Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
1. Tổng quan về du lịch Việt Nam
1.1 Lịch sử phát triển du lịch Việt Nam
Du lịch là một hiện tượng có mặt trong xã hội Việt Nam từ rất lâu, thời phong kiến nó được xem như là một thú chơi của “tao nhân mặc khách” thường dành cho những người có địa vị, có trình độ, hiểu biết cao tức tầng lớp thượng lưu của xã hội. Vì giai đoạn này giao thông chưa phát triển việc di chuyển chủ yếu bằng phương tiện thô sơ, các dịch vụ cũng đơn giản, chủ yếu phục vụ các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, đi lại… dó đó việc thực hiện các chuyến hành trình là rất vất vả, tốn kém và mất khá nhiều thời gian.
Thăm thú thiên nhiên, vãn cảnh chùa chiền là hai thú vui phổ biến nhất của trí thức, nho sĩ đương thời. Sử sách và tương truyền còn lưu lại, thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông từng phong “tam thiên động”-ba động đẹp nhất trời Nam, trong đó Động Hương Tích ở Chùa hương (Chùa Hương) được tôn vinh là Nam thiên đệ nhất động, Tam cốc-Bích Động (Ninh Bình) là đệ nhị và Lịch Động (Ninh Bình) là đệ tam động; một số địa điểm tín ngưỡng khác như Chùa hương, Côn Sơn-Kiếp Bạc, Yên Tử… vừa có cảnh đẹp vừa có các chùa chiền miếu mão cũng là những nơi tấp nập khách viễn phương. Tức cảnh sinh tình, thiên nhiên đã truyền cảm hứng cho nhiều ánh thơ văn còn lưu truyền cho hậu thế qua sử sách và cả dấu tích trạm khắc tại chính các danh lam thắng cảnh. Trước vẻ đẹp của Côn Sơn Nguyễn Trãi đã có những vần thơ:
- “Côn Sơn hữu tuyền kỳ thanh linh linh nhiên
- Ngô dĩ vi cầm huyền.
- Côn Sơn hũu thạch vũ tẩy đài phô bích ngô dĩ vi đạm tịch.”
Dịch ra là:
- ”Côn Sơn nước chảy rì rầm
- Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
- Côn Sơn có đá rêu phơi
- Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.”
Xét về mục đích du lịch, người xưa khởi hành vì mục đích đi ra để mở rộng tầm mắt, để chiêm ngưỡng cái đẹp, tỏ tâm thành kính với tổ tiên, thần linh…chỉ một số ít xuất phát với mục đích nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
Manh nha của ngành kinh doanh du lịch chỉ thực sự xuất hiện vào kỳ thời thực dân Pháp đô hộ nước ta. Khi sang Việc Nam, người Pháp để phục vụ cho nhu cầu của mình và tầng lớp thượng lưu đã cho xây dựng một số trung tâm nghỉ dưỡng tại đây. Phong cách du lịch cũng thay đổi theo phong cách du lịch phương Tây, tức là du lịch mang nhiều tính chất nghỉ dưỡng. Nếu như trước đây tham quan vùng núi non hiểm trở được xem là thú vui tao nhã thì người Pháp lại ưa chuộng các cao nguyên có khí hậu ôn đới và các bãi biển thuận lợi cho việc tắm biển. Một số địa điểm như Đà Lạt, Bà Nà-Núi Chúa, Nha Trang, Sầm Sơn, Cửa Lò… được đầu tư thành các khu du lịch được yêu thích thời bấy giờ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, điều kiện chiến tranh nên du lịch không có nhiều điểm thuận lợi cho du lịch phát triển. Hoạt động du lịch chỉ chủ yếu đáp ứng yêu cầu phục vụ các đoàn khách của Đảng và Nhà nước, khách Du lịch vào nước ta theo các Nghị định thư. Trong điều kiện rất khó khăn như vậy nhưng một số cơ sở du lịch Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An vẫn được đầu tư phát triển với rất nhiều những nỗ lực của những người làm công tác du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giả phóng, đất nước thống nhất, hoạt động Du lịch dần trải rộng ra các miền Tổ quốc. Trong điều kiện hoà bình đất nước chúng ta có điều kiện để khác phục và xây dựng lại các cơ sở du lịch và lần lượt mở rộng, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới từ Huế, Đà Nẵng, Bình Định đến Nha Trang, Lâm Đông, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ. Kinh tế du lịch cũng từng bước được xây dựng, các doanh nghiệp du lịch Nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu. Tháng 6 năm 1978, Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bước phát triển mới của Du lịch.Tuy nhiên trong thời gian này đất nước chúng ta còn nghèo lại quản lý theo chế độ bao cấp nên du lịch chưa là nhu cầu phổ biến. Hoạt động chủ yếu là công tác kết hợp du lịch hoặc các chuyến du lịch nghỉ dưỡng theo chế độ, đóng góp của ngành du lịch đối với kinh tế-xã hội là hạn chế.
Từ sau khi đất nước mở cửa, du lịch mới thật sự được tạo điều kiện phát triển. Đới sống của người dân ngày một nâng cao, hiện tượng du lịch trở nên phổ biến hơn. Sự mở cửa hợp tác hội nhập với thế giới khiến cho lượng du khách quốc tế vào Việt Nam thêm đông qua mỗi năm, vai trò của du lịch trong nền kinh tế ngày một tăng. Bên cạnh đó tổ chức bộ mày quản lý du lịch cũng ngày một kiện toàn, cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, thể chế hoá bằng văn bản quy phạm phát luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý. Có thể nói du lịch Việt Nam chưa bao giờ phát triển mạnh mẽ như bây giờ và sẽ còn có cơ hội phát triển mạnh hơn nữa khi nền kinh tế đang trên đà phát triển và tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
1.2 Tài nguyên du lịch của Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là một đất nước giàu tài nguyên du lịch, đây là điều kiện và tiền đề cơ bản để phát triển du lịch trong nước. Với vị trí địa lý, khí hậu và cấu tạo địa chất phức tạp đã giúp Việt Nam sở hữu một nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên giàu có. 4000 năm dựng nước và giữ nước gắn với nền văn minh sông Hồng rực rỡ, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú, đậm đà bẳn sắc dân tộc. Nhìn chung tài nguyên du lịch Việt Nam phân bố đồng đều trong phạm vi toàn quốc, vừa tập trung thành từng cụm gần đô thị lớn, các trục giao thông quan trọng thuận tiện cho việc tổ chức khai thác, hình thành các tuyến du lịch bổ sung cho nhau giữa các vùng.
1.2.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Về tài nguyên thiên nhiên du lịch, chúng ta có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn với lục địa vừa thông thương với đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không. Vị trí địa lý là tiền đề quan trọng trong việc phát triển du lịch quốc tế.
Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng, đồi núi cao nguyên đã tạo cho lãnh thổ Việt Nam sự đa dạng, phong phú về cảnh quan, hệ sinh thái độc đáo, đặc biệt là hệ sinh thái biển đảo, hệ sinh thái hồ, rừng, hang động… Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài thứ 27 trong 156 quốc gia tiếp giáp với biển trên thế giới. Đường bờ biển Việt Nam trải dài trên 360Km2 qua 15 vĩ độ với 125 bãi biển có điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển, vui chơi, giải trí như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Phan Rang, Long Thiết, Đông Hải, Vũng Tàu, Hà Tiên… Hình thái ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp và có tiềm năng phát triển du lịch lớn như Vịnh Hạ Long, Vịnh Văn Phong, Vịnh Cam Ranh… Trong đó Vịnh Hạ Long đã 2 lần được công nhận là di sản văn hoá thế giới. Trong tổng số 2700 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ nhiều đảo như: Cái Hầu, Cát Bà, Tuần Châu, Cù Lao Chàm, Phú Quí, Côn Đảo, Côn Lôn… với hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Với khoảng 50.000 Km2 địa hình Karst, Việt Nam là nước có tiềm năng du lịch hang động, thác ghềnh to lớn trong đó có 200 hang động đã được phát hiện, điển hình là động Phong Nha với chiều dài đã khai phá là 8km2 đã được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới.
Nguồn nước khoáng của nước ta phong phú và có ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch. Đến nay chúng ta đã phát hiện ra khoảng 400 nguồn nước khoáng tự nhiên với nhiệt độ từ 27 đến 1050C. Thành phần hoá học của nước khoáng rất đa dạng từ Bicatconat Natri đến Clorua Natri có độ khoáng hoá cao có gia trị đối với du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh.
Việt Nam có hệ sinh thái động thực vật-rừng đa dạng. Tính đến nay cả nước có 107 khu rừng đặc dụng, trong đó có 16 rừng quốc gia, 55 khu bảo tồn thiên nhiên và 43 khu rừng văn hóa-lịch sử-môi trường với tổng diện tích rừng bao phủ là 2.092.466 ha. Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quí giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật và khoảng 7000 loài động vật với nhiều giống đặc hữu và quí hiếm.
1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Chúng ta có khoảng 40.000 di tích lịch sử trong đó có 2500 di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng. Tiêu biểu là quần thể di tịch cố đô Huế (Tỉnh Thừa Thiên-Huế), đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Bên cạnh các di tích, văn hóa Việt Nam còn được làm giàu bởi kho tàng nghệ thuật đa dạng như chèo, tuồng, cải lương, múa rối, hát quan họ, hát xoan, hát ghẹo, các điệu lý, câu hò… trong đó Nhã nhạc cung đình Huế và cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là hai di sản văn hoá thế giới.
Các di tích lịch sử, văn hoá, cánh mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn với sinh hoạt, văn hoá, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc anh em cùng với nét riêng tinh tế của nghệ thuật ẩm thực được hoà quyện đan xen trong kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho du lịch Việt Nam có nhiều điều kiện khai thác thế mạnh văn hoá-lịch sử.
1.3 Tính mùa vụ trong du lịch Việt Nam Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Có thể có một vài nhận định về tính mùa vụ trong du lịch Việt Nam như sau:
- Việt Nam là một nước có tài nguyên du lịch thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh du lịch quanh năm.
Đất nước chúng ta trải dài qua 15 vĩ độ từ Bắc đến Nam đưa lại cho Việt Nam một sự đa dạng về khí hậu. Việt Nam là nước duy nhất ở Đông Nam Á có mùa Đông lạnh. Miền Bắc và miền Trung có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; còn ở miền Nam khí hậu nóng ẩm quanh năm, bờ biển dài phẳng mịn thuận lợi cho việc kinh doanh du lịch biển quanh năm.
Tài nguyên nhân văn ở khắp mọi nơi và phân bố trải dài theo nhiều thời điểm trong năm, do đó tính thời vụ có thể được hạn chế và có điều kiện giảm cường độ của thời vụ du lịch.
- Mùa cao điểm du lịch nội địa và du lịch quốc tế là khác nhau
Khách du lịch nội đi du lịch chủ yếu để tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan lễ hội, họ đi du lịch chủ yếu vào các tháng hè và vào các tháng đầu năm. Trong khi đó, khách du lịch quốc tế hiện nay đến Việt Nam chủ yếu với mục đích kinh doanh kết hợp du lịch do đó họ đến Việt Nam vào mùa làm ăn chính trong năm (khoảng từ tháng 10 đến tháng 3 đầu năm sau). Luồng khách du lịch mội địa lớn hơn quốc tế rất nhiều. Do vậy ở tầm vĩ mô, nếu xét riêng hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế chủ động thì thời vụ du lịch chính là vào khoảng tháng 10 cuối năm đến tháng 3 đầu năm sau, còn nếu xét hoạt động kinh doanh du lịch nói chung nước ta có hai mùa du lịch chính là mùa hè và mùa xuân.
Thời vụ du lịch, độ dài của thời vụ du lịch và cường độ biểu hiện của du lịch ở các thành phố lớn, các tỉnh và trung tâm du lịch là khác nhau. Điều này phụ thuộc vào sự phát triển và tiềm năng du lịch của từng địa phương. Một số trung tâm kinh tế như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh luôn thu hút đông đảo khách đến làm ăn công tác sau đó kết hợp luôn với mục đích du lịch nên hai nơi này lượng khách du lịch đông quanh năm và cao điểm vào một số tháng trước và sau tết. Nếu xét về mục đích du lịch thuần tuý thì một số tỉnh thành phố có lợi thế phát triển về du lịch biển như Quảng Ninh, Khánh hoà, Thanh Hoá… các tháng mùa hè là mùa du lịch chính. Một số nơi tập trung nhiều lễ hội, chùa chiền như Hà Tây, Bắc Ninh… đầu mùa Xuân là thời điểm tập trung nhiều khách thập phương. Ngoài ra một số trung tâm du lịch lớn hiện đại như Hạ Long, Nha trang… luôn có mùa du lịch dài hơn các trung tâm kém phát triển hơn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
1.4 Lao động trong du lịch Việt Nam
Hiện nay số lượng lao động làm việc trong du lịch vào khoảng 23 vạn lao động trực tiếp và 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lực lượng lao động toàn quốc và chủ yếu ở độ tuổi dưới 30 (60%). Lực lượng lao động trong du lịch ở Việt Nam cũng mang những đặc điểm chính của lao động du lịch nói chung nhưng cũng có những nét khác biệt do sự tác động của điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Lao động trong du lịch Việt Nam cũng có thể chia thành ba thành phần, nhóm lao động có chức năng quản lý nhà nước về du lịch, nhóm lao động đào tạo và phát triển du lịch và nhóm lao động kinh doanh du lịch. Trong đó nhóm lao động kinh doanh du lịch chiếm khoảng 99%, hai nhóm lao động còn lại chiếm tỉ lệ không đáng kể trong cơ cấu lao động trong du lịch.
Nhóm lao động có chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: Nhóm lao động này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch từ Trung ương đến địa phương như Bộ Thể thao Văn hoá và Du lịch, Tổng cục Du lịch, sở Du lịch hoặc sở Thương mại-Du lịch tỉnh, thành phố, phòng quản lý Du lịch ở các quận, huyện. Họ là bộ phận lao động đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển du lịch của quốc gia và của từng địa phương. Mặt khác họ cũng đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả cũng như kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh đó. Đội ngũ cán bộ, công chức ngành Du lịch hiện nay có biên chế rất hạn hẹp (Cơ quan Tổng cục Du lịch hiện có 135 biên chế; các Sở Du lịch khoảng 15 biên chế; Sở Du lịch-Thương mại và sở Thương mại-Du lịch biên chế khoảng 3-5 người), chiếm tỉ lệ không đáng kể trong cơ cấu lao động du lịch.
Nhóm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo du lịch: Đây là nhóm lao động có trình độ chuyên môn sâu chịu tránh nhiệm đào tạo và nghiên cứu trong các trường nghiệp vụ hay đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu chuyên về khoa học du lịch tại Việt Nam. Hiện tại, mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam có khoảng gần 40 trường đào tạo bậc đại học, cao đẳng; trên 30 trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và nhiều trung tâm dạy trên cả nước nghề. Công việc của những người làm công tác đào tạo và nghiên cứu du lịch có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng lao động trong du lịch Việt Nam, vai trò của họ có thể ví như những chiếc máy cái trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên bộ phận lao động này trong du lịch Việt Nam còn khá mỏng, lĩnh vực đào tạo du lịch ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tốc độ phát triển và tiềm năng du lịch Việt Nam. Tỉ lệ người làm công tác đào tạo và nghiên cứu du lịch hiện nay rất nhỏ so với tổng số lao động du lịch trong cả nước và thấp hơn khá nhiều so với các nước Đông Nam Á khác. Trong thời gian tới, nếu chúng ta không sớm có thêm các viện nghiên cứu phát triển, các trường đào tạo du lịch chất lượng cao, các phương án hợp tác giảng dậy với các nước bạn thì ngành du lịch Việt Nam sẽ có nguy cơ thiếu lớp cán bộ kế cận và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nhóm lao động kinh doanh du lịch: Ở Việt Nam, kinh doanh du lịch mới chỉ thật sự phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, nhưng với tốc độ phát triển bình quân 20% một năm, kinh doanh du lịch đang là lĩnh vực thu hút nhiều lao động. Lao động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có thể chia thành hai nhóm chính. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
- Lao động quản lý trong kinh doanh du lịch.
- Lao động thực thừa hành
Lao động quản lý trong kinh doanh du lịch: Là người làm công tác quản lý trong các cơ sở kinh doanh du lịch Việt Nam từ cấp quản lý nhỏ, vừa đến cấp cao. Do đặc thù của ngành du lịch, nhóm lao động này chiếm tỉ lệ nhỏ hơn khá nhiều so với tỉ lệ lao động thừa hành, vào khoảng 24-25% trong tổng số lao động trong du lịch. Ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp du lịch là nhỏ và rất nhỏ nên mức độ chuyên môn hoá chưa cao, nhiều người trong số họ ngoài công tác quản lý còn kiêm thêm nhiều nghiệp vụ du lịch khác.
Lao động thực hiện nghiệp vụ kinh doanh du lịch: Lực lượng này chiếm 75% số lượng lao động trong du lịch, trong đó lễ tân là 9%, phục vụ buồng là 14,8%, phục vụ ăn uống (bàn, bar) là 15%, nhân viên nấu ăn là 10,6%, nhân viên lữ hành và hướng dẫn viên là 4,9%, nhân viên lái xe, tàu du lịch là 10,6% và 36,5% còn lại là các lao động làm các nghề khác. Là đối tượng tiếp xúc trực tiếp với du khách nên có thể nói họ là những người thể hiện bộ mặt của du lịch Việt Nam, thái độ và chuyên môn của họ có ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của du khách.
Dù kinh doanh du lịch đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhưng tính chuyên môn hóa trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam chưa cao, ngoài các đơn vị kinh doanh có tổ chức và phân cấp chặt chẽ thì cũng có sự tham gia đông đảo của các cá nhân và hộ gia đình. Thông thường các đối tượng này kinh doanh du lịch nhỏ lẻ như các tiệm ăn, nhà nghỉ, cửa hàng lưu niện… họ có đặc điểm là vừa là người chủ vừa là lao động chính, vừa là người phục vụ vừa là người quản lý. Lực lượng này ở các vùng du lịch là rất đông đảo, phần lớn họ là người dân địa phương. Vì kinh doanh nhỏ lẻ nên thu nhập của họ gắn với mùa du lịch chính ở các địa điểm du lịch. Việc tận dụng thế mạnh của địa phương để kinh doanh du lịch đã giúp nhiều gia đình có thu nhập, xóa đói giảm nghèo nhưng do tính chất nhỏ lẻ và tự phát, nên khá khó khăn trong việc quản lý các đối tượng này, đặc biệt là quản lý chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp. Trong tương lai, các cấp chính quyền cần phối hợp với các cơ quan chức năng để quản lý các tiểu thương sao cho vừa để người dân có công ăn, việc làm, có thu nhập vừa đảm bảo chất lượng, hình ảnh của Việt Nam đối với du khách quốc tế.
2. Tình hình phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
2.1 Về việc thực hiện các chỉ tiêu
Từ năm 2019, du lịch Việt Nam phát triển một cánh ổn định và đóng góp vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
- Bảng 1: Số liệu du lịch Việt Nam từ năm 2019 đến 2025
Riêng trong năm 2025, là một năm Việt Nam có nhiều sự kiện lớn, tháng 11/2025, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), tiếp đó chúng ta tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh APECT. Hai sự kiện quốc tế này đã giúp thu nhập du lịch Việt Nam tăng đột biến đạt 51.000 tỷ VND tăng 62% so với năm 2024 trong đó thu nhập từ du lịch quốc tế chiếm hơn 40.000 tỷ VND, khách du lịch nội địa đạt 17.5 triệu lượt người, tăng 11% so với kế hoạch năm 2024. Năm 2026, chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm thu nhập du lịch ước tính đạt 28.000 vượt kế hoạch đề ra.
Về thị trường du lịch, có sự tăng trưởng khác nhau của mỗi phân đoạn thị trường. Trong các quốc gia Châu Á thì lượng khách du lịch Hàn Quốc và Nhật Bản tăng mạnh nhất. Anh và Đức là hai mảng thị trường du lịch tăng nhanh của Việt Nam trong số các nước Châu Âu. Với Châu Úc, lượng du khách từ Australia trong vòng 2 năm (2023-2025) đã tăng lên gần gấp rưỡi.
- Bảng 2: Số lượng khách du lịch quốc tế theo thị trường
Kết thúc năm 2025, Việt Nam đã đón được 3, 6 triệu lượt khách quốc tế, xấp xỉ gấp đôi lượng khách quốc tế so năm 2018. Đặc biệt, khách quốc tế đến nước ta trong giai đoạn này trải đều các tháng trong năm và cơ cấu khách có chuyển biến về chất. Khách từ các thị trường có sức chi trả cao đến Việt Nam năm 2025 so với năm 2019 tăng mạnh: khách Nhật tăng 235,4%, Hoa Kỳ 129,5%, Australia: 204%, Đức: 260,4%, Thuỵ Điển: 173,3%; khách Hàn Quốc và Tây Ban Nha tăng đột biến, đạt tới 537,7% và 295,3%. Lượng du khách đến Việt Nam với mục đính thuần tuý du lịch cũng có xu hướng tăng lên.
Tuy nhiên con số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam vẫn thấp nếu so sánh tương quan với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Lượng du khách đến Việt Nam chỉ khoảng hơn một phần tư so với Thái Lan và Malaysia, bằng phân nửa so với Indonexia và Singapore.
Khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh, năm 2026, tính đến hết tháng 8 đã có hơn 9 triệu lượt khách du lịch trong nước. Mức sống cao hơn cho phép người dân chi tiêu nhiều hơn cho du lịch. Không chỉ số lượng mà thu nhập từ khách du lịch nội địa cũng tăng cao. Trước đây người dân Việt Nam thường đi du lịch với quãng đường ngắn, thời gian ít, thậm chí du lịch trong ngày, thêm vào đó họ thường chuẩn bị sẵn những đồ cần thiết như đồ ăn, thức uống… nên việc tiêu thụ các dịch vụ du lịch là rất ít. Nhưng nay thói quen đó đã thay đổi, người Việt Nam ngày nay có xu hướng đi du lịch dài ngày và tiêu dùng các dịch vụ du lịch cao cấp. Theo điều tra của Tổng cục thống kê, chi tiêu trung bình cho một chuyến đi của khách du lịch nội địa vào khoảng 2 triệu đồng và thời gian chuyến đi trung bình 4-5 ngày, cao hơn rất nhiếu so với trước đây, đây là tín hiệu tốt cho kinh doanh du lịch nội địa.
Cơ sở hạ tầng du lịch Việt Nam cũng không ngừng đựơc cải thiện nhiều khu resort, khu giải trí, sân gofl v.v… đi vào hoạt động. Có khoảng 6000 xe cộ, tầu, thuyền và nhiều phương tiện khác đang được phục vụ trong du lịch. Cơ sở hạ tầng du lịch hiện nay có thể đáp ứng được nhu cầu của khoảng 17-19 triệu du khách (bao gồm cả nội địa và quốc tế). Hiện nay Việt Nam hiện có khoảng 6.000 khách sạn, cơ sở lưu trú du lịch, tổng số gần 123 ngìn buồng, phòng, trong đó có 2.575 khách sạn được xếp hạng sao. 80% số khách sạn tập trung tại một số trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thừa Thiên-Huế, Ðà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu… Thực hiện Chiến lược phát triển du lịch và Chương trình hành động quốc gia về du lịch, chúng ta đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, riêng trong 5 năm qua là 2.146 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ở các khu du lịch trọng điểm và thu hút được hơn 190 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào du lịch với tổng số vốn là 4,64 tỷ USD.
2.2 Về tổ chức quản lý Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Do những đóng góp và mặt tích cực của du lịch mang lại, nhận thức về du lịch trong các ngành các cấp và toàn xã hội đã có những chuyển biến tích cực, tạo thuận lợi cho du lịch phát triển theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Một số địa phương đã xác định du lịch là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, có nghị quyết, chỉ thị riêng về phát triển du lịch. Chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo về du lịch, do một Phó thủ tướng là trưởng ban, để chỉ đạo, phối hợp các hoạt động của các bộ ngành, địa phương đẩy mạnh du lịch của đất nước.
Cơ chế chính sách về du lịch được bổ xung, bộ máy quản lý Nhà nước, hệ thống kinh doanh du lịch được kiện toàn và xắp xếp lại một bước, hoạt động thích nghi dần với cơ chế mới. Luật du lịch và nhiều văn bản qui phạm pháp luật được ban hành hoặc được bổ xung điều chỉnh, sửa đổi phù hợp hơn với điều kiện thực tế, nâng cao hiệu lực thực hiện. Bộ máy quản lý Nhà nước cũng được kiện toàn dần dần. Bộ Thể thao, Văn hoá và Du lịch vừa mới được thành lập sau kỳ họp quốc hội năm 2026 trên cơ sở thống nhất Bộ Văn hoá, Tổng cục thể thao và Tổng cục Du lịch, dưới bộ là Tổng cục Du lịch, 13 sở du lịch, 1 Sở Du lịch-Thương mại, 46 Sở Thương mại-Du lịch và 1 sở Ngoại vụ-Du lịch ở 61 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đang từng bước vươn lên thực hiện chức năng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch trên phạm vi cả nước và từng địa phương.
Các thủ tục cũng được cải cách theo hướng thông thoáng hơn, Hiệp định khung ASEAN về miễn Visa (FAVE) đã được ký kết ngày 25/7/2026 tại Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 39 ở Kuala Lumpur. Theo đó, các công dân ASEAN sẽ được du lịch miễn visa tới các nước thành viên tối đa 14 ngày. Chúng ta cũng chấp miễn Visa cho khách du lịch Hàn Quốc và Nhật Bản sang Việt Nam không quá 15 ngày theo đó du khách Hàn Quốc và Nhật Bản tăng lên đáng kể.
Chúng ta cũng đã ban hành Luật Du lịch và nhiều văn bản hướng dẫn tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng hơn trong hoạt động kinh doanh du lịch. Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, lực lượng kinh doanh du lịch nước ta cũng đã phát triển, thích nghi dần với cơ chế mới. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Các doanh nghiệp du lịch Nhà nước cũng đang được cổ phần hóa và sắp xếp lại theo hướng hình thành những tập đoàn du lịch mạnh, Công ty mẹ-công ty con để từng bước làm ăn hiệu quả trước môi trường cạnh tranh quốc tế. Du lịch Việt Nam còn mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế. Đã có 26 hiệp định hợp tác du lịch song phương cấp Chính phủ được ký kết với các nước trong và ngoài khu vực, đồng thời thiết lập quan hệ với hơn 1.000 hãng du lịch của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ.
2.3 Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ.
Lực lượng lao động có nhiều bước phát triển. Nếu năm 1991 cả nước chỉ có khoảng 2 vạn lao động thì đến nay ước tính có khoảng với khoảng 23 vạn lao động trực tiếp và 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lực lượng lao động toàn quốc và chủ yếu ở độ tuổi dưới 30 (60%). Trong đó, lao động trực tiếp ở các ngành nghề chuyên sâu (lễ tân, phục vụ buồng, bar, bàn, hướng dẫn, nấu ăn…) chiếm tới 75%.
Không chỉ về số lượng, chất lượng chuyên môn cũng có nhiều cải thiện, sau nhiều năm phát triển du lịch và hội nhập, chúng ta có thêm nhiều kinh nghiệm cũng như học hỏi từ quốc tế, các cấp quản lý, đào tạo, nhà quản trị trong du lịch có cơ hội nâng cao trình độ, lao động phục vụ trực tiếp tay nghề được nâng cao và thái độ chuyên nghiệp hơn trước.
Hiện tại, mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam có khoảng gần 40 trường đào tạo bậc đại học, cao đẳng; trên 30 trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và nhiều trung tâm dạy trên cả nước nghề. Trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều trường đào tạo về du lịch, nhiều trường đại học có uy tín trong nước cũng sẽ mở khoa hoặc đưa thêm môn kinh tế du lịch vào chương trình giảng dạy. Hệ thống giáo trình, phương pháp giảng dạy cũng đang được xây dựng và từng bước hoàn thiện hướng đến đào tạo có chiều sâu.
Công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã được chú trọng. Nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp ngành đã được triển khai, tập trung vào các vấn đề bức xúc của ngành du lịch như quản lý Nhà nước, môi trường và phát triển du lịch bền vững, du lịch sinh thái, nghiên cứu thị trường, khách sạn v.v… mang tính ứng dụng thực tiễn cao.
Đáng chú ý nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong du lịch. Du lịch là ngành đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh. Qua Internet, du lịch Việt Nam có thể quảng bá hỉnh ảnh, đưa nội dung các thông tin khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Như đã biết, du lịch gắn liền với sự thưởng thức hay có thể nói du lịch là sự tận hưởng do đó các yếu tố như cái đẹp, sự tiện nghi, sự thân thiên v.v… là những yếu tố thu hút du khách, đây chính là điều mà Internet có thể truyền tải trên phạm vi toàn cầu. Bên cạnh thông tin, một tiện ích khác của Internet là thương mại điện tử cũng đang được ứng dụng rộng rãi. Cuộc cánh mạng Công nghệ thông tin đã biến mạng máy tính hiện nay không chỉ là thông tin mà còn là một thị trường trên không gian ảo, nơi đó cung có thể gặp cầu (thương mại điện tử). Bây giờ nếu du khách muốn đi du lịch tại Việt Nam chỉ cần đăng ký tour trên mạng rất dễ dàng. Có thể thấy, ứng dụng công nghệ thông tin vào du lịch đã giúp kéo gần du khách toàn cầu đến với du lịch Việt Nam qua đó góp phần thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển.
2.4 Về hợp tác quốc tế và xúc tiến quảng bá du lịch Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Du lịch Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để khai thác nguồn lực từ bên ngoài. Chúng ta đã không ngừng hội nhập với khu vực và thế giới.
Du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển và đang hội nhập vào quá trình phát triển của du lịch thế giới. Vị thế du lịch Việt Nam ngày càng được khẳng định và nâng cao. Ngành du lịch nước ta đã bước vào một sân chơi mới rộng mở với nhiều cơ hội hơn và luật chơi công bằng hơn. Việt Nam vừa chính thức gia ngập tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong xu thế chung, du lịch Việt Nam đã chủ động hội nhập quốc tế, việc tổ chức thành công hội nghị Bộ trưởng du lịch APEC 2025 vừa qua là một minh chứng. Chúng ta còn tham gia tích cực và hiệu quả vào các diễn đàn hợp tác du lịch quốc tế và khu vực như Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), Hợp tác du lịch ASEAN, Hiệp hội Du lịch Châu Á-Thái Bình Dương (PATA), thành viên của tổ chức du lịch ASEAN, ASEANTA, tham gia vào chương trình phát triển du lịch tiểu vùng sông Mêkông mở rộng. Hợp tác hành lang Đông-Tây, sông Mêkông-Sông Hằng. Việt Nam đã ký kết hợp tác du lịch với 16 nước, có quan hệ bạn hàng với 1000 hãng của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Công tác xúc tiến, tiếp thị ngày càng được quan tâm. Đã tổ chức được nhiều hội thảo, hội nghị, diễn đàn du lịch quốc tế tại Việt Nam như Hội nghị nghị bộ trưởng du lịch (Huế), ASEM 5 (2023), Hội nghị thượng đỉnh Châu Á-Thái Bình Dương (APEC 2025) ở Hà Nội, tham dự nhiều hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm về du lịch ở nước ngoài như KOTFA ở Hàn Quốc, Sự kiện Geneva Culture Festival, Top Resa ở Pháp, WTM, ITB… tổ chức nhiều đợt phát động thị trường như Festival Huế, Fetival Điện Biên, mùa hè Hội An, Canaval Hạ Long, 100 năm du lịch Sầm Sơn-Cửa Lò v.v… Phát hành nhiều ấn bản, ấn phẩm tuyên truyền quảng bá, hướng dẫn, phim vidio và đĩa CD-Việt Nam đến các nước trên thế giới, nối mạng Internet giới thiệu về đất nước, con người và du lịch Việt Nam góp phần thực hiện thông tin đối ngoại. Các hoạt động đối ngoại và thông tin đối ngoại của nhà nước và các cấp, tạo nên những cơ hội và tạo điều kiện cho xúc tiến và quảng bá du lịch, nâng cao vị thế và hình ảnh của du lịch Việt Nam.
Du lịch Việt Nam đang đứng trước vận hội mới, vị thế Việt Nam đã được nâng lên, “sân chơi” rộng mở và luật chơi cũng rõ ràng. Tiến trình hội nhập sẽ thúc đẩy việc cải thiện và mở rộng các mối quan hệ kinh tế song phương, đa phương giữa Việt Nam và thế giới, góp phần giúp môi trường đầu tư kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng ngày một thông thoáng hơn, cạnh tranh tự do và bình đẳng hơn. Đây cũng là điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Một thuận lợi nữa là khả năng thu hút vốn FDI của Việt Nam đang tăng trưởng. Ðây là điều kiện quan trọng giúp du lịch Việt Nam bắt kịp theo sự phát triển của các nước trong khu vực và thế giới. Là thành viên chính thức của WTO từ cuối năm 2025, đang mở ra những viễn cảnh đầu tư mới. Nhiều tập đoàn kinh tế lớn đang hướng sự chú ý đến Việt Nam và “đổ bộ” vào đầu tư đón đầu trong lĩnh vực du lịch. Trong 9 tháng của năm 2025 nguồn vốn đầu tư vào du lịch ở Việt Nam đạt 2,2 tỷ USD trong tổng vốn 5,15 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Hoạt động hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả thiết thực tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập quốc tế… góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của du lịch Việt Nam, tạo thêm nguồn thu để thực hiện chương trình, kế hoạch của ngành và đóng góp vào sự phát triển kinh tế đối ngoại, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa phương của Đảng và Nhà nước.
3. Đánh giá về du lịch Việt Nam
3.1 Thành tựu đạt được
Trong quá trình phát triển, du lịch Việt Nam đã có nhiều thành tựu về cả mặt kinh tế lẫn xã hội. Du lịch Việt Nam ngày càng được thế giới biết tới, mới đây Việt Nam vừa được bình chọn là một trong 20 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới theo khảo sát của tạp chí du lịch Conde Nast Traveller – một trong những tạp chí uy tín nhất thế giới về du lịch.
- Thành tựu về mặt xã hội
Tính đến nay du lịch Việt Nam đã tạo ra trên 230.000 công ăn việc làm trực tiếp và khoảng 500.000 lao động gián tiếp. Du lịch là một trong những ngành có tốc độ tạo ra công ăn việc làm cao nhất cả nước, theo ước tính của Tổng cục Du lịch mỗi năm du lịch lại tạo ra khoảng 30.000 lao động trực tiếp và trên 50.000 lao động gián tiếp. Do tính chất của là ngành phục vụ sự tận hưởng của con người, nên du lịch yêu cầu rất nhiều lao động phục vụ trực tiếp. Nhóm lao động này không cần đòi hỏi trình độ học vấn, bằng cấp cao nên đây là một cơ hội cho lao phổ thông có cơ hội tìm kiếm việc làm, đặc biệt là du lịch thu hút rất nhiều lao động địa phương. Qua đó tạo cơ hội giúp người dân địa phương xoá đói giảm nghèo và làm giàu trên chính quê hương của mình.
Du lịch Việt Nam đã góp phần bảo tồn và làm giàu thêm cho văn hoá việt Nam, du lịch luôn đồng hành cùng văn hoá. Như đã biết văn hoá cũng là một dạng tài nguyên du lịch-tài nguyên du lịch văn hoá, nhờ du lịch khéo léo khai thác nét đẹp của văn hoá Việt Nam qua đó mang lại nguồn thu cho du lịch nói chung và địa điểm du lịch nói riêng. Chính quyền và người dân những vùng miền có đặc trưng văn hoá hấp dẫn có thêm các điều kiện và động lực vật chất lẫn tinh thần để phát huy văn hoá, truyền thống quê hương. Rất nhiều làng nghề, nhiều lễ hội, nhiều sản phẩm truyền thống tưởng như đã mai một nhờ du lịch đã được phục dựng và phát triển lại như Gốm Phù Lãng, Gốm Chu Đậu, Đàn đá, cồng chiêng Tây Nguyên v.v… Nhiều lễ hội văn hoá truyền thống giờ đã là ngày hội thu hút khách du lịch như hội Chùa Hương, Hội Lim, giỗ Tổ Hùng Vương v.v… Hiện nay chúng ta có tới hơn một nghìn làng nghề truyền thống, nhiều lễ hội văn hoá từ Bắc trí Nam để truyền lại cho đời sau và giới thiệu với bạn bè quốc tế.
Du lịch Việt Nam đã góp phần làm tăng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, qua sự tham quan du lịch đến Việt Nam của du khách quốc tế và thông tin, tuyên truyền quảng bá của ngành du lịch, hình ảnh đất nước Việt Nam hoà bình, tươi đẹp và giàu lòng mến khách đến với rộng rãi người dân trên thế giới.
- Thành tựu về mặt kinh tế Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Là một ngành có tốc độ tăng trưởng bình quân trong vòng một vài năm qua gần 20%, du lịch là nhân tố tích cực trong sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
- Bảng 3: Đóng góp của du lịch vào nền kinh tế quốc dân
Trong giai đoạn 2019-2025 du lịch đóng góp khoảng 3,4% vào tổng thu nhập của nền kinh tế quốc dân. Con số trên 3,4% là không lớn nếu so sánh với nhiều ngành kinh tế khác và so với tiềm năng du lịch của Việt Nam con số này cũng chưa xứng. Nhưng nếu trên bình diện vĩ mô, thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (chiếm tới 80%-90%, hàng hoá chiếm tỉ lệ rất nhỏ) nên phát triển du lịch không làm hao tổn các nguồn tài nguyên của đất nước giống nhiều ngành sản xuất. Bên cạnh đó, du lịch chủ động (du lịch đón khách) phát triển mạnh hơn hơn rất nhiều du lịch bị động (du lịch gửi khách). Lượng khách du lịch chủ động trong năm 2025 vừa qua vào khoảng 3,6 triệu du khách trong khi lượng khách du lịch ra nước ngoài là 900.000 người. Vì lý do đó du lịch là một ngành đóng góp cao cho tăng thu ngoại tệ.
Trên bình diện kinh tế địa phương, du lịch làm thay da, đổi thịt nhiều vùng đất, dựa trên thế mạnh của mình đã trở thành một trung tâm du lịch, với du lịch là nguồn đóng góp chính yếu cho ngân sách tỉnh và tạo nhiều công ăn việc làm cũng như cơ hội kinh doanh cho người dân địa phương, có thể kể đến một số địa phương như vậy như Nha trang, Quảng Ninh, Huế, Ninh Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm đồng, Quảng Nam-Đà Nẵng …
3.2 Những tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
- Những tồn tại
Du lịch Việt Nam trong những năm qua đạt được nhiều thành tựu cả về mặt kinh tế và xã hội tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình du lịch Việt Nam cũng bộc lộ những tồn tại cần sớm được khác phục.
- Việc phát triển du lịch Việt Nam nhiều khi diễn ra một cách tự phát, thiếu qui hoạch và chưa tính đến các qui luật thị trường.
Việc phát triển du lịch Việt Nam diễn ra một cách tự phát, chưa tính đến các lợi ích lâu dài và quan hệ cung cầu, nhiều nơi xây các công trình du lịch chỉ tính đến các mục tiêu hiện tại hay chạy theo mốt, sau một thời gian sử dụng trở nên không phù hợp dẫn đến phải cải tạo, phá đi xây lại rất tốn kém. Việt phát triển du lịch thiếu sự qui hoạch cũng dẫn đến hiện tượng chồng chéo giữa đầu tư, phát triển du lịch và một số ngành khác, đặc biệt là công nghiệp. Tại một số vùng rất giàu tài nguyên du lịch lại có mặt các nhà máy sản xuất gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả là sau này muốn phát triển du lịch lại phải duy dời, loại bỏ những nhà máy này. Điển hình nhất là vụ nhà máy nhiệt điện Ninh Bình 2, một dự án công nghiệp gây ra chất thải và khí ô nhiễm khi đi vào hoạt động lại được qui hoạch giữa lòng thành phố du lịch Ninh Bình đã gây nhiều tranh cãi và hiện nay đang ngừng thi công. Vụ việc đã xảy ra khá lâu nhưng vẫn chưa tìm được hướng giải quyết thích đáng, song dù giải quyết theo hướng nào thì thiệt hại là không thể tránh khỏi.
Các hiện tượng như đã nêu trên không những gây ra sự lãng phí về mặt tiền của mà còn gây lãng phí và biến dạng nguồn tài nguyên du lịch đồng thời tạo lề lối cho một cách làm du lịch thiếu chuyên nghiệp.
- Sản phẩm du lịch chưa phong phú, khả năng cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực, thiếu những khu du lịch có thương hiệu Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Hiện tại công suất sử dụng một buồng khách sạn tại Việt Nam chỉ đạt 50-60% trong khi đó tại một số nước Đông Nam Á khác đạt con số khoảng 75%. Chi phí các dịch vụ cơ bản ở Việt Nam như đi lại, lưu trú, ăn uống v.v… cũng không rẻ hơn các nước Đông Nam Á khác, tỉ lệ quay lại của du khách là 30% thấp hơn rất nhiều con số hơn 50% của các nước cùng khu vực. Đây là những biểu hiện cho thấy khả năng cạnh tranh thấp của du lịch Việt Nam.
Sản phẩm du lịch chưa phong phú là nhận xét của nhiều khách tham quan trong cuộc điều tra về du lịch của Tổng cục Du lịch tiến hành trong năm 2026. Thực tế cho thấy, các khu du lịch chỉ quanh quẩn một vài dịch vụ, nhiều nơi vẫn chừng ấy dịch vụ diễn ra hết năm này đến năm khác tạo ra sự nhàm chán cho du khách.
Việt Nam cũng chưa tạo dựng được những khu du lịch có thương hiệu quốc tế để nhắc tới du lịch Việt Nam là nhớ ngay đến những khu du lịch này như Puket của Thailand, Bali của Indonexia.
- Ý thức toàn dân về du lịch chưa cao
Từ năm 1993, Đảng và Nhà nước đã xác định, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, thế nhưng nhiều địa phương chưa coi du lịch là ngành kinh tế đặc thù có tác dụng và hiệu quả nhiều mặt, vì vậy chưa quan tâm thích đáng tạo điều kiện cho du lịch phát triển, chưa huy động hết tiềm năng và thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Người dân không phải ai cũng hiểu được lợi ích và vai trò của du lịch đối với kinh tế và xã hội, ý nghĩa của việc gìn giữ các tài nguyên thiên nhiên và nhân văn. Nhiều công dân Việt Nam chưa ý thức được vai trò quan trọng của mình trong việc tạo ra ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách quốc tế đến với Việt Nam. Ngược lại còn có một số bộ phận người dân có những hành vi không hay như hiện tượng chèo kéo du khách, ăn xin, thiếu ý thức nơi công cộng gây một hình ảnh xấu về con người Việt Nam.
- Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch trong giai đoạn mới
Mặc dù trong những năm vừa qua, nguồn nhân lực trong du lịch có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được chú trọng. Nhiều trường, trung tâm đào tạo du lịch được mở nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Qua các cuộc khảo sát du khách quốc tế về du lịch Việt Nam, chất lượng phục vụ và thái độ của lao động trong du lịch bị kêu ca nhiều nhất, đây cũng được xác định là một trong các nguyên nhân làm tỉ lệ quay lại của du khách chỉ đạt 30% trong khi các nước khác trong khu vực Đông Nam Á đạt trên 50%. Thực tế cho thấy, nhân lực trong du lịch vừa thiếu lại vừa yếu, số lao động yếu cả chuyên môn lẫn ngoại ngữ chiếm tỉ lệ khá lớn.
Trong số lao động du lịch trực tiếp, hiện mới có khoảng 7% đạt trình độ đại học, số lượng đào tạo qua các trường dậy nghề còn thấp. Vì vậy nhu cầu đào tạo là rất lớn và cấp bách.
- Hạn chế về cơ sở hạ tầng, hàng không và an ninh
Hiện tại, ngành Hàng không Việt Nam đã quá tải, không đủ yêu cầu phát triển du lịch hiện tại, các chuyến bay bị huỷ khá nhiều và tình trạng các chuyến bay trễ là phổ biến vì thế gây nhiều phiền toái cho du khách.
Lĩnh vực khách sạn cũng có dấu hiệu quá tải trong các mùa du lịch chính, số khách sạn cao cấp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế hiện nay rất thiếu, phòng khách sạn không đủ tiêu chuẩn, có nơi lợi dụng mùa cao điểm các khách sạn tự ý nâng giá phòng đã làm giảm uy tín của du lịch Việt Nam.
Hệ thống giao thông, đường xá ở Việt Nam lạc hậu, nhiều nơi có dấu hiệu xuống cấp. Như đã biết, du lịch gắn liền với các cuộc hành trình nên sự yếu kém của giao thông làm du khách mất rất nhiều thời gian và sức khoẻ cho sự di chuyển đã làm giảm hiệu quả của du lịch. Hệ thống vận chuyển công cộng Việt Nam chưa phát triển như nhiều nước khác trên thế giới gây khó khăn cho du khách trong quá trình đi lại qua đó tạo cản lực cho sự phát triển của du lịch.
- Việc phát triển du lịch nhiều nơi mới chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế
Việc phát triển du lịch nhiều nơi mới chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế mà quên mất mặt xã hội gây ảnh hưởng đến môi trường và sự xuống cấp các tài nguyên thiên nhiên, hiện nay một số danh lam thắng cảnh đang dần bị ô nhiễm và làm lu mờ hình ảnh một đất nước Việt Nam tươi đẹp. Các tệ nạn xã hội cũng mọc lên ăn theo các tụ điểm du lịch, giải trí, gây áp lực cho an ninh trật tự xã hội và gây tác động sâu xa lên đời sống văn hoá của nhân dân.
- Trong việc hợp tác quốc tế, quảng bá tiếp thị, giữ gìn hình ảnh du lịch Việt Nam chưa đạt hiệu quả như mong muốn
Du lịch Việt Nam chưa chủ động trong hợp tác quốc tế, việc tham gia vào thị trường du lịch quốc tế còn manh muốn, tự phát, chưa mang tầm quốc gia, chưa nắm bắt được xu thế vận động của từng loại thị trường, nhà nước đầu tư cho công tác quản lý du lịch chưa xứng tầm, đầu tư cho quảng bá còn rất nhỏ bé, bị động. Việt Nam thiếu những chiến dịch quảng bá du lịch mang tầm quốc gia ra bên ngoài. Đến nay, chúng ta chưa có các đại diện du lịch quốc gia ở các nước bên ngoài nên hạn chế sự tiếp cận và mở rộng hợp tác quốc tế du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Việc quảng bá, xây dựng hình ảnh du lịch Việt Nam phải gắn liền với việc giữ gìn và tôn tạo với hình ảnh đó thì du lịch của chúng ta mới có sức hút lâu dài. Tuy nhiên hiện nay việc giữ gìn và tôn tạo cho hình ảnh du lịch Việt Nam vẫn để lộ nhiều sai sót, thiếu kế hoạch cụ thể, nhiều hoạt động gây tổn hại đến du lịch vẫn chưa được sử lý triệt để đặc biệt là vấn đề “Web đen du lịch”. Sự hoạt động kinh doanh của các trang Web này đã làm xấu đi rất nhiều hình ảnh của du lịch Việt Nam. Hiện nay, quảng cáo du lịch qua Internet và đăng ký du lịch lữ hành qua các trang Web du lịch chỉ cần tài khoản và vài thao tác đơn giản. Do vậy, nhiều công ty du lịch đã lợi dụng sự dễ dàng này để liên kết với nhau và tiến hành các hoạt động kinh doanh không đứng đắn. Khách du lịch bị mua đi bán lại giữa các công ty và được tổ chức cho đi các tour du lịch kém chất lượng. Hậu quả của việc chạy theo lợi ích trước mắt của một số công ty này là số du khách từng tham gia các tour như vậy không bao giờ trở lại Việt Nam kèm theo định kiến xầu về đất nước chúng ta. Dù gây hậu quả như vậy, song các trang Web này vẫn hoạt động ngang nhiên. Lý do, Tổng cục Du lịch chỉ có thẩm quyền xử phạt hành chính còn việc quản lý các trang Web thuộc thẩm quyền của Bộ Văn hoá nên chỉ có Bộ này mới có quyền rút giấy phép hoạt động của các “web đen du lịch”. Sự chồng chéo trong quản lý và kẽ hỡ pháp luật khiến nhiều kẻ ngang nhiên lợi dụng để trục lợi cho mình gây hậu quả lâu dài cho du lịch quốc gia. Hiện nay một bộ mới-Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã được thành lập có chức năng quản lý văn hóa, thể thao và cả du lịch, hy vọng vấn đề “Web đen du lịch” sẽ được giả quyết tận gốc.
- Nguyên nhân
Tồn tại những yếu kém này là do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng có thể Tổng kết ra đây một số nguyên nhân chính:
Thứ nhất, du lịch Việt Nam thiếu sự quy hoạch tổng thể, đồng bộ, và các kế hoạch phát triển chi tiết, du lịch Việt Nam cũng thiếu các chương trình đánh giá, rà soát trên qui mô rộng tiền năng du lịch trên khắp đất nước làm căn cứ phát triển du lịch. Đây là nguyên nhân làm nhiều nơi lúng túng trong việc quyết định hướng phát triển du lịch cho địa phương mình.
Thứ hai, hiệu quả quản lý du lịch Việt Nam chưa cao, tổ chức nhà bộ máy nhà nước về du lịch chưa ngang tầm nhiệm vụ gây thiếu sót trong quản lý, nhiều tỉnh, thành phố cơ quan quản lý du lịch bị sát nhập, chia tách nhiều lần mà vẫn không đảm bảo hiệu quả quản lý lại gây ra sự thiếu ổn định và không đảm bảo tính liên tục trong quản lý. Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý Trung ương xuống địa phương chưa thật nhịp nhàng. Lãnh đạo du lịch địa phương thiếu những hướng dẫn, góp ý cần thiết từ cơ quan quản lý du lịch Trung ương. Cơ chế chính sách đôi chỗ còn chưa đồng bộ làm thủ tục chậm được nghiên cứu, giải quyết.
Quản lý kinh doanh du lịch thiếu chặt chẽ, hiện nay chưa có điều kiện gì đối với cá nhân hoạt dộng trong lĩnh vực du lịch, đăng ký thành lập công ty du lịch, đại lý du lịch rất dễ dàng tương tự như các lĩnh vực phổ biến khác. Du lịch là một lĩnh vực nhạy cảm, sự quản lý buông lỏng có thể gây ra các kẽ hỡ cho kẻ xấu lợi dụng và những hậu quả khó lường đối với đời sống xã hội và hình ảnh của đất nước. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
Thứ ba, việc giáo dục nâng cao ý thức của toàn dân đối với du lịch bị bỏ ngỏ nên người dân không phải ai cũng hiểu được lợi ích và vai trò của du lịch đối với kinh tế và xã hội, ý nghĩa của việc gìn giữ các tài nguyên thiên nhiên và nhân văn.
Thứ tư, hệ thống đào tạo du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho du lịch. Hiện tại Với chỉ trên 50 cơ sở đào tào du lịch so với qui mô và tốc độ phát triển của du lịch thì khó có thể đáp ứng nổi. Qui mô đào tạo du lịch của các trung tâm này khá nhỏ, ít có trung tâm đào tạo, đại học, cao đẳng có uy tín. Tính liên kết, hội nhập với nước ngoài trong đào tạo du lịch cũng rất hạn chế. Sự nhỏ bé của qui mô đạo tạo du lịch trong giai đoạn này có thể nói mới chỉ đáp ứng được một lượng nhỏ nhu cầu đào tạo nhân lực du lịch.
Thứ năm, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban ngành và cơ sở kinh doanh du lịch. Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh tổng hợp, việc tiêu thụ sản phẩm du lịch liên quan đến rất nhiều ngành kinh tế khác như ngành Xây dựng trong việc phát triển hệ thống khách sạn, nhà hàng…; ngành Giao thông trong phát triển các tuyến đường, chuyên chở hành khách…; ngành Công nghiệp trong sản xuất hàng hoá, thiết bị, máy móc… cung cấp cho các cơ sở kinh doanh; ngành Y tế trong nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khoẻ; ngành Giáo dục trong việc đào tạo nhân lực du lịch, nâng cao văn hoá, ý thức người dân… Do đó việc phát triển và quản lý du lịch cần không chỉ là tránh nhiệm của Tổng cục Du lịch mà cần sự chung tay của nhiều bộ, ban, ngành khác. Song hiện nay chưa có sự phối hợp tốt giữa các bộ ngành liên quan, nhiều khi còn chồng chéo tránh nhiệm lên nhau dẫn đến nhiều khó khăn cho việc quản lý và phát triển du lịch, điểm hình như trường hợp “web đen du lịch“ đã nêu trên.
Thứ sáu, thứ sáu là nguyên nhân thiếu vốn, du lịch Việt Nam đang thiếu vốn để phát triển, chúng ta cần vốn để cải thiện chất lượng hàng không, hải quan, nâng cấp và xây thêm các khách sạn, đầu tư cho các trung tâm du lịch giải trí qui mô… chúng ta cũng cần vốn để bảo tồn, tôn tạo các tài nguyên du lịch… số tiền ấy mỗi năm là không nhỏ, theo ước tính của Tổng cục Du lịch với tốc độ phát triển du lịch hiện, nhu cầu về nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch mỗi năm vào khoảng nửa tỉ đô. Tiềm lực trong nước và nguồn vốn kêu gọi từ nước ngoài chưa đủ khoả lấp nhu cầu này. Sự thiếu vốn đã dẫn đến du lịch không được đầu tư phát triển một cách tổng thể, nhiều khi phải chọn giải pháp tình thế trước mắt, chưa có điều kiện để thực hiện các chương trình du lịch qui mô, nâng cao ý thức người dân dài hơi, phát triển các khu du lịch hiện đại có qui mô lớn v.v…
Các nguyên nhân trên trực tiếp hay gián tiếp gây tác động xấu lên du lịch Việt Nam. Trong thời gian tới du lịch Việt Nam cần từng bước khắc phục để đảm bảo cho du lịch Việt Nam tiếp tục phát triển. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam


Pingback: Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam