Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ, nền kinh tế thế giới đang chuyển sang giai đoạn “hậu công nghiệp”, phát triển theo hướng chuyển dịch cơ cấu sang dịch vụ. Trong đó du lịch là một trong những ngành dịch vụ được hầu hết các nước ưu tiên phát triển.

Du lịch là một ngành hoạt động tổng hợp có hiệu quả về cả kinh tế và xã hội. Trên giác độ kinh tế đó là ngành thực hiện “xuất khẩu tại chỗ”, mang về nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia. Trên giác độ xã hội, du lịch tạo ra nhiều công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo; góp phần tôn tạo các giá trị tự nhiên và nhân văn… Trên thế giới, từ thế kỉ 19 du lịch đã chính thức trở thành một ngành kinh tế, theo đấy khoa học du lịch cũng ra đời, với trọng tâm là việc nghiêm cứu nhằm đề ra các giải pháp, chiến lược phát triển du lịch quốc gia.

Trước vai trò và đóng góp to lớn của du lịch đối với nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước ta, trong chiến lược phát triển du lịch 2019-2030 đã xác địch: “đưa du lịch Việt Nam trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước”. Để tiến tới mục tiêu đó du lịch Việt Nam cần phải có các giải pháp hiệu quả và tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt các giải pháp đã đề ra. Với đề tài luận văn “Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam”, em mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé công sức của mình trong việc tìm ra và đề xuất một số giải pháp tích cực, từ đó thúc đẩy sự phát triển của du lịch Việt Nam.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nội dung của đề tài tập trung vào việc đề ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Việt Nam trên cơ sở:

  • Nghiên cứu về đặc điểm, tính chất, vai trò của du lịch trên thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng.
  • Khảo sát xu hướng phát triển của du lịch quốc tế và khu vực.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của Việt Nam hiện nay, để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp diễn giải, phân tích, tổng hợp, so sánh trên cơ sở sử dụng các bảng, biểu và các tài liệu tham khảo về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn của những nghiên cứu trước đó. Đồng thời, luận văn cũng lấy phép biện chứng làm cơ sở phương pháp luận.

4. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Nội dung luận văn nghiên cứu tổng quan hoạt động du lịch, thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam những năm qua, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững du lịch nước ta.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

  • Chương I: Tổng quan về hoạt động du lịch
  • Chương II: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua
  • Chương III: Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch

1.1 Khái niệm “du lịch”

Du lịch ra đời gần như cùng lúc với sự suất hiện của xã hội loài người, tuy lúc đó mục đích du lịch có thể chưa hoàn toàn tách bạch với các mục đích khác. Theo ngành khảo cổ học, Châu Phi được xem là cái nôi của xã hội loài người, tuy nhiên vết tích của người Châu Phi cổ đại đã được tìm thấy ở Châu Á, họ được xem là tiền nhân của giống người Bắc Kinh (Trung Quốc), và người Java (Indonexia). Ngoài giả thiết cho rằng người cổ xưa di cư để tìm thức ăn và trốn tránh nguy hiểm, còn một giả thiết khác được các nhà khoa học đưa ra, đấy là con người quan sát sự di cư của loài chim, muốn biết chúng từ đâu bay đến và sẽ bay đến đâu nên họ di chuyển theo hướng đi của chúng. Tức giả thiết này cho rằng, con người, từ xa xưa luôn có tính tò mò, ham muốn khám phá thế giới chung quanh. Cũng có thể, cuộc di dân này có động cơ từ cả hai giả thuyết đã nêu. Sự xuất hiện của chủng tộc người gốc Á ở Châu Mỹ (người da đỏ) cách hàng vạn năm trước khi Christospher Colombus tìm ra nơi này là khác là một minh chứng khác cho sự hiếu kỳ của người xưa. Trong chuyến chuyến di dân từ Châu Á đến Châu Mỹ thì các nhà nghiên cứu lại nghiêng về giả thuyết cho rằng động lực chính là lòng ham hiểu biết. Nếu chỉ đơn thuần là đi tìm thức ăn thì chưa đủ thuyết phục lý giải cho quảng đường di cư vượt biển dài tới nửa vòng trái đất.

Mặc dù có nguồn gốc từ rất lâu, song cho đến nay, những nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Dưới nhiều góc độ và hoàn cảnh chi phối (thời gian, địa lý) đưa đến một cánh hiểu khác nhau về du lịch.

Ý nghĩa đầu tiên của từ du lịch là sự khởi hành và sự lưu trú tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ. Có nhiều lý do để kéo con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình như lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu thiên nhiên… Có thể hiểu lúc này du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của mỗi cá nhân.

Với ý nghĩa này, du lịch mang tính chất là một hiện tượng xã hội nhiều hơn một hiện tượng kinh tế, nó ứng với thời kỳ trước cuộc phân công lao động lần thứ hai (lúc thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp truyền thống). Biểu hiện của hoạt động kinh doanh du lịch chỉ rõ nét vào giai đoạn phân công lao động lần thứ ba của xã hội loài người (thương nghiệp ra đời). Lúc này trong xã hội xuất hiện các cơ sở lưu trú, các trung tâm tham quan, vui chơi như Kim tự tháp (Ai Cập), đấu trường La mã, các nhà tắm hơi cổ đại thành Roma, những nơi được sử sách mô tả vào thời hoàng kim luôn tấp nập các du khách. Đặc biệt, du khách đến đây còn có thể mua về các kỷ vật của địa phương. Hiện tượng tham quan của du khách đã mang lại một nguồn thu nhập các kể cho các địa phương này. Khi có sự tiêu dùng các dịch vụ trong quá trình duy chuyển, du lịch được hiểu là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xảy ra trong quá trình con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình.

Du lịch bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XVII khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra kéo theo cuộc cách mạng về giao thông trên thế giới. Đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi, kim loại ngày càng có mặt nhiều hơn trong ngành đường sắt, đóng tầu và công nghiệp sản xuất ô tô. Giao thông phát triển là nguyên nhân chính và là điều kiện vật chất quan trọng thúc đẩy các cuộc khởi hành của con người. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ IXX thì du lịch mới trở thành một hiện tượng đại chúng. Trong xã hội xuất hiện một nghề mới, rất phát triển ở các địa phương có nhiều khách tham quan như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, môi giới, hướng dẫn du lịch, cửa hàng, tiện ăn… cùng các tổ chức và đội ngũ phục vụ du khách ra đời. Với ý nghĩa như đã nêu trên du lịch đã tạo nên nhiều hoạt động thu về lợi ích kinh tế. Lúc này, du lịch từ chỗ xuất hiện ban đầu chỉ là một hiện tượng xã hội đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến, khái niệm ”ngành du lịch” hay ”kinh tế du lịch” xuất hiện, nội dung của nó coi du lịch là một ngành kinh doanh kiếm lời từ việc thoả mãn các nhu cầu của du khách.

Như vậy du lịch là một hiện tượng kinh tế-xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú. Tuy nhiên du lịch là một hiện tượng có tính hai mặt mặt kinh tế và mặt xã hội, do đó rất khó để gộp chung cả hai mặt này vào một định nghĩa, trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch cũng được xếp vào nhóm các từ đa nghĩa. Do vậy cánh tiếp cận tốt nhất thuật ngữ du lịch là tách nó thành hai phần.

Xét trên giác độ xã hội: Du lịch là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của mỗi cá nhân hay tập thể nhằm mục đính phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới quan, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, văn hoá, kinh tế, và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung cấp. Theo góc độ này thì du lịch cần hội đủ ba điều kiện về không gian, thời gian và mục đính chuyến đi. Về không gian, người đi du lịch phải đi ra ngoài môi trường thường xuyên của mình, điều này ngoại trừ các chuyến đi trong phạm vi của nơi ở và các chuyến đi có tính chất thường xuyên hàng ngày. Về thời gian, du lịch phải đảm bảo độ dài thời gian qui định trước của các tổ chức du lịch để loại trừ sự di cư trong một thời gian dài. Về mặt mục đính chuyến đi nhằm loại trừ việc di cư để làm việc tạm thời.

Xét trên giác độ  kinh tế: Thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới quan.

Trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, các học giả cũng có quan điểm tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ ngơi, dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đính nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật… Theo nghĩa thứ hai, du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mọi mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá dịch vụ tại chỗ.

1.2 Khái niệm “khách du lịch” Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Trên thế giới, khái niệm khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp. Thời đó người Pháp chia các cuộc hành trình của người dân các nước lân cận trên nước Pháp ngoài thành hai loại:

  • Cuộc hành trình nhỏ: Từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp
  • Cuộc hành trình lớn: Là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung Hải xuống phía Tây Nam nước Pháp.

Trong đó những người thực hiện cuộc hành trình lớn được gọi là khách du lịch hay du khách.

Tương tự, tại Vương Quốc Anh, khách du lịch cũng được định nghĩa là những người thực hiện cuộc hành trình lớn xuyên Vương Quốc Anh.

Theo cánh hiểu này, những người được gọi là du khách ở đây phải hội đủ hai điều kiện. Thứ nhất, họ phải là người ngoại quốc; thứ hai, họ thực hiện chuyến hành trình xuyên quốc gia có nghĩa khách du lịch là những người ngoại quốc có khả năng mang lại một một lượng ngoại tệ đáng kể cho nước sở tại. Các định nghĩa này nói chung mang tính chất hẹp và phiến diện thế nhưng bước đầu đã đưa ra một khái niệm để gọi tên những người thực hiện các chuyến du lịch.

Một số khái niệm tiếp theo của các nhà kinh tế học cho đến đầu thế kỷ XX cũng mới chỉ mang tính chất chủ yếu phản ảnh sự phát triển của du lịch đương thời và xem xét không đầy đủ, hạn chế nội dung. Như khái niệm do nhà kinh tế học người Áo đưa ra vào đầu thế kỷ XX: “Khách du lịch là hành khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đính kinh tế“. Nhà kinh tế học người Anh cùng thời lại khẳng định để trở thành du khách phải có hai điều kiện: “Thứ nhất phải xa nhà dưới một năm; thứ hai phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác”.

Sau này khi ngành du lịch ngày càng phát triển và sự ra đời của các hội nghị quốc tế, các tổ chức quốc tế quan tâm đến hoạt động du lịch thì định nghĩa khách du lịch thì mới được nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở đáng tin cậy.

Định nghĩa được chấp nhập rộng rãi đầu tiên là định nghĩa của liên hiệp các quốc gia (League of Nations) vào năm 1937 về ”khách du lịch nước ngoài” trên phương pháp liệt kê và loại trừ: “Bất cứ ai đến thăm một nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h” theo định nghĩa này tất cả những người được coi là khách du lịch bao gồm:

  1. Người khởi hành để giải trí, vì những nguyên nhân gia đình và sức khoẻ.
  2. Những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, thể thao, công vụ…
  3. Những người khởi hành vì mục đính kinh Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.
  4. Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoại trên biển thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24h.

Những người không được xem là khách du lịch:

  1. Những người đến lao động, kinh doanh có hoặc không có hợp đồng lao động.
  2. Những người đến với mục đính định cư.
  3. Sinh viên hay những người đến học ở các trường.
  4. Những người ở biên giới sang làm việc.
  5. Những người đi qua một nước mà không dừng lại mặc dù cuộc hành trình đi qua nước đó có thể kéo dài 24h.

Năm 1978 tiểu ban các vấn đề kinh tế-xã hội của Liên hiệp quốc lại phân chia khách du lịch thành khách du lịch chủ động và khách du lịch bị động “khách viếng tham quốc tế là tất cả những người đến thăm một đất nước-chúng ta gọi là khách du lịch chủ động; những người từ một đất nước đi ra một nước ngoài viếng thăm-chúng ta gọi là khách du lịch bị động với khoảng thời gian nhiều nhất là một năm“. Bên cạnh khái niệm về khách du lịch quốc tế tiểu ban này cũng đưa ra định nghĩa về khách du lịch nội địa: “khách du lịch nội địa là công dân của một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi mục đính trừ mục đích hoạt động để được trả phù lao“.

Ngoài các định nghĩa do các tiểu ban trực thuộc liên hợp quốc đưa ra thì các hội nghị quốc tế về du lịch cũng đưa ra các định nghĩa quốc tế về du lịch riêng cho mình. Hội nghị quốc tế về du lịch tại Ha Lan năm 1989 đưa ra định nghĩa: “khách du lịch quốc tế là những người đi tham quan một nước khác, với mục đính tham, nghỉ ngơi giải trí, thăm hỏi trong thời gian nhỏ hơn ba tháng, những hành khách này không làm gì để được trả phù lao, sau thời gian lưu trú đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình“. Định nghĩa này khác với định nghĩa trước đó và thời gian tối đa lưu lại ở các nước khác thay vì tối đa là một năm được giảm xuống còn ba tháng, không qui định thời gian tối thiểu.

  • Tổng kết về khái niệm khách du lịch

Như vậy tổng kết lại khái niệm khách du lịch có hai khía cạnh:

Thứ nhất, động cơ khởi hành phải xuất phát từ động cơ du lịch (có thể là đi tham quan, nghỉ dưỡng, thăm người thân, kết hợp kinh doanh… trừ động cơ lao động kiếm tiền)

Thứ hai, vấn đề thời gian: khoảng thời gian tối thiểu và tối đa cư trú ở nơi khác nơi cư trú thường xuyên theo qui định của từng tổ chức, từng quốc gia hay địa phương. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Ở Việt Nam thì cụm từ khách du lịch có một từ tương đương là “Lữ khách”, hay “khách thập phương”, những từ này ra đời từ rất lâu và có nguồn gốc từ Trung Quốc theo nghĩa Hán việt có nghĩa là khách đi vãn cảnh từ phương xa đến với mục đính thăm thú thiên nhiên hoặc các mục đính khác ngoài mục đính lao động kiếm tiền.

Trong luật du lịch Việt Nam ban hành năm 2024, tại chương năm, điều ba mươi sáu có nêu khái niệm về khách du lịch như sau:

  • Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
  • Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

1.3 Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hoá cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp giữa việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một đơn vị kinh doanh du lịch, một vùng hay một quốc gia.

Sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố hữu hình lẫn vô hình. Yếu tố hữu hình là hàng hoá, yếu tố vô hình là dịch vụ, nếu liệt kê theo quá trình đi du lịch của khách du lịch thì nó có thể bao gồm: Dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ tham quan giải trí… trong đó, dịch vụ chiếm từ 80 đên 90% thành phần của sản phẩm du lịch

1.4 Khái niệm tài nguyên du lịch

Du lịch là hoạt động mang tích chất định hướng tài nguyên cao. Muốn phát triển du lịch thì cần phải có tài nguyên du lịch. Một đất nước có càng nhiều tài nguyên du lịch thì càng có cơ hội để phát triển du lịch dựa trên khai thác các tài nguyên đó.

Tài nguyên vốn được hiểu là những nguồn vô hình hay hữu hình có khả năng đưa vào khai thác và sử dụng mang lại lợi ích cho con người. Vậy tài nguyên du lịch có thể được hiểu đơn giản là Những nguồn tài nguyên có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của con người. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

Tài nguyên du lịch thiên nhiên là các điều kiện về môi trường tự nhiên có thể khai thác phục vụ cho các mục đích du lịch như địa hình, khí hậu, thực vật, động vât, tài nguyên nước, vị trí địa lý v.v…

Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các giá trị văn hoá, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển du lịch tại một địa điểm, một đất nước.

2. Các loại hình du lịch Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Có nhiều cách để phân loại du lịch, theo các tiêu chí khác nhau, du lịch có thể được chia thành nhiều loại hình. Theo đó, loại hình du lịch được hiểu là các nhóm sản phẩm du lịch có cùng những đặc điểm giống nhau theo tiêu chí phân loại như cùng thoả mãn một nhu cầu, một động cơ du lịch, được tiêu thụ bởi cùng một nhóm khách hàng, có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau hay cùng một mức giá.

2.1 Phân loại theo lãnh thổ

Nếu lấy tiêu chí là phân chia theo lãnh thổ thì du lịch có thể chia thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.

Du lịch quốc tế: Là loại hình du lịch có sự tham gia của yếu tố nước ngoài (hoặc khách du lịch hoặc nhà cung ứng dịch vụ du lịch). Trong loại hình du lịch quốc tế còn có thể chia tiếp thành hai nhóm nhỏ

  • Du lịch đón khách: là việc tổ chức phục vụ, đón tiếp khách nước ngoài đến du lịch trong nước của tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch.
  • Du lịch gửi khách: Phục vụ và tổ chức đưa khách trong nước đi du lịch ở nước ngoài.

Du lịch nội địa: Được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch, không có sự tham gia của yếu tố nước ngoài.

2.2 Phân loại theo mục đích chuyến đi

Phân chia theo mục đính chuyến đi có thể chia thành du lịch thuần tuý với mục đính: tham quan, nghỉ ngơi, giải trí… hoặc kết hợp với các mục đích khác như học tập, công tác, khám chữa bệnh…

  • Hình 1: Phân loại du lịch theo mục đích chuyến đi

2.3 Phân loại theo tổ chức chuyến đi Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Du lịch trọn gói: Theo hình thức này khách du lịch có thể mua dịch vụ của các công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành, các công ty này sẽ là người đứng ra tổ chức cho chuyến đi của họ bao gồm: phương tiện đi lại, dịch vụ lưu trú, ăn uống, tham quan… theo một lịnh trình đã định trước.

Du lịch tự do: Là loại hình du lịch mà cá nhân hay tổ chức tự tổ chức tự xắp xếp cho chuyến hành trình du lịch của mình.

2.4 Phân loại theo môi trường

Hoạt động du lịch theo cánh phân loại này được chia thành hai nhóm: du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên

Du lịch thiên nhiên: Là chuyến hành trình đến thăm thú khám phá những nơi có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn. Trong nhóm du lịch này có thể chia thành các nhóm nhỏ hơn như: du lịch biển, du lịch núi, rừng, sông suối, du lịch nông thôn thành thị v.v… Khi xã hội ngày càng phát triển thì con người càng ít có cơ hội gần gũi với thiên nhiên. Bị bao bọc bởi những tiện nghi của cuộc sống hiện đại và áp lực công việc ngày càng gia tăng có thể làm cho con người ta mệt mỏi. Khi đó, việc hoà mình vào thiên nhiên là một nhu cầu nhằm giải toả căng thẳng, nâng cao sức khoẻ và đến với một môi trường đầy mới lạ đầy hấp dẫn.

Du lịch văn hoá: Là hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra chủ yếu trong môi trường văn hoá hay có liên quan tới các yếu tố văn hoá tức là khai thác các tài nguyên văn hoá, nó có thể bao gồm: đi thăm các di tích, các công trình văn hoá, các lễ hội, phong tục v.v… Du lịch văn hoá hấp dẫn du khách bởi sự đậm đà, tính truyền thống cũng như sự độc đáo của từng địa phương. Du lịch văn hoá là một hướng mà các quốc gia đều chú trọng phát triển vì nó không chỉ góp phần gìn giữ mà còn là một kênh giới thiệu các giá trị văn hoá đáng quí với bạn bè trên khắp năm châu.

Ngoài ra còn có thể phân chia theo một vài tiêu chí khác như phân chia theo thời gian thành du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày; phân chia theo hành trình thành hành trình ngắn và hành trình dài; phân chia theo tiêu chí phương tiện thì có du lịch đường thuỷ, du lịch đường bộ v.v…

3. Đặc điểm của du lịch Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Đặc điểm của hiện tượng du lịch là các dấu hiệu, yếu tố, tính chất khác biệt của du lịch với các hiện tượng khác. Việc nghiên cứu các đặc điểm của du lịch là rất cần thiết để hiểu rõ bản chất của du lịch và làm cơ sở cho những giải pháp, kế hoạch, chiến lược phát triển du lịch của đất nước. Là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp du lịch có nhiều đặc điểm riêng biệt rất khó liệt kê hết, dưới đây xin nêu ra một số đặc điểm chính yếu của du lịch.

3.1 Các nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Có bốn nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch bao gồm: Du khách, nhà cung cấp dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và người dân sở tại. Bốn nhóm yếu tố này có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, mối quan hệ giữa chúng được biểu hiện qua sơ đồ sau.

  • Hình 2: Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch

Du khách: Là những người thực hiện các chuyến hành trình với mục đích du lịch. Họ phải là những người có thời gian nhàn rỗi, có nhu cầu đi du lịch và đủ khả năng tài chính để đi du lịch. Ngày nay khi mức sống và văn hoá của người dân ngày càng được nâng cao cộng thêm với sức ép của cuộc sống hiện đại thì nhu cầu du lịch cũng tăng theo và trở thành một nhu cầu phổ biến.

Nhà cung cấp dịch vụ: Là những người cung cấp trọn vẹn hay một phần của dịch vụ du lịch bao gồm các công ty du lịch lữ hành, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, giải trí, nhà sản xuất đồ lưu nhiệm… Du khách khi có nhu cầu đi du lịch thì cần tới những nhà cung cấp dịch vụ du lịch để thoả mãn nhu cầu của mình.

Chính quyền địa phương: Sản phẩm du lịch là không thể di chuyển được, do đó nếu muốn tiêu dùng nó thì người có nhu cầu phải đến nơi có tài nguyên du lịch. Chính quyền địa phương là tổ chức quản lý tại nơi có tài nguyên du lịch. Về mặt kinh tế, du lịch mang lại một khoản thu cho địa phương. Nhưng về mặt xã hội, lại đặt ra những thách thức với vấn đề quản lý hoạt động kinh doanh du lịch và quản lý sinh hoạt của lượng khách từ nơi khác tới để không có tác động xấu đến môi trường tự nhiên, văn hoá, an ninh trật tự. Trên thực tế, nếu chính quyền địa phương tạo được một môi trường thuận lợi để phát triển du lịch, có hướng phát triển đúng đắn sẽ có tác động thu hút khách du lịch và tạo điều kiện cho việc kinh doanh du lịch tại địa phương phát triển mạnh mẽ. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Cư dân sở tại: Hiện tượng du lịch có tác động rất lớn đến cư dân sở tại khi nơi họ sinh sống xuất hiện rất nhiều du khách xen vào cuộc sống của họ. Xét về mặt kinh tế, nó mang lại cơ hội việc làm cho họ trong ngành du lịch. Về mặt xã hội, họ có cơ hội giao lưu văn hoá, tăng cường hiểu biết với nhiều người từ các vùng miền khác. Tức du lịch giúp cư dân sở tại tăng các mối quan hệ xã hội và mở rộng thế giới quan, nhân sinh quan. Thái độ của cư dân địa phương cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, sự thân thiện, hiền hoà, của người dân địa phương giúp thu hút và tạo sự thoải mái cho du khách, nói cách khác sự hiếu khách của người dân cũng làm giàu thêm cho tài nguyên du lịch. Tuy nhiên, du lịch cũng có thể gây ra tác động tiêu cực như tiêm nhiễm các thói hư tật xấu, ảnh hưởng đến văn hoá và nếp sinh hoạt thường nhật của người dân.

Do có mối quan hệ tương tác lẫn nhau này của bốn nhóm yếu tố cấu thành nên hiện tượng du lịch nên ngành du lịch cần phải có sự phối hợp đồng bộ để hoạt động du lịch mang lại các lợi ích kinh tề và hiệu quả xã hội cao.

3.2 Đặc thù của sản phẩm du lịch

Như đã đề cập ở phần một, sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa yếu tố hữu hình và yếu tố vô hình, nó là toàn bộ những sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của họ. Sản phẩm du lịch về cơ bản có các đặc trưng:

Là sự kết hợp của nhiều sản phẩm dịch vụ, có thể liệt kê ra đây như dịch vụ di chuyển, phòng trọ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng…

Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ, dịch vụ thường chiếm tới 80%-90%, hàng hoá chiếm tỉ lệ rất nhỏ do đó việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch là rất khó khăn.

Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Do đó sản phẩm không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, du lịch gắn liền với việc di chuyển, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thoả mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.

Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, phần lớn quá trình tạo ra và tiêu thụ sản phẩm du lịch không trùng nhau về không gian và thời gian do đó sản phẩm du lịch không thể cất trữ, tồn kho như các loại hàng hoá khác.

3.3 Tính thời vụ trong du lịch Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Do sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau mà hoạt động du lịch mang tính thời vụ. Nghiên cứu tính thời vụ của du lịch luôn là vấn đề được đặt ra đối du lịch nhằm bắt và quản lý tốt hoạt động du lịch. Tính thời vụ trong du lịch có thể hiểu là những thay đổi lặp đi lặp lại hàng năm đối với các dịch vụ và hàng hoá của du lịch dưới sự tác động của các nhân tố nhất định. Các yếu tố tạo nên tính thời vụ của du lịch có thể nêu lên ở đây là:

Nhóm nhân tố mang tính tự nhiên: Trong nhóm nhân tố tự nhiên thì khí hậu là nhân tố có tính ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến du lịch, thông thường khí hậu tác động lên cả cung và cầu du lịch. Tuy nhiên khí hậu có ảnh hưởng khác nhau tới từng loại hình du lịch. Đối với du lịch thiên nhiên thì ảnh hưởng của nhân tố khí hậu là rất lớn, điều kiện khí hậu thuận lợi là cơ sở để nảy sinh cầu với du lịch tự nhiên. Ví dụ như với du lịch biển thì đòi hỏi phải có nhiệt độ không khí 25-300 C, cường độ ánh sáng và độ ẩm cao, chỉ mùa hè mới đáp ứng được những yêu cầu này do đó mùa hè là mùa du lịch chính tại các bãi biển. Nhưng đối với du lịch chữa bệnh, du lịch văn hoá… thì vào mùa xuân khi khí hậu trong lành và dịu mát mới là mùa thích hợp.

Nhân tố mang tính kinh tế-xã hội: Người ta chỉ đi du lịch khi nhàn rỗi, vậy lượng khách du lịch du lịch tăng lên khi có nhiều người có khoảng thời gian nhàn rỗi vào cùng một khoảng thời gian trong năm.

Sự phân bổ không đồng đều của quĩ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân cư gây ảnh hưởng không đồng đều lên lượng khách du lịch. Khi xem xét tác động của thời gian nhàn rỗi lên tính thời vụ phải xem xét ở cả hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất là thời gian nghỉ phép trong năm có thể tác động lên thời vụ du lịch. Thực tế cho thấy ở những quốc gia có thời gian nghỉ phép ngắn thì số lần đi du lịch trong năm cũng ít. Người dân có xu hướng đi nghỉ vào các dịp lễ, tết nếu thời gian nghỉ ngắn họ sẽ chủ yếu đi du lịch vào dịp có thời gian nghỉ nhiều nhất chẳng hạn như dịp tết hay giáng sinh điều này có thể tạo nên mùa du lịch chính ở nhiều vùng, nhiều quốc gia. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Góc độ thứ hai của tác động thời gian nhàn rỗi lên du lịch là thời gian nghỉ của các trường học. Thời gian nghỉ này, học sinh có một lượng thời gian nhàn rỗi khá lớn do đó các bậc phụ huynh thường bố trí những chuyến du lịch vào thời gian không phải đến trường của học sinh để cả gia đình có thể cùng nhau vui vẻ mà không ảnh hưởng đến kế hoạch học tập của con em mình. Tại các quốc gia, học sinh đều có kỳ nghỉ hè do đó mùa hè thường là mùa du lịch chính ở hầu hết mọi nơi, một số quốc gia còn có thêm kỳ nghỉ đông cũng góp phần làm tăng lượng khách du lịch vào mùa đông tăng lên đáng kể.

Phong tục tập quán: Phong tục tâp quán là một trong số các yếu tố tác động trực tiếp lên lượng khách du lịch và tạo nên sự tập trung lượng khách du lịch du lịch vào những thời vụ nhất định.

Thông thường những phong tục tập quán có tính chất lịch sử do đó nó khá bền vững. Cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có thể tạo nên những phong tục mới nhưng khó có thể thay đổi được những phong tục cũ. Ở Việt Nam, ta có thể thầy rõ những tác động của phong tục tập quán, theo phong tục mùa xuân là mùa của những tháng hội hè, lễ bái. Tháng hai tháng ba âm lịch thì hầu hết các chùa đều tổ chức hội bất kể thời tiết thuận lợi hay không như hội Chùa Hương, hội Chùa Thầy, hội Đền Hùng, Hội Lim…

  • Các nhân tố khác: Ngoài ra còn có một số nhân tố khác tác động lên tính mùa vụ của du lịch có thể kể thêm ở đây như:

Chất lượng của dịch vụ du lịch: Chất lượng dịch vụ du lịch có thể có ảnh hưởng đến độ dài của thời vụ du lịch. Ví dụ như một khách sạn ở vùng biển có thể có thời gian phục vụ khách trong năm dài hơn một số khách sạn khác khi nó có chất lượng tố hơn và có khả năng thoả mãn các nhu cầu phụ trợ khác ngoài phục vụ nhu cầu tắm biển chẳng hạn như nó có hội trường lớn, có bể bơi kín, trung tâm chữa bệnh, massage, khu vui chơi giải trí…

Yếu tố tâm lý: Du lịch là một nhu cầu do đó nó cũng tác động của yếu tố tâm lý, chẳng hạn có thể có một trào lưu mốt về một loại hình du lịch nào đó. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Tâm lý bắt chước: Ngoài mốt thì cầu du lịch còn có thể bị tác động bởi tâm lý bắt chước. Ví dụ như ở Trung Quốc, mọi người đều xem ai chưa đến Tây Hồ coi như chưa đến Hàng Châu do vậy du khách nào đến Hàng Châu đều đến vãn cảnh Tây Hồ.

Tính thời vụ về cơ bản tác động bất lợi đến hoạt động du lịch. Vì tính mùa vụ mà du lịch vào chính vụ thì quá tải làm giảm chất lượng dịch vụ, có thể ảnh hưởng đến đời sống của dân cư sở tại, giao thông, môi trường, khó khăn cho việc quản lý đối với chính quyền địa phương do lượng khách đổ về quá đông. Vào các mùa khác thì lượng khách thưa thớt không đảm bảo hiệu quả kinh doanh, một số lao động có thể mất việc, chính quyền thì bị giảm thu ngân sách. Do đó Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ sở kinh doanh du lịch phải phối hợp để giảm bớt tính thời vụ trong du lịch.

3.4 Lao động trong du lịch

Ngành du lịch mặc dù có liên quan tới nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng bản chất của nó bao gồm một số dịch vụ kinh doanh nhất định như: dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tham quan giải trí, dịch vụ tĩnh dưỡng, nghỉ ngơi… do các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đảm nhiệm. Do đó có thể chia lao động trong du lịch thành ba nhóm:

Nhóm lao động có chức năng quản lý Nhà nước về du lịch: Nhóm lao động này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch từ Trung ương đến địa phương. Bộ phận lao động này có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và của từng địa phương, tham mưu chính quyền trong việc đề ra đường lối và chính sách phát triển du lịch bền vững và có hiệu quả. Mặt khác họ cũng đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả cũng như kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh đó. Từ chức năng và nhiệm vụ của mình, nhóm lao động này đòi hỏi phải có kiến thức tổng hợp và chuyên sâu về một số lĩnh vực mà công việc của họ liên quan một cách trực tiếp.

Nhóm lao động làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo du lịch: Nhóm lao động này gồm những người làm việc trong các cơ sở giáo dục và đào tạo như các cán bộ giảng dậy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các cán bộ nghiên cứu ở các tổ chức các viện khoa học du lịch. Số lượng lao động này chiếm tỉ lệ rất thấp trong toàn lao động ngành du lịch nhưng họ là những người có hiểu biết và chuyên môn sâu về du lịch và có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch. Công việc của họ về cơ bản ổn định và có thu nhập đều đặn. Chất lượng của lao động làm việc trong ngành du lịch chịu tác động rất lớn của những người làm công tác đào do vậy bộ phận này cần phải được đào tạo bài bản, lâu dài hướng tới trình độ ngày một cao. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Nhóm lao động hoạt động trong ngành kinh doanh du lịch: Nhóm lao động này có thể phân chia thành hai nhóm nhỏ, nhóm lao động quản lý và nhóm lao động thừa hành.

Nhóm lao động quản lý: Nhóm lao động quản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch được hiểu là những người làm công tác quản lý thuộc các đơn vị kinh tế, cơ sở doanh nghiệp kinh doanh du lịch như khách sạn, hãng du lịch lữ hành, vận tải, nhà hàng… Lao động của họ có hai đặc điểm. Một là, lao động của họ trong lĩnh vực này là lao động trí óc, công cụ chủ yếu của lao động là tư duy. Người quản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch dựa trên nghiên cứu các tình huống, từ đó bằng kiến thức và kinh nghiệm của mình đưa ra các quyết định cho quá trình kinh doanh du lịch. Hai là, lao động của người quản lý trong kinh doanh du lịch là loại lao động tổng hợp. Là người quản lý trong lĩnh vực kinh doanh du lịch nên các mối quan hệ cuả họ cũng rất đa dạng và phức tạp. Đó như là một xã hội thu nhỏ chồng chéo các mối quan hệ quan hệ với khách hàng, quan hệ với đối tác, quan hệ với chính quyền, quan hệ với nhân viên cấp dưới, cấp trên… chưa kể đến các mối quan hệ khác như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng… có quan hệ diễn ra trong thời gian ngắn, có quan hệ bền chặt, lâu dài. Là người quản lý họ phải tham gia vào đó một cách tích cực và giải quyết tốt các mối quan hệ đó để đơn vị hoạt động bền vững, ổn định, kinh doanh có hiệu quả. Từ đặc điểm này mà lao động quản lý là lao động tổng hợp. Tính tổng hợp của nó biểu hiện ở chỗ vừa là lao động quản lý vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, lao động của các hoạt động xã hội khác.

Nhóm lao động thừa hành: Là nhóm lao động thực hiện nghiệp vụ kinh doanh du lịch. Họ được hiểu là những người trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho khách. Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Ví dụ như nhân viên phục vụ, lễ tân trong khách sạn; nhân viên bưng bê, đầu bếp trong các nhà hàng; nhân viên điều hành chuyến đi và hướng dẫn viên du lịch trong các công ty lữ hành… Nhóm nhân viên này đòi hỏi phải thạo chuyên môn và có thái độ phục vụ khách tốt. Nghề nghiệp của họ gắn chặt với tình hình kinh doanh du lịch do đó có thể thấy thu nhập, cường độ công việc của họ gắn với đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch. Công việc của họ có thể chịu ảnh hưởng xấu của tính mùa vụ trong du lịch. Vào mùa du lịch chính thì lượng nhân viên và cường độ công việc tăng lên, vào các khoảng thời gian khác thì cường độ giảm và số lao động cũng bớt đi. Lượng lao động dư dôi trong khoảng thời gian vắng khách du lịch gây tác động tiêu cực về mặt xã hội như thất nghiệp, tệ nạn, an ninh trật tự… đây chính là vấn đề mà ngành du lịch đang phải đối mặt

4. Vai trò của du lịch Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến. Nó bao gồm một hệ thống phức tạp các hoạt động và sự tương tác về mặt kinh tế và xã hội.

4.1 Vai trò của du lịch về mặt xã hội

Về mặt xã hội, du lịch là các mối quan hệ phi vật chất nảy sinh khi du khách tiếp xúc với con người, văn hoá, phong tục và tập quán của người dân địa phương. Đối với bản thân khách du lịch thì việc tiêu dùng dịch vụ du lịch là nhằm thoả mãn các nhu cầu cấp cao: như nghỉ ngơi, giải trí, tăng cường sức khoẻ… Như vậy có thể chia tác động của du lịch về mặt xã hội thành các nhóm vai trò nhỏ hơn như:

  • Vai trò của du lịch đối với đời sống con người
  • Vai trò của du lich với văn hoá và hợp tác quốc tế
  • Vai trò của du lịch đối với vấn đề việc làm
  • Vai trò của du lịch đối với qui hoạch xã hội

4.1.1 Vai trò của du lịch đối với đời sống con người

Du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho người dân. Trong một chừng mực nào đó du lịch có tác dụng có tác dụng làm hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động của con người. Theo công trình nghiên cứu về sinh học của Crivosev, Dorin 1981, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch, bệnh tật của cư dân giảm trung bình 30%. Đặc biệt du lịch có tác dụng rõ rệt đối với một số bệnh phổ biến. Bệnh tim mạnh giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hoá giảm 20%. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Du lịch làm tăng cường và thắt chặt hơn các mối quan giữa người với người. Khi đi du lịch con người có cơ hội tiếp xúc, gần gũi nhau hơn. Những đức tính tốt, những sự giúp đỡ, chia sẻ có dịp được bộc lộ. Lúc này, phần nào đó du lịch giúp cho con người thêm yêu thương, gắn bó và hiểu nhau hơn.

Ngoài ra du lịch còn mở rộng thế giới quan, tăng cường hiểu biết của con người. Cha ông ta có câu: “Đi ra cho biết đó đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn” hay ”Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Mỗi chuyến đi thường để lại cho con người ta một số kinh nghiệm. Ví dụ, những chuyến du lịch văn hóa, thăm quan các di tích lịch sử có tác dụng giáo dục lòng yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc; những chuyến đi dã ngoại lại lại giúp du khách hiểu biết thêm về thiên nhiên, yêu thiên nhiên và sống hoà mình vào thiên nhiên hơn. Những kinh nghiệm, những kiến thức như vậy rất có tác dụng mở mang nhận thức, giúp người dân sống vui vẻ, yêu đời và sống tránh nhiệm với xã hội hơn.

4.1.2 Vai trò của du lịch với văn hoá và hợp tác quốc tế

Như đã phân tích ở phần trước, văn hoá cũng là một dạng tài nguyên du lịch. Tài nguyên di sản văn hoá bao gồm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, làng nghề, phong tục, tập quán, lễ hội dân gian, ẩm thực dân tộc, thành tựu kinh tế… Khi đi du lịch du khách được tắm mình vào môi trường văn hoá, thông qua đó du khách hiểu biết thêm về nét đẹp văn hoá của từng vùng, từng quốc gia. lúc này du khách có thể đóng vai trò như những sứ giả văn hoá, mang sự hiểu biết văn hoá thu nhặt từ nơi mình đến thăm quan truyền đạt lại tho cộng đồng dân cư khác thông qua các mối quan hệ xã hội của mình, mặt khác họ cũng mang những nét văn hoá tại nơi mình sinh sống đến hoà nhập với nơi thăm quan du lịch. Như vậy thông qua du lịch, văn hoá được giới thiệu rộng rãi, được quảng bá và giao lưu với những nơi khác, qua đó không gian văn hoá không ngừng được mở rộng. Khi văn hoá trở thành thế mạnh trong du lịch của mỗi nước thì nó không chỉ có tác dụng giao lưu văn hoá giữa các vùng miền trong một nước mà nó còn là chiếc cầu nối văn hoá, tăng cường tình hữu nghị, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trên thế giới. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

4.1.3 Vai trò của du lịch đối với vấn đề việc làm

  • Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân.

Theo thống kê năm 2024 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng, tổng số lao động làm việc trong ngành du lịch chiếm 10.94% tổng số lao động toàn cầu. Cứ khoảng 2,5 giây du lịch lại tạo ra một việc làm mới. Đến năm 2026 cứ tám người dân thì có một người làm việc trong ngành du lịch.

Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hút khoảng 1,3 lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong các dịch vụ bổ xung. Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ xung có thể tăng thêm nhiều lần, nếu các dịch vụ này nâng cao về chất lượng và phong phú về chủng loại. Theo dự báo của WTO, năm 2030 ngành du lịch sẽ tạo thêm được khoảng 180 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở Châu Á-Thái Bình Dương.

Khi du lịch có vai trò tạo công ăn việc làm thì nó cũng có tác dụng làm giảm các hậu quả của nạn thất nghiệp như tệ nạn, mất trật tự an toàn xã hội.

4.1.4 Vai trò của du lịch đối với qui hoạch xã hội

Du lịch giúp sự phân bố dân cư hợp lý hơn và giảm quá trình đô thị hoá.

  • Điều này thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, thông thường tài nguyên du lịch phân bố ở các vùng, miền xa xôi. Việc khai thác các tài nguyên này đòi hỏi phải có sự đầu tư cơ sở hạ tầng về mọi mặt giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện nước, hệ thống giáo dục… Do vậy việc phát triển du lịch đã làm thay đổi bộ mặt của những vùng đó vì vậy mà góp phần làm giảm sự tập trung dân cư cao ở các đô thị.

Thứ hai, du lịch là ngành đòi hỏi số lượng nhân lực cao, sự phát triển du lịch đóng vai trò như một nam châm hút lao động. Nó giữ chân lao động địa phương và thu hút lực lượng lao động từ các địa phương khác đến. Điều này cũng giúp giảm sự căng thẳng do sức ép đông dân tại thành phố lớn.

4.2 Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Về phương diện xã hội, du lịch là một hiện tượng xã hội có trình độ cao; về mặt kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ mà sản phẩm của nó dựa trên và bao gồm sản phẩm của nhiều ngành kinh tế khác nhau. Thông thường khi đi du lịch, du khách thường đòi hỏi mặt hàng có chất lượng cao, hưởng những tiện nghi hiện đại… Do vậy ở các nước tiên tiến, du lịch đóng góp đáng kể trong tổng thu nhập quốc dân của cả nước.

Kinh doanh dịch vụ du lịch là ngành có chu kỳ sản xuất ngắn, ít bị rủi ro nên vòng quay đồng vốn nhanh và đạt hiệu quả sử dụng vốn cao. Hoạt động kinh doanh du lịch làm tăng nguồn thu cho địa phương và đất nước đặc biệt là nguồn ngoại tệ, việc phát triển du lịch quốc tế cho phép thực hiện ”xuất khẩu tại chỗ” và ”xuất khẩu vô hình” tạo nguồn thu ngoại tệ rất hiệu quả. ”xuất khẩu tại chỗ” thông qua việc bán sản phẩm cho du khách, thu ngoại tệ mà không cần phải tiến hành việc xuất khẩu như thông thường, từ đó mang lại nhiều lợi nhế: tiết kiệm được khoản phí vận chuyển; chi phí bảo quản, đóng gói; chi phí hải quan; không mất thời gian vận chuyển, không phải làm thủ tục hải quan, ngân hàng; không đòi hỏi lượng hàng lớn, thời gian, địa điểm giao hàng… Đối với ”xuất khẩu vô hình” có ưu điểm là chỉ bán cho khách quốc tế quyền cảm nhận một lần giá trị tài nguyên du lịch tại một thời điểm du lịch, trong đó sản phẩm là những “ấn tượng tức thời”, các giá trị tài nguyên du lịch sau khi tiêu dùng vẫn giữ nguyên giá trị.

Phát triển du lịch không làm mất đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nếu như nhiều ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu đầu vào là các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái chế như dầu mỏ, than đá, các loại quạng, gỗ v.v… làm cho chúng trở nên cạn kiệt và mất đi. Việt khai thác này về lâu về dài đặt con người vào vị thế phải liên tục tìm kiếm các nguồn thay thế và nguy cơ khủng hoảng tài nguyên là có thể xảy ra. Du lịch không như vậy, khi tiêu dùng dịch vụ du lịch xong tài nguyên du lịch không bị mất đi, không bị suy giảm giá trị. Do vậy phát triển du lịch là cách tốt nhất để phát triển kinh tế mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đất nước.

Trên bình diện vĩ mô, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi các cân thu chi của đất nước và khu vực. Du khách mang ngoại tệ vào nước đến, làm tăng ngoại tệ cho nước đó. Ngược lại phần chi ngoại tệ sẽ tăng tại nước có nhiều công dân ra nước ngoài du lịch. Trường hợp đầu cán cân thanh toán sẽ nghiêng về nước đón khách, trường hợp sau Nhà nước phải xuất một lượng ngoại tệ lớn để gửi khách. Trong phạm vi quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa. Tuy không làm biến đổi cán cân thanh toán của đất nước, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kính thích sự phát triển kinh tế của vùng sâu, vùng sa.

4.3 Các tác hại về mặt kinh tế-xã hội do việc khai thác và phát triển du lịch quá mức

Phát triển du lịch quốc tế thụ động quá tải sẽ dẫn đến mất cân bằng cán cân thành toán quốc tế, gây áp lực cho lạm phát. Vì lý do này một số nước trên thế giới đã dùng các biện pháp ngăn chặn như như hạn chế các chuyến du lịch ra nước ngoài của người dân (chẳng hạn như Malaysia qui định mỗi công dân một năm chỉ được đi du lịch ra nước ngoài một lần, trong mỗi lần ra nước ngoài chỉ được mang theo một lượng nội tệ nhất định). Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

Nếu du lịch phát triển quá mạnh sẽ tạo ra sự phụ thuộc kinh tế vào ngành dịch vụ. Ngành du lịch là ngành tạo ra dịch vụ là chủ yếu, vịêc tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan chẳng hạn như thời tiết, tình hình an ninh trật tự, đặc biệt là thảm hoạ như bệnh dịch, khủng bố, bất ổn chính trị, sóng thần, động đất… Khi thảm hoạ đi qua, hậu quả trước mắt là doanh thu đột ngột sụt giảm mạnh, hậu quả lâu dài là đánh mất lòng tin nơi du khách. Do đó việc ổn định doanh thu và phát triển du lịch là khó hơn rất nhiều so với các ngành sản xuất. Nếu tỷ trọng của ngành du lịch là lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GNP) của một nước thì nền kinh tế của nước đó có nhiều khả năng bấp bênh hơn các nước không phụ thuộc vào du lịch.

Tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong một số ngành và trong việc trong việc sử dụng lao động trong du lịch. Nguyên nhân chính ở đây là do ngành du lịch có quan hệ mật thiết với nhiều ngành khác của nền kinh tế quốc dân mà thường thì việc tiêu dùng dịch vụ du lịch lại diễn ra theo thời vụ. Chính tính thời vụ đó làm ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động và tiêu thụ sản phẩm đầu ra của một số ngành khác có quan hệ mật thiết đến việc kinh doanh du lịch.

Việc khai thác du lịch quá mức không chú trọng tới bảo vệ môi trường làm ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên của đất nước.

Du lịch còn có thể gây ra một số tệ nạn xã hội (do kinh doanh các hình thức du lịch không lành mạnh) và các tác hại sâu xa khác trong đời sống tinh thần mỗi dân tộc. Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch Việt Nam những năm qua

One thought on “Khóa luận: Hoàn thiện giải pháp phát triển du lịch Việt Nam”

  1. Pingback: Khóa luận: Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537