệ của Techcombank ( mặc dù đã tăng ) là 1500 tỷ VND như vậy tỷ trọng của nguồn vốn huy động là 91.34%.( mặc dù vẫn trên ngưỡng 90% nhưng cũng đã giảm đi rất nhiều so với năm 2023 con số này vẫn là 97.5%- với cách tính tương tự).Ta có thể tham khảo biểu đồ cơ cấu huy động vốn của Techcombank năm 2025:
- Biểu đồ 6: Cơ cấu huy động vốn của Techcombank năm 2025
Đối vơi ngân hàng Eximbank, mọi số liệu đều khá hơn nhưng cũng không thoát khỏi tình trạng chung:giá trị tài sản và vốn điều lệ đều tăng qua các năm theo như báo cáo thường niên năm 2025 của ngân hàng Eximbank tính đến 31/12/2025 thì tổng tài sản của ngân hàng này là 18 324 tỷ đồng tăng 61,17% so với năm 2024 ( đạt :11 369 tỷ đổng ), đạt 122% so với kế hoạch đầu năm. Tuy nhiên với số vốn điều lệ năm 2025 là 1212 tỷ VND thì cơ cấu nguồn vốn này chưa hẳn đã là an toàn. ( tính ra tỷ lệ nợ trên tài sản vẫn là : 93,38% ) Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
- Biểu đồ 7,8: Mức tăng trưởng Vốn điều lệ và Tài sản của Eximbank từ 2021 – 2025
Nhìn chung, việc huy động vốn của các ngân hàng còn nhiều bất cập. Trong đó vấn đề nổi bật là cả 3 ngân hàng đều duy trì một cơ cấu nguồn vốn không hề an toàn: trước tiên là tỷ trọng tài sản nợ là quá lớn (>90%), một vấn đề nữa là nguồn vốn huy động chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn (tiền gửi thanh toán, tiền kí quỹ, tiền gửi của các Tổ chức tín dụng và cá nhân) và không ổn định.( tham khảo thêm biểu đồ cơ cấu huy động vốn của các ngân hàng ở trên ). Hiện nay một số ngân hàng đã áp dụng một phương pháp mới trong việc huy động vốn của mình đó là “ lấy nhiều cái nhỏ để có thể đối xứng với một cái lớn”, cụ thể Ngân hàng Techcombank đã áp dụng: việc huy động vốn 2 lần liên tiếp một trong thời hạn 2 năm, một trong thời hạn 3 năm để đáp ứng nhu cầu vay vốn trong vòng 5 năm của khách hàng. Điều này giải quyết một phần bài toán về nhu cầu vay vốn trung và dài hạn, phương pháp này sẽ giúp làm giảm một phần chi phí huy động vốn đồng thời không bỏ qua khỏan lợi nhuận từ nhu cầu vay vốn thòi hạn 5 năm ( hoặc tương tự ), tất nhiên nội dung cụ thể để tính lãi suất và chi phí là rất phức tạp và còn nhiều điều phải bàn tới. Trong giới hạn bài khóa luận, người viết chỉ xin phép được liệt kê mà không dám đi sâu vào nội dung cụ thể với mục đích chính là đưa ra thực trạng về huy động vốn hiện nay cua một số Ngân hàng và hướng giải quyết của họ mà không phải là một vấn đề chuyên môn !
Một vấn đề khác là mặc dù tổng tài sản đã vượt quá nhiều lần so với số vốn điều lệ nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn của nền kinh tế. Bằng chứng là những khoản tín dụng lớn vẫn phải do các ngân hàng nước ngoài cung cấp, như vừa qua ngân hàng Citibank đã cấp một khoản tín dụng là 106,52 triệu USD để chính phủ Việt Nam mua chiếc máy bay Boeing 777 – 200 ER.
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này có lẽ là do số vốn điều lệ của các ngân hàng quá nhỏ bé, do đó hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các ngân hàng. Bên cạnh đó, xét một cách công bằng thì các Ngân hàng Thương mại CP đã rất nỗ lực trong việc thực hiện các chiến lược huy động vốn như mở rộng các loại hình tiết kiệm, có các hình thức khuyến khích khách hàng gửi tiền nhưng tâm lí khách hàng là vẫn tin tưởng vào các Ngân hàng Thương mại QD hơn (do các Ngân hàng Thương mại QD thuộc sở hữu của nhà nước), mặt khác do hiệu quả hoạt động của nhiều Ngân hàng Thương mại CP còn chưa tạo được niềm tin với khách hàng.
Nhận xét: Về huy động vốn: Vốn điều lệ quá nhỏ dẫn tới một loạt khó khăn khác đối với hệ thống Ngân hàng Thương mại CP. Khó khăn lớn nhất mà các Ngân hàng Thương mại phải đối mặt đó là hạn chế khả năng huy động vốn. Đại đa số các Ngân hàng Thương mại CP đều không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch huy động vốn. Mà nguồn vốn huy động được chủ yếu nguồn vốn ngắn hạn (tiền gửi thanh toán, tiền kí quỹ, đảm bảo thanh toán, tiền gửi tiết kiệm ), tính ổn định của các nguồn vốn này thấp trong khi đó chi phí huy động lại cao. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại ở đây là mặc dù khối lượng tài sản có của hệ thống ngân hàng tăng lên một cách nhanh chóng, nhưng vẫn bị World Bank đánh giá là chưa thực hiện đầy đủ chức năng tài chính của nó trong nền kinh tế thị trường bao gồm các chức năng tiết kiệm và phân bổ tín dụng cho các khu vực kinh tế của nền kinh tế một cách hiệu quả.
So với các nước khác trong khu vực, mức huy động vốn/ GDP dù đã có sự tăng trưởng nhanh từ 23% năm 2018 lên 34% năm 2022 nhưng vẫn chỉ bằng 1/3 của Hàn Quốc và bằng 1/5 của Trung Quốc. Qua con số ước tính thì chỉ khoảng 30% số tiền tiết kiệm của dân chúng được gửi trong ngân hàng. Điều này khiến cho các nhà hoạch định chính sách ngân hàng cần phải suy nghĩ.
Đó là con số huy động của cả hệ thống ngân hàng. Nếu chỉ tính riêng hệ thống Ngân hàng Thương mại CP thì con số này con khiêm tốn hơn nữa. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này bên cạnh lí do vốn tự có thấp còn có các lí do khác. Thứ nhất đó là do tâm lí của người dân Việt Nam vẫn chưa tin tưởng vào các Ngân hàng Thương mại CP, mặc dù các ngân hàng đã rất cố gắng trong việc tăng lãi suất huy động. Và quả thật với những gì các Ngân hàng Thương mại CP thể hiện thì cũng chưa đủ sức thuyết phục khách hàng. Thứ hai, là do thị trường tiền tệ của Việt Nam chưa ổn định, mức độ đô la hoá còn cao nên phần lớn người dân thường hay dự trữ tiền dưới dạng vàng, ngoại tệ và bất động sản. Nếu như thị trường bất động sản không được nhanh chóng bình ổn, giá vàng vẫn tiếp tục lên như hiện nay thì các ngân hàng sẽ còn gặp khó khăn trong việc huy động vốn.
Trong bối cảnh ấy, nếu như các ngân hàng không cố gắng hơn nữa trong việc xây dựng uy tín, hình ảnh của mình trong tương lai họ sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa khi các cam kết mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng được thực hiện. Tiêu biểu là kể từ ngày 01/04 Chính phủ đã cho phép các ngân hàng thuộc Liên minh Châu Âu đang hoạt động tại Việt Nam được phép nhận tiền gửi bằng VND với tỷ lệ huy động tối đa là 250% vốn pháp định chuyển vào. Với việc điều chỉnh tỷ lệ huy động này, các ngân hàng Châu Âu đã được hưởng tỷ lệ huy động gấp 5 lần hiện nay. Hiện có 8 chi nhánh ngân hàng của các nước thuộc khối EU đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có 4 ngân hàng Pháp, 2 ngân hàng Anh, 1 của Hà Lan và 1 của Đức được hưởng sự điều chỉnh này. Các ngân hàng ngoài EU và Mỹ vẫn chỉ được huy động ở mức cũ là 50%. Và bắt đầu từ năm 2023, thời điểm mà Việt Nam phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do AFTA, hiệp định thương mại Việt Mỹ và các thách thức gia nhập WTO đang cận kề. Trước khi hướng tới thị trường thế giới, việc trước tiên mà các ngân hàng của ta phải làm là giữ vững thị phần trong nước.
Thực trạng về cung cấp công nghệ: Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và tin học hoạt động của ngân hàng cũng có nhiều đổi mới. Giờ đây trong mỗi sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cung cấp không thể không có sự tham gia của yếu tố công nghệ. Mức độ hiện đại của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được đánh giá bởi hàm lượng công nghệ hàm chứa trong sản phẩm. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Như vậy, có thể nói rằng công nghệ ảnh hưởng quyết định tới việc phát triển sản phẩm, chất lượng sản phẩm và phương thức phân phối sản phẩm đến khách hàng. Khả năng quản lí ngân hàng, khả năng quản lí rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ công nghệ của ngân hàng. Chính vì vậy, trong thời gian qua các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đã không ngần ngại bỏ số tiền rất lớn đầu tư vào công nghệ tin học.
Cho tới nay, quy trình hoạt động của các Ngân hàng Thương mại CP phần lớn đã đạt tiêu chuẩn quốc tế. 100% các ngân hàng sử dụng Internet và mạng nội bộ trong giao dịch giữa các chi nhánh và giữa khách hàng với khách hàng. Giao dịch giữa các ngân hàng trong và ngoài hệ thống được thực hiện qua hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Hệ thống này đang được tiếp tục mở rộng và vận hành an toàn, hiệu quả. Đến nay, hệ thống đã kết nối 200 chi nhánh của 50 thành viên; bình quân mỗi ngày hệ thống đã xử lí từ 8000 đến 9000 lệnh thanh toán với tổng số tiền từ 4000 đến 5000 tỷ đồng. Để nâng cao năng lực của hệ thống kể từ tháng 11/ 2022 NHNN đã đưa vào hoạt động luồng thanh toán giá trị thấp trên địa bàn Hà Nội, đến nay 38 ngân hàng thành viên đã tham gia giao dịch luồng thanh toán này, bảo đảm, chính xác.
Hoạt động thanh toán quốc tế của hầu hết các Ngân hàng Thương mại CP đều được tiến hành thông qua hệ thống SWIFT (the Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunications) và CHIPS (the Clearing House Interbank Payment System). Đây là hai hệ thống thanh toán liên ngân hàng lớn nhất kết nối tất cả các ngân hàng trên thế giới. Việc tham gia các hệ thống trên đã giúp cho các giao dịch của ngân hàng được nhanh chóng, an toàn và thuận tiện.
Việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ của tin học. Các Ngân hàng Thương mại CP đang có xu hướng liên kết với nhau nhằm mục đích cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tiện ích hơn trong suốt 24 giờ, đồng thời nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng và quản lí vốn. Trong năm vừa qua 11 ngân hàng (bao gồm cả Ngân hàng Thương mại CP và Ngân hàng Thương mại QD) đã phối hợp với nhau thành lập liên minh cung cấp thẻ ATM. Sự kiện này không những giúp khách hàng có thể tiếp cận thuận lợi các dịch vụ ngân hàng mà còn giúp các Ngân hàng Thương mại CP nâng cao năng lực cạnh tranh. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhận xét: Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng so với các ngân hàng khác trong khu vực thì công nghệ cuả các Ngân hàng Thương mại CP vẫn còn yếu kém. Các Ngân hàng Thương mại CP của ta chưa đủ trình độ thiết kế tổng thể, còn nhiều hệ thống ứng dụng tự phát triển và mang tính tạm thời để phục vụ yêu cầu kinh doanh trước mắt. Do đó việc kiểm soát còn gặp nhiều khó khăn và hệ thống có nhiều rủi ro. Đặc biệt, các ngân hàng rất thiếu nền tảng để phát triển hoặc mở rộng các ứng dụng mới.
- Yếu tố khách hàng: ( chất lượng tín dụng và nhu cầu KH ) Thực trạng chất lượng tín dụng của các Ngân hàng Thương mại CP:
Hoạt động tín dụng ngân hàng là một trong những hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, đó là do các yếu tố: có sự mất cân đối về kỳ hạn của các nguồn vốn và sử dụng vốn, sự không cân xứng về thông tin.Với tốc độ tăng trưởng tín dụng như hiện nay (khoảng 20%/năm) trong điều kiện trình độ thẩm định, khả năng dự báo, kiểm tra, kiểm soát của ngân hàng còn kém thì vấn đề đặt ra hàng đầu đối với các ngân hàng là làm thế nào để đảm bảo chất lượng tín dụng.
Nhận thức được vấn đề đó, trong Hội nghị Tổng kết hoạt động Ngân hàng năm 2024 triển khai nhiệm vụ Ngân hàng năm 2025 NHNN đã chỉ đạo: “Bên cạnh việc tăng cường huy động và cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, các Tổ chức tín dụng phải chú trọng công tác thẩm định dự án, nâng cao khả năng phân tích đánh giá và dự báo xác thực nhu cầu tín dụng nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn tín dụng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, không để nợ xấu, nợ quá hạn tiếp tục gia tăng”.
Với sự chỉ đạo sát sao của NHNN, trong những năm gần đây các Ngân hàng Thương mại CP đã hết sức nỗ lực trong việc giải quyết nợ xấu, lành mạnh hoá bảng tổng kết tài sản và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ.
Có thể thấy trong những năm 2009 các Ngân hàng Thương mại CP rơi vào tình trạng khủng hoảng thực sự do không thu hồi được các khoản nợ, tỷ lệ nợ của một số ngân hàng thậm chí có lúc đã lên tới 70 – 80% như Eximbank. Tuy nhiên với đề án cơ cấu, chấn chỉnh lại hệ thống ngân hàng các ngân hàng đã chấn chỉnh hoạt động, thận trọng hơn với các khoản cho vay mới, đồng thời chú trọng giải quyết các khoản nợ tồn đọng. Do đó, trong mấy năm gần đây ở các ngân hàng không còn xảy ra tình trạng nợ quá hạn nữa, hoặc nếu có thì cũng với một tỷ lệ nhỏ trong khả năng kiểm soát của ngân hàng. Tiêu biểu như Ngân hàng Thương mại CP Á Châu từ năm 2016, Techcombank từ năm 2019 đã không xuất hiện thêm những khoản nợ quá hạn mới.
Tuy vậy, tình hình xử lí nợ tồn đọng của các Ngân hàng Thương mại CP còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân trong đó quan trọng nhất là việc thẩm định trước khi cho vay của các ngân hàng không chính xác, do đó một số con nợ sau khi phá sản đã không còn khả năng trả nợ, còn tài sản thế chấp cầm cố lại không đủ hồ sơ pháp lí, vướng mắc trong việc định giá tài sản, công tác thi hành án chậm và tốn kém. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Nhận xét: Về hoạt động tín dụng: Hoạt động tín dụng, cho tới nay vẫn là hoạt động đem lại doanh thu chủ yếu cho các ngân hàng. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây hoạt động tín dụng cuả các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù vốn huy động được tăng nhưng các ngân hàng lại gặp phải tình trạng ứ đọng vốn.
Nguyên nhân của tình trạng này là do cơ chế lãi suất hiện nay là lãi suất thoả thuận, các ngân hàng tăng cường huy động vốn thông qua cạnh tranh lãi suất. Do đó cả các Ngân hàng Thương mại CP và Ngân hàng Thương mại QD đều phải nỗ lực giảm lãi suất cho vay để thu hút khách hàng. Mà chi phí các Ngân hàng Thương mại CP bỏ ra để huy động vốn lớn hơn so với các Ngân hàng Thương mại QD dẫn tới lãi suất cho vay cũng lớn hơn. Chính vì vậy rất nhiều khách hàng của các Ngân hàng Thương mại CP đã tìm nguồn cung ứng vốn từ các Ngân hàng Thương mại QD. Ngoài ra, việc cấp tín dụng của các Ngân hàng Thương mại CP vẫn còn chịu ràng buộc bởi nhiều nguyên tắc, thủ tục. Và điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với khu vực doanh nghiệp tư nhân. Nhiều doanh nghiệp muốn được vay vốn nhưng còn gặp nhiều khó khăn. Về phía ngân hàng cũng vẫn còn tâm lí chưa dám mạnh dạn cho vay, thủ tục cho vay thì còn phức tạp.
Bên cạnh đó còn một nguyên nhân khác, đó là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng vẫn còn đơn điệu, chủ yếu là cấp tín dụng theo đơn xin vay kèm phương án sản xuất kinh doanh. Các hoạt động khác như hình thức tín dụng theo dự án chưa được nghiên cứu phát triển, có những dự án rất khả thi nhưng không thể thực hiện do thiếu vốn điều này đã làm mất rất nhiều cơ hội của ngân hàng. Các hoạt động mua bán giấy tờ có giá trên thị trường cũng chưa được quan tâm thích đáng.
Về chất lượng tín dụng: các ngân hàng đã rất nỗ lực trong việc lành mạnh hoá tài chính, tích cực giải quyết nợ xấu tiến tới trong sạch hoá bảng tổng kết tài sản. Cho đến nay rất nhiều ngân hàng đã không có nợ quá hạn mới phát sinh ví dụ như ngân hàng ACB từ năm 97, ngân hàng Techcombank từ năm 2019. Sở dĩ có được điều này là do các ngân hàng đã thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng, các nguyên tắc và thủ tục trong quá trình cho vay được thực hiện nghiêm chỉnh. Bên cạnh đó trình độ thẩm định của cán bộ ngân hàng đã được nâng cao, khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng đã được cải thiện đáng kể.
Tuy vậy, công tác xử lí những khoản nợ tồn đọng từ những năm trước của các Ngân hàng Thương mại CP vẫn còn gặp không ít khó khăn do các nguyên nhân: một số con nợ không có khả năng thanh toán hoặc chây ỳ; một số con nợ là doanh nghiệp nhà nước đã giải thể, phá sản hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu khó có khả năng trả nợ; các tài sản được sử dụng làm tài sản đảm bảo không đủ hồ sơ pháp lí, vướng mắc trong việc định giá tài sản, công tác thi hành án chậm, chi phí theo kiện tốn kém. Tất cả những điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí và lợi nhuận của ngân hàng.
Với tốc độ tăng trưởng tín dụng như hiện nay các ngân hàng phải chú trọng hơn nữa đến công tác thẩm định dự án, nâng cao khả năng phân tích, đánh giá và dự báo sát thực nhu cầu tín dụng nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, không để nợ xấu, nợ qúa hạn tiếp tục gia tăng đồng thời phải tận thu các khoản nợ cũ.
Thực trạng về: Nhu cầu của khách hàng: Khác với những loại hình dịch vụ khác, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng trong hoạt động ngân hàng là vô cùng mật thiết. Trong một sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung ứng không thể không có sự tham gia của khách hàng. Nếu khách hàng không có nhu cầu thì sản phẩm của ngân hàng sẽ không được hình thành. Chính vì vậy nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong việc mở rộng dịch vụ ngân hàng.
Trong quá trình HNQT khách hàng của ngân hàng sẽ không chỉ là các doanh nghiệp hoạt động trong nước mà còn là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong nước và các doanh nghiệp trong nước hoạt động ở nước ngoài.
Tuy nhiên, với tiềm lực tài chính quá nhỏ bé như hiện nay thì việc có thể đáp ứng nhu cầu vốn của các công ty nước ngoài là vô cùng khó khăn. Cùng với việc xuất hiện của hàng loạt ngân hàng nước ngoài thì việc giữ được thị phần trong nước của các Ngân hàng Thương mại CP trong thời gian tới cũng đã là một cố gắng lớn.
Hiện nay khách hàng chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này đều có đặc điểm là quy mô nhỏ, cơ cấu sản phẩm đơn giản, phạm vi hoạt động rộng. Để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất tiến hành liên tục mỗi doanh nghiệp cần có nguồn vốn ổn định. Tuy nhiên, do quy mô nhỏ nên nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp này thường nhỏ và lẻ tẻ. Việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp này cũng gặp rất nhiều khó khăn do họ không có tài sản đảm bảo, cũng không có tổ chức nào đứng ra bảo lãnh. Cũng chính vì lí do đó mà nhiều doanh nghiệp có nhu cầu mà không được đáp ứng. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Một đối tượng khách hàng khác của ngân hàng mà không thể không kể đến đó là các tổng công ty nhà nước theo mô hình tổng công ty 90, 91. Mặc dù chiếm số lượng không lớn nhưng nhu cầu về vốn cũng như nhu cầu về các dịch vụ khác của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền… là rất lớn. Tuy vậy, trong mấy năm gần đây số lượng các tổng công ty sử dụng dịch vụ của các Ngân hàng Thương mại CP càng ngày càng giảm đi do nhu cầu vốn của họ quá lớn vượt xa khả năng đáp ứng của các ngân hàng.
Nhận xét: Về nhu cầu khách hàng: Đối tượng khách hàng chiếm số lượng đông nhất và cũng là đối tượng có nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất đó là khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, có thể thấy rằng phần đông khách hàng chưa hiểu biết lắm về các dịch vụ ngân hàng (đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng hiện đại ) chính vì vậy nhu cầu của họ mới chỉ dừng lại ở các dịch vụ ngân hàng truyền thống như: gửi tiết kiệm, chuyển tiền, vay vốn, thanh toán chuyển khoản…Trong những năm gần đây, mặc dù các ngân hàng đã đầu tư rất lớn để lắp đặt các máy móc thiết bị để cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, hàng loạt máy ATM đã được lắp đặt. Tuy nhiên, số người sử dụng dịch vụ này vẫn còn rất hạn chế, lí do một phần là khách hàng chưa được hiểu lắm về dịch vụ này hoặc họ chưa có nhu cầu sử dụng dịch vụ này.
Trong việc này các ngân hàng cũng có một phần trách nhiệm. Trước khi cung ứng một sản phẩm mới nào đó ra thị trường công việc đầu tiên mà các ngân hàng nên làm là nghiên cứu nhu cầu khách hàng và đặc biệt là phải mở rộng công tác tuyên truyền, hướng dẫn khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ mới.
- Cấu trúc thị trường và đối thủ cạnh tranh (hiện tại và tiềm ẩn) :
Sau quá trình đổi mới và sắp xếp lại hệ thống các ngân hàng thương mại, hiện nay hệ thống các định chế tài chính ở Việt Nam bao gồm: 6 Ngân hàng Thương mại QD, 36 Ngân hàng Thương mại CP, 5 ngân hàng liên doanh, 6 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính và mạng lưới gần 1000 Quỹ Tín Dụng Nhân Dân.
Như vậy, có thể nói các loại hình định chế tài chính là rất đa dạng và phong phú. Chính sự đa dạng và phong phú này đã dẫn tới sự cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ không dùng tiền mặt như thanh toán thẻ, các dịch vụ chuyển tiền. Điều này đã mang đến cho khách hàng của ngân hàng nhiều sự lựa chọn hơn về sản phẩm dịch vụ, chất lượng sản phẩm tốt hơn trong khi giá thành lại rẻ hơn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Theo nghiên cứu mới nhất, thì cho tới nay hệ thống Ngân hàng Thương mại QD vẫn đang chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường tài chính, sau đó là đến các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các Ngân hàng Thương mại CP, các ngân hàng liên doanh và cuối cùng là các định chế tài chính khác.
Trong năm 2012 là thời điểm mà các Ngân hàng Thương mại CP chỉ vừa mới được ra đời, các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn bị chi phối bởi nhiều ràng buộc do đó các Ngân hàng Thương mại QD gần như chiếm địa vị độc quyền: Chiếm 91% tổng thị phần tiền gửi, 89% thị phần tín dụng. Trong khi đó các Ngân hàng Thương mại CP chỉ chiếm 6% tổng thị phần tiền gửi và 7% thị phần tín dụng.
Ba năm sau đó, năm 2015 tình hình đã thay đổi rất nhiều thị phần của các Ngân hàng Thương mại QD đã giảm đi rất nhiều thị phần tiền gửi giảm 15% và thị phần tín dụng giảm 15%. Đứng ở vị trí thứ hai về thị phần huy động vốn đó là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với 11%. Điều đó cho thấy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã tạo được uy tín và hình ảnh nhất định mặc dù mới tham gia thị trường.
Năm 2018, thị phần tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại QD chỉ còn 51%, đứng thứ hai về thị phần huy động vốn là các Ngân hàng Thương mại CP với 29,9%. Điều này chứng tỏ các Ngân hàng Thương mại CP đã có được khách hàng tin cậy hơn. Đứng ở vị trí thứ 3 về thị phần huy động vốn là chi nhánh các ngân hàng nước ngoài với 14,7%, tuy vậy về thị phần tín dụng họ lại chiếm vị trí thứ 2 với 25,7%. Đây là yếu tố phản ánh sự năng động của chi nhánh các ngân hàng nước ngoài so với các ngân hàng trong nước trong việc tiếp cận thị trường.
Đến năm 2021, các Ngân hàng Thương mại QD lại tăng thị phần tiền gửi của mình lên 73,5%, thị phần tín dụng 70%. Các Ngân hàng Thương mại CP chiếm 10,3% thị phần tiền gửi và 11,8% thị phần tín dụng đứng ở vị trí thứ hai ( Cho đến nay vị trí này vẫn tiếp tục được duy trì )
Như vậy, có thể rút ra kết luận đối thủ cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại CP là rất nhiều và cũng rất mạnh: Trước tiên phải kể đến đó là hệ thống Ngân hàng Thương mại QD với một quá trình hoạt động lâu năm, hệ thống mạng lưới chi nhánh được phân phối rộng khắp lại có sự hậu thuẫn rất lớn từ nhà nước. Sau đó là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính lớn, nhạy bén với thị trường, khoa học công nghệ cao và đặc biệt là trong những năm tới các ràng buộc đối với họ sẽ dần được nới lỏng và dỡ bỏ. Bên cạnh đó không thể không nói tới các quỹ tín dụng nhân dân và các định chế phi tài chính như: Tổng công ty Bưu chính Viễn thông, các công ty bảo hiểm cũng đang tìm cách thâm nhập thị trường.
Trong thời gian tới, mục tiêu trước tiên mà các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam đặt ra đó là giữ vững thị phần trong nước và dần dần vươn ra thị trường nước ngoài. Muốn đạt được điều đó đòi hỏi các Ngân hàng Thương mại CP cần có những chiến lược kinh doanh hợp lí. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Đó là nhiệm vụ trước mắt của các Ngân hàng Thương mại, tuy nhiên các ngân hàng sẽ không đạt kết quả tốt nếu không có sự can thiệp của nhà nước. Cho tới nay vẫn chưa có một chính sách thống nhất và có hiệu quả để quản lí hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng hay nói chính xác hơn là mới chỉ có một vài nội dung của chính sách cạnh tranh được đề cập. Bên cạnh đó, hệ thống pháp lí hiện hành liên quan đến hoạt động ngân hàng còn chưa đồng bộ, chưa tạo ra một sân chơi công bằng, bình đẳng đối với các thành viên tham gia trên thị trường. Trên thực tế các Ngân hàng Thương mại QD vẫn được hưởng những ưu tiên, ưu đãi trong việc tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn hoặc trong việc khoanh nợ, dãn nợ. Chính vì vậy đã tạo cơ hội cho những biểu hiện tiêu cực trong ngành ngân hàng và gần đây đã xuất hiện những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh như đua nhau hạ lãi suất, cho vay vi phạm các quy định hiện hành. Hàng loạt vụ án lớn liên quan đến ngân hàng đã xảy ra, làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín và hình ảnh của ngân hàng.
Tóm lại, sau một quá trình tìm hiểu về thực trạng năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại CP Việt Nam có thể thấy để đưa các Ngân hàng Thương mại CP hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế thì còn rất nhiều khó khăn và thách thức cần vượt qua. Đứng trước những thời cơ, vận hội cũng như thách thức của quá trình hội nhập các Ngân hàng Thương mại CP không còn con đường nào khác là phải hội nhập và hơn thế nữa phải hội nhập thành công. Để đạt được mục tiêu đó việc trước tiên các ngân hàng cần phải làm là tự mình nhìn nhận, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, xác định thời cơ cũng như thách thức để từ đó có thể phát huy điểm mạnh khắc phục điểm yếu. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế là một quá trình khó khăn và phức tạp, nó đòi hỏi sức mạnh của cả nền kinh tế từ nhà nước đến các bộ, ngành có liên quan. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của ngân hàng


Pingback: Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng