Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực Lâm nghiệp ở Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
I. QUY TRÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA Ở VIỆT NAM
Quy trình thu hút, quản lí và sử dụng ODA được tiến hành theo các bước chủ yếu sau:
1. Vận động, đàm phán ký kết điều ước quốc tế khung về ODA
Danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA tại hội nghị thường niên nhóm Tư vấn các nhà tài trợ (Hội nghị CG). Trong tuần thứ nhất của tháng 8 hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản hướng dẫn các cơ quan chủ quản chuẩn bị vào trước cuối tháng 9 hàng năm, các cơ quan chủ quản gửi cho Bộ Kế hoạch và đầu tư danh mục các chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA tại hội nghị CG thường niên.
Phối hợp các hoạt động vận động ODA, bao gồm: Tổ chức hội nghị điều phối ODA theo ngành, tổ chức hội nghị điều phối ODA theo lãnh thổ, các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước ngoài tổ chức vận động ODA….Trên cơ sở kết quả vận động ODA, Bộ Kế hoạch và đầu tư tổng hợp trình thủ tướng Chính phủ danh mục chương trình, dự án ODA đối với nhà tài trợ tương ứng do các cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh) đề xuất và các chương trình, dự án ODA do nhà tài trợ đề xuất.
Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế khung về Bộ kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, văn phòng Chính phủ và các cơ quan có nhu cầu ODA chuẩn bị nội dung và tiến hành đàm phán, ký kết với nhà tài trợ các điều ước quốc tế khung về ODA
Thông báo điều ước quốc tế khung về ODA. Sau khi điều ước quốc tế khung về ODA đã được ký kết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho các cơ quan chủ quản về chương trình, dự án được nhà tài trợ đồng ý xem xét tài trợ trong từng thời kỳ để tiến hành các bước chuẩn bị tiếp theo.
2. Chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt nội dung chương trình dự án ODA
- Công tác chuẩn bị được thực hiện như sau: Trước hết, cơ quan viện trợ sẽ yêu cầu lập văn kiện chương trình, dự án ODA, sau đó là việc xác định cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng Sau khi hoàn tất các khâu trên, cơ quan hoặc bộ phận tiếp nhận ODA sẽ lên kế hoạch chuẩn bị vốn cho chương trình, dự án ODA đó.
Nội dung chủ yếu của kế hoạch chuẩn bị chương trình, dự án ODA:
- Mục tiêu và kết quả phải đạt được của quá trình chuẩn bị kèm theo đề cương chi tiêt và yêu cầu về nội dung đối với văn kiện chương trình, dự án.Trình tự các bước chuẩn bị, kết quả chủ yếu của mỗi bước, hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng kết quả.
- Phân công thực hiện, tổ chức và nêu rõ các đối tượng cần được thu hút tham gia quá trình chuẩn bị.
- Những khác biệt giữa thủ tục của Nhà tài trợ và nước nhận viện trợ.
- Thời biểu hoàn thành các hoạt động, kết quả của quá trình chuẩn bị và lịch biểu huy động các đầu vào tương ứng.
- Thẩm định và phê duyệt nội dung chương trình dự án ODA sẽ do thủ tướng chính phủ có thẩm quyền phê duyệt
3. Đàm phán, ký kết, phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế cụ thể về ODA Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
- Đàm phán: Thủ tướng Chính phủ chỉ định cơ quan thay mặt Chính phủ chủ trì đàm phán Điều ước quốc tế về ODA với Bên nước ngoài.
- Ký kết: Trường hợp điều ước quốc tế về ODA phải được ký kết với danh nghĩa Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét quyết định sau khi cơ quan chủ quản chủ trì đàm phán thực hiện trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả đàm phán, nội dung các văn bản thoả thuận sẽ ký với Bên nước ngoài, đồng thời đề xuất người thay mặt Chính phủ ký điều ước quốc tế về ODA với Bên nước ngoại Văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phải kèm theo ý kiến bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ tư pháp.
- Phê chuẩn hoặc phê duyệt: Chính phủ phê duyệt điều ước quốc tế về ODA
4. Thực hiện chương trình, dự án ODA
Việc quản lí và sử dụng vốn ODA cho các công trình xây dựng cơ bản phải tuân theo quy chế này và các chế độ quản lí hiện hành của Nhà nước về quản lí đầu tư và xây dựng, trường hợp điều ước quốc tế về có quy định khác thì tuân theo Điều ước quốc tế về ODA đã ký kết.
5. Theo dõi, đánh giá, nghiệm thu, quyết toán và bàn giao kết quả chương trình, dự án ODA
- Công tác theo dõi, đánh giá các chương trình, dự án ODA phải được tiến hành thường xuyên, định kỳ cập nhật tình hình thực hiện chương trình, dự án và phải:
- Xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng dự án.
- Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, thu thập và lưu trữ đầy đủ thông tin, dữ liệu, tài liệu, sổ sách, chứng từ của các chương trình, dự án, báo cáo của nhà thầu…
- Lập báo cáo thực hiện theo quy định, cung cấp chia sẻ thông tin qua hệ thống theo dõi đánh giá giữa các cấp chủ quản.
- Nghiệm thu, quyết toán và bàn giao kết quả chương trình, dự án:
- Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cấp phép xây dựng, quản lí chất lượng công trình, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo hiểm công trình xây dựng thuộc chương trình, dự án ODA đầu tư được thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lí đầu tư và xây dựng.
- Đối với chương trình, dự án ODA hỗ trợ kỹ thuật, sau khi kết thúc thực hiện, Chủ dự án tổ chức nghiệm thu và tiến hành các biện pháp cần thiết để tiếp tục khai thác và phát huy kết quả đạt được.
- Việc quyết toán chương trình, dự án ODA phải được thực hiện phù hợp với quy định trong các điều ước quốc tế về ODA và các quy định của Nhà nước.
II. THỰC TRẠNG NGÀNH LÂM NGHIỆP VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
1. Tài nguyên rừng và tiềm năng
Do việc quản lý sử dụng chưa bền vững và nhu cầu rất lớn về khai hoang đất rừng và lâm sản cho phát triển kinh tế – xã hội, nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảm liên tục. Theo các tài liệu đã có được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 2009 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%; thời kỳ 1980 – 2009, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng đã bị mất. Nhưng từ 2009 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm). Theo công bố tại Quyết định số 1970/QĐ/BNN-KL-LN ngày 06 tháng 07 năm 2025, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, diện tích rừng toàn quốc là 12,61 triệu ha (độ che phủ rừng 37%) trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên và 2,33 triệu ha rừng trồng; được phân chia theo 3 loại rừng như sau:
- Rừng đặc dụng: 1,93 triệu ha, chiếm 15,2%;
- Rừng phòng hộ: 6,20 triệu ha, chiếm 49,0%;
- Rừng sản xuất : 4,48 triệu ha, chiếm 35,8%.
Tổng trữ lượng gỗ là 813,3 triệu m3 (rừng tự nhiên chiếm 94%, rừng trồng 6%) và khoảng 8,5 tỷ cây tre, nứa. Trữ lượng gỗ bình quân của rừng tự nhiên là 76,5/m3/ha và rừng trồng là 40,6 m3/ha. Gỗ tập trung chủ yếu ở 3 vùng là Tây Nguyên chiếm 33,8%, Bắc Trung Bộ 23% và Nam Trung Bộ 17,4% tổng trữ lượng. Tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ yếu tập trung ở 3 vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc.
Với vốn rừng như trên, chỉ tiêu bình quân hiện nay ở nước ta là 0,15 ha rừng/người và 9,16 m3 gỗ/người, thuộc loại thấp so với chỉ tiêu tương ứng của thế giới là 0,97 ha/người và 75m3/người.
Diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc là 6,76 triệu ha, trong đó đất trống đồi núi trọc là 6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước; phân bố giảm dần theo vùng như sau: vùng Đông Bắc chiếm 28% tổng diện tích đất trống đồi núi trọc, Tây Bắc 21%, Bắc Trung Bộ 19%, duyên hải Nam Trung Bộ 13%, Tây Nguyên 12%, Đông Nam Bộ 5%. Trong tổng diện tích đất trống đồi núi trọc có tới 71% diện tích phân bố ở độ cao < 700 m và 38% diện tích phân bố ở độ dốc từ 16 – 350. Diện tích đất trống đồi núi trọc này sẽ là tiềm năng, nhưng cũng là thách thức cho phát triển sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn tới, vì phần lớn là đất dốc, bạc màu và phân bố rải rác.
2. Tồn tại, yếu kém trong ngành Lâm nghiệp Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học rừng tự nhiên nhiều nơi vẫn tiếp tục bị suy giảm (năm 2024 so với kết quả tổng kiểm kê rừng năm 2018, diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu giảm 10,2%, rừng trung bình giảm 13,4%; trong khi đó rừng phục hồi tăng 20,7%, rừng trồng tăng 50,8%). Tiến độ thực hiện trồng rừng của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng chưa đạt mục tiêu, riêng (giai đoạn 2017 – 2024, tổng diện tích rừng trồng mới đạt 70% kế hoạch, trồng rừng nguyên liệu công nghiệp chỉ đạt 49% kế hoạch). Một số địa phương, rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác bất hợp pháp, làm nương rẫy. (từ năm 2019 đến năm 2024, bình quân có 9.345 vụ phá rừng/năm và diện tích bị chặt phá 2.160 ha/năm) và hiện tượng lũ ống, lũ quét, hạn hán, sụt lở đất bất thường có một phần nguyên nhân do mất hoặc suy thoái rừng;
Tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền vững (theo Tổng cục Thống kê, tốc độ phát triển của ngành Lâm nghiệp năm 2019: 4,9%, năm 2020: 1,9%, năm 2021: 1,6%, năm 2022: 1,1%, năm 2023: 1,1%, năm 2024: 1,2%), lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường. Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu;
Ngành công nghiệp chế biến lâm sản mấy năm gần đây tuy phát triển nhanh nhưng chủ yếu là tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt, chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ; nguồn gỗ nguyên liệu chưa ổn định, phụ thuộc vào nhập khẩu (trong 4 năm qua, kim ngạch xuất khẩu chế biến lâm sản tăng đột biến 400%, nhưng nguyên liệu nhập khẩu chiếm tới 80% tổng nhu cầu);
Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa tạo ra được nhiều việc làm; thu nhập của người làm nghề rừng thấp và chưa ổn định (tại Thanh Hoá, thu nhập bình quân từ lâm nghiệp của nhóm hộ khá đạt khoảng 461 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ thoát nghèo đạt 786 nghìn đồng/người/năm, nhóm hộ nghèo đạt 241 nghìn đồng/người/năm), đa số người dân miền núi chưa thể sống được bằng nghề rừng, đời sống của cán bộ, công nhân viên lâm nghiệp còn rất khó khăn.
III. THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA
1. Tình hình vận động và sử dụng vốn ODA ở Việt Nam
Công tác vận động nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) ở Việt Nam trong thời gian qua đã được thực hiện tích cực, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Việc vận động ODA đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở cũng như ở các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.
Thông qua các Hội nghị CG thường niên, các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho Việt Nam với mức năm sau cao hơn năm trước và dự kiến tổng lượng đạt 14,7 tỷ USD trong giai đoạn 2020 – 2024. Số vốn ODA cam kết nói trên bao gồm viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15 – 20%, phần còn lại là vốn vay ưu đãi. Số vốn ODA cam kết này được sử dụng trong nhiều năm, tuỳ thuộc vào thời hạn của các chương trình và dự án cụ thể. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Để sử dụng nguồn vốn ODA đã cam kết, Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các điều ước quốc tế về ODA (dự án, nghị định thư, hiệp định, chương trình). Tính từ năm 2020 đến hết 2023, tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã được ký kết đạt 8.781 triệu USD, trong đó 7.385 triệu USD vốn vay và 1.396 triệu USD viện trợ không hoàn lại, chiếm khoảng 78% tổng nguồn vốn ODA đã được cam kết trong cùng giai đoạn.
Nguồn vốn ODA đã được ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực như giao thông vận tải; phát triển nguồn và mạng lưới truyền tải và phân phối điện; phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm thuỷ lợi, thuỷ sản, lâm nghiệp kết hợp xoá đói giảm nghèo; cấp thoát nước và bảo vệ môi trường; y tế, giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực và thể chế… Cơ cấu sử dụng ODA gần sát với yêu cầu do Đại hội IX đề ra.
Nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân sách nhà nước (không bao gồm phần giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ, chi cho chuyên gia…) trong giai đoạn từ năm 2020 đến hết năm 2023 ước đạt khoảng 6.172 triệu USD, bằng 71,9% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết và bằng 55% tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này. Dự kiến giải ngân trong năm 2024 sẽ đạt khoảng 1.700 triệu USD.
Mức giải ngân ODA khác nhau giữa các nhà tài trợ và giữa các loại hình dự án.Các dự án hỗ trợ kỹ thuật thường có mức giải ngân cao (chủ yếu là chi cho chuyên gia, mua sắm thiết bị, máy móc và đào tạo). Các dự án đầu tư xây dựng thường giải ngân chậm do mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị đầu tư như đền bù, di dân và tái định cư, đấu thầu và xét thầu. Nhìn chung, giải ngân ODA trong thời gian qua mới đạt khoảng 70 – 80% kế hoạch đề ra.
Công tác quản lý nhà nước về ODA đã được tăng cường. Năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về quản lý và sử dụng ODA, tạo ra khung pháp lý chặt chẽ và khá đồng bộ đối với công tác quản lý nhà nước về ODA. Trong giai đoạn 2020 – 2024, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên của Chính phủ. Công tác quản lý nhà nước về ODA ở các cấp về cơ bản đã tập trung vào một đầu mối, ở Trung ương là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở các Bộ là các Vụ Kế hoạch và Đầu tư hoặc Vụ Hợp tác quốc tế, ở các tỉnh là các Sở Kế hoạch và Đầu tư. Tuy nhiên, ở một số địa phương công tác quản lý ODA vẫn còn phân tán, ảnh hưởng tới công tác phối hợp và sử dụng có hiệu quả nguồn lực này.
Nhìn chung, sự ổn định chính trị, xã hội; công cuộc đổi mới được tiếp tục cả chiều sâu lẫn bề rộng, nền kinh tế có tăng trưởng liên tục, năm sau cao hơn năm trước; công tác xoá đói giảm nghèo đạt được những kết quả rõ rệt; nhiều vấn đề phát triển xã hội đạt được những tiến bộ khích lệ, chủ động hội nhập quốc tế được triển khai tích cực đã tạo ra một môi trường rất thuận lợi để vận động ODA hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm 2020 – 2024.
1.1. Những thành tựu đạt được trong sử dụng vốn ODA Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Thứ nhất, nguồn vốn ODA đã bổ sung một phần quan trọng cho ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển, chiếm khoảng từ 22% đến 25% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả phần vốn ODA cho vay lại từ ngân sách nhà nước).
Thứ hai, những công trình quan trọng được tài trợ bởi ODA đa góp phần cải thiện cơ bản và phát triển một bước cơ sở hạ tầng kinh tế, trước hết là giao thông vận tải và năng lượng điện, góp phần khơi dậy nguồn vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Thông qua các dự án ODA, hệ thống đường bộ được phát triển đáng kể từ quốc lộ 1A, 10, 18, 9, đường xuyên á (đoạn Thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài), các cầu lớn (Mỹ Thuận, Cần Thơ, Thanh Trì, Bính…); nâng cấp và mở rộng các cảng biển như Cái Lân (Hải Phòng), Sài Gòn, Tiên Sa (Đà Nẵng), xây dựng cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, phát triển giao thông nông thôn ở hầu hết các tỉnh…
Nguồn vốn ODA đã đầu tư phát triển ngành điện bao gồm phát triển nguồn điện (các dự án Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2-1, Ô Môn, Phả Lại 2, Hàm Thuận – Đa My, Đại Ninh, Đa Nhim) và phát triển hệ thống đường dây 500 kV Plâyku – Nhà Bè, gần 50 trạm biến áp của cả nước, cải tạo nâng cấp mạng lưới điện thành thị và nông thôn ở trên 30 tỉnh và thành phố.
Thứ ba, vốn ODA đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn kết hợp xoá đói giảm nghèo. Số liệu các cuộc điều tra mức sống dân cư trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ mức 58% vào năm 1983 xuống còn 37% năm 2017; 28,9% năm 2021 và ước dưới 10% năm 2023. Kết quả này cho thấy Việt Nam đã vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) mà nước ta cam kết với thế giới. Những kết quả này có sự góp phần quan trọng của vốn ODA. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn, kết hợp xoá đói giảm nghèo, trong đó nguồn vốn ODA đã giúp nông dân nghèo tiếp cận nguồn vốn vay để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợ phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, thuỷ lợi, cung cấp nước sạch, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạm y tế, trường học…
Thứ tư, nguồn vốn ODA đã hỗ trợ phát triển các tỉnh và thành phố, nhất là hỗ trợ xoá đói giảm nghèo, phát triển hạ tầng quy mô nhỏ ở các vùng nông thông miền núi; hầu hết các tỉnh và thành phố có các dự án hệ thống cấp nước sinh hoạt, trường học, bệnh viện hệ thống thuỷ lợi, một số dự án thoát nước, phát triển cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ.
Thứ năm, vốn ODA đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tác động tích cực đến việc cải thiện chỉ số phát triển con người ở Việt Nam. Tổng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo ước chiếm khoảng 8,5 – 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cải thiện chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, như các dự án ODA hỗ trợ cải cách giáo dục tiểu học, trung học và đại học, tự án tạo nghề…
Nguồn vốn ODA đã đóng góp cho sự thành công của một số chương trình quốc gia, ngành có ý nghĩa sâu rộng như chương trình dân số và phát triển, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em, chương trình nước sạch nông thôn, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trình xoá đói giảm nghèo… Nhờ vậy, thứ hạng các quốc gia và chỉ số phát triển con người của Liên Hợp quốc đều được cải thiện hàng năm. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Thứ sáu, vốn ODA đã góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo lịch trình phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường năng lực con người… Thông qua các dự án ODA, hàng ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo và đào tạo lại; nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý hiện đại được chuyển giao.
Thứ bẩy, quan hệ giữa phía Việt Nam và các nhà tài trợ đã được thiết lập trên cơ sở quan hệ đối tác, đề cao vai trò làm chủ của bên tiếp nhận ODA thông qua các hoạt động hài hoà và tuân thủ các quy trình và thủ tục ODA. Điều này được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như phát triển các quan hệ đối tác trong nông nghiệp, lâm nghiệp, hiệu quả viện trợ… nghiên cứu áp dụng các mô hình viện trợ mới (hỗ trợ ngân sách, tiếp cận ngành,…), hài hoà quá trình chuẩn bị dự án, thống nhất hệ thống báo cáo, hài hoà hoá quá trình mua sắm, tăng cường năng lực toàn diện về quản lý ODA.
Nước ta được lựa chọn là nước điển hình về tiến hành hài hoà quy trình thủ tục ODA, tuân thủ hệ thống quản lý quốc gia về nâng cao hiệ quả viện trợ.
1.2. Những tồn tại cần khắc phục
Bên cạnh những mặt được của ODA hỗ trợ quá trình phát triển, việc sử dụng ODA trong thời gian qua cũng bộc lộ những yếu kém, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực này:
Thứ nhất, chậm trễ trong quá trình giải ngân, làm giảm hiệu quả sử dụng ODA và làm giảm lòng tin của các nhà tài trợ của ta. Nguyên nhân chủ yếu là quy trình và thủ tục trong nước cũng như của các nhà tài trợ còn phức tạp, lại có sự khác biệt giữa các nhà tài trợ và phía Việt Nam; chậm trễ trong việc di dân tái định cư và giải phóng mặt bằng; công tác đấu thầu; năng lực quản lý và giám sát thực hiện dự án của các Ban quản lý còn hạn chế và bất cập.
- Bảng 1: Tình hình cam kết và giải ngân ODA giai đoạn 2012-2022
Thứ hai, thiếu quy hoạch vận động và sử dụng ODA; các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA còn thiếu tính đồng bộ, nhất quán, minh bạch, nhất là trong các vấn đề liên quan tới quản lý đầu tư và xây dựng; thực thi các văn bản pháp luật về quản lý ODA chưa nghiêm.
Thứ ba, công tác theo dõi và đánh giá dự án buông lỏng. Nhiều cơ quan chủ quản ở Trung ương và các tỉnh chưa quản lý được các dự án của mình. Kỷ luật báo cáo về tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc.
Thứ tư, năng lực cán bộ ở các cấp còn nhiều bất cập và thiếu tính chuyên nghiệp trong quản lý và sử dụng ODA.
Những yếu kém nêu trên còn có nguyên nhân sâu xa là cơ quan thụ hưởng ODA chưa phát huy đầy đủ vai trò làm chủ trong việc khai thác nguồn lực này phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với đặc thù của ODA. Điều này thể hiện trong nhiều khâu như: Công tác quy hoạch, kế hoạch và điều phối ODA, chuẩn bị và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ODA, công tác huấn luyện và đào tạo về ODA chưa được chú ý đúng mức, cũng như trong việc theo dõi và đánh giá dự án.
2. Tình hình vận động và sử dụng vốn ODA trong ngành Lâm nghiệp Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
2.1. Đặc trưng của các chương trình, dự án trong ngành Lâm nghiệp
Các dự án hoạt động rất đa dạng từ trồng rừng đến khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, phát triển thể chế chính sách, chuyển giao công nghệ, phát triển cơ sở hạ tâng nông thôn, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm…
- Biểu đồ 4: Tỷ trọng vốn ODA cho Lâm nghiệp/NN&PTNT (2012-2024)
Hầu hết các chương trình, dự án triển khai trong ngành Lâm nghiệp được thực hiện trên diện rộng, lại ở những địa điểm miền núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng mà tại đó điều kiện kinh tế-xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn, với phần lớn là nông dân, đồng bào dân tộc ít người nên trình độ dân trí còn thấp. Nhiều hoạt động dự án chủ yếu do cơ sở (huyện, xã) trực tiếp quản lí và thực hiện, đối tượng hưởng lợi và tham gia dự án tới cấp hộ nông dân. Do đó tổ chức thực hiện dự án phức tạp; cơ chế quản lí tài chính, giải ngân, cơ chế tín dụng gặp khó khăn. Bên cạnh đó các điều kiện tự nhiên rất phức tạp, thông thường là những vùng rừng núi rộng lớn, đất xấu, dốc điều kiện canh tác không thuận lợi, đất đai bị phân tán và không có quy hoạch tập trung. Chính vì thế rất khó cho công tác thực thi và bảo vệ.
Đối tượng cây trồng thường có chu kỳ kinh doanh dài (thường từ 5 đến 7 năm), tuỳ thuộc từng loại cây gỗ, thậm chí có thể kéo dài hơn đến vài chục năm, do đó phải chờ đợi thời gian thu hoạch mới xác định và đánh giá hiệu quả chính xác.
Đối với các dự án trồng rừng, các giống cây thường đòi hỏi được gieo trồng theo mùa vụ, nghĩa là có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa khả năng sinh trưởng của cây trồng theo điều kiện thời tiết và thời gian trong năm. Ngoài ra nó cũng phụ thuộc mạnh mẽ vào chất đất và các điều kiện địa lý khác của khu vực thực thi. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Thông thường hiệu quả các dự án trồng rừng phụ thuộc lớn vào điều kiện thiên nhiên. Tính rủi ro thường cao hơn so với các dự án thuộc các lĩnh vực khác do khả năng cháy rừng có thể xảy ra nếu gặp điều kiện khí hậu khô hạn, nhất là đối với khu vực rừng ở miền Trung, Tây Nguyên… Ngoài ra năng suất rừng trồng có thể giảm do sâu bệnh phá hoại.
Thông thường những dự án thực thi trong ngành Lâm nghiệp thường có tính xã hội, góp phần bảo vệ môi trường hơn là mang tính kinh doanh thương mại. Chính vì thế khi xét đến các chương trình, dự án Lâm nghiệp cần có sự tính toán kỹ các yếu tố nêu trên để bảo đảm tính khả thi và mang lại hiệu quả cao, nhất là đối với các dự án trồng rừng.
2.2. Một số dự án sử dụng vốn ODA tiêu biểu trong ngành Lâm nghiệp
Như đã nói, các dự án ODA trong ngành Lâm nghiệp rất đa dạng từ trồng rừng đến khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng, phát triển thể chế chính sách, chuyển giao công nghệ, phát triển cơ sở hạ tâng nông thôn, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm… Dưới đây là một số dự án ODA do Ban quản lí các dự án Lâm nghiệp quản lí.
- Bảng 2: Danh mục và vốn ODA của các nhà tài trợ và các chương trình, dự án đầu tư Lâm nghiệp phân theo thời kỳ
3. Thực trạng triển khai và quản lý các dự án đầu tư Lâm nghiệp
Trong hơn 12 năm qua (2010-2022), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước 12/2014 là Bộ Lâm nghiệp) đã trực tiếp quản lí 14 chương trình, dự án ODA đầu tư lâm nghiệp với tổng kinh phí 294,4 triệu USD, trong đó có 10 dự án viện trợ không hoàn lại và 4 dự án vốn vay của 6 nhà tài trợ chính: Chương trình lương thực Thế giới, Thụy Điển, Đức, Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu á và 2 nhà đồng tài trợ không hoàn lại là Hà Lan và Đan Mạch. Địa bàn hoạt động các dự án gồm 35 tỉnh với 273 huyện trải dài từ Hữu Nghị quan (Lạng Sơn) đến Mũi Cà Mau.
3.1. Mục tiêu và các hợp phần đầu tư
Hoạt động các dự án ODA Lâm nghiệp và PTNN rất đa dạng và phong phú, mang tính chất của dự án phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi, phù hợp với tình hình thực tế về đất đai, khí hậu, tập quán và truyền thống canh tác, cơ cấu cây trồng vật nuôi của mỗi địa phương, nhằm khuyến khích sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho nông dân và cải tạo môi trường sinh thái nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Các nội dung hoạt động chính là: Điều tra đánh giá kinh tế-xã hội và điều kiện tự nhiên, quy hoạch sử dụng đất, điều tra lập địa, phân chia 3 loại rừng, giao đất lâm nghiệp và trồng rừng (rừng phòng hộ, rừng sản xuất), khoanh nuôi tái sinh có bổ sung, bảo vệ rừng tự nhiên, quản lí và bảo vệ các khu bảo tồn, vườn quốc gia, nông lâm kết hợp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tái định cư. Ngoài ra các chương trình, dự án còn nhằm mục tiêu phát triển thể chế chính sách, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ và nông dân, hỗ trợ xã hội, phát triển giới, phát triển tổ chức, phát triển kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Các chương trình, dự án này mang tính đa ngành, đa lĩnh vực và mang tính xã hội cao, đòi hỏi sự tham gia của người dân và cộng đồng địa phương từ khâu chuẩn bị đầu tư và giám sát đánh giá. Các công trình đầu tư Lâm nghiệp, Nông lâm kết hợp tập trung cho đối tượng hưởng lợi là hộ gia đình và các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn thường có quy mô vừa và nhỏ, thực hiện ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Các chương trình, dự án đầu tư Lâm nghiệp nêu trên thuộc dự án 661 “Trồng mới 5 triệu ha rừng”. Nhưng xét về mặt mục tiêu và các hoạt động đầu tư của dự án còn liên quan đến nhiều chương trình trọng điểm quốc gia như: Chương trình xoá đói giảm nghèo, Chương trình đào tạo nguồn nhân lực, Chương trình xây dựng thể chế chính sách…
- Các dự án do ngân hàng tái thiết Đức (KfW) viện trợ không hoàn lại:
Trong 10 năm qua, căn cứ vào tổng giá trị ODA đã cam kết, ký kết và giải ngân cho lĩnh vực Lâm nghiệp và phát triển nông thôn, CHLB Đức là nhà tài trợ ODA không hoàn lại lớn nhất. Các dự án hợp tác tài chính do Ngân hàng tái thiết Đức tài trợ quan tâm đến lĩnh vực quản lí bền vững tài nguyên thiên nhiên, trong đó tập trung vào vấn đề bảo tồn và xây dựng vốn rừng gắn liền với vấn đề xoá đói giảm nghèo và phát triển nông thôn.
Từ năm 2015 đến nay, CHLB Đức đã dành cho Việt Nam 5 dự án trồng rừng với tổng kinh phí 31,3 triệu Euro và với mục tiêu trồng 72019 ha rừng. Ngoài ra, CHLB Đức đã cam kết 12,1 triệu Euro cho dự án trồng rừng KfW 5 tại 4 tỉnh duyên hải miền trung sẽ nghiên cứu khả thi vào giữa năm 2022 và triển khai thực hiện dự án vào cuối năm 2023 với diện tích trồng rừng khoảng 28000 ha.
Trong 7 năm qua (2015-2021), 3 dự án KfW đã trồng được 44200 ha rừng, bình quân mỗi năm trồng khoảng 6.500 ha rừng, chiếm 3% diện tích trồng rừng mới hàng năm của dự án Quốc gia 661. Tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng những khu rừng trồng dự án Đức đầu tư do những hộ nông dân cá thể trồng liền vùng liền khoảnh tập trung có ý nghĩa sinh thái lớn và đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
- Các dự án do chương trình lương thực thế giới (PAM) viện trợ không hoàn lại:
Từ năm 1977 đến năm 2021, PAM đã tài trợ cho Việt Nam 7 dự án trồng rừng với tổng kinh phí 101,9 triệu USD (334.000 tấn bột mỳ). Đã trồng được 460.000 ha rừng tại 32 tỉnh, bình quân mỗi hộ trồng 0,7 ha rừng sản xuất. Khoảng 650.000 hộ đã tham gia chương trình trồng rừng lớn này. Ngoài ra, đã xây dựng được 854 km đường lâm nghiệp và đào tạo được 5.254 phổ cập viên thôn, bản. Tuy nhiên, vùng dự án có địa bàn rộng, phân tán, diện tích nhỏ và không liền vùng, liền khoảnh.
Giai đoạn 1977-2011: gồm 5 dự án (PAM 2278, 2396, 2780, 4126 và 3552) với tổng kinh phí 63,7 triệu USD, đã trồng được 285.000 ha rừng tại 14 tỉnh.
Giai đoạn 2011-2021: gồm 2 dự án (PAM 4304 và 5322) với tổng kinh phí 38,2 triệu USD và đã trồng được 175.000 ha rừng tại 18 tỉnh. Dự án PAM 4304 đã được tổng kết vào tháng 7/2018 và dự án PAM 5322 đã kết thúc hoạt động trồng rừng vào năm 2020 và được tổng kết vào tháng 7/2022.
Các dự án PAM đã đóng góp tích cực vào chương trình phủ xanh, cải thiện môi trường và phòng hộ sản xuất nông nghiệp, cũng như giải quyết được hàng triệu lao động trong khu vực dự án có công ăn việc làm, tăng nguồn thu nhập, nhất là lương thực tại các khu vực thiếu hụt lương thực thường xuyên và trầm trọng.
- Các chương trình do SIDA (Thụy Điển) viện trợ không hoàn lại:
Chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Thụy Điển trong ngành lâm nghiệp đã bắt đầu từ những năm 70 với sự hỗ trợ xây dựng nhà máy giấy và bột Bãi Bằng và cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy. Sau đó mở rộng ra các lĩnh vực như trồng rừng, bảo vệ đất, cải tiến bếp đun và nâng cao đời sống công nhân Lâm nghiệp. Chương trình hợp tác Lâm nghiệp (FCP) 2010-2014 với tổng kinh phí 13,3 triệu USD được thực hiện tại vùng phát triển Lâm nghiệp (FDA) thuộc 5 tỉnh:Vĩnh Phú, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai và Yên Bái đã mở rộng đáng kể phạm vi hợp tác Lâm nghiệp, đồng thời cũng nhận thấy nhu cầu kết hợp phát triển nông thôn và phát triển cơ cấu tổ chức ở cấp Trung ương. Chương trình phát triển nông thôn miền núi (MRDP) 2015-2019 với tổng kinh phí là 16,3 triệu USD, tại 5 tỉnh nêu trên, bao gồm 2 phần chính:
Thứ nhất, Chương trình tiếp tục các hoạt động ở địa phương nhằm phát triển phương pháp, xây dựng cơ cấu tổ chức và phát triển nhân lực để hỗ trợ cho việc quản lí các tài nguyên thiên nhiên ở miền núi;
Thứ hai, hỗ trợ cấp Trung ương để củng cố chính sách, chiến lược và khả năng tổ chức liên quan đến các hoạt động ở địa phương. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
- Các dự án do Nhật Bản tài trợ:
Dự án trồng rừng trên đất cát ven biển nam Trung bộ Việt Nam (PACSA) do JICA viện trợ không hoàn lại với tổng số vốn là 11,2 triệu USD.
Mục tiêu dự án: Cải thiện năng suất đất canh tác nằm phía trong những khu rừng được trồng, chuyển hoá diện tích đất bỏ hoang do nguy cơ bị cát biển vùi lấp thành đất có thể trồng cây tạo sản phẩm cho dân cư địa phương; Cung cấp chất đốt cho người dân địa phương bằng sản phẩm thu được từ chăm sóc rừng (tỉa cành, tỉa thưa); Tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương tham gia trồng và chăm sóc bảo vệ rừng; Góp phần cải thiện đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường trong khu vực.
Các hợp phần của dự án:
- Trồng rừng: 000 ha
- Hạ tầng phục vụ trồng rừng,Đào tạo
- Thuê tư vấn và nhà thầu Nhật
Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên (JBIC) với tổng số vốn Nhật Bản cho vay ưu đãi là 13,6 triệu USD.
Mục tiêu dự án: Trồng, khoanh nuôi bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (có trồng bổ sung) rừng phòng hộ đầu nguồn, nâng cao độ che phủ của rừng, nhằm chống xói mòn, điều hoà nguồn nước, cải tạo môi trường sinh thái, góp phần hạnh chế thiên tai (lũ lụt, hạn hán), bảo đảm sản xuất và đời sống cho nhân dân trên địa bàn lưu vực và vùng hạ lưu, đồng thời tạo việc làm, cải thiện đời sống cho nhân dân trong khu vực.
Các hợp phần của dự án:
- Trồng rừng mới phòng hộ 400 ha.
- Khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh (có trồng bổ sung) 900 ha
- Bảo vệ rừng 000 ha
- Hạ tầng phục vụ trồng rừng (Đường Lâm nghiệp)
- Đào tạo, khuyến lâm và thuê tư vấn.
Các dự án vốn vay do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ:
Dự án bảo vệ rừng và phát triển nông thôn (WB1). Đây là dự án vốn vay từ ngân hàng thế giới với tổng số là 21,5 triệu USD.
Mục tiêu dự án: Bảo vệ hiệu quả Vườn quốc gia Cát Tiên, bảo vệ và quản lí khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Chư Mon Ray; Quản lí có hiệu quả các khu rừng tự nhiên còn lại ở ngoài các khu bảo tồn mà nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Tiên và khu BTTN Chư Mon Ray;Giảm bớt sự phụ thuộc vào Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu BTTN Chư Mon Ray để sinh sống và thu nhập bằng cách cải thiện điều kiện sống của người dân sinh sống tại vùng đệm; Tăng cường năng lực của Chính phủ để thiết kế, thực thi và theo dõi các dự án phát triển để bảo tồn tổng hợp. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Các hợp phần của dự án: Quản lí vùng bảo vệ; Kế hoạch phát triển cộng đồng, Giao đất, hỗ trợ xã hội; Dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, quản lí rừng; Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; Tăng cường năng lực và quản lí dự án.
Dự án bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển Nam Việt Nam (WB2) với tổng số vốn vay ưu đãi là 31,8 triệu USD.
Mục tiêu dự án: Tái lập và phát triển các hệ sinh thái ven biển và khả năng đa dạng hoá sinh học có liên quan của chúng bằng cách tái tạo các hệ sinh thái rừng ngập biển và tái lập các chức năng bảo vệ bờ biển và nuôi trồng thủy sản bền vững của chúng tại các tỉnh vùng dự án.
Các hợp phần dự án: Trồng, khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn (bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên và bãi cá); Phát triển và chuyển giao công nghệ,Phát triển xã hội; Phát triển thể chế, chính sách, Tái định cư; Giám sát và đánh giá, Điều phối dự án.
- Dự án vốn vay do Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) tài trợ:
Dự án khu vực Lâm nghiệp do ADB tài trợ là dự án vốn vay đầu tiên của ngành Lâm nghiệp (Hiệp định tín dụng số 1515-VIE (SF)). Dự án có tổng vốn đầu tư là 53,2 triệu USD (theo thiết kế ban đầu), trong đó vốn vay của ADB là 33 triệu USD (thời hạn vay 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, lãi suất 0%, phí dịch vụ 1%), viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Hà Lan là 7 triệu USD, vốn đối ứng là 5,2 triệu USD và vốn đóng góp của người hưởng lợi vùng dự án là 8 triệu USD. Dự án được thiết kế thực hiện trong 5 năm 2017 – 2022.
Mục tiêu dự án: i) Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên ở 3 vùng đầu nguồn: sông Chu (Thanh Hóa), hồ Trúc Kinh (Quảng Trị) và sông Ba (Gia Lai và Phú Yên); hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc trong vùng dự án; ii) Mở rộng diện tích rừng, nâng cao độ che phủ của rừng trong vùng dự án, góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới ở Việt Nam;và iii) Bảo vệ và cung cấp nước cho các công trình thủy điện, kéo dài tuổi thọ và nâng cao công suất của các công trình thủy lợi vùng hạ lưu, đảm bảo nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng chịu ảnh hưởng của dự án.
Các hợp phần dự án: i) hợp phần lâm nghiệp, ii) hợp phần nông lâm kết hợp và iii) hợp phần cơ sở hạ tầng nông thôn.
Sau 5 năm thực hiện, dự án đã triển khai đầu tư nhiều hoạt động trồng và tái tạo rừng phòng hộ, trồng rừng sản xuất, phát triển nông lâm kết hợp, và nâng cấp, cải tạo các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn, cũng như các hoạt động đào tạo cán bộ và tập huấn khuyến nông, khuyến lâm cho các hộ nông dân ở 38 tiểu dự án xã.
Tính đến hết tháng 12/2021, 6.395 ha rừng đã được trồng, trong đó có 5.158 ha rừng phòng hộ và 1.287 ha rừng sản xuất. Bên cạnh đó, dự án đã thực hiện hợp đồng giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ 45.586 ha rừng tự nhiên, đạt 88,9% chỉ tiêu đề ra. Để quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, dự án đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh trong vùng dự án triển khai nghiên cứu khung Quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng dân cư thôn, bản.
Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ đầu tư trồng 1.710 ha nông lâm kết hợp giữa cây lương thực và cây ăn quả với nhiều mô hình khác nhau nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, dự án cũng đã triển khai xây dựng và cải tạo các công trình cơ sở hạ tầng xã. Những công trình này tuy quy mô nhỏ nhưng có ý nghĩa thiết thực đối với người dân vùng thụ hưởng dự án. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Nhận thấy đến ngày kết thúc theo kế hoạch ban đầu là 31/12/2022, dự án sẽ không thể thực hiện được đầy đủ và hiệu quả các mục tiêu đã đề ra. Hơn nữa năng lực thực hiện dự án và kết quả thực hiện dự án đã được cải thiện. Do vậy, Đoàn đánh giá giữa kỳ ADB đã đồng ý với yêu cầu của phía Việt Nam là gia hạn thời gian thực hiện dự án thêm 3 năm, tức là đến 31/12/2026.
Dự án khu vực lâm nghiệp và quản lí rừng phòng hộ đầu nguồn với tổng số vốn vay ưu đãi là 33,1 triệu USD được thực hiện tại 4 tỉnh Thanh Hoá, Quảng Trị, Gia Lai, Phú Yên.
Mục tiêu dự án: i) Quản lí bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ sản xuất, cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc trong vùng dự án; ii) Phát triển mở rộng diện tích rừng, nâng cao độ che phủ của thảm thực vật, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới Việt Nam;
Các hợp phần của dự án: i) Trồng rừng phòng hộ, Bảo vệ rừng tự nhiên hiện có; Trồng rừng sản xuất, Nông lâm kết hợp, Cơ sở hạ tầng xã; iii) Giám sát và đánh giá, và iv) Đào tạo và khuyến nông lâm.
3.2. Phân bổ kinh phí cho các dự án ODA trong Lâm nghiệp
Bảng 3 dưới đây chỉ rõ tổng kinh phí các chương trình, dự án phân theo hình thức cung cấp ODA, trong đó 10 dự án viện trợ không hoàn lại của 3 nhà tài trợ song phương (Thuỵ Điển, Đức, Nhật Bản) và một nhà tài trợ đa phương (PAM) với tổng kinh phí 127,7 triệu USD (chiếm 43,4%) và 4 dự án vốn vay của 2 nhà tài trợ đa phương (WB, ADB) và 1 nhà tài trợ song phương (JBIC Nhật Bản) với tổng kinh phí 166,7 triệu USD (chiếm 56,6%).
- Bảng 3: Tổng kinh phí các chương trình, dự án đầu tư Lâm nghiệp phân theo hình thức cung cấp ODA
3.3. Công tác giải ngân vốn ODA
Công tác giải ngân chậm, chỉ đạt vào khoảng 25-60% so với thiết kế. Các dự án viện trợ không hoàn lại thường có tốc độ giải ngân nhanh hơn, đạt khoảng 45-60% ( ví dụ: dự án PAM 4304; KfW 1; PAM 5322…) trong khi đó giải ngân các dự án vốn vay ưu đãi lại rất chậm, đạt khoảng 25-45% (ví dụ: dự án ADB; WB1; WB 2…), thể hiện qua bảng 4 như sau:
- Bảng 4: Cam kết và giải ngân các dự án ODA lâm nghiệp
4. Đánh giá chung về tình hình thu hút và sử dụng ODA trong ngành lâm nghiệp Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá của Đảng và Nhà nước, trong hơn 10 năm qua việc thu hút và sử dụng ODA phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng đã đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng.
Trong thời kỳ 2010-2014 các nhà tài trợ tập trung chủ yếu cung cấp 2 dự án viện trợ không hoàn lại: Chương trình FCP (SIDA Thụy Điển) và dự án PAM 4304 với mục tiêu chính là phát triển lâm nghiệp và trồng rừng sản xuất.
Các nhà tài trợ đã đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ phát triển chính thức trên lĩnh vực lâm nghiệp và mở rộng ra lĩnh vực phát triển nông thôn trong những năm 2015-2019: SIDA và PAM tiếp tục hỗ trợ thêm 2 chương trình, dự án (MRDP và PAM 5322) và Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) đã đầu tư 3 dự án viện trợ không hoàn lại để trồng rừng sản xuất. Trong thời kỳ này, ngành Lâm nghiệp đã tiếp nhận dự án vốn vay đầu tiên tháng 12/2016: Dự án Khu vực Lâm nghiệp và quản lí rừng phòng hộ đầu nguồn do ADB tài trợ; Tiếp theo, Ngân hàng thế giới cũng đã đầu tư 2 dự án vốn vay (WB1 tháng 6/2017 và WB2 tháng 6/2019). Tổng kinh phí 3 dự án vốn vay này lên tới 151,1 triệu USD, trong đó vốn tín dụng ưu đãi là 86,4 triệu USD và vốn hỗ trợ kỹ thuật không hoàn lại để thực hiện dự án là 23,3 triệu USD. Nội dung của các dự án đầu tư vay vốn rất đa dạng, phức tạp và mang tính chất của dự án đầu tư xây dựng cơ bản, phát triển nông, lâm nghiệp và nông thôn.
Giai đoạn 2020-2024 được đánh dấu bằng sự kết thúc hoạt động tài trợ của Chương trình lương thực thế giới ở Việt Nam, trong đó có ngành lâm nghiệp do Việt Nam đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Dự án PAM 5322 đã tiến hành bàn giao thành quả dự án cho 5 tỉnh vùng Đông Bắc. Tương tự như vậy, Chương trình MRDP do Thụy Điển tài trợ đã kết thúc vào tháng 4/2022. Chính phủ Thụy Điển thống nhất tiếp tục đầu tư cho Việt Nam chương trình “xoá đói giảm nghèo”. Mặc dù Thụy Điển đánh giá chương trình MRDP là một trong những dự án tốt nhất của sự hợp tác Việt Nam-Thụy Điển, nhưng theo chính sách và phương pháp tiếp cận theo chương trình mới của SIDA cơ quan chủ quản sẽ là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong thời kỳ này, trên cơ sở thực hiện thành công của các dự án trồng rừng, đặc biệt là dự án KfW 1, Chính phủ cộng hoà liên bang Đức đã tài trợ tiếp 2 dự án (KfW 3 mở rộng trong năm 2020 và KfW 4 năm 2021). Cũng trong thời gian này, Nhật Bản đã tài trợ 2 dự án trồng rừng: Dự án viện trợ không hoàn lại của JICA theo phương thức BOT và dự án vốn vay của JBIC. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
4.1. Các thành quả đạt được
Trong những năm qua, các dự án ODA đầu tư lâm nghiệp đã trồng được 245 nghìn ha rừng, chiếm khoảng 17% diện tích trồng rừng hiện nay. Các dự án đã giao khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên: 82019 ha và trồng được 6000 ha nông lâm kết hợp. Ngoài ra, đã triển khai xây dựng 36 công trình thủy lợi vừa và nhỏ, 180 km đường giao thông liên thôn và 3500 m2 trường học. Đã tổ chức 190 lớp đào tạo cho 3900 cán bộ và 810 lớp tập huấn cho 33.600 nông dân.
Về thực hiện các mục tiêu của các Dự án, tuy chưa thực hiện đồng bộ ở một số các hạng mục( như các dự án của PAM trong việc xây dựng và chăm sóc rừng trồng) song phải khẳng định một số dự án đã thành công tốt đẹp, mang lại hiệu quả:
Tạo được hàng trăm ngàn ha rừng ở nhiều tỉnh trong cả nước, rừng có giá trị kinh tế cao, tác dụng phòng hộ lớn, đã thực sự góp vào kho báu của ngành Lâm nghiệp.Tuỳ từng dự án đã trồng được hàng chục ngàn ha rừng với chủng loại cây trồng đa dạng, phong phú và đặc biệt đã tạo ra những khu rừng có giá trị kinh tế cao (Hồi , Quế…) và sản phẩm cây ăn quả, tăng thu nhập cho người dân và tạo ra bước chuyển biến nhận thức về hoạt động lâm nghiệp trong các vùng dự án mà ở đó trình độ dân trí còn lạc hậu, điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế còn khó khăn, năng lực cán bộ còn bị hạn chế và đặc biệt là nhiều nơi lần đầu tiên người dân được tiếp nhận và trực tiếp thực hiện dự án do tổ chức Quốc tế tài trợ. Nghề rừng nhân dân đã phát huy trên một phạm vi rộng lớn.
Thông qua các dự án, hàng trăm km đường Lâm nghiệp được thiết lập trong vùng dự án, thông thương giữa các thôn bản độc lập với trung tâm và với các trục đường giao thông, đã góp phần quan trọng trong việc mở mang dân trí và phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
Bổ sung thêm hàng chục ngàn tấn lương thực cho đồng bào các tỉnh trong vùng dự án, đa số là các hộ đói nghèo, vùng sâu vùng xa, từ chỗ thiếu ăn phải phá rừng, kiếm củi đổi gạo, nay đã đủ ăn, góp phần ổn định đời sống, tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ. Các dự án góp phần giải quyết được hàng triệu lao động trong vùng có dự án, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các hộ dân nghèo, nhất là lương thực tại các khu vực thường xuyên bị thiếu trầm trọng.
Thông qua việc quản lí các dự án đã hình thành quy chế, quy ước, khế ước bảo vệ rừng trong thôn bản và địa phương, ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng cao; Gia tăng và đáp ứng được một phần gỗ củi cho nông dân trong vùng dự án, hạn chế được sức ép vào rừng tự nhiên, đóng góp tích cực cho việc bảo vệ rừng.
Về công tác quản lí: Mặc dù vùng hoạt động của đa phần các dự án là rất rộng, phức tạp, khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người…ở đó điều kiện kinh tế còn khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, song qua những năm thực hiện các dự án đã tạo được một nếp nghĩ, một cách làm, một cách quản lí dự án. Xây dựng được mạng lưới cán bộ quản lí, chỉ đạo thực hiện Dự án từ trung ương đến địa phương (đặc biệt là Làng/ Bản). Bước đầu đã biết cách tổ chức, quản lí, chỉ đạo phát triển Lâm nghiệp cộng đồng. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Về nhận thức: Nâng cao được trình độ hiểu biết, kiến thức cơ bản về kinh tế, xã hội, môi trường và kĩ thuật Lâm nghiệp, không những cho cán bộ tỉnh, huyện, xã, phổ cập viên mà ngay cả nông dân tham gia dự án. Nó không chỉ phục vụ cho 1, 2 dự án thực hiện mà còn là vốn kiến thức quý giá cho sự phát triển Lâm nghiệp của ngành và địa phương.
Nâng cao được một phần cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho ngành Lâm nghiệp của địa phương; Nâng cao trình độ kĩ thuật Nông Lâm nghiệp cho nông dân thông qua việc hướng dẫn kĩ thuật trong các dự án, Tăng cường khả năng sử dụng thông tin và kiến thức về thị trường.
Thúc đẩy nhanh tiến trình giao đất, giao rừng. Xác định quyền làm chủ cụ thể cho dân và giúp họ biết cách sử dụng có hiệu quả mảnh đất của mình – một tư liệu quan trọng mà họ đã lãng quên hoặc chưa có điều kiện sử dụng.
Qua tổng hợp kết quả trồng rừng cho thấy phải chăng khi đã xác định được chủ cụ thể ? rừng của ai? sản phẩm ai hưởng? Thì công việc trồng rừng sẽ thuận lợi hơn, chất lượng cao hơn và giá thành cũng rẻ hơn. Chả hạn như mức hỗ trợ đầu tư cho 1 ha trồng rừng (dự án PAM) không lớn: trung bình hơn 2 triệu, trong đó chi phí trực tiếp chiếm gần 80%, chi phí gián tiếp khoảng 20% mà vẫn tạo được rừng có chất lượng tốt.
- Đạt được kết quả trên là nhờ:
Thứ nhất, về phía chính phủ đã khẩn trương thành lập bộ máy quản lí, chỉ đạo thực hiện dự án các cấp (Từ Trung ương đến cơ sở) ngay từ ngày đầu của dự án. Phân cấp quản lí cho ban Quản lí dự án các cấp cụ thể, rõ ràng, phát huy quyền chủ động của cơ sở. Phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm trong quản lí, chỉ đạo thực hiện dự án một cách cụ thể, rõ ràng. Huy động được sức mạnh tiềm ẩn trong nhân dân và sức mạnh tổng hợp từ Trung ương đến địa phương cùng tham gia thực hiện dự án. Có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan Bộ, Ngành của Chính phủ. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Uỷ ban Nhân dân các cấp và sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh. Vai trò của ban quản trị dự án cấp tỉnh giữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện dự án, quyết định sự thành công của dự án tỉnh. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Thứ hai, có dự án hỗ trợ, đồng thời hoạt động: giải thích, tuyên truyền rộng rãi, tăng cường các hoạt động phổ cập, tập huấn đào tạo đã làm chuyển biến nhận thức của nhân dân và nâng cao năng lực quản lí, kĩ thuật cho đội ngũ cán bộ các cấp. Xác định rõ hướng làm và cách làm của dự án.
Thứ ba, mục tiêu tôn chỉ hoạt động của dự án rõ ràng, cụ thể. Các qui định, qui chế, kế hoạch kịp thời, đầy đủ, hướng làm, cách làm rõ ràng. Một số dự án đã đáp ứng nguyện vọng của người dân, được nhân dân đón nhận tích cực, hăng hái tham gia, phát huy được năng lực hộ gia đình trong sản xuất Lâm nghiệp.
Thứ tư, mối quan hệ thân thiết, bình đẳng và hợp tác thân thiện với các văn phòng dự án và các tổ chức quốc tế có liên quan UNDP, PAO.. và các chuyên gia trong và ngoài nước luôn được cải thiện, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong thực thi dự án.
4.2. Những yếu kém còn tồn tại
Bên cạnh những mặt được của ODA như trình bày ở trên, phải nhận xét rằng thu hút và sử dụng ODA trong 10 năm qua cũng có nhiều mặt chưa được, thậm chí có những dấu hiệu kém hiệu quả. Những tồn tại, yếu kém trong sử dụng ODA ở ngành lâm nghiệp chủ yếu là:
- Thứ nhất, công tác chuẩn bị kỹ thuật của một số dự án còn chưa tốt.
Các dự án khả thi hoặc tiền khả thi xây dựng với độ chính xác chưa cao, vì vậy khi thực hiện một số dự án phải điều chỉnh hoặc xây dựng lại.Chưa có báo cáo khả thi khi ký Hiệp định dự án, do đó không thể triển khai ngay sau khi ký, phải cần 1-2 năm đầu để hoàn thành báo cáo khả thi, chuẩn bị kỹ thuật như các dự án WB1, WB2, ADB. Thời gian từ khi chuẩn bị, xây dựng và ký kết, đến khi thực hiện dự án quá lâu nên khi triển khai đã có nhiều thay đổi về giá cả, định mức kinh tế, kĩ thuật, đất đai và xã hội.
Các văn bản quy định, hướng dẫn quy trình thực hiện dự án, quy trình giải ngân, chính sách tín dụng cụ thể cho từng dự án còn thiếu và không đồng bộ, nhất là những hướng dẫn cho địa phương. Do đó, 1-2 năm đầu thường là rất lúng túng, như dự án WB bảo vệ rừng và phát triển nông thôn.
- Thứ hai, cơ chế chính sách chưa tương đồng. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Tái định cư là vấn đề xã hội phức tạp thường gây chậm chễ cho hầu hết các dự án. Nguyên nhân chủ yếu là: Thủ tục thống kê, khảo sát, báo cáo, thực hiện và kiểm tra của các nhà tài trợ như ADB, WB khá phức tạp và rất chặt chẽ. Vấn đề tái định cư là điều kiện tiên quyết cho việc triển khai các hoạt động dự án. Một số chính sách và quy định đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư của phía Việt Nam trong những năm qua có nhiều thay đổi.
Thủ tục đấu thầu cho các dự án vốn vay thường cũng là nguyên nhân quan trọng gây nên chậm chễ thực hiện dự án. Nhiều cán bộ quản lí dự án của ta chưa quen với các thủ tục đấu thầu của nhà tài trợ, nhất là đấu thầu quốc tế: Các khâu chuẩn bị tài liệu gọi thầu, chấm thầu, thẩm định phê duyệt, thoả thuận với nhà tài trợ đều tốn rất nhiều thời gian. Việc tổ chức đấu thầu ở cấp tỉnh nhiều nơi chưa tốt do cán bộ ở cấp này chưa nắm vững quy trình, thủ tục của nhà tài trợ dẫn đến phải trình duyệt nhiều lần; Do không có giá sàn nên các nhà thầu bỏ thấp, dẫn đến sau khi trao thầu, nhà thầu không bảo đảm tiến độ và chât lượng.
- Thứ ba, tiến độ triển khai dự án chậm trễ, không đạt theo yêu cầu.
Địa bàn thực hiện dự án phân bố ở các vùng khó khăn và phụ thuộc vào thiên nhiên. Đa số các dự án thực hiện trên diện rộng, lại ở những vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, dân trí thấp và vùng đồng bào dân tộc. Nhiều hoạt động của dự án lâm nghiệp chủ yếu do cơ sở (huyện, xã) trực tiếp quản lí và thực hiện, đối tượng hưởng lợi và tham gia dự án tới cấp hộ nông dân. Do đó tổ chức thực hiện dự án phức tạp; cơ chế quản lí tài chính, giải ngân, cơ chế tín dụng gặp khó khăn. Những đặc điểm đó đòi hỏi việc chuẩn bị, thiết kế và chỉ đạo thực hiện dự án nhiều công phu. Trên thực tế, một số dự án lớn vay vốn ADB, WB chưa chuẩn bị chu đáo được như thế nên không thể triển khai nhanh trong 1-2 năm đầu.
Khó khăn về vốn đối ứng: mặc dù vấn đề vốn đối ứng trong nước cho các dự án ODA lâm nghiệp những năm gần đây đã được nhiều ưu tiên, nhưng trong thực tế các dự án ODA này vẫn gặp khó khăn, không có vốn đối ứng đầy đủ và kịp thời, một mặt do khâu lập kế hoạch hàng năm, hàng quý chậm, mặt khác do nguồn ngân sách trong nước thường có khó khăn. Các kho bạc chưa đáp ứng được yêu cầu thanh quyết toán của các dự án do thiếu cán bộ giải ngân, nhiều thủ tục phức tạp. Điển hình như ở tỉnh Yên Bái, vốn đối ứng của địa phương chỉ đáp ứng được đến 20% là quá cao, việc huy động vốn đóng góp của dân chưa thể thực hiện được. Hầu hết lại là những tỉnh miền núi, thu ngân sách ít nên khả năng tự lực rất hạn chế.
- Thứ tư, Về tiến độ thực hiện giải ngân các dự án rất chậm, không đạt theo yêu cầu.
Đa phần các dự án thường kéo dài hơn so với thiết kế từ 1 đến 2 năm, nhất là các dự án vốn vay từ ngân hàng thế giới (WB1, WB2), ngân hàng phát triển Châu á (ADB), JBIC… Công tác giải ngân chậm, chỉ đạt vào khoảng 27-60% so với thiết kế. Nếu so sánh tốc độ giải ngân ở những dự án thuộc các lĩnh vực kinh tế khác thì các dự án ODA trong ngành lâm nghiệp có tốc độ giải ngân chậm hơn nhiều do đặc thù của ngành đã nêu ở trên. Nếu so sánh các dự án ODA trong nội bộ ngành lâm nghiệp thì có thể nói chung tỷ lệ giải ngân ODA ở các dự án tương đối thấp và không đồng đều giữa các loại dự án và các nhà tài trợ. Các dự án viện trợ không hoàn lại thường có tốc độ giải ngân nhanh hơn, đạt khoảng 43-60% ( ví dụ: dự án PAM 4304; KfW 1; PAM 5322…) trong khi đó giải ngân các dự án vốn vay ưu đãi lại rất chậm, đạt khoảng 25-40% (ví dụ: dự án ADB; WB1; WB2…). Tốc độ giải ngân chậm đã ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ thực hiện và hiệu quả của các chương trình, dự án và làm nản lòng nhà đầu tư. Về thực hiện kế hoạch giải ngân các dự án vốn vay đã có nhiều tiến bộ qua các năm gần đây, nhưng nhìn chung vẫn là chậm nhiều so với tiến độ đã cam kết. Hầu hết các dự án trong 1-2 năm đầu lượng giải ngân đạt được rất ít, đưa đến một thực tế là cho đến nay chưa có một dự án vốn vay nào giải ngân hoàn thành đúng tiến độ như Hiệp định đã ký ban đầu, đều phải xin gia hạn từ 1 đến 2 năm. Thí dụ như dự án vay vốn ADB, dự án “bảo vệ rừng và phát triển nông thôn” vay vốn WB do thiết kế dự án yếu và thủ tục đầu tư phức tạp, trong 2 năm đầu lượng giải ngân hầu như không đáng kể (chỉ đạt 5-10% tổng kinh phí dự án theo thiết kế ban đầu). Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Giải ngân ODA chậm dẫn tới các hậu quả sau:
- Giải ngân chậm làm tăng chi phí chuyển giao vốn.
- Chậm đưa công trình vào sử dụng gây ra lãng phí và kém hiệu quả.
- Làm giảm tính ưu đãi của vốn vay (rút ngắn thời gian ân hạn, kéo dài thời gian trả phí cam kết).
- Làm mất cơ hội sử dụng phần vốn ưu đãi còn lại của dự án.
- Làm mất uy tín của quốc gia đối với các nhà tài trợ về năng lực tiếp nhận và sử dụng tài trợ.
Thứ năm, công tác theo dõi, giám sát đánh giá đầu tư chưa thực hiện tốt.
Bộ NN & PTNT, ngành, các địa phương, cơ quan quản lý và chủ đầu tư thường quan tâm đến việc xem xét, thẩm định dự án để ra quyết định đầu tư, nhưng chưa quan tâm đúng mức đến theo dõi, giám sát quản lý quá trình thực hiện đầu tư để đảm bảo hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí. Đây chính là một trong những nguyên nhân của những vấn đề tồn tại trong đầu tư (phân tán, chậm tiến độ, kém hiệu quả,…). Về thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư ở một số nơi việc phân giao nhiệm vụ, cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, biên chế cán bộ chưa tương xứng với nhu cầu công việc; thiếu phương tiện và kinh phí thực hiện giám sát nên kết quả hạn chế. Năng lực chủ đầu tư, cán bộ giám sát còn hạn chế về chuyên môn, thiếu kinh nghiệm tổ chức công việc.
Việc báo cáo định kỳ chưa đầy đủ và kịp thời theo quy định. Nhiều báo cáo mới chỉ dừng ở mức phản ảnh chung về tình hình thực hiện chưa nêu rõ những sai sót hoặc giải pháp để xử lý, hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những khó khăn vướng mắc của dự án. Thậm chí nhiều nơi, báo cáo về chậm hàng tháng, nhất là những vùng điều kiện khó khăn, trình độ cán bộ hạn chế. Việc thực hiện giám sát chưa thường xuyên, chưa giám sát và phân tích, đánh giá theo từng khâu chuẩn bị đầu tư, thiết kế, tổng dự toán, đấu thầu, ký hợp đồng, đến khâu thanh quyết toán đưa dự án vào vận hành nên chưa phát hiện kịp thời thiếu sót và nguyên nhân cụ thể để có biện pháp xử lý kịp thời và có hiệu quả.
Những năm qua đã có nhiều hoạt động giám sát cộng đồng đã có nhiều tác dụng, được phản ảnh thông qua đơn thư hoặc báo chí, truyền hình. Tuy nhiên các hoạt động này chưa được hướng dẫn và tổ chức thực hiện một cách có hệ thống nên đã phần nào hạn chế kết quả. Thậm chí nhiều nơi dân không biết là có dự án đang được triển khai tại địa bàn của mình. Đội ngũ tuyên truyền viên chưa thực sự hoạt động có tổ chức và chưa đạt hiệu quả.
Ngoài những nguyên nhân trên đây, cần phải kể đến những nguyên nhân phổ biến khác là:
- Thứ nhất, Về phía những người thụ hưởng dự án: Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Trong quan niệm của nhiều cơ quan thụ hưởng ODA cả ở Trung ương lẫn địa phương vẫn còn vương vấn “ODA thời bao cấp”, coi “ODA không hoàn lại là Chính phủ cho, ODA vốn vay là Chính phủ trả nợ”. Hậu quả của quan niệm sai lệch này là ra sức tranh thủ nguồn vốn ODA mà không tính toán đến hiệu quả kinh tế, tính bền vững sau dự án và khả năng trả nợ (đối với dự án ODA vốn vay). Với quan niệm về ODA như nêu trên, việc sử dụng các dự án hỗ trợ kỹ thuật viện trợ không hoàn lại cũng chưa đạt được những hiệu quả như mong muốn. ở đây nặng về các yếu tố đầu vào (nhập xe con, đi khảo sát ở nước ngoài…), coi nhẹ các kết quả đầu ra. Hậu quả là các dự án chồng chéo lên nhau về nội dung, kết quả dự án không được khai thác và sử dụng một cách thích đáng, nhà tài trợ thu về phần lớn vốn tài trợ qua dịch vụ chuyên gia tư vấn.
Nhiều cơ quan thụ hưởng ODA còn chưa chủ động trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Có nhiều trường hợp ý tưởng và thiết kế dự án do nhà tài trợ đề xuất, thiếu sự tham gia chủ động của phía Việt Nam. Do vậy chất lượng thiết kế dự án thấp, không phù hợp với thực tế và hiệu quả sử dụng ODA thấp. Các quy trình thủ tục kêu gọi đầu tư và triển khai dự án quá dài dòng, phải qua nhiều cấp xét duyệt, gây chậm trễ và làm mệt mỏi các nhà đầu tư.
- Thứ hai, Về phía quản lí ngành:
Việt Nam đang đổi mới toàn diện cho nên quy hoạch sử dụng đất vĩ mô không ổn định làm cho việc xác định đất lâm nghiệp trở nên khó khăn. Vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong quản lí đất lâm nghiệp, đặc biệt là việc giao đất và khoán rừng bảo vệ. Khoảng 73% diện tích rừng đã có chủ cụ thể nhưng chưa có động lực kinh tế cho chủ rừng tham gia tích cực vào việc bảo vệ, phát triển và sản xuất kinh doanh rừng; Chưa có quy hoạch tổng thể, sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch vùng và ngành nên hiệu quả thực thi của các phương án quy hoạch rất thấp. Bên cạnh đó, khoa học kỹ thuật lâm nghiệp chưa phát triển tương xứng với thế mạnh của ngành lâm nghiệp nói chung và từng vùng sinh thái nói riêng, đặc biệt chưa gắn với thực tiễn phát triển lâm nghiệp đáp ứng tình hình và yêu cầu mới. Công nghệ sinh học tạo cây con bằng mô, hom và cải tạo giống cây để có năng suất cao hoặc kỹ thuật canh tác trên đất dốc chưa được áp dụng rộng rãi. Đây cũng là những nguyên nhân làm cho hiệu quả các dự án khi triển khai vào thực tế không đạt được mục tiêu đã đề ra.
- Thứ ba, Về phía quản lí Nhà nước: Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
Các văn bản pháp quy về quản lí đầu tư và xây dựng (Nghị định 52/CP), đấu thầu và xét thầu (Nghị định 88 CP), di dân và giải phóng mặt bằng (Nghị định 22/CP) chậm sửa đổi và bổ sung, làm kéo dài thời gian chuẩn bị và thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn ODA, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân và hiệu quả dự án. Hơn nữa, một số cơ chế chính sách của Nhà nước tuy đã đáp ứng được yêu cầu của quá trình đổi mới trong thời gian qua nhưng chưa đồng bộ và đủ để khai thác các tiềm năng hiện có, chưa tạo động lực cho phát triển lâm nghiệp, chưa khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động nghề rừng.
- Thứ tư, Về phía Ban quản lí dự án:
Công tác theo dõi và đánh giá dự án bị buông lỏng. Nhiều cơ quan chủ quản ở Trung ương và các tỉnh chưa quản lí được các dự án của mình. Kỷ luật báo cáo về tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc. Đội ngũ tuyên truyền viên chưa thực sự phát huy vai trò trong công tác giám sát cộng đồng ở các địa phương, nhất là những địa bàn vùng sâu, vùng xa
Năng lực một bộ phận không nhỏ cán bộ của các Ban quản lí dự án và chủ dự án ODA yếu kém, bất cập so với yêu cầu tổ chức và quản lí quá trình thực hiện các chương trình, dự án. Nhận thức về tài nguyên rừng, về vai trò và vị trí của rừng và nghề rừng chưa đầy đủ, kể cả cộng đồng dân cư liên quan đến rừng và cả cán bộ trong ngành lâm nghiệp.
- Thứ năm, Về phía các nhà tài trợ:
Quy trình và thủ tục ODA của một số nhà tài trợ phức tạp, kém linh hoạt và thiếu minh bạch gây khó khăn cho phía Việt Nam trong quản lí và tổ chức thực hiện dự án. Một số nhà tài trợ can thiệp quá sâu vào quá trình thực hiện dự án, nhất là khâu đấu thầu và xét thầu nhằm bảo vệ lợi ích của các công ty nước mình. Có nhiều trường hợp chuyên gia đồng giám đốc do phía nhà tài trợ cử kém năng lực, thiếu tinh thần hợp tác xây dựng.
Những hạn chế trên đây mang tính chất phổ biến trong đa số các chương trình, dự án thực hiện bằng nguồn vốn ODA của các ngành nói chung và của ngành Lâm nghiệp nói riêng do những đặc thù ngành khi triển khai vào thực tế bởi những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Nếu những khó khăn và hạn chế này được khắc phục thì chắc chắn sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn ODA và thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành lâm nghiệp theo các mục tiêu đã định. Khóa luận: Thực trạng thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp


Pingback: Khóa luận: Hiệu quả thu hút sử dụng vốn ODA trong lâm nghiệp