Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực Lâm nghiệp ở Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

I. ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2025-2030.

Với những kết quả đạt được trong giai đoạn 2020-2024, chủ trương thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam trong thời kỳ 2025 – 2030 là tiếp tục tranh thủ đi đôi với việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, bảo đảm khả năng trả nợ để hỗ trợ thực hiện thành công Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2025 – 2030. Chính sách thu hút và quản lý ODA trong thời gian tới cần tập trung cải thiện mạnh mẽ tình hình giải ngân các chương trình và dự án ODA đã ký kết, sớm đưa các công trình vào khai thác và sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ODA. Đồng thời, xây dựng các chương trình, dự án ODA gối đầu cho giai đoạn sau năm 2030, đặt trọng tâm vào chất lượng và hiệu quả.

Cơ cấu định hướng thu hút và sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2025 – 2030 là: i) Nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp và nông thôn, xóa đói, giảm nghèo chiếm 21%; ii) Năng lượng và công nghiệp chiếm 15%; iii) Giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và đô thị chiếm 33% và iv) Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ và các ngành khác (bao gồm xây dựng thể chế, tăng cường năng lực…) chiếm 41%. Tổng vốn ODA ký kết cho cả giai đoạn dự kiến từ 16,0 – 18,75 tỷ USD.

II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2025 – 2040

1. Mục tiêu chung

Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; nâng tỷ lệ đất có rừng lên 42 – 43% vào năm 2030 và 47% vào năm 2040; đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh quốc phòng.

1.1. Về kinh tế

Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 3 loại rừng. Quản lý tốt rừng tự nhiên hiện có, gia tăng diện tích và năng suất rừng trồng, tăng cường các hoạt động nông lâm kết hợp và sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống đồi trọc phù hợp cho phát triển lâm nghiệp. Sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ có tính cạnh tranh và bền vững để đáp ứng về cơ bản nhu cầu nội địa và tham gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ và lâm sản khác; cụ thể là:

  • Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp (bao gồm cả công nghiệp chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường) từ 4 đến 5%/năm, phấn đấu đến năm 2040, GDP của ngành lâm nghiệp đạt khoảng 2 – 3% GDP quốc gia;
  • Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu ha rừng trồng, bao gồm rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung, lâm sản ngoài gỗ…. và 3,63 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Diện tích phục hồi rừng tự nhiên và nông lâm kết hợp là 0,62 triệu ha. Phấn đấu ít nhất có được 30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng (là diện tích được đánh giá và cấp giấy xác nhận đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững);

Quy hoạch hợp lý, quản lý và sử dụng có hiệu quả hệ thống rừng phòng hộ khoảng 5,68 triệu ha và rừng đặc dụng 2,16 triệu ha, trong đó: Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

  • Trồng rừng mới 1,0 triệu ha đến năm 2030 và 1,5 triệu ha cho giai đoạn Trồng lại rừng sau khai thác 0,3 triệu ha/năm;
  • Khoanh nuôi tái sinh rừng 0,8 triệu ha;
  • Trồng cây phân tán: 200 triệu cây/năm;
  • Sản lượng gỗ khai thác trong nước 20 – 24 triệu m3/năm (trong đó có 10 triệu m3 gỗ lớn), đáp ứng về cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến lâm sản, bột giấy và xuất khẩu;
  • Khai thác củi dùng cho khu vực nông thôn duy trì ở mức 25 – 26 triệu m3/năm;
  • Xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ);
  • Nâng cao nguồn thu từ các giá trị môi trường rừng thông qua cơ chế phát triển sạch (CDM), du lịch sinh thái, phòng hộ chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước… đạt 2 tỷ USD vào năm 2040.

1.2. Về xã hội:

Cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hoá và đa dạng hoá các hoạt động lâm nghiệp; tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận thức, năng lực và mức sống của người dân; đặc biệt chú ý đồng bào các dân tộc ít người, các hộ nghèo và phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa để từng bước tạo cho người dân làm nghề rừng có thể sống được bằng nghề rừng, góp phần xoá đói, giảm nghèo và giữ vững an ninh quốc phòng; các nhiệm vụ cụ thể là:

  • Tạo thêm 2 triệu việc làm mới trong lâm nghiệp (bao gồm cả khu vực chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các làng nghề thủ công mỹ nghệ).
  • Tăng thu nhập, góp phần xoá đói và giảm 70% số hộ nghèo trong các vùng lâm nghiệp trọng điểm;
  • Hoàn thành giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng trước năm 2030;
  • Nâng số lao động lâm nghiệp được đào tạo nghề lên 50%, chú trọng các hộ dân tộc ít người, hộ nghèo và phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa.

1.3. Về môi trường:

Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ của ngành lâm nghiệp là: Phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đô thị, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống; tạo nguồn thu cho ngành lâm nghiệp từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, thị trường khí thải CO2, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, nghỉ dưỡng…) để đóng góp cho nền kinh tế đất nước. Cụ thể:

  • Nâng độ che phủ rừng lên 42 – 43 % vào năm 2030 và lên 47% vào năm 2040;
  • Đến năm 2030 trồng 0,25 triệu ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng;
  • Giảm thiểu đến mức thấp nhất các vụ vi phạm vào rừng. Hạn chế canh tác nương rẫy trên đất lâm nghiệp.

Bảng 5: Định hướng quy hoạch diện tích rừng và đất lâm nghiệp giai đoạn 2030 – 2040

2. Các chương trình phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2025-2040 Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

2.1. Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững

  • a. Mục tiêu

Quản lý, phát triển và sử dụng rừng bền vững, có hiệu quả nhằm đáp ứng về cơ bản nhu cầu lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc dân, ổn định xã hội, đặc biệt tại khu vực các dân tộc ít người và miền núi, đồng thời bảo đảm vai trò phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ môi trường, góp phần phát triển bền vững quốc gia.

  • b. Nội dung

Thiết lập lâm phận quốc gia ổn định cho 3 loại rừng, lập bản đồ và cắm mốc trên thực địa, trong đó quản lý bền vững và hiệu quả toàn bộ diện tích rừng sản xuất ổn định 3,63 triệu ha rừng tự nhiên 4,15 triệu ha rừng trồng (bao gồm rừng trồng nguyên liệu công nghiệp, lâm sản ngoài gỗ và các loại rừng trồng khác);

  • Tất cả rừng và đất lâm nghiệp được giao, cho thuê cho các chủ quản lý trước năm 2030.
  • Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý rừng và tăng cường năng lực cho các chủ rừng như: các công ty lâm nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Sản xuất gỗ ổn định từ rừng tự nhiên, rừng trồng và cây trồng phân tán, đến năm 2030 đạt 9,7 triệu m3 gỗ/năm và đến năm 2040 đạt 20 – 24 triệu m3/năm (trong đó có 10 triệu m3 gỗ lớn) và phát triển lâm sản ngoài gỗ nhằm đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
  • Cung cấp gỗ nhỏ cho chế biến bột giấy: đến năm 2030 là 3,4 triệu m3; đến năm 2040 là 8,3 triệu m3;
  • Nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng trung bình đạt 15 m3 gỗ/ha/năm trên cơ sở thực hiện Chiến lược giống cây lâm nghiệp giai đoạn 2025 –
  • Làm giàu 0,5 triệu ha rừng nghèo kiệt góp phần nâng cao chất lượng rừng tự nhiên.
  • Trồng rừng mới đến năm 2030 đạt 1,0 triệu ha (trong đó trồng rừng sản xuất đạt 0,75 triệu ha, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng trồng mới 0,25 triệu ha) và 1,5 triệu ha cho giai đoạn sau; trồng lại rừng sau khai thác từ 0,3 triệu ha/năm.
  • Trồng cây phân tán 200 triệu cây/năm tương đương với 100.000 ha rừng để phục vụ nhu cầu gỗ gia dụng và gỗ củi ở các địa phương.
  • Kiểm kê rừng theo định kỳ; củng cố và cập nhật cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng và kinh tế xã hội liên quan.
  • 100% các đơn vị sản xuất kinh doanh xây dựng, thực hiện và giám sát, đánh giá phương án điều chế rừng.
  • Có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đến năm 2040.
  • Đầu tư trang thiết bị hiện đại hoá công tác quản lý rừng.

2.2 Chương trình bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển các dịch vụ môi trường

  • a. Mục tiêu Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) một cách có hiệu quả, có sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư địa phương và tăng cường đóng góp của các dịch vụ môi trường từ rừng.

b. Nội dung

  • Bảo vệ rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất)
  • Bảo vệ có hiệu quả 16,24 triệu ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp;
  • 100% các văn bản quy định về bảo vệ rừng được tuyên truyền phổ biến đến các chủ rừng và người dân trong vùng;
  • Nhà nước tiếp tục giao khoán bảo vệ 1,5 triệu ha rừng phòng hộ và đặc dụng đến năm 2030.
  • Giảm 80% số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
  • 100% các chủ rừng, thôn, xã có rừng có lực lượng bảo vệ rừng. 100% cán bộ kiểm lâm địa bàn xã và lực lượng bảo vệ rừng được đào tạo nâng cao năng lực;
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, chi phí hoạt động cho bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy và phòng trừ sâu bệnh hại rừng.

Quản lý hệ thống rừng phòng hộ và rừng đặc dụng:

  • Xây dựng và củng cố hệ thống rừng phòng hộ (đầu nguồn, ven biển và môi trường đô thị) với tổng diện tích khoảng 5,68 triệu ha và hệ thống rừng đặc dụng với tổng diện tích không quá 2,16 triệu ha;
  • 100% khu rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có chủ quản lý (tổ chức nhà nước, tư nhân hoặc cộng đồng) và có quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trung, dài hạn; đến năm 2030
  • Tiếp tục thử nghiệm và nhân rộng hình thức quản lý rừng cộng đồng và các hình thức khác (cộng đồng quản lý, công ty cổ phần, hợp tác xã, liên doanh liên kết…).

Các dịch vụ môi trường:

  • Nghiên cứu định giá các dịch vụ môi trường của rừng như bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, chống bồi tụ, hấp thụ CO2, du lịch sinh thái…; xây dựng cơ chế chi trả cho các dịch vụ môi trường trong giai đoạn 2025 – 2030;
  • Đến năm 2026, xây dựng và triển khai hoạt động Quỹ bảo vệ và phát triển rừng

2.3. Chương trình chế biến và thương mại lâm sản

  • a. Mục tiêu

Sản xuất các sản phẩm có khả năng cạnh tranh quốc tế chủ yếu dựa vào nguồn gỗ và lâm sản ngoài gỗ nội địa bền vững; áp dụng công nghệ tiên tiến và thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng về cơ bản các nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; xây dựng công nghiệp chế biến lâm sản trở thành mũi nhọn kinh tế của ngành Lâm nghiệp.

  • b. Nội dung

Tổ chức lại ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ để cân đối giữa năng lực sản xuất và nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định. Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Tăng cường năng lực sản xuất công nghiệp chế biến lâm sản để đáp ứng cơ bản các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Cụ thể: i) Tổng công suất gỗ xẻ: 6 triệu m3/năm;ii) Ván dăm: 320.000 m3 sản phẩm/năm; iii) Ván MDF: 220.000 m3 sản phẩm/năm; iv) Giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu: 7 tỷ USD (3,5 triệu m3 sản phẩm); v)Giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu: 0,8 tỷ USD

Đến năm 2040, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng bình quân 15 – 20%; thu hút 1,5 triệu lao động và thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 15 – 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn

2.4. Chương trình nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm

  • a. Mục tiêu

Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành Lâm nghiệp. Lấy khoa học công nghệ làm động lực cho phát triển ngành, gắn nghiên cứu, đào tạo với sản xuất và thị trường nhằm nâng cao các đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lâm nghiệp, bảo vệ môi trường và cải thiện mức sống cho những người dân làm nghề rừng.

  • b. Nội dung

Nghiên cứu:

  • Tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ tính chế lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng cao sản, nông lâm kết hợp và cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt;
  • Cải tiến công nghệ và trang thiết bị cho công nghiệp chế biến lâm sản để tăng năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế;
  • Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng các chính sách có tính đột phá trong ngành Lâm nghiệp (sản xuất có lợi nhuận cao, xã hội hoá, phát triển lâm sản ngoài gỗ, định giá dịch vụ môi trường, thu hút vốn khu vực tư nhân trong và ngoài nước…).

Giáo dục, đào tạo:

  • Đào tạo chính quy bình quân mỗi năm khoảng 5.000 sinh viên học sinh trong các trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chú ý đào tạo nâng cao cho các cán bộ chủ chốt;
  • Đào tạo nghề cho 50% nông dân làm nghề rừng và khu vực các làng nghề chế biến lâm sản;
  • Từ năm 2027, đưa giáo dục bảo vệ môi trường và rừng vào giảng dạy trong tất cả các trường học phổ thông;
  • 80% cán bộ quản lý rừng ở địa phương được đào tạo về điều tra rừng và xây dựng, thực thi kế hoạch quản lý bảo vệ rừng;
  • Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ giảng dạy và trang thiết bị cơ bản cho các viện, trường lâm nghiệp;
  • Hoàn thiện và cập nhật các chương trình, giáo trình đào tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế;
  • Tăng cường liên kết giữa hệ thống đào tạo lâm nghiệp với hệ thống khuyến lâm. Đến năm 2040 có từ 1 đến 2 trường đào tạo lâm nghiệp đạt chuẩn quốc tế. Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Khuyến lâm:

  • Nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý, bảo vệ rừng cho 80% hộ nông dân;
  • Thu hút 50% thành phần kinh tế khu vực tư nhân và các tổ chức đoàn thể tham gia các hoạt động khuyến lâm;
  • Bố trí ít nhất 1 cán bộ khuyến lâm chuyên trách hoặc kiêm nhiệm cho mỗi xã nhiều rừng; phát triển và tăng cường năng lực cho hệ thống khuyến lâm tự nguyện;
  • Cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt các hộ nghèo và dân tộc ít người;
  • Xây dựng mối liên kết giữa hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản.

2.5. Chương trình đổi mới thể chế, chính sách, lập kế hoạch và giám sát ngành lâm nghiệp

  • a. Mục tiêu

Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động lâm nghiệp theo định hướng thị trường và hội nhập quốc tế, có sự tham gia rộng rãi của khu vực hộ gia đình, cộng đồng và tư nhân; kiện toàn hệ thống tổ chức đồng thời đổi mới công tác lập kế hoạch và giám sát ngành lâm nghiệp

  • b. Nội dung

Xây dựng và cập nhật hệ thống chính sách, pháp luật và thể chế lâm nghiệp theo hướng phân cấp nhiều hơn cho địa phương và phát triển lâm nghiệp bền vững theo định hướng thị trường và xã hội hóa nghề rừng.

Xây dựng cơ chế chính sách tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ và phát triển rừng, khuyến khích các thành phần kinh tế trong, ngoài nước tham gia đầu tư kinh doanh phát triển kinh tế lâm nghiệp.

Tổ chức lại và nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý nhà nước về lâm nghiệp theo hướng thống nhất chức năng quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng; làm rõ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức lâm nghiệp các cấp và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ lâm nghiệp.

Tổ chức một số công ty lâm nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường tại những vùng lâm nghiệp xa xôi khó khăn mà các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa sẵn sàng đầu tư; thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp và chế biến lâm sản của nhà nước đang hoạt động kém hiệu quả.

  • Xây dựng, thực hiện và mở rộng các hình thức quản lý bảo vệ rừng cộng đồng.
  • Thiết lập hệ thống khuyến lâm nhà nước các cấp và có cơ chế hỗ trợ tổ chức khuyến lâm tự nguyện cho thôn, xã có rừng.
  • Xây dựng các đơn vị chuyên trách về giám sát, đánh giá gắn với việc kiện toàn hệ thống lập kế hoạch lâm nghiệp các cấp.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA TRONG NGÀNH LÂM NGHIỆP VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Với những chủ chương định hướng rõ ràng từ phía Chính phủ và các Bộ ngành, ngành Lâm nghiệp đã nhận được rất nhiều ưu tiên, ưu đãi và một hướng đi rõ ràng để phát triển. Nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn ODA, một nguồn vốn rất tiềm năng và quan trọng, để có thế tiếp tục phát triển đi lên theo định hướng, ngành Lâm nghiệp cần quán triệt thực hiện mốt số giải pháp cơ bản sau:

1. Hoàn thiện và đồng bộ hóa hệ thống pháp lý, cơ chế chính sách ưu tiên phát triển Lâm nghiệp.

Trong thời gian tới, Nhà nước Việt Nam cần phải đồng bộ hoá khung pháp lý cho việc thực hiện ODA, nghiên cứu và tiến hành sửa đổi một số nghị định liên quan đến việc quản lí và sử dụng ODA, tạo sự hài hoà giữa thủ tục của phía các nhà tài trợ và phía Việt Nam. Đồng thời có những chính sách ưu đãi thích hợp, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia quản lí bảo vệ rừng và kinh doanh nghề rừng. Sự thiếu đồng bộ, thiếu chặt chẽ trong nội dung của một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA là nguyên nhân chính gây trở ngại trong quá trình thực hiện các dự án và hiệu quả sử dụng của nguồn vốn này.

Qua thực tế triển khai, Chính phủ và các nhà tài trợ đều nhận thấy cần phải chỉnh sửa lại các văn bản pháp lý như:

1.1. Về chính sách về quản lý rừng và đất lâm nghiệp

Sửa đổi và hoàn thiện chính sách giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp nhằm tạo động lực để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển, kinh doanh lâm sản và đảm bảo lợi ích thỏa đáng cho chủ rừng.

Ưu tiên giao đất, giao và khoán rừng phòng hộ cho các công đồng, hợp tác xã, hộ gia đình để quản lý, bảo vệ và hưởng lợi lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt

Tiếp tục thử nghiệm và nhân rộng các mô hình quản lý rừng cộng đồng. Hoàn thiện quy chế quản lý rừng và hưởng lợi đa thành phần. Hoàn thiện và thực hiện cơ chế chính sách giao, cho thuê rừng sản xuất và rừng phòng hộ là rừng tự nhiên. Thử nghiệm và xây dựng cơ sở pháp lý để giao, cho thuê rừng đặc dụng cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt trong các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng;

Tăng cường phân cấp quản lý nhà nước về rừng cho chính quyền các cấp huyện và xã. Quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của chủ rừng, chính quyền các cấp, các cơ quan thừa hành pháp luật và lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng và thôn xã nếu để mất rừng, phá rừng ở địa phương; Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, mỗi chủ rừng, mỗi người dân và toàn xã hội trong việc bảo vệ và phát triển rừng, đi đôi với tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật.

1.2. Về Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/2019/NĐ-CP và Nghị định 22 CP về tái định cư.

Đối với quy chế đấu thầu, cần quan tâm tới một số khía cạnh như phải có quy định cụ thể về trường hợp bỏ thầu quá thấp; trường hợp nào được tuyên bố trúng thầu, trường hợp nào không nhằm bảo đảm tiến độ và chất lượng thi công của dự án sau đấu thầu; nghiên cứu lập ra các cơ quan chuyên đấu thầu quốc tế, các cơ quan này sẽ gồm các chuyên gia giỏi và am hiểu về đấu thầu quốc tế nhằm tránh các sơ sót đáng tiếc xảy ra…

Đối với các quy định về đền bù giải toả, tái định cư và giải phóng mặt bằng vốn là vấn đề khá bức xúc hiện nay, gây nên tình trạng chậm trễ trong thực hiện các dự án cần được khắc phục trên một số phương diện như quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương, ban quản lí dự án và nhà thầu trong vấn đề đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau; cần mở cuộc vận động sâu rộng đến mọi người dân về ý thức trách nhiệm công dân đối với các dự án quốc gia…

1.3. Về chính sách đầu tư

Tạo lập cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản đặc thù cho ngành lâm nghiệp và đổi mới phương thức đầu tư của Nhà nước cho ngành theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, thay cho việc cấp vốn theo suất đầu tư hỗ trợ bình quân hiện nay;

Xây dựng môi trường đầu tư minh bạch và ổn định, bảo đảm quyền sở hữu công nghiệp rõ ràng, quyền sử dụng đất, sử dụng và sở hữu rừng lâu dài, cung cấp các thông tin chính xác về cơ hội đầu tư và tài nguyên rừng, đơn giản hoá các thủ tục thành lập doanh nghiệp. Có chính sách hướng đầu tư của Nhà nước từ đầu tư trực tiếp sang đầu tư gián tiếp (cơ sở hạ tầng, giống, khoa học công nghệ…), tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư sản xuất và chế biến lâm sản;

Công khai các quy hoạch phát triển lâm nghiệp, thử nghiệm và nhân rộng việc đấu thầu cho thuê rừng sản xuất, rừng đặc dụng và rừng phòng hộ phục vụ cho du lịch, nghỉ dưỡng. Nhà nước tăng cường xây dựng quy hoạch và hỗ trợ lập một số dự án vùng trồng rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung để kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước;

Đẩy mạnh công tác định giá rừng làm cơ sở cho các giao dịch về rừng. Xây dựng Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của trung ương và địa phương từ các nguồn vốn khác nhau (vốn ngân sách, vốn ODA, các phí dịch vụ môi trường, tín dụng các-bon, du lịch sinh thái, khoản thu xử lý các vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các đóng góp khác) và có cơ chế quản lý, sử dụng hợp lý quỹ này. Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Xúc tiến xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách kinh tế bảo đảm thu lại các giá trị dịch vụ môi trường do ngành Lâm nghiệp làm ra và đang cung cấp cho xã hội như: phòng hộ tạo nguồn nước cho các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, phòng hộ ven biển, bảo vệ môi trường đô thị, du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng .v.v.,. Đối với các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường của ngành lâm nghiệp phải có nghĩa vụ trả tiền, tạo nguồn tài chính để tái đầu tư cho ngành lâm nghiệp đủ cơ sở phát triển cân bằng bền vững. Như vậy, yêu cầu xây dựng một cơ chế chính sách lâm nghiệp trong thời thời kỳ mới là phải bảo đảm để ngành lâm nghiệp có thể “lấy rừng nuôi rừng”, vượt ra ngoài sự bao cấp của nhà nước.

Thí điểm xây dựng dự án trồng rừng cơ chế phát triển sạch (CDM) quy mô nhỏ để tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư nghèo, doanh nghiệp nhỏ và quy mô lớn hơn cho các doanh nghiệp khác.

1.4. Một số cơ chế chính sách khác

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và triển khai có hiệu quả một số cơ chế quản lí, quy chế cho vay lại, thuế đối với các dự án ODA, chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, chính sách đối với chuyên gia; hoàn thiện cơ chế thẩm định dự án, thẩm định giá, định mức chi tiêu, phí tư vấn đối với các cơ quan tư vấn trong và ngoài nước, quy chế kiểm tra, kiểm soát đối với các dự án ODA; ban hành quy chế trách nhiệm kèm theo chế độ thưởng, phạt đối với các đơn vị, cá nhân liên quan đến việc sử dụng ODA; nghiên cứu và ban hành quy chế thu hồi vốn trực tiếp và hoàn trả một phần vốn vay nước ngoài từ nguồn thu phí đối với một số công trình công cộng để nâng cao trách nhiệm quản lí sử dụng vốn và giảm một phấn gánh nặng nợ nước ngoài cho NSNN.

2. Nâng cao tính công khai và hài hỏa thủ tục giữa Chính phủ và các nhà tài trợ

2.1. Hiệu lực hóa những quy định của các nhà tài trợ

Cần phải có nhiều nỗ lực, nhiều việc phải làm để bảo đảm tất cả các đối tác Việt Nam liên quan đến các dự án ODA lâm nghiệp hiểu và thực hiện đúng các hướng dẫn và qui định của nhà tài trợ. Trong nhiều trường hợp, nhiều cán bộ phía Việt Nam không biết rằng những điều khoản nêu trong các hiệp định đã ký giữa nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam mang tính pháp lý tối thường và trong trường hợp có những sự khác biệt giữa quy định của Việt Nam và hướng dẫn, quy định của nhà tài trợ thì hướng dẫn, qui định của nhà tài trợ phải được ưu tiên hơn. Do vậy, không chỉ các Ban quản lí dự án mà còn cả các cơ quan chủ quản thuộc các Bộ ngành đôi khi cũng ưu tiên các quy định và các quyết định mang tính chính trị nội bộ của phía Việt Nam mà không chú ý đến những điều khoản trong các hiệp định đã ký. Chính phủ cần đưa ra những biện pháp hữu hiệu về tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, quản lí và vận hành chương trình, dự án và của các cơ quan quản lí Nhà nước liên quan về những điều khoản của hiệp định đã ký giữa Chính phủ và nhà tài trợ cũng như các quy định, hướng dẫn của nhà tài trợ.

2.2. Hài hòa các thủ tục với nhà tài trợ Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Một vấn đề khác là hài hoà các thủ tục với nhà tài trợ. Số lượng nhà tài trợ càng nhiều thì càng có các thủ tục và quy định khác nhau mà Chính phủ phải tuân theo để tiếp nhận và thực hiện các dự án đầu tư, các dự án hỗ trợ kỹ thuật bằng nguồn vốn ODA. Tất nhiên điều này đã được chấp nhận rộng rãi ở tất cả các quốc gia tiếp nhận tài trợ, nhưng cũng đặt những gánh nặng to lớn cho phía tiếp nhận viện trợ về nguồn nhân lực, tài chính và thời gian. Do đó, bên nhận tài trợ cần phải hài hoà các thủ tục càng nhiều càng tốt để giảm thiểu những khó khăn, gây chậm chễ trong quá trình chuẩn bị và thực hiện các dự án ODA. Việc từng bước trao đổi, thảo luận với cộng đồng các nhà tài trợ để có thể hài hoà các thủ tục sẽ tạo ra những tác động tích cực đối với việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA.

Quá trình này bao gồm các nội dung cơ bản được kiến nghị sau đây: i) Các nhà tài trợ tham gia nhóm hài hoà cần phải lên kế hoạch hoạt động phù hợp với Chính phủ (ví dụ như trong vấn đề chu trình dự án), tổ chức một số hoạt động chung với nhau để giảm chi phí giao dịch của Chính phủ (ví dụ như việc cùng xem xét chiến lược quốc gia), và hài hoà các thuật ngữ.; ii) Các nhà tài trợ tham gia cần thực hiện một số bước đi cụ thể hướng tới việc thực hiện các thủ tục của Chính phủ (ví dụ như trong lĩnh vực kế toán v.v…), và sử dụng phương pháp “học thông qua thực hành” để tăng cường năng lực hệ thống cho Chính phủ (ví dụ thông qua việc tiến hành thiết kế và đánh giá dự án chung v.v…); và iii) Chính phủ cần làm rõ một số khía cạnh trong chu trình dự án cho phép hài hoà ở một số lĩnh vực (như xây dựng và áp dụng các định mức chi phí, các biểu mẫu chuẩn và các hướng dẫn thực hiện ) Bộ NNPTNN cũng cần có những văn bản pháp quy quy định chi tiết và cụ thể hơn nữa về thủ tục giữa từng nhà tài trợ cho các dự án khác nhau với đối tác thực hiện là phía Việt Nam, tránh tình trạng áp dụng và thực thi không đồng nhất như hiện nay.

3. Tiếp tục tinh giảm các quy trình thủ tục chuẩn bị và thực hiện đầu tư Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Quy trình ra quyết định đối với các dự án sử dụng vốn ODA vẫn còn dài dòng. Hiện tại, việc phê duyệt các bước chính đối với các dự án ODA thường ở cấp cao nhất-Thủ tướng Chính phủ. Quá trình ra quyết định vẫn còn tập trung và phải trải qua một quá trình lâu dài để đi đến sự nhất trí chung, tốn kém thời gian và làm chậm chễ quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Không ít dự án từ khâu chuẩn bị, thiết kế dự án đến thời điểm phê duyệt và triển khai thực thi dự án quá dài và trong thời gian này điều kiện kinh tế-xã hội địa phương và một số chủ trương, chính sách của Nhà nước đã có nhiều thay đổi, nên phải điều chỉnh thiết kế dự án hoặc cơ cấu lại nội dung đầu tư. Do đó, việc đơn giản hoá quá trình ra quyết định đòi hỏi phải có nhiều nỗ lực hơn nữa, dựa trên sự phân cấp, tăng cường năng lực và nâng cao trách nhiệm quản lí đối với mọi cấp.

Hiện tại, Ban quản lí dự án không có đủ thẩm quyền và quyền lực để quản lí dự án một cách có hiệu quả. Họ phải tuân theo các quyết định của cấp trên trực tiếp là Bộ NNPTNT, tiếp đến là Bộ kế hoạch và đầu tư và các ban, bộ ngành khác liên quan, tốn nhiều thời gian chờ đợi, xem xét và phê chuẩn từ cấp Bộ đến cấp Chính phủ trong phần lớn các vấn đề, thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong các hợp đồng. Cần nâng cao hơn nữa sự tham gia và trách nhiệm của các Vụ, Cục của các Bộ ngành Trung ương và các Sở, Ban, Ngành địa phương trong việc điều hành và quản lí dự án. Việc phân cấp và trao quyền hơn nữa từ cấp Trung ương cho cấp thực hiện (Ban quản lí dự án) là cần thiết.

Đơn giản hoá quy trình và phân cấp là yêu cầu khách quan nhưng đồng thời đòi hỏi những nỗ lực to lớn của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan, nhằm tăng cường năng lực cho các cơ quan chủ quản, chủ dự án và Ban quản lí dự án.

4. Đẩy mạnh quy hoạch, kế hoạch, giám sát và nghiệm thu dự án

Tổ chức các đoàn liên ngành để đánh giá hiệu quả sử dụng ODA theo 3 nhóm dự án: Hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại và vốn vay. Các kết quả đánh giá sẽ công khai hoá dư luận trong và ngoài nước. Cấp Uỷ các cơ quan, đơn vị và Hội đồng nhân dân các cấp cần được thường xuyên báo cáo về tiến độ và kết quả thực hiện dự án. Trên cơ sở đó thực hiện chức năng chỉ đạo, kiểm tra và giám sát, đánh giá dự án. Tăng cường kỉ luật hành chính về chế độ báo cáo định kỳ.

Củng cố hệ thống thông tin và giám sát ngành lâm nghiệp phục vụ cho giám sát và đánh giá việc thực thi Chiến lược phát triển lâm nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý ngành lâm nghiệp và hội nhập quốc tế.

Ngoài các chế tài chung quy định trách nhiệm của các cơ quan, cần có các quy định về trách nhiệm cá nhân, hình thức và mức độ xử lý các vi phạm đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ giám sát, đánh giá đầu tư; các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án để xảy ra tình trạng chậm chễ tiến độ, gây thất thoát, lãng phí trong quá trình chuẩn bị, triển khai thực hiện và khai thác vận hành các dự án đầu tư.

Đẩy mạnh và tổ chức tốt công tác giám sát cộng đồng: Công tác giám sát cộng đồng ở tất cả các địa phương nên sớm được triển khai, định kỳ tổng kết, rút kinh nghiệm làm cho công tác này có tác dụng thiết thực góp phần chấn chỉnh hoạt động đầu tư ở địa phương; Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành các cấp và cộng đồng để thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư và xử lý các vấn đề phát sinh, ngăn chặn kịp thời ảnh hưởng hoặc hậu quả tiêu cực góp phần chống lãng phí và thất thoát trong đầu tư và xây dựng.

5. Đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn đối ứng Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Vấn đề vốn đối ứng từ lâu đã trở thành một cản trở lớn đối với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA. Thông thường các dự án ODA yêu cầu vốn đối ứng trong nước từ 10%-30% tổng mức đầu tư dự án. Do khó khăn về tài chính nên nhiều chủ đầu tư thường không chuẩn bị đầy đủ và kịp thời vốn đối ứng để triển khai dự án. Trong khi đó do đặc thù của ngành lâm nghiệp, mặc dù chưa được giải ngân ODA nhưng nhu cầu sử dụng vốn ban đầu lại rất cần thiết phục vụ việc chuẩn bị các khâu như:

  • Chuẩn bị đất trồng rừng
  • Giải phóng mặt bằng
  • Chuẩn bị giống cây trồng và các điều kiện cơ sở vật chất khác.
  • Chi phí liên quan đến đàm phán và vận động người dân tham gia các chương trình, dự án…

Bản thân các quy định về giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập, cần được bổ sung, sửa đổi, song bên cạnh đó, vốn đối ứng cho công tác đền bù giải phóng mặt bằng thường không được cân đối kịp thời, gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án. Nguồn vốn đối ứng của dự án thường đến chậm, gây khó khăn cho các tỉnh nghèo do hầu hết thu ngân sách địa phương không đủ bù chi. Nhà nước cần tăng cường công tác kế hoạch hoá nguồn vốn đối ứng, bảo đảm sự sẵn có của nguồn vốn đối ứng, không chỉ cho công tác giải phóng mặt bằng mà còn nhằm phối hợp chặt chẽ với kế hoạch giải ngân nguồn vốn ODA.

Trước mắt, Chính phủ cần tập trung cung cấp kịp thời vối đối ứng cho các dự án ODA đang được triển khai và các dự án đã cam kết, để những công trình này được nhanh chóng đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả.

6. Liên tục đào tạo nâng cao năng lực cán bộ thực hiện các dự án đầu tư bằng vốn ODA

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, vai trò đội ngũ cán bộ có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, cần có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt tập trung vào kỹ năng giao tiếp, năng lực thực hiện trong mọi bước của chu trình dự án.

Hiện tại, như đã nêu ở trên, trở ngại lớn nhất của việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA là đội ngũ cán bộ tham gia quản lí điều phối ODA ở các cấp thiếu về số lượng và yếu về chất lượng (trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng lực quản lí…)

Đào tạo cán bộ đủ năng lực thu hút và quản lí vốn ODA cũng là phát huy tính chủ động trong thu hút, quản lí và sử dụng vốn ODA. Chính vì vậy, việc tổ chức công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là công việc quan trọng và cấp thiết. Trong các trường đào tạo cần có thêm các môn học về cách thức thu hút, quản lí và sử dụng vốn ODA và đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ. Mặt khác phải đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhằm trang bị, bổ sung kiến thức mới về thu hút, quản lí và sử dụng vốn ODA đối với các cán bộ trước đây chưa được học. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lí theo tiêu chuẩn chức danh. Tổ chức thi tuyển để tuyển dụng cán bộ đủ năng lực chuyên môn và quản lí. Chú trọng đào tạo cán bộ giỏi, chuyên gia đầu đàn cho ngành, am hiểu về nghề rừng, kỹ thuật lâm sinh… Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo bằng cách cử cán bộ đi đào tạo, tham quan ở nước ngoài. Mời chuyên gia giảng dạy, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật công nghệ, tổ chức hội thảo báo cáo chuyên đề. Mở các lớp về ODA, khuyến khích các hình thức đào tạo, kết hợp đào tạo ngắn hạn với dài hạn, kết hợp đào tạo chính quy, đào tạo kèm cặp với tự đào tạo. Xây dựng chiến lược, kế hoạch cho công tác đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Lâm nghiệp liên quan đến ODA. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng gồm quản lí hành chính, công tác kế hoạch, tài chính, đầu tư, theo dõi, đánh giá… Đến năm 2030 ngành lâm nghiệp dự kiến sẽ đào tạo và bồi dưỡng khoảng 1000 lượt người.Việc đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ sẽ tăng cường tính làm chủ, bảo đảm tính hiệu quả đối với các chương trình, dự án ODA.

Tuyển dụng đội ngũ chuyên gia nước ngoài: Bên cạnh đó, lực lượng chuyên gia tư vấn quốc tế và trong nước và đội ngũ quan chức theo dõi, chuyên quản chương trình, dự án của nhà tài trợ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, chất lượng và hiệu quả quản lí chương trình, dự án ODA. Cần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng dịch vụ tư vấn, định kỳ cần đánh gia năng lực của các công ty tư vấn và các nhà thầu để sàng lọc và thay thế nếu cần. Các nhà tài trợ cũng cần tuyển chọn tốt cán bộ phụ trách chương trình, dự án ODA có năng lực giỏi, phẩm chất tốt, tinh thần hợp tác và hiểu biết về văn hoá Việt Nam.

Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật: Đi đôi với mở rộng đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao trình độ chuyên gia thực hiện dự án, cần mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật trồng rừng ở các vùng kinh tế lâm nghiệp trọng điểm. Giai đoạn 2020-2024 dự kiến số lượng đào tạo tăng lên gấp đôi so với trước và trong giai đoạn 2025-2030 sẽ đào tạo khoảng 4000 lượt người; Ngoài ra, cũng cần bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về lâm nghiệp cho cán bộ kỹ thuật cấp xã, thôn, bản và chủ trang trại thuộc địa bàn trung du, miền núi và ven biển. Giai đoạn 2020-2024 tập trung đào tạo cho các vùng trọng điểm có dự án phát triển nông lâm; giai đoạn 2025-2030 mở rộng cho các vùng khác; đồng thời phát triển hệ thống khuyến lâm trên cơ sở xã hội hoá, đặc biệt ở địa bàn cơ sở. Nội dung phổ cập là các chính sách giao đất, khoán rừng, những điều cơ bản trong Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng và những chính sách, chế độ của Nhà nước liên quan đến rừng và nghề rừng và chú trọng chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc. Phấn đấu mỗi xã đào tạo được từ 1-2 cán bộ khuyến lâm, để vừa sản xuất, vừa là người hướng dẫn cho các hộ gia đình khác, được hưởng trợ cấp từ kinh phí của chương trình, dự án.

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực được xem là một trong những chủ trương cần thiết cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong các chương trình, dự án ODA lâm nghiệp. Nguồn nhân lực cần được phát triển theo quan điểm kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, đào tạo gắn với sử dụng bằng cách kết hợp giữa đào tạo chính quy với xã hội hoá đào tạo, phù hợp với xu thế của thời đại “nền kinh tế tri thức”.

Trên đây là một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA để phát triển ngành Lâm nghiệp nước ta trong giai đoạn tới. Việc quán triệt chủ trương và thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ các giải pháp này sẽ mang lại một ý nghĩa hết sức thiết thực cho ngành Lâm nghiệp nói riêng và các lĩnh vực sử dụng vốn ODA nói chung.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

Luận văn này đã trình bày một cách khái quát về các vấn đề liên quan đến việc thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam nói chung và trong ngành Lâm nghiệp nói riêng. Bài viết đã đưa ra những số liệu thống kê cùng các đánh giá về quá trình vận động thu hút, sử dụng, quản lý và giám sát thực hiện các dự án ODA trong ngành Lâm nghiệp trong hơn 10 năm qua, cả những thành tựu đạt được lẫn những tồn tại, hạn chế chưa khắc phục được. Qua đó, đề xuất kiến nghị một số giải pháp mang tính cơ bản nhất cho việc nâng cao hiệu quả các công tác thu hút vá sử dụng vốn ODA trong ngành Lâm nghiệp.

Trong gần 20 năm (2010-2026) mở cửa thu hút vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) để phục vụ cho quá trình cải cách, đổi mới và phát triển đất nước, nâng cao đời sống người dân, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách pháp lý cũng như công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn viện trợ này. Điều đó đã khiến cộng đồng các nhà tài trợ trên thế giới ngày càng tin tưởng và minh chứng là nguồn vốn ODA các nước phát triển, tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam ngày càng tăng, đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao.

Bên cạnh những mặt được, do việc thu hút và sử dụng vốn ODA nói chung và trong ngành Lâm nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chia ra nhiều khâu, phụ thuộc vào cả yếu tố trong và ngoài nước nên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế và cả các bất cập chưa thể giải quyết được. Điều đó khiến cho hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA chưa được như mong muốn của các bên, gây thất thoát lãng phí ở nhiều khâu. Với xu hướng vốn viện trợ ODA ngày càng giảm trong thời gian tới, các vấn đề bất cập này cần sớm được giải quyết để Việt Nam có thể tiếp tục tranh thủ được nguồn viện trợ này.

Sau quá trình thu thập tài liệu, phân tích, đánh giá hiệu quả công tác thu hút và sử dụng vốn ODA, đặc biệt trong ngành Lâm nghiệp, tôi nhận thấy bên cạnh những bất cập, lạc hậu mang tính chính sách, vẫn còn tồn tại một tư tưởng coi vốn ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển – đồng nghĩa với “thứ cho không” gây đến tình trạng sử dụng bừa bãi, gây thất thoát lãng phí, kéo theo nạn tham nhũng, việc sử dụng kém hiệu quả tạo sẽ nên gánh nặng trả nợ cho thế hệ sau. Để khắc phục những bất cập trên, những giải pháp cơ bản mà luận văn nêu ra cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, và triệt để, trong đó bao gồm:

  • Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách ưu tiên phát triển
  • Từng bước tiến tời hài hòa thủ tục quy trình vận động và tiếp nhận ODA
  • Tinh giảm các khâu trong quy trình tiếp nhận vốn ODA
  • Đẩy nhanh mạnh quá trình giải ngân và bảo đảm đầy đủ, kịp thời vốn đối ứng cho việc thực hiện các dự án.
  • Tăng cường giám sát theo dõi, kiểm tra các dự án.
  • Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ hiện có đồng thời tranh thủ kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các đối tác.

Do nhiều hạn chế nên trên đây chỉ là một số những giải pháp mang tính cơ bản nhất. Để có thể hoàn thiện bài khóa luận tốt nghiệp này và để thực sự nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam nói chung và trong ngành Lâm nghiệp nói riêng rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và những người quan tâm. Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Hiệu quả thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp

One thought on “Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp”

  1. Pingback: Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537