Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Các SME ở Nhật đã phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đó là do chính phủ Nhật đã có nhiều chính sách hỗ trợ, phát huy hiệu quả tiềm năng của loại hình doanh nghiệp này. Trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế chính phủ Nhật đều đưa ra những chính sách phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế giai đoạn ấy. Đây chính là nội dung được đề cập đến trong chương II.
I: TRƯỚC NĂM 1954
1. Từ năm 1945 trở về trước
Là một nước bao gồm nhiều đảo nhỏ trong vùng gió mùa châu Á, nơi cây lúa là cây lương thực phổ biến, nền kinh tế Nhật từ lâu dựa vào nông nghiệp và ngư nghiệp. Gắn liền với nó là nền sản xuất gia dụng quy mô nhỏ, ngành lưu thông và nghề trồng lúa dựa vào lao động của các gia đình. Đây chính là cơ sở cho sự ra đời của các SME sau này.
Trong thời kỳ đầu để có được một số vốn nhỏ và công nghệ tiên tiến để thực hiện kinh doanh và lập các xưởng thủ công là hết sức khó khăn. Hơn nữa, nhà nước phong kiến Nhật Bản chưa có sự quan tâm đúng mức, cũng như chưa có các chính sách và biện pháp thích đáng cho sự phát triển của các SME. Do vậy, các SME trong giai đoạn này chỉ là những xưởng thủ công nhỏ, những hộ kinh doanh gia đình. Phải đến nửa đầu thời Minh Trị, cùng với nhiều cải cách, chính sách phát triển công nghiệp và ngoại thương, hoạt động của các thương nhân tăng lên mạnh mẽ. Trong thời gian này, nhiều ngân hàng nhỏ ra đời và việc vay mượn trở nên phổ biến. Do vậy, nguồn vốn cung cấp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh tăng dần lên. Từ đó các SME mới có được sự hỗ trợ về vốn, bắt đầu hình thành và bước vào hoạt động kinh doanh mạnh mẽ.
Tuy nhiên khi chiến tranh nổ ra năm 1945, chính phủ đã tiến hành tổ chức lại kinh doanh, thanh toán các cơ sở kinh doanh nhỏ để thu hút sức lao động của họ vào ngành sản xuất vũ khí, đạn dược. Như vậy, vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh, đa số những cơ sở kinh doanh nhỏ không trực tiếp liên quan đến việc sản xuất vũ khí, đạn dược biến mất. Mặc dù vậy, sau khi Nhật Bản bị thua trận, các loại kinh doanh nhỏ lại nhanh chóng xuất hiện và tăng nhanh về số lượng.
Do vậy, chỉ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các SME mới thực sự được coi là loại hình xí nghiệp có tác dụng và vị trí quan trọng trong nền kinh tế Nhật.
2. Thời kỳ phục hồi kinh tế (1945 – 1954)
2.1. Đặc điểm nền kinh tế.
Một là nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn. Tháng 8 năm 1945, khi vừa bại trận, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề về mọi mặt. Theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh thì tổng thiệt hại về vật chất lên tới 64,3 tỉ yên, bằng 2 lần tổng thu nhập quốc dân năm tài chính 1948-1949. Như vậy là toàn bộ của cải tích luỹ được trong mười năm 1935-1945 đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Những vấn đề kinh tế, xã hội gay cấn nhất lúc này là: thất nghiệp, thiếu nguyên liệu và lương thực, lạm phát. Khoảng 4 triệu người thất nghiệp do ngừng hoạt động sản xuất quân sự, 7,6 triệu binh sĩ giải ngũ, 1,5 triệu người từ các thuộc địa hồi hương, nâng tổng số người không có việc làm lên tới 13,1 triệu. Nguồn năng lượng chính lúc bấy giờ là than và thuỷ điện giảm sút nghiêm trọng.Thêm vào đó, vụ lúa năm 1945 bị thất bát nặng, sản lượng chỉ còn 2/3 so với năm trung bình trước đó. Lạm phát nghiêm trọng bùng nổ từ giữa những năm 1945 kéo dài đến đầu năm 1949. Trong thời gian này, cuộc sống của người dân thành thị nói chung ở trong tình trạng thiếu thốn, phải bán dần tài sản để ăn, nền kinh tế hàng hoá hầu như mất tác dụng, thành thị có nhiều nơi diễn ra cảnh hàng đổi hàng, ở đây lúa gạo và quần áo trở thành đối tượng trao đổi chính. GDP hồi đó khoảng 11 tỷ đô la( năm 1950). Sản xuất công nghiệp nhỏ chỉ bằng 30% giá trị bình quân của năm 1934 – 1936 trước chiến tranh.[9.149]
Hai là Nhật Bản đã bị các lực lượng đồng minh, thực chất là quân đội Mỹ chiếm đóng. Chính phủ Nhật Bản vẫn được công nhận và tiếp tục cai trị đất nước. Quân đội chiếm đóng tuy chỉ điều khiển guồng máy hoạt động một cách gián tiếp nhưng lại thảo ra những văn kiện và các chính sách cải cách cơ bản ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển kinh tế của Nhật Bản. Quân đồng minh chủ yếu là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ( GHQ : Bộ tổng tư lệnh các tư lệnh tối cao Liên hợp quốc = General Head Quarters ) trong thời gian này đã dùng chính sách kìm hãm trình độ phát triển kinh tế của Nhật Bản ở mức trước chiến tranh, tức là thời kì 1935 – 1937.
Nhưng năm 1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính sách của quân đồng minh buộc phải thay đổi. Bởi vì lúc đó quân đội Mỹ rất cần Nhật Bản làm căn cứ hậu cần, làm nơi an dưỡng của quân đội, nơi sửa chữa và bổ sung vũ khí đạn dược. Các căn cứ quân sự thời chiến tranh như Yokosuka, Kure đã được sử dụng vào mục đích trên. Đồng thời các nhu cầu đặc biệt của quân đồng minh (chủ yếu là quân Mỹ ) cũng đã tạo cơ hội cho Nhật Bản phục hồi kinh tế.
Ba là sự độc quyền của các zaibatsu. Đây là một đặc trưng của nền kinh tế Nhật lúc bấy giờ. Zaibatsu là những tập đoàn tư bản lớn thường là của một dòng họ. Những tập đoàn công ty gồm có Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda,…chi phối công ty chính là một công ty cổ phần mẹ. Ví dụ Tổng công ty Mitsui do dòng họ Mitsui trước đây đã thâu tóm 39 công ty lớn như Mitsuibussan, Toyoreon, Mitsui bank, Mitsui seimei…Những zaibatsu này gần như thâu tóm hết toàn bộ nền kinh tế, độc quyền chi phối nền kinh tế Nhật trước chiến tranh. Điều này gây rất nhiều trở ngại cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đã rất nhỏ bé và gặp nhiều khó khăn. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Bốn là vấn đề “giới hạn đồng đôla”. Trong thời gian này, Nhật Bản cần có ngoại tệ, tức là đôla để nhập nguyên liệu như bông, lông cừu, quặng sắt…và năng lượng như than đá, dầu mỏ. Nhưng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể thu được ngoại tệ lúc bấy giờ chỉ là hàng tạp hoá bình thường như bóng đèn trang trí, đài bán dẫn, đồ chơi…và hàng hoá phục vụ nhu cầu đặc biệt.
Trong điều kiện như vậy, nếu sản xuất mở rộng thì đương nhiên là sẽ thiếu đôla. Khi nhập nguyên nhiên liệu bằng đôla nhiều lên, nếu không có xuất khẩu để thu lại khoản đôla tương ứng thì sẽ rơi vào tình trạng thiếu đôla. Khi thiếu đôla thì Ngân hàng Trung ương Nhật Bản thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ nâng tỷ lệ lãi suất pháp định.
Biện pháp này đã hạn chế được nhu cầu trong nước, việc nhập nguyên nhiên liệu giảm, nhu cầu đôla cần cho việc nhập khẩu cũng ít đi. Vì vậy sẽ giải toả được vấn đề thiếu đôla, nhưng ngược lại nền kinh tế vì thế mà chững lại.
Do đó, trong giai đoạn này huy động sức người, sức của để tái thiết và phát triển là nỗ lực phi thường của chính phủ và nhân dân Nhật Bản. Giải pháp hữu hiệu, thực tế để chính phủ Nhật tính đến là nhanh chóng phục hồi các SME. Một mặt, việc khôi phục và phát triển loại hình doanh nghiệp này cho phép giải quyết nhiều nhu cầu cấp thiết đang đặt ra lúc đó, đặc biệt là hàng tiêu dùng. Trong điều kiện mà những ngành khai thác, chế tạo sau chiến tranh giảm xuống còn 1/10 so với trước chiến tranh thì hàng hoá của các SME sản xuất ra được tiêu thụ rất nhanh. Mặt khác, các SME ra đời cũng giải quyết một lượng lao động lớn đang thất nghiệp vào lúc đó. Trên các báo, người ta đã gọi các SME là “ Những con sư tử ngày”.
Tuy nhiên trong bối cảnh đó, các SME này phải đối mặt với nhiều khó khăn như thiếu vốn, nguyên nhiên liệu và sự độc quyền của các zaibatsu. Thêm vào đó, các SME càng khó khăn hơn do trình độ quản lý thấp, thiếu công nghệ và khả năng tài chính.
Do vậy, trong thời kỳ này, sự hỗ trợ của Chính phủ cho các SME là rất cần thiết. Các chính sách mà Chính phủ Nhật đưa ra không những nhằm tạo điều kiện thuận lợi các SME tiếp cận với nguồn vốn, nâng cao trình độ quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các SME mà còn phải đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các SME và các doanh nghiệp lớn.
2.2. Các biện pháp hỗ trợ SME
- Thành lập các tổ chức hỗ trợ và hiệp hội các SME Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Trong hoàn cảnh mà các SME phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về vốn, nguyên nhiên liệu, công nghệ như vậy, biện pháp đầu tiên mà chính phủ Nhật đã áp dụng là thành lập ngay cơ quan chuyên trách về vấn đề này.
Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMEA) thành lập năm 1948 là một cơ quan thuộc Bộ công thương Nhật (MITI), dưới sự hướng dẫn điều hành của GHQ. Nhiệm vụ chủ yếu của Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ là triển khai các công việc hỗ trợ các SME. Cụ thể như: ra các chính sách về SME, hướng dẫn thực hiện, lên kế hoạch về vốn ngân sách hỗ trợ…Trên cơ sở đó, các cơ quan hành chính địa phương, các phòng thương mại và công nghiệp địa phương, và các tổ chức khác sẽ triển khai thực hiện. Cục này có các văn phòng tại các vùng, và xuống tận các quận, huyện.
Bên cạnh đó, chính phủ cũng khuyến khích thành lập các hiệp hội, các nhóm SME với mục đích là trong các hiệp hội này, các SME sẽ giúp đỡ nhau cùng khắc phục những điểm bất lợi của họ lúc bấy giờ là vốn, công nghệ, nguyên nhiên liệu. Năm 1948, nội các Nhật Bản đã đề ra “ những biện pháp quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ” mà theo đó, sẽ hình thành một hệ thống tiếp cận giữa các doanh nghiệp và Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì Hiệp hội này rập theo khuôn mẫu của Tổ chức kinh doanh nhỏ của Mỹ nên nó được thành lập như một phần của chính sách “ dân chủ hoá nền kinh tế”, mà trong đó những doanh nghiệp vừa và nhỏ độc lập đóng vai trò xoá bỏ tập trung quyền lực kinh tế và chống lại tình trạng độc quyền. Luật tổ chức hợp tác của các SME đã có hiệu lực vào năm 1949.
Tiếp đó, vào năm 1953, với sự ra đời của Luật về Phòng thương mại và công nghiệp, Phòng hỗ trợ SME thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản đã trở thành tổ chức có chức năng hỗ trợ các SME một cách hiệu quả. Cơ quan này cung cấp cho các SME các thông tin về cơ hội kinh doanh, bao gồm các thông tin về thương mại quốc tế, đối tác đầu tư…Đồng thời tổ chức các hội thảo về đầu tư, xuất bản các bản tin giới thiệu các đối tác liên doanh và cung cấp dịch vụ tư vấn.
- Ban hành Luật chống độc quyền.
Các SME trong giai đoạn này cũng gặp phải một khó khăn lớn là sự độc quyền của các zaibatsu. Thêm vào đó, một nguyên tắc nữa của nền kinh tế Nhật sau chiến tranh mà quân đồng minh thực hiện lúc bấy giờ là “dân chủ hoá nền kinh tế”. Chính sách đó gồm ba vấn đề chủ yếu là giải thể zaibatsu, cải cách ruộng đất và xây dựng tổ chức công đoàn. Trong đó đáng quan tâm là chính sách giải thể các zaibatsu. Giải thể zaibatsu là biện pháp giải tán và giành quyền chi phối cổ phần của các zaibatsu.
Tháng 4 năm 1947 “Luật chống độc quyền và duy trì thương mại bình đẳng” được ban hành. Tiếp đó, tháng 12 năm 1947, “Luật thủ tiêu sự tập trung quá mức sức mạnh kinh tế” đã được ban hành. Luật này quy định là các công ty hiện đang nắm quyền kiểm soát thị trường bị buộc phải thu hẹp quy mô hoạt động. Trên cơ sở luật này, Uỷ ban giải quyết vấn đề công ty cổ phần đã nêu tên 325 công ty cần phải được phân chia ra thành những tổ chức nhỏ hơn vào tháng 2 năm 1948. Nhưng do việc xây dựng lại nền kinh tế Nhật đã trở nên cấp thiết, do sự phản đối quá mạnh mẽ đối với luật này cả trong và ngoài nước cùng với sự tiến triển của cuộc chiến tranh lạnh cho nên các nhà cầm quyền quân đội chiếm đóng Nhật Bản đã nới lỏng việc thực hiện Luật thủ tiêu sự tập trung quá mức sức mạnh kinh tế. Chỉ có 18 công ty đã thực sự bị phân chia thành các tổ chức nhỏ hơn. Sự ra đời của hai luật này, không chỉ thể hiện nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế Nhật sau chiến tranh mà còn ngăn chặn các zaibatsu phục hồi, thủ tiêu sự tập trung kinh tế . Chúng đã tạo ra một nền kinh tế đặc trưng bởi sự cạnh tranh mạnh mẽ trong tất cả các ngành công nghiệp. Mặc dù cũng có một vài ngành công nghiệp như ngành sản xuất thép và xe hơi mà ở đó tính chất của ngành đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa một số công ty độc quyền và một số ngành khác như dệt, mà ở đó có sự cạnh tranh của khá nhiều công ty, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, xu hướng cơ bản sau chiến tranh vẫn là sự cạnh tranh giữa những SME. Chính điều này đã tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của SME.
- Hỗ trợ về vốn Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Cùng với các biện pháp về hành chính là sự hỗ trợ về tài chính. Trong giai đoạn này, nhiều công ty, ngân hàng đã được thành lập để hỗ trợ vốn cho các SME.
Ngân hàng Shoko Chukin (SCB) đã được thành lập từ năm trên cơ sở luật về SCB, với 79,7% vốn là của Chính phủ[31]. Ngân hàng này cho các SME vay dài hạn ( 15 năm với vốn cố định, 10 năm với vốn lưu động). Tính ưu đãi của SCB được thể hiện ở sự khác nhau về điều kiện cho vay giữa ngân hàng tư nhân và SCB. Đối với Ngân hàng tư nhân, điều kiện cho vay rất chặt chẽ, chỉ được dùng đất để thế chấp và được đánh giá bằng 70% giá trị thật của đất, không chấp nhận thế chấp bằng máy. Còn SCB đất được thế chấp bằng 100% giá trị thật của đất và có chấp nhận máy móc. Ngoài ra, SCB cũng thực hiện các chương trình phát triển SME của chính phủ.
Bên cạnh đó, Công ty tài chính nhân dân (NLFC) cũng đã được thành lập vào năm 1949. Tổ chức này huy động vốn thông qua kênh tiết kiệm và phát hành trái phiếu có và không có bảo lãnh của chính phủ. Tôn chỉ của NLFC là tài trợ cho các doanh nghiệp mới thành lập, những doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ có tiềm năng rủi ro cao. NLFC cho các doanh nghiệp không có điều kiện vay ngân hàng và các tổ chức tài chính thông thường, vay các khoản vốn nhỏ, ưu đãi( 10 năm đối với vốn cố định, 5 năm đối với vốn lưu động).
Tiếp đó, vào năm 1953, Công ty tài chính doanh nghiệp nhỏ Nhật Bản(JFS) đã được thành lập, vốn do Chính phủ cấp. JFS huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu có và không có bảo lãnh của chính phủ. JFS cho vay theo hai loại hình. Một là, cho vay chung. Mục đích của loại này là đáp ứng nhu cầu rộng rãi của các doanh nghiệp để phát triển kinh doanh, cung cấp thiết bị, vốn dài hạn ( từ 5 đến 15 năm tuỳ từng trường hợp) cho các SME có khó khăn vì không vay được của các tổ chức tài chính thông thường. Lãi suất được sử dụng là lãi suất ưu đãi dài hạn( 1,55%). Đây cũng là lãi suất mà các Ngân hàng thương mại dành cho khách hàng tốt nhất[31]. Hai là, cho vay đặc biệt. Đây là công cụ phục vụ các chương trình chính sách của Chính phủ. Lãi suất của các chương trình này cũng rất thấp. JFS cho vay trực tiếp tại các chi nhánh và gián tiếp thông qua các đại lý là chi nhánh các Ngân hàng thương mại tư nhân. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Ngoài ra, những tổ chức tài chính đa phương( tổ chức hợp tác xã tài chính mà hội viên gồm các SME, các chủ sở hữu tư nhân và những tổ chức thiếu vốn) như các ngân hàng tài chính đa phương, hội tín dụng và hợp tác xã tín dụng đã được thành lập trong thời gian này. Luật về tổ chức hợp tác của các SME được ban hành năm 1949 được coi như một biện pháp để thành lập những tổ chức trên. Kết quả là các tổ chức hợp tác được lập ra trên những nguyên tắc mới, hiện đại và phát triển khắp nơi, một hệ thống cơ bản gồm những biện pháp sau chiến tranh đối với các SME được đưa ra.
Để khắc phục những khó khăn về tài chính cho các SME, chính phủ cũng đã ban hành Luật bảo lãnh tín dụng cho SME vào năm 1953. Tiếp đó một Hội bảo lãnh tín dụng(NACGG) bổ sung do chính quyền trung ương và địa phương đầu tư vốn đã ra đời. Với sự ra đời của hệ thống này, các SME không có đủ tài sản, vật thế chấp để vay tại ngân hàng, vẫn có thể vay được tiền để phát triển kinh doanh nếu có sự bảo lãnh của hệ thống tín dụng của chính phủ. NACGG sẽ bảo hiểm số lượng tiền này bằng cách mua bảo hiểm của kho bạc bảo hiểm tín dụng SME.
Công ty bảo hiểm tín dụng doanh nghiệp nhỏ(SBCIC) do chính phủ trung ương thành lập nhằm bảo hiểm cho số tiền mà hội bảo lãnh tín dụng đã bảo lãnh cho các SME. Khi các SME không có khả năng trả nợ, NACGG sẽ đứng ra trả số dư nợ đó với Ngân hàng. Sau đó NACGG sẽ nhận từ SBCIC 70-80% số lượng tiền mà nó phải trả thay SME.
Ngoài ra, Chính phủ cũng có nhiều biện pháp khác như: trợ cấp khẩn cấp từ quỹ quốc gia, tăng cho vay vốn, lập ngân hàng phi chính phủ chuyên trách về SME, lập tổ hợp tài chính kinh doanh nhỏ năm 1953, tăng cường mạng lưới cung cấp tín dụng…
Nhờ đó, hoạt động của các doanh nghiệp này dần dần hồi phục, lấy lại được sinh khí và bắt đầu phát triển.
- Hướng dẫn, tư vấn quản lý Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Các SME nói chung và các SME Nhật nói riêng, thường có nguồn gốc từ các hộ sản xuất nhỏ hay những người mới khởi nghiệp nên họ thường gặp phải một khó khăn là không có kinh nghiệm về quản lý. Do vậy, một hệ thống hỗ trợ, tư vấn cho các SME là rất cần thiết. Đặc biệt là ở Nhật lúc bấy giờ, các SME sau chiến tranh rất cần sự tư vấn, hướng dẫn để hợp lý hóa, hiện đại hóa các phương pháp quản lý cho phù hợp với tình hình mới.
Hệ thống tư vấn quản lý và Tư vấn tại bàn cho các SME bắt đầu vào năm 1948.
Do số lượng những nhà tư vấn vào lúc bấy giờ còn hạn chế, không đủ để đáp ứng nhu cầu cần tư vấn của các SME nên vào năm 1952, hệ thống đăng ký tư vấn bắt đầu. Đó là một chương trình mà các nhà tư vấn, có thể là những chuyên gia hoặc những nhà kinh doanh có kinh nghiệm thực tế trong khu vực tư nhân hoặc nhà nước đăng ký tham gia. Chính quyền ở các địa phương đã được hỗ trợ rất nhiều để có thể chuẩn bị cho hệ thống đăng ký này. Ngược lại, sau đó, chính hệ thống những nhà tư vấn được bổ sung này lại giúp đỡ các địa phương trong việc tư vấn một cách có hiệu quả cho các SME.
- Hỗ trợ về thuế
Sau chiến tranh, do hệ thống cũ được thay thế bởi hệ thống thuế tự tính, các SME gặp phải nhiều khó khăn do ghi chép sổ sách kế toán không đầy đủ và nỗi lo về việc thuế quá cao. Để giải quyết vấn đề này, hệ thống “tờ khai xanh” bắt đầu năm 1949, cho phép các doanh nghiệp hưởng một mức thuế nhất định nếu các khoản thuế trên tờ khai được tính bằng một công thức ghi chép kế toán rõ ràng, nhất định. Hệ thống này không những khuyến khích các SME cải thiện việc ghi chép kế toán mà còn tăng cường sức mạnh tài chính cho các SME.
Như vậy, trong giai đoạn tái thiết sau chiến tranh, những biện pháp cơ bản mà chính phủ Nhật đã thực hiện nhằm giúp các SME thoát ra khỏi tình trạng khó khăn là chủ yếu hỗ trợ về vốn, quản lý và đảm bảo sự cạnh tranh công bằng. Mặc dù chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển các SME, tuy nhiên trong giai đoạn này đôi lúc sự phát triển của các SME cũng không hoàn toàn thuận lợi. Lý do của những khó khăn này là tình trạng khan hiếm nguyên liệu. Hơn nữa nếu để số vốn và nguyên liệu ít ỏi nằm rải rác ở các ngành sản xuất riêng lẻ thì sẽ kém hiệu quả nên vào đầu năm 1946 Chính phủ Nhật Bản đã sử dụng phương thức “ sản xuất ưu tiên” làm biện pháp phục hồi kinh tế. Phương thức“ sản xuất ưu tiên” này là một chính sách có mục đích tập trung đầu tư vào ngành năng lượng- tức là ngành công nghiệp than và ngành công nghiệp không thể thiếu của sản xuất công nghiệp – tức là ngành sắt thép. Vì thế ở thời điểm này, các SME lại rơi vào tình trạng đình trệ nghiêm trọng. Tuy vậy, những biện pháp đầu tiên mà chính phủ Nhật đã áp dụng để hỗ trợ các SME trong giai đoạn này đã trở thành cơ sở cho sự phát triển nhanh chóng của các SME sau này.
II: THỜI KỲ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (1955-2004) Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
1. Thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao ( 1955-1993)
1.1. Đặc điểm nền kinh tế
- Một là trong giai đoạn này, tốc độ phát triển kinh tế cao nhưng không ổn định.
Cho đến đầu năm 1955, Nhật Bản đã hoàn toàn khôi phục kinh tế với hầu hết các chỉ tiêu vượt mức trước chiến tranh. Tiếp đó là thời kỳ được biết đến như là một thời kỳ mà Nhật Bản đã có những biến đổi thần kỳ về kinh tế trong nước cũng như trong quan hệ với nền kinh tế thế giới. Tổng sản phẩm quốc dân, chỉ tiêu tổng quát cho mức hoạt động của nền kinh tế đã tăng mạnh. Từ năm 1955 đến năm 1958, tổng sản phẩm quốc dân đã tăng với tốc độ 6,9% bình quân hàng năm. Năm 1959, khi tốc độ tăng trưởng vượt trên 10%, nền kinh tế Nhật vẫn chưa gây được sự chú ý của thế giới. Nhưng năm sau, khi tốc độ tăng trưởng lại vượt tốc độ của năm trước thì thế giới bắt đầu kinh ngạc và gọi đó là “sự thần kỳ” về kinh tế. Tốc độ cao này được duy trì suốt những năm 1960. Bước sang thập niên 70, tốc độ tăng trưởng hơi giảm đi, còn 7,8%, nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng này không phải là một sự phát triển nhịp nhàng, không gấp khúc. Năm 1965 là năm được gọi là “cuộc khủng hoảng 65”. Đây là cuộc khủng hoảng chính thức lần đầu tiên sau chiến tranh của Nhật Bản dẫn đến tình trạng kinh tế không bình thường như liên tục xảy ra các vụ phá sản nghiêm trọng của các hãng sản xuất thép, đặc biệt như Sanyo, Nihon – là những công ty đăng ký tham gia thị trường giao dịch chứng khoán, rồi công ty Yamaichi gặp bế tắc trong kinh doanh.
Trong hoàn cảnh đó, các SME gặp rất nhiều khó khăn, họ không có đủ đơn đặt hàng để tiếp tục duy trì sản xuất. Sự hỗ trợ của chính phủ trong hoàn cảnh này là hết sức cần thiết.
- Hai là sự xuất hiện của các keiretsu ( liên minh kinh tế) Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Nguyên nhân là do xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, Nhật Bản thực hiện chính sách tự do hoá thương mại đã hứa với một số quốc gia từ trước. Theo đó, người nước ngoài được tự do thành lập hoặc mua lại các công ty ở Nhật Bản. Lúc bấy giờ do sự chênh lệch về quy mô giữa các công ty nước ngoài (nhất là Mỹ ) và các doanh nghiệp Nhật Bản là rất lớn. Vì lo ngại bị công ty của Mỹ chèn ép, các công ty của Nhật Bản đã tìm cách né tránh thông qua hình thức liên kết các công ty. Những nhóm liên kết trên không chỉ nhằm bảo vệ vốn cho nhau mà còn giúp nhau vay vốn của ngân hàng , hỗ trợ lẫn nhau về nhân sự. Người ta gọi những nhóm ấy là „keiretsu‟ (liên minh) . Trong thời gian này có sáu liên minh lớn đã hình thành. Đó là các liên minh Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Fuyo, Sanwa, Daiichi Kangin mà trung tâm của các liên minh này là các tài phiệt, các ngân hàng vốn có từ trước chiến tranh.
Những liên minh kể trên về cơ bản khác với các tập đoàn zaibatsu trước đây ở chỗ các keiretsu chỉ gắn bó với nhau bằng mối quan hệ lỏng, còn các zaibatsu trước đây do các công ty mẹ có quyền chi phối vốn của các công ty trong tập đoàn quản lý một cách chặt chẽ. Ví dụ liên minh Mitsui không có văn phòng riêng, không có người lãnh đạo mà do giám đốc của 23 công ty chỉ tổ chức gặp mặt vào ngày thứ năm tuần thứ hai hàng tháng ( thường được gọi là Nimokukai‟ ) để thông báo cho nhau những thay đổi, về phạm vi công việc trong nội bộ liên minh.
Ngoài liên minh tiền tệ còn có các tập đoàn sản xuất chủ yếu là chế tạo như Toyota, Hitachi, Matsushita, tập đoàn kinh doanh như Mitsubishi Shoji, Mitsukoshi, Itoyokado, và tập đoàn đường sắt tư nhân – một tập đoàn độc đáo của Nhật Bản. Tập đoàn đường sắt tư nhân là một tập đoàn gồm các ngành khác nhau. Ví dụ đoạn đường sắt Hankyu bao gồm công ty bách hoá ga trung tâm- bách hoá Hankyu, khách sạn Shinhankyu, siêu thị Hankyu, đoàn ca kịch Takarazula, công ty điện ảnh Toho. Đoạn đường sắt Seibu gồm công ty bách hoá Seibu, Lions Seibu( đội bóng chày chuyên nghiệp ), sở qui hoạch và khách sạn Prince. Khi ngành đường sắt trên thế giới bị sa sút thì ngành đường sắt tư nhân của Nhật Bản lại hoạt động kinh doanh khá sôi nổi là nhờ có sức mạnh tạo ra từ phong trào tập đoàn hoá giữa các ngành nghề khác nhau. Hơn nữa các tập đoàn sản xuất, tập đoàn lưu động, tập đoàn sản xuất tư nhân cũng sắp trở thành liên minh.
Theo đà phát triển thành liên minh như trên, thông thường các công ty lớn chiếm tỷ lệ cao trong nền kinh tế quốc dân là chuyện bình thường nhưng ở Nhật Bản có một đặc điểm là nhiều doanh nghiệp mới lần lượt xuất hiện, cơ cấu cạnh tranh của họ phối hợp với nhau rất tốt nên có tác dụng kiềm chế sự độc quyền của các công ty lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân mà chính phủ khuyến khích các SME liên kết lại với nhau. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Ba là, một đặc điểm nổi bật khác của nền kinh tế Nhật lúc bấy giờ là “cơ cấu hai tầng” của nền kinh tế. Nguyên nhân là bắt đầu từ năm 1955, Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển kinh tế mạnh, dẫn đầu là những tiến bộ về công nghiệp và đầu tư thiết bị máy móc của các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, hố sâu ngăn cách giữa các doanh nghiệp lớn và các SME ngày càng lớn. Mặt khác, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra, các tập đoàn công nghiệp khổng lồ được tổ chức lại và bắt đầu vươn dậy. Tuy nhiên những tập đoàn này vẫn chưa đủ năng lực để sử dụng một số lượng lớn nhân lực. Số lượng người thất nghiệp vẫn cao. Chính do sự dư thừa lao động này, sự chênh lệch tiền lương giữa các công ty lớn và các doanh nghiệp nhỏ đã mở rộng liên tục. Trong các công ty lớn, do đấu tranh của các tổ chức công đoàn, chế độ tiền lương dựa vào tuổi tác, chế độ thuê mướn suốt đời, trả lương theo thâm niên phục vụ công ty xuất hiện nhanh chóng, mức lương của người lao động cũng được đảm bảo. Trong khi đó tại các doanh nghiệp nhỏ, trang bị kỹ thuật lạc hậu năng suất lao động thấp hơn và thang lương dựa vào tuổi tác không được áp dụng triệt để, mức lương của người lao động thấp hơn nhiều so với lương của người lao động trong các công ty lớn. Do vậy, khoảng cách giữa các SME và các doanh nghiệp lớn ngày càng tăng. Điều đó không chỉ thể hiện ở sản lượng, tiền lương mà cả trang bị kỹ thuật và chất lượng sản phẩm. Hiện tượng này được gọi là “cơ cấu hai tầng” của nền kinh tế.
Từ sự chênh lệch này đã gây ra những phản ứng dây chuyền. Đó là việc các công ty lớn cho các cơ sở kinh doanh nhỏ làm gia công. Do có sự chênh lệch về tiền lương rất lớn nên các công ty lớn gián tiếp lợi dụng sức lao động rẻ mạt ở các cơ sở kinh doanh nhỏ qua hình thức gia công để sản xuất cho họ những sản phẩm cần thiết. Cách này có lợi hơn là chính họ tự sản xuất lấy. Hơn nữa, khi thuê các công ty nhỏ làm gia công, các công ty lớn cũng tiết kiệm được số tiền vốn bỏ ra và tránh được mọi sự rủi ro trong kinh doanh, nhất là về tiền vốn. Khi tình hình kinh doanh xấu đi, các công ty cho gia công sẽ thu hẹp hoặc cắt nguồn hàng gia công cho các xí nghiệp nhỏ. Các công ty lớn cũng có thể trì hoãn việc thanh toán các khoản tiền nợ và chờ đợi khi tình hình kinh doanh trở lại phát đạt, họ lại tăng cường gia công nhiều hơn. Sau đó, lấy cớ là cần hợp lý hoá giữa những người nhận gia công, họ hạ giá tiền gia công sản phẩm xuống thấp hơn. Do vậy, có thể coi các SME trong giai đoạn này là “cái đệm” rất linh hoạt trong việc điều chỉnh kinh tế có lợi cho các doanh nghiệp lớn. Mỗi biến động kinh tế đều tác động đến các SME đầu tiên. Tuy vậy, các cơ sở nhỏ cũng có một số thuận lợi nhất định khi nhận gia công. Họ được đảm bảo có các đơn đặt hàng, và có rất nhiều trường hợp các cơ sở nhỏ được các công ty lớn giúp đỡ không những về mặt tài chính mà còn cả về mặt hướng dẫn công nghệ sản xuất. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Do vậy, lúc bấy giờ hình thức gia công là một hình thức hết sức phổ biến. Nó trở thành một phương thức sản xuất đối với khoảng 70% các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ trong các ngành dệt, điện máy, may mặc. Trong điều kiện đó, việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn hiện đại và SME được đặt ra hết sức cấp thiết.
- Bốn là, Nhật Bản đã chủ động tìm kiếm và làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật Bản vẫn còn lạc hậu so với các nước tư bản phát triển khác về trình độ khoa học kỹ thuật, nhiều loại hình kỹ thuật đã được ứng dụng rộng rãi ở châu Âu và Mỹ nhưng chưa được sử dụng ở Nhật Bản. Tuy vậy chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh, cuộc cách mạng kỹ thuật do Nhật tiến hành đã phát triển nhảy vọt. Đến đầu những năm 70, Nhật Bản đã đạt trình độ cao về tự động hóa, về trình độ sử dụng máy tính điện tử trong một số ngành, đã sản xuất và sử dụng được nhiều loại vật liệu tổng hợp, đã đạt trình độ khá cao về hợp lý hoá sản xuất, áp dụng các phương pháp điện tử học và các phương pháp khác của kỹ thuật học vào sản xuất.
Đó là do, trong giai đoạn này, Nhật đã nhập kỹ thuật hiện đại và phương pháp tiên tiến của nước ngoài. Từ năm 1950 đến năm 1994, tổng số vụ nhập kỹ thuật của Nhật Bản lên tới 15289 vụ. Trong đó năm 1950 có 27 vụ và năm 1990 có 1572 vụ, tăng 58 lần và gần 70% từ Mỹ, hơn 10% từ Tây Đức[7.198]. Những hợp đồng nhập kỹ thuật chủ yếu liên quan đến các ngành chế tạo máy, hóa chất, luyện kim…Không chỉ là sao chép một cách máy móc các công nghệ nhập khẩu mà Nhật Bản đã hết sức nỗ lực đổi mới, nâng cao, biến chúng thành kỹ thuật riêng, qua đó đóng góp vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật.
Hơn nữa, Nhật đã tăng cường đầu tư mạnh hơn bao giờ hết cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Chi phí cho nghiên cứu phát triển năm 1955 mới chỉ đạt 40,1 tỉ yên thì đến năm 1990 đã đạt gần 1200 tỉ yên. Điều đáng lưu ý là, trong khi các nước tư bản khác dồn phần lớn chi phí nghiên cứu vào mục tiêu quân sự, chinh phục vũ trụ thì Nhật lại dồn hết chi phí nghiên cứu vào mục tiêu dân dụng. Điều đó được thể hiện bằng chi phí nghiên cứu ở các xí nghiệp tư nhân tăng nhanh hơn và chiếm tỉ trọng cao hơn. Tính chung từ năm 1959 đến 1969, chi tiêu cho nghiên cứu của các xí nghiệp tư nhân chiếm khoảng 3/4 tổng chi phí.
Như vậy, sự thành công của nền kinh tế Nhật trong giai đoạn này là sự kết hợp giữa hoàn cảnh quốc tế thuận lợi và những nỗ lực của toàn thể người dân Nhật Bản. Ngoài ra, không thể không kể đến vai trò tổ chức, lập kế hoạch và điều hành của nhà nước. Chính phủ Nhật đã có nhiều chính sách tài chính, tiền tệ, nhập khẩu khoa học công nghệ. Theo đó, các chính sách về SME cũng ra đời. Bên cạnh việc củng cố các biện pháp đã thực hiện trong giai đoạn trước như hỗ trợ về vốn, tư vấn quản lý, các chính sách hỗ trợ SME trong giai đoạn này còn cần phải có những thay đổi để giải quyết khó khăn thực tế của các SME trong giai đoạn này. Do vậy, các chính sách của chính phủ Nhật nhằm vào một số vấn đề chính.
- Một là đảm bảo hoạt động kinh doanh cho các SME khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng.
- Hai là giúp các SME liên kết với nhau để có thể kiềm chế sự độc quyền của các công ty lớn.
- Ba là giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lớn hiện đại và các SME trong “cơ cấu hai tầng” của nền kinh tế. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
1.2. Các biện pháp hỗ trợ SME
- Ban hành các luật về tổ chức hiệp hội các SME
Trong thời kỳ này, theo đà phát triển của các liên minh kinh tế, các SME cũng cần liên kết lại với nhau để có thể cạnh tranh một cách bình đẳng và phát triển thuận lợi. Do vậy, Chính phủ đã ban hành nhiều luật nhằm khuyến khích việc thành lập các Hiệp hội của SME.
Năm 1957, Luật liên quan đến việc tổ chức các hiệp hội của SME đã được ban hành. Luật này được ban hành để củng cố các hiệp hội của SME đã thành lập. Ngoài ra, Luật cũng hỗ trợ thành lập một tổ chức điều chỉnh các hoạt động của các hiệp hội. Theo luật này, các SME có thể cùng nhau lập hội để giúp nhau góp sức, góp tiền hỗ trợ nhau trong sản xuất.
Sau đó, năm 1960 Luật về tổ chức các hiệp hội thương mại và công nghiệp được ban hành. Theo luật này, các tổ chức thương mại và công nghiệp ở các địa phương được hệ thống lại, củng cố nhằm cung cấp một hệ thống tư vấn có hiệu quả hơn rộng khắp trong cả nước. Nhờ đó đã cải thiện được trình độ quản lý của các SME hơn.
- Hỗ trợ các SME làm thầu phụ
Ban hành Luật khuyến khích các SME làm thầu phụ
Trong quá trình đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến phương Tây, Nhật Bản đã đẩy mạnh các ngành công nghiệp trọng yếu do các tập đoàn và các doanh nghiệp lớn chi phối, nhưng đồng thời cũng cố gắng tăng cường mối liên kết ngành bằng cách phát huy sức mạnh của các SME trong việc cung ứng phụ kiện và những nguyên liệu thô nhất định. Ở Nhật Bản, nơi có các ngành công nghiệp nặng và hoá chất bắt đầu phát triển ngay từ những năm 1920, thì các SME đã tham gia vào việc cung cấp phụ kiện từ thời kỳ trước chiến tranh. Điều này cho phép đẩy nhanh quá trình hình thành mối liên kết ngành từ cuối những năm 1950 đến giữa những năm 1960. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Nếu như mục tiêu bắt kịp các công ty lớn của nước ngoài là chính thì linh phụ kiện và nguyên liệu thô nhập khẩu hẳn đã có thể đáp ứng nhu cầu thúc đẩy các ngành trọng yếu, và trong một số trường hợp, có thể rẻ hơn. Nhưng rõ ràng Nhật Bản lại lựa chọn mua các yếu tố đầu vào sản xuất từ các SME trong nước. Điều đó không chỉ bắt nguồn từ chính nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn do tác động của những chính sách của chính phủ. Một trong những số đó là Luật khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm thầu phụ đã được ban hành năm 1990. Luật này đã thúc đẩy việc hình thành các liên minh kinh tế, tăng cường sự kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn và các SME.
Do vậy, ở Nhật Bản không chỉ hình thức liên kết kinh tế theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp mà hình thức liên kết theo chiều dọc( liên kết ngành) cũng rất phổ biến.
- Ban hành Luật thanh toán chi phí thầu phụ
Mặc dù, giữa các doanh nghiệp lớn và các SME có mối quan hệ chặt chẽ như vậy nhưng mối quan hệ này lại thường không bình đẳng. Các công ty mẹ tận dụng vị trí thống trị của mình trước các doanh nghiệp nhỏ đã áp dụng nhiều biện pháp không bình đẳng như trì hoãn, giảm các khoản tiền phải trả cho các doanh nghiệp gia công, làm ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các SME. Để chấm dứt sự không công bằng này và để kiểm soát sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp lớn, Luật ngăn chặn chậm thanh toán chi phí thầu phụ và các chi phí liên quan đã ra đời năm 1956 (còn gọi là Luật thanh toán chi phí thầu phụ).
Với sự ra đời của Luật này, hoạt động kinh doanh của các SME cũng được đảm bảo ổn định hơn.
- Hỗ trợ kinh doanh
Khi suy thoái bắt đầu năm 1964, những lời yêu cầu cần duy trì những đơn đặt hàng của chính phủ và chính quyền địa phương trở nên mạnh mẽ hơn. Trong hoàn cảnh đó, Luật đảm bảo nhận đơn đặt hàng từ chính phủ đã được ban hành năm 1966 để có thể tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh của các SME. Theo Luật này, hàng năm chính phủ phải đảm bảo một lượng đơn đặt hàng cố định cho các SME. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Thêm vào đó, Luật siêu thị( sau này trở thành Luật về những cửa hàng bán lẻ cỡ lớn) được ban hành vào năm 1956 nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bán lẻ cỡ vừa và nhỏ.
- Hỗ trợ phát triển công nghệ, hiện đại hoá các SME Hỗ trợ vốn phát triển công nghệ
Cùng với chính sách nhập khẩu kỹ thuật lúc bấy giờ, chính phủ Nhật cũng rất quan tâm đến việc đầu tư phát triển công nghệ ở các SME.
Nắm bắt được thực trạng của các SME lúc bấy giờ, chính phủ Nhật đã xác định một vấn đề quan trọng mà các SME cần trợ giúp trong giai đoạn này là hỗ trợ về vốn. Chỉ khi có vốn, các SME mới có khả năng đầu tư về thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất, giảm dần khoảng cách với các doanh nghiệp lớn.
Do vậy, Luật hỗ trợ tài chính cho việc phát triển các SME được ban hành năm 1956. Mục đích chính của Luật là để hỗ trợ nâng cao năng suất bằng cách áp dụng các thiết bị hiện đại. Nhiều chính quyền địa phương đã bắt đầu cho vay theo Luật này và lập những quỹ cần thiết cho hiện đại hoá các thiết bị.
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu của hệ thống hỗ trợ các SME đang phải đối mặt với những khó khăn trong việc vay vốn từ thị trường chứng khoán mở bằng việc cung cấp vốn dài hạn, Luật công ty đầu tư kinh doanh nhỏ được ban hành năm 1963.
Cũng trong năm 1963, Công ty tư vấn và đầu tư SME (SBIC) đã được thành lập. Công ty đã thực hiện nhiều kế hoạch và chương trình đầu tư hỗ trợ SME như góp vốn cổ phần, đặc biệt đối với các doanh nghiệp mới thành lập, và đầu tư cho các công ty R&D.
Đặc biệt, một chương trình cho vay do Công ty xúc tiến doanh nghiệp nhỏ thành lập năm 1967 đã ra đời với sự đầu tư của chính phủ. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
- Kết hợp phát triển công nghệ và hợp lý hóa, hiện đại hoá sản xuất.
Phát triển công nghệ ở các SME, Chính phủ Nhật cũng rất chú ý đến sự hợp lý hoá sản xuất của các SME với cơ cấu sản xuất của nền kinh tế. Chính phủ cũng tiến hành thực hiện mạnh mẽ những biện pháp hợp lý hoá theo từng khu vực, thông qua việc ban hành Luật về những biện pháp đặc biệt khuyến khích ngành công nghiệp máy móc và Luật về những biện pháp đặc biệt đối với ngành công nghiệp thiết bị dệt( năm 1956) và Luật về những biện pháp đặc biệt khuyến khích ngành công nghiệp điện tử( năm 1957). Theo các bộ luật này, SME có những ưu đãi đặc biệt về thuế.
Sau đó, năm 1963, Luật về đẩy mạnh hiện đại hoá SME cũng ra đời. Luật đã đặt nền móng cho một kế hoạch có tính hệ thống và hiệu quả trong việc hợp lý hoá quản lý và cải tiến kỹ thuật cho SME. Kế hoạch đó bao gồm từ việc quy định chế độ cung cấp tiền vốn đến hướng dẫn hoạt động cho các cơ sở kinh doanh nhỏ, xác định các loại nghề, vạch ra những chương trình ” hiện đại hoá”. Thông qua đó, chính quyền địa phương cũng có thể lập kế hoạch và thực hiện sự hướng dẫn chỉ đạo của chính phủ một cách hiệu quả. Hơn nữa, Luật cũng đã thay đổi cơ cấu công nghiệp bằng cách nâng cao năng suất của các SME trong những ngành công nghiệp có các SME tham gia đông đảo. Đó là những ngành sản xuất các sản phẩm có kỹ thuật cao như ô tô, tivi, đồng hồ điện tử, máy ảnh…Những sản phẩm này phần lớn thuộc dạng lắp ráp và gia công, nên các công đoạn gia công đều do các SME đảm nhận. Khi những biện pháp này được thực hiện, năng suất của các SME cũng tăng cao. Kết quả là cơ cấu công nghiệp được thay đổi và nhìn chung đã nâng cao sức cạnh tranh của các SME.
- Ban hành Luật cơ bản về SME
Trong giai đoạn lúc bấy giờ, các SME không chỉ thu hút lực lượng lao động dư thừa mà giúp nền kinh tế Nhật tích luỹ tư bản cho giai đoạn tăng trưởng thần kỳ, là những “cái đệm” cho các công ty lớn điều chỉnh linh hoạt khi nền kinh tế thay đổi. Chính vì vậy, để hỗ trợ các SME một cách hiệu quả hơn, Luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được ban hành năm 1963. Nhờ đó, các chính sách đối với các SME đã được hệ thống hoá một cách rõ ràng hơn.
Luật xác định rõ quy mô của các SME. Theo đó, cơ sở kinh doanh nhỏ là cơ sở có vốn không quá 50 triệu yên hoặc sử dụng không quá 300 người trong lĩnh vực chế tạo, 30 triệu yên hoặc 100 lao động trong lĩnh vực bán buôn, còn trong lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ thì không quá 10 triệu yên hoặc không quá 50 người. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ được xây dựng nhằm tạo tính tự lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chứ không phải để bảo hộ. Luật đề ra hai chính sách chính: điều chỉnh những bất lợi của SME so với doanh nghiệp lớn và khuyến khích tính tự lập của các SME nhằm nâng cao năng suất và điều kiện kinh doanh để có thể xoá bỏ khoảng cách của cơ cấu kinh tế hai tầng.
Chính sách điều chỉnh những bất lợi đã áp dụng rất sát Luật ngăn chặn chậm thanh toán phí thầu phụ và những chi phí liên quan( ban hành năm 1956) và điều khoản “cấm lạm dụng chức quyền” của Luật chống độc quyền.
Chính sách khuyến khích tính tự lập của SME là một hệ thống trợ cấp vốn dài hạn cho đầu tư thiết bị và vốn luân chuyển. Theo Luật đẩy mạnh hiện đại hoá thì chính sách trên phân loại khu vực và trợ cấp đầu tư thiết bị nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng phạm vi hoạt động theo những kế hoạch đã được chính phủ thông qua.
Trên cơ sở đó, chính phủ sẽ đưa ra các biện pháp cụ thể giúp đỡ các đơn vị kinh doanh nhỏ ứng dụng kỹ thuật hiện đại, cải tiến công nghệ, hợp lý hóa việc quản lý giúp sắp xếp việc liên doanh, liên kết giữa các đơn vị với nhau…mà đầu tiên là phát triển hệ thống tư vấn. Tiếp đó là hệ thống hỗ trợ lẫn nhau giữa những doanh nghiệp nhỏ đã ra đời sau khi Luật hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp nhỏ được ban hành năm 1965.
Luật đã xác định các tiêu chí của SME cũng như mục tiêu chính sách phát triển kinh doanh nhỏ. Do vậy đã khẳng định tầm quan trọng và có các biện pháp phát triển khu vực doanh nghiệp này, góp phần làm tăng đáng kể số lượng SME. Số lượng SME thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ cũng tăng lên nhanh chóng, hình thành các mạng lưới cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên phạm vi cả nước và tham gia xuất khẩu.
Những cố gắng của chính phủ đã có tác dụng tốt và cũng ở vào thời kỳ hết sức thuận lợi : thời kỳ tăng trưởng cao. Do vậy các SME đã hoạt động và phát huy khả năng của mình góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Trên thực tế, cơ cấu công nghiệp lớn vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, cũng chính ở thời kỳ tăng trưởng cao các SME cũng tự đổi mới, hiện đại hóa và rút ngắn khoảng cách chênh lệch với loại hình doanh nghiệp lớn. Sự phát triển của các SME cũng làm cho thị trường lao động thay đổi hẳn, vấn đề thất nghiệp vốn là chuyện nan giải trong nhiều năm ở Nhật Bản đã được giải quyết, nhu cầu việc làm được thoả mãn, hơn nữa lại nảy sinh tình trạng thiếu lao động. Lớp công nhân trẻ rất được coi trọng. Vì vậy mức chênh lệch về lương của công nhân trẻ do quy mô của xí nghiệp khác nhau đã dần dần thu nhỏ lại. Điều đó có thể thấy rõ như dưới đây.
- Đồ thị 3 Khoảng cách giữa các SME và các doanh nghiệp lớn qua các giai đoạn.
Có thể thấy, đây là thời kỳ nền kinh tế Nhật có rất nhiều điểm giống với nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Đó là lực lượng lao động trẻ, đông đảo và đang thiếu việc làm; nguyên nhiên liệu dễ kiếm và rẻ; thị trường tiêu thụ rộng lớn, khoảng cách khoa học và công nghệ với các nước Âu Mỹ còn rất lớn, tính cạnh tranh với các công ty nước ngoài ngày càng gay gắt…Do vậy, những chính sách như đầu tư phát triển công nghệ, tăng cường mối liên kết dọc giữa các SME và các doanh nghiệp lớn cũng như mối liên kết ngang giữa các SME với nhau… sẽ là những bài học hữu ích với chính sách hỗ trợ SME ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2. Thời kì tăng trưởng ổn định (1994 -2004) Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
2.1. Đặc điểm nền kinh tế
- Có thể nói, từ năm 1994, sự “ thần kỳ” của nền kinh tế Nhật đã thực sự chấm dứt.
Điều đó thể hiện bằng việc tổng sản phẩm quốc dân và sản xuất công nghiệp trong những năm này biến động thất thường và thấp hơn hẳn thời kỳ trước. GNP thực tế của năm 1994 là tăng trưởng âm(- 0,5%), và GNP trung bình của giai đoạn này là 4% thấp hơn hẳn so với thời kỳ tăng trưởng nhanh.
Khủng hoảng kinh tế diễn ra sâu sắc. Trong thời kỳ 1993 đến cuối những năm 2004 nền kinh tế Nhật Bản đã lâm vào hai cuộc khủng hoảng kinh tế(1993-1995, 2001-2002). Mặc dù mức độ nghiêm trọng không giống nhau, song so với tất cả các cuộc khủng hoảng trước đó, các cuộc khủng hoảng diễn ra trong thời kỳ này có thể nói là sâu sắc hơn nhiều, nhất là cuộc khủng hoảng 1993-1995. Thông thường trong các cuộc khủng hoảng trước, dù sản xuất công nghiệp có giảm đi nữa nhưng một khi đã xuống đến “đáy” thì sẽ phục hồi lại với tốc độ cao. Ngay trong thời kỳ suy thoái dài nhất năm 1958, từ khi xuống đến mức thấp nhất cho đến khi vượt qua mức cao nhất trước khủng hoảng mất khoảng 8 tháng. Nhưng lần này lại kéo dài đến 37 tháng và 52 tháng [9.179].
Có thể nói, những nhân tố dẫn đến tình hình khủng hoảng kinh tế đầu những năm 70 và sự chậm lại của nền kinh tế Nhật Bản sau đó đã được sinh ra và tích góp lại trong thời kỳ phát triển cao độ trước đó. Trong những năm 50 và 60, nhằm nhanh chóng đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển khác, Nhật Bản đã tập trung cao độ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế. Để thực hiện được chiến lược đó, họ đã xây dựng một cơ cấu kinh tế chủ yếu là các ngành công nghiệp nặng và hoá chất, có đặc điểm tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, lao động sống, gây ô nhiễm môi trường, có hàm lượng khoa học công nghệ thấp và hướng ra bên ngoài. Cơ cấu đó, đã tận dụng được những thuận lợi trong và ngoài nước tồn tại trong một thời gian dài. Những thuận lợi cơ bản lúc đó là: lực lượng lao động trẻ, đông đảo, có tay nghề, có kỷ luật và đang rất thiếu việc làm; nguyên nhiên liệu dễ kiếm và rẻ; thị trường tiêu thụ rộng lớn, khoảng cách khoa học và công nghệ giữa Nhật và các nước Âu Mỹ còn rất lớn, nên Nhật dễ dàng nhập khẩu được các bằng sáng chế từ các nước này để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của mình.
- Tuy nhiên bước sang giai đoạn này, những thuận lợi đó đã bị mất đi.
Một là, giá nguyên nhiên liệu tăng cao. Nguyên nhân là do bước vào những năm 70 ngày càng có nhiều nước đang phát triển đứng lên giành độc lập, nắm lấy quyền khai thác hoặc quản lý các nguồn tài nguyên, gây ra các cuộc khủng hoảng nguyên nhiên liệu cho các nước tư bản nói chung và cho Nhật nói riêng. Hơn nữa, trong giai đoạn này, hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1993 và 1999 đã khiến giá dầu thô tăng vọt, tăng 4 lần vào cuộc khủng hoảng thứ 1 và tăng 3 lần trong cuộc khủng hoảng thứ 2.
Hai là, nhập khẩu công nghệ khó khăn. Trong giai đoạn này, trình độ khoa học công nghệ của Nhật lúc bấy giờ đã bắt kịp các nước Âu Mỹ, trong một số ngành còn vượt lên. Do vậy, Nhật ngày càng khó có thể nhập khẩu được công nghệ như ý muốn và các nước Âu Mỹ cũng không dễ dàng cung cấp công nghệ cho một đối thủ đang bám sát họ.
Ba là, thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu bị thu hẹp. Đó là do những mâu thuẫn về kinh tế nảy sinh giữa Nhật Bản và các bạn hàng truyền thống, trong đó Mỹ là chủ yếu. Các nước này yêu cầu Nhật phải mở rộng cửa thị trường Nhật cho các hàng xuất khẩu của họ và phải hạn chế xuất khẩu sang các nước này. Họ buộc tội Nhật Bản bằng các biện pháp khác nhau đã đóng cửa thị trường Nhật đối với các hàng xuất khẩu nước ngoài, bán phá giá hàng hóa của mình làm thiệt hại cho các nhà sản xuất và công nhân của họ. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Bốn là, khả năng cạnh tranh của bản thân hàng Nhật suốt nhiều năm có được là nhờ dựa vào việc bóc lột lao động Nhật đã có xu hướng giảm sút. Tiền lương của công nhân tăng và Nhật Bản đã đạt tới tình trạng việc làm đầy đủ.
Hơn nữa, do yêu cầu cấp thiết phải phục hồi và đuổi kịp các nước Âu Mỹ càng nhanh càng tốt nên những vấn đề xã hội như thị hiếu của người tiêu dùng, vấn đề bảo hiểm xã hội, phát triển cân đối các vùng, vấn đề ô nhiễm môi trường… chưa được chú trọng lắm.
Những khó khăn như vậy đã buộc chính phủ Nhật phải tìm ra và thực hiện những sự thay đổi chiến lược thích hợp.
- Thứ nhất là triệt để tiết kiệm mọi nguồn nguyên nhiên liệu.
- Thứ hai là đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ chiều rộng sang chiều sâu.
- Thứ ba là chiến lược đầu tư tư bản ra nước ngoài.
- Thứ tư là phát triển lĩnh vực dịch vụ.
Nền kinh tế Nhật bắt đầu chuyển sang ưu tiên sản xuất các sản phẩm có kỹ thuật cao như ô tô, ti vi, đồng hồ điện tử, máy ảnh, máy vi tính, máy điều khiển kỹ thuật số, rôbôt công nghiệp…Những sản phẩm này phần lớn thuộc dạng lắp ráp và gia công nên các công đoạn gia công đều do các SME đảm nhận, các doanh nghiệp lớn chỉ thực hiện hoạt động lắp ráp sau cùng. Vị trí của các SME được nâng cao do chúng có thể sản xuất theo từng đơn đặt hàng số lượng sản phẩm ít nhưng đa dạng và phong phú về mẫu mã và chủng loại, được đánh giá cao trên thị trường quốc tế.
Trong hoàn cảnh đó, các chính sách dành cho SME cũng được thay đổi để phù hợp với tình hình mới.
2.2. Các biện pháp hỗ trợ SME
- Hỗ trợ về khoa học công nghệ, đầu tư phát triển theo chiều sâu
Từ sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1993, nền kinh tế Nhật chuyển từ thời kỳ tăng trưởng cao sang thời kỳ tăng trưởng ổn định. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Một trong những chính sách mà chính phủ Nhật đã thực hiện trong giai đoạn này là tiết kiệm nguyên nhiên liệu. Tuy nhiên phương hướng giảm hàm lượng nguyên nhiên liệu trong sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản không thể giải quyết triệt để nếu chỉ dừng ở các phương pháp tiết kiệm nguyên nhiên liệu mà nó đòi hỏi phải thay đổi một cách căn bản cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu công nghiệp theo hướng tri thức hoá. Điều đó hoàn toàn phù hợp với thực tế mô hình phát triển công nghiệp dựa trên cơ sở tận dụng mọi nhân tố phát triển theo chiều rộng mà Nhật đã áp dụng thành công trong giai đoạn trước đã đạt tới giới hạn. Muốn phát triển tiếp tục Nhật Bản nhất định phải chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, chủ yếu sử dụng các nhân tố phát triển theo chiều sâu. Quá trình này được tiến hành ở cả cấp liên ngành và trong nội bộ ngành. Ở cấp liên ngành là thu hẹp công suất trong những ngành được coi là yếu kém, và chuyển sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và cần ít năng lượng, có hàm lượng khoa học cao, đáng kể là ngành vi điện tử. Ở nội bộ ngành công cuộc cải tổ cơ cấu công nghiệp được tiến hành theo hai hướng: hợp lý hoá sản xuất và chuyển sang những mặt hàng có hàm lượng khoa học cao. Theo đó, các biện pháp dành cho các SME đã thay đổi từ hướng hiện đại hóa thiết bị để nâng cao năng suất và mở rộng quy mô quản lý sang hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa tri thức, nhu cầu thông tin, kỹ năng kỹ thuật của nguồn nhân lực trở nên đáng quan tâm.
Đáp ứng nhu cầu đó, Viện công nghệ và quản lý doanh nghiệp nhỏ đã được thành lập năm 2000 để đào tạo kỹ thuật, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các SME.
Để cung cấp thông tin dịch vụ nâng cao trình độ quản lý, nhiều trung tâm thông tin cho SME cũng đã được mở ở các địa phương.
Công ty doanh nghiệp nhỏ Nhật Bản ( Bộ công thương Nhật ) được thành lập năm 2000 theo luật về công ty doanh nghiệp nhỏ, nhằm phối hợp với Cục doanh nghiệp vừa và nhỏ để tiến hành các dự án toàn diện hỗ trợ SME. Các chương trình chủ yếu gồm: hướng dẫn và tài trợ các SME nâng cấp và hiện đại hóa cơ cấu; đào tạo cán bộ cho các SME tại các viện đào tạo của mình; cung cấp các dịch vụ về thông tin, cải tiến kỹ thuật, quốc tế hoá hoạt động kinh doanh, thiết lập và điều hành hệ thống tương trợ của các SME. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Ngoài ra, phù hợp với chính sách phát triển khoa học kỹ thuật chuyển từ vay mượn thành tựu nước ngoài sang tự đảm bảo những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, chính phủ Nhật đã có những biện pháp khuyến khích nghiên cứu và phát triển ở các SME.
- Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài
Từ những năm 70, đầu tư tư bản ra nước ngoài đã thực sự được tư bản Nhật sử dụng như một công cụ bành trướng chủ yếu, do việc chỉ dựa vào xuất khẩu hàng hoá từ Nhật đã không còn đủ nữa trước xu hướng bảo hộ ngày càng tăng trong thị trường tư bản chủ nghĩa thế giới và do sự đòi hỏi của công cuộc tái triển khai công nghiệp trong nước. Thực tế, từ đầu những năm 70, đầu tư tư bản ra nước ngoài của Nhật Bản tăng rất mạnh. Chính sách đầu tư ra nước ngoài gồm hai hướng chính. Một là, đầu tư sang các nước công nghiệp phát triển nhằm chọc thủng hàng rào bảo hộ của các nước này với hàng Nhật, cạnh tranh với độc quyền Âu Mỹ ngay trên mảnh đất của họ. Hai là, đầu tư sang các nước đang phát triển, biến những nước này thành phân xưởng của nền kinh tế Nhật, thành một khâu trong dây chuyền sản xuất. Thực hiện những chính sách ấy, Chính phủ Nhật đã có nhiều biện pháp khuyến khích SME đầu tư ra nước ngoài.
- Phát triển cơ sở hạ tầng về thông tin
Công việc đầu tiên mà các SME cần thiết phải thực hiện khi tiến hành đầu tư tại một quốc gia là phải nghiên cứu về môi trường đầu tư tại quốc gia đó. Đối với các tập đoàn, các quốc gia lớn thì việc tìm hiểu, nghiên cứu này sẽ không vấp phải quá nhiều khó khăn, nhưng đối với các SME thì quả thật điều thách thức lớn. Do vậy, sự phát triển cơ sở hạ tầng về thông tin sẽ giảm thiểu những gánh nặng mà các SME phải đối mặt trong quá trình lập kế hoạch, bắt đầu triển khai tại nước ngoài. Chính phủ Nhật thực sự đã thực hiện tốt công tác này. Tại các quốc gia được đầu tư, nhiều tổ chức đã được thành lập để thu thập thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả về môi trường đầu tư. Trong đó phải kể đến Tổ chức xúc tiến thương mại JETRO, Tổ chức đổi mới các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản(SMRJ), Phòng thương mại và công nghiệp JCCI…Tại đây các chuyên gia cao cấp sẵn sàng tư vấn miễn phí cho các SME trong từng lĩnh vực. Bằng cách này, phát hiện và loại bỏ được những khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Nhật Bản rất quan tâm đến những người lao động hiện tại hoặc những người lao động trước đây có hoạt động trong lĩnh vực thương mại hoặc trong các công ty sản xuất, các luật sư, các kế toán và các chuyên gia khác giàu kinh nghiệm kinh doanh tại các quốc gia nhận đầu tư. Những chuyên gia này có thể tư vấn cho các SME về việc quốc tế hoá, cho phép các SME làm việc về vấn đề quốc tế hoá cùng với ý thức về sự an toàn của toàn bộ tiến trình. Chỉ riêng tổ chức SMRJ đã phát triển một hệ thống hơn 300 chuyên gia, bao gồm những người sinh sống ở nước nhận đầu tư và những người này có thể tiến hành trả lời những câu hỏi điều tra, cũng như tư vấn cách giải quyết các vấn đề.
Ngoài ra, Nhật cũng đã phát triển các hệ thống tư vấn về luật, thuế, lao động và các vấn đề khác như tổ chức các hội chợ thương mại, các cuộc triển lãm, kết nối các SME với các đối tác, hỗ trợ đàm phán thương mại giữa các bên khi họ bắt đầu tiến hành các hoạt động tại nước ngoài. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
- Hỗ trợ đào tạo cán bộ
Một xu hướng mà chính phủ Nhật cũng khuyến khích và tư vấn các SME là đào tạo nguồn nhân lực địa phương. Điều này sẽ giúp giảm thiểu số lượng những nhà quản lý người Nhật tại các quốc gia này. Hỗ trợ đào tạo bao gồm việc phát hiện những người có năng lực về quản lý kinh doanh và cung cấp hỗ trợ tích cực đối với việc đào tạo nguồn nhân lực địa phương, đặc biệt về lĩnh vực kỹ thuật. Hiệp hội tổ chức kỹ thuật nước ngoài và Hiệp hội giao lưu Nhật Bản cũng đào tạo những nhà quản lý và các kỹ sư địa phương trong khi Tổ chức phát triển Nhật Bản ở nước ngoài gửi các chuyên gia tới các doanh nghiệp thầu phụ ở nước ngoài.
Nhật Bản rất chú ý đến xây dựng những hệ thống hỗ trợ linh hoạt tại các quốc gia nhận đầu tư. Bởi lẽ điều này sẽ giúp cho việc cấp vốn đối với việc đầu tư vào các thiết bị và nhà máy tại nước ngoài được dễ dàng hơn. Hơn nữa tính an toàn của đồng vốn cũng được nâng cao.
- Xúc tiến việc cải thiện cơ sở hạ tầng
Một trong những khó khăn làm hạn chế rất nhiều hoạt động của các SME là vấn đề cơ sở hạ tầng tại quốc gia nhận đầu tư. Ví dụ như vấn đề hệ thống giao thông kém phát triển. Do vậy, việc cải thiện cơ sở hạ tầng tại các quốc gia nhận đầu tư cũng là một trong những biện pháp mà Nhật thực hiện nhằm hỗ trợ hoạt động đầu tư của các SME nói riêng và các doanh nghiệp đầu tư nói chung.
- Hỗ trợ với việc mở rộng thương hiệu quốc tế
Trợ giúp việc mở rộng thương hiệu quốc tế bao gồm những nỗ lực thiết lập các thương hiệu sản phẩm, tạo sự đứng vững trên thị trường thế giới. Hoạt động này bao hàm việc cải tiến kỹ thuật, bí quyết sản xuất, tận dụng phát triển các truyền thống văn hoá và các nguồn lực địa phương đặc biệt khác. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Ngoài ra, đối với những SME có tiềm năng, sản phẩm có chất lượng, chính phủ Nhật cũng hết sức khuyến khích phát triển thị trường ngoài nước.
- Phát triển các SME trong lĩnh vực dịch vụ
Từ nửa cuối những năm 70, nền kinh tế Nhật Bản đã phát triển đến mức đòi hỏi ngày càng nhiều và đa dạng các loại hình dịch vụ. Sự phát triển các loại hình dịch vụ mới: dịch vụ cho thuê, tin học, chuyển giao công nghệ, tư vấn, cung cấp chuyên gia ở Nhật Bản đã thực sự tạo điều kiện cho việc áp dụng nhanh hơn các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế.
Trong sự phát triển chung của khu vực dịch vụ, các ngành dịch vụ sản xuất được quan tâm hơn vì vai trò quan trọng của nó đối với quá trình chuyển cơ cấu kinh tế Nhật sang sử dụng các nhân tố phát triển theo chiều sâu. Ngành dịch vụ sản xuất có thể chia thành hai nhóm. Thứ nhất là các ngành phục vụ sản xuất mới: tư vấn về quản lý, công nghệ, tài chính, marketing, thiết kế…Thứ hai là các ngành dịch vụ truyền thống: cho thuê thiết bị, cung cấp lao động tạm thời, soạn thảo và lưu trữ tài liệu…Những công ty tham gia vào lĩnh vực dịch vụ như vậy chủ yếu là các SME. Đó là do chính phủ đã có nhiều biện pháp khuyến khích thành lập các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ để rất cần thiết để đẩy nhanh sự phát triển theo chiều sâu, tạo thuận lợi cho bước nhảy vọt về chất trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.
III: THỜI KÌ ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU KINH TẾ ( TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY)
1. Đặc điểm nền kinh tế Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Một là, đồng yên tăng giá. Nguyên nhân là do bước vào những năm 80, dư thừa cán cân buôn bán và thanh toán của Nhật Bản ngày càng gia tăng. Tình trạng mất cân đối ngày càng nghiêm trọng có lợi cho Nhật này đã phá vỡ sự cân bằng của nền kinh tế thế giới, khiến các quan hệ kinh tế của Nhật Bản với các nước khác ngày càng xấu, tâm lý bảo hộ chủ nghĩa ở các nước tư bản Âu Mỹ luôn có nguy cơ bùng nổ thành những đòn trừng phạt kinh tế chống hàng Nhật, thậm chí đe doạ trở thành vấn đề chính trị. Cho rằng việc Nhật Bản cố tình duy trì một đồng yên rẻ là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng mất cân đối nói trên nên năm 2005, hội nghị các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương của 5 nước công nghiệp lớn đã thoả thuận nâng giá đồng yên. Điều này đã khiến cho các hàng xuất khẩu của Nhật nhanh chóng rơi vào thế bất lợi trên thị trường quốc tế và các hàng nhập khẩu giành được thế cạnh tranh tại thị trường Nhật.
Để bảo vệ thị trường và tránh tăng giá, chính phủ và giới kinh doanh Nhật đã kiên quyết giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm từng xu trong mọi khâu sản xuất. Tuy nhiên những biện pháp này không thể giải quyết triệt để vấn đề đồng yên lên giá. Một biện pháp hữu hiệu hơn mà chính phủ Nhật đã thi hành lúc này là điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Mở rộng nhu cầu trong nước như cải thiện vấn đề nhà cửa, nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, công trình công cộng…Cắt giảm mạnh có hệ thống ở nhiều ngành công nghiệp không còn sức cạnh tranh như than, hoá dầu, phân bón, dệt, đóng tàu…Đồng thời mở rộng sang những lĩnh vực kinh doanh mới đầy hứa hẹn như vật liệu mới, thông tin máy tính, kỹ thuật điện tử, bán dẫn, sinh học…Thực hiện cơ cấu công nghiệp hài hoà quốc tế như mở rộng đầu tư trực tiếp vào cơ sở chế tạo ở nước ngoài, đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các công ty Nhật và nước ngoài, cải thiện việc thâm nhập thị trường Nhật và tăng cường nhập khẩu thành phẩm…
Hai là, cuộc khủng hoảng bắt đầu bằng sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng. Hiện tượng này xảy ra là do khi các ngân hàng và quỹ tiết kiệm đã cho vay quá mức khi dựa vào giá đất và bất động sản được thổi phồng gấp bội so với giá trị thực tế. Khi đó, chỉ cần một số con nợ rơi vào tình trạng phá sản thì việc thanh toán số nhà đất được dùng làm thế chấp đã không bù đắp lại đủ món nợ. Điều này khiến các ngân hàng và quỹ tiết kiệm lỗ. Những người gửi tiền trong các ngân hàng này mất tin tưởng và đua nhau rút tiền. Vì thế một mặt, các tổ chức tài chính tín dụng ngày càng không đủ vốn để cho vay thúc đẩy sản xuất. Mặt khác, các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính bị tê liệt, không dám cho vay, do bị ngập trong đống thế chấp chẳng còn mấy giá trị dưới dạng chứng khoán và bất động sản đang bị mất giá và núi nợ khó đòi không có cơ lấy lại.
Ba là, quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Trong hoàn cảnh đó, Nhật cũng phải chuẩn bị sẵn sàng để hội nhập vào thế giới và khu vực. Quá trình đó diễn ra cả trong và ngoài nước. Trong nước, một mặt Nhật đã tiến hành cải cách các thể chế kinh tế, xã hội và văn hoá nhằm giảm bớt tính khép kín và hướng nội, tạo cho nước Nhật có tính mở, quốc tế hoá và dân chủ hơn, chuyển nền kinh tế Nhật thành một nền kinh tế có tính thị trường cao hơn. Mặt khác, cùng với việc tiếp tục khuyến khích các công ty và hàng hoá Nhật Bản thâm nhập mạnh ra thị trường thế giới, Nhật còn từng bước mở cửa không những thị trường hàng hóa thông thường mà cả các thị trường lao động, tài chính, xây dựng và đầu tư cho các công ty, các tổ chức tài chính và nhân công nước ngoài vào hoạt động. Ngoài nước, các công ty Nhật từ giữa những năm 2000 đã tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ( FDI ) nhằm một số mục đích chủ yếu là thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước bằng cách chuyển các ngành, các xí nghiệp và công nghiệp cần thu hẹp, chủ yếu thuộc các ngành công nghiệp chế tạo nhiều lao động và nguyên nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường, sang nước khác. Còn trong nước tập trung phát triển những ngành và công nghệ với những đặc điểm ngược lại Như thế, Nhật có thể tận dụng những lợi thế tại chỗ và cung cấp cho thị trường địa phương, xuất khẩu sang nước thứ ba nhằm tránh hàng rào bảo hộ đang được dựng lên ở một số nước để chống lại hàng hoá xuất khẩu từ Nhật. Việc đầu tư sản xuất ở nước ngoài không chỉ góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường trong nước, giảm ô nhiễm môi trường trong nước, giảm nhẹ việc phải nhập nguyên nhiên liệu thô, mà còn làm giảm nhẹ vấn đề lao động tại Nhật Bản và sức ép đòi mở cửa thị trường lao động Nhật cho lao động nước ngoài. Chuyển từ sự phân công lao động theo chiều dọc giữa Nhật Bản và các nước đang phát triển thành sự phân công lao động theo chiều ngang nội bộ ngành, nội bộ công ty. Tức là giữa các công ty mẹ ở Nhật và các công ty con hay chi nhánh ở khu vực và thế giới hình thành nên một mạng lưới sản xuất, kinh doanh toàn cầu thống nhất, mỗi công ty, nhà máy đảm nhận một khâu của quá trình sản xuất và kinh doanh đó, chúng bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau trên cơ sở tận dụng những lợi thế so sánh ở từng nước.
2. Các biện pháp hỗ trợ SME Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
2.1. Hỗ trợ SME chuyển đổi ngành kinh doanh
Trong hoàn cảnh nền kinh tế chịu nhiều biến động, tăng trưởng thấp chính phủ đã áp dụng chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Theo đó, những chính sách đối với SME cũng được thực hiện như một phần của chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản.
Đầu tiên là, Luật tạm thời về các biện pháp chuyển đổi kinh doanh cho các SME được ban hành năm 2006 nhằm xác định ngành công nghiệp cho các SME và giúp đỡ các SME chuyển đổi ngành kinh doanh.Theo đó, các SME được khuyến khích tham gia vào những lĩnh vực kinh doanh mới đầy hứa hẹn như vật liệu mới, thông tin máy tính, kỹ thuật điện tử, bán dẫn, sinh học…
Cũng trong thời gian này, Luật tạm thời về các biện pháp cho các SME ở một số vùng cụ thể cũng được ban hành để chuyển đổi ngành kinh doanh cho các SME trong các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng và đồng yên mất giá.
2.2. Sửa đổi Luật cơ bản về SME
Luật cơ bản về SME đã được ban hành năm 1963. Theo quan niệm lúc bấy giờ, SME là những công ty nhỏ và đông về số lượng, được tổ chức và hoạt động theo kiểu cũ, hoạt động kinh doanh yếu và cần phải có các chính sách đặc biệt hỗ trợ. Do vậy, Luật cơ bản về SME năm 1963 được xây dựng trên cơ sở để giảm bớt khoảng cách giữa các SME và các công ty lớn. Tuy nhiên, hiện nay môi trường kinh doanh đã thay đổi, những quan niệm cũ và những công cụ cũ không còn thích hợp với tình hình thực tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin, và quá trình toàn cầu hoá đã đặt ra yêu cầu là cần phải tăng số lượng các doanh nghiệp tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh trong cùng một ngành công nghiệp, khuyến khích sự chuyển đổi từ sản xuất hàng loạt một loại sản phẩm nhất định sang sản xuất theo những lô nhỏ nhiều sản phẩm. Chính phủ Nhật đã nhận ra rằng trong môi trường kinh doanh hay biến động như hiện nay, các SME có thể tận dụng được sự năng động và linh hoạt của họ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tỉ lệ các doanh nghiệp mới thành lập thấp, thậm chí thấp hơn cả tỉ lệ số doanh nghiệp đóng cửa ngừng hoạt động. Điều này đã ngăn cản sự chuyển đổi của nền kinh tế và khả năng thu hút lao động của các SME.
Trong hoàn cảnh đó, chính phủ Nhật đã nhận ra tầm quan trọng của việc cần phải chú ý đến những biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm. Do vậy, Luật cơ bản về SME năm 1963 đã được xem xét và sửa đổi vào tháng 12 năm 2019. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Nội dung thay đổi chủ yếu của Luật là tăng giới hạn vốn tối đa cho các SME trong từng lĩnh vực. Theo đó, trong lĩnh vực chế tạo và các lĩnh vực khác số vốn tối đa không quá 300 triệu yên hoặc số lao động tối đa là 300 người. Trong bán buôn, con số này là 100 triệu yên hoặc 100 triệu lao động. Bán lẻ và dịch vụ được tách ra và có những quy định riêng, bán lẻ có số lao động tối đa là 50 người hoặc số vốn tối đa là 50 triệu yên; dịch vụ có số lao động tối đa là 100 người hoặc số vốn tối đa là 50 triệu yên. Mục đích của sự thay đổi này là làm tăng số lượng doanh nghiệp có đủ điều kiện được hưởng các biện pháp hỗ trợ. Trên thực tế, quy định mới của Luật đã làm tăng thêm khoảng 20.000 SME.[24.18] Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà số lượng các SME đóng cửa trong thời gian này khá cao, cùng với việc tỉ lệ doanh nghiệp mới thành lập thấp.
Ngoài ra còn có những điểm mới của Luật cơ bản về SME sửa đổi là:
- Một là, “hỗ trợ sáng tạo kinh doanh và khởi sự doanh nghiệp”.
- Hai là, “tăng cường năng lực quản lý cho SME “.
- Ba là, “hướng dẫn sự điều chỉnh của các SME nhằm phù hợp với các thay đổi kinh tế, xã hội”.
Trên thực tế, chính phủ đã có nhiều biện pháp để thực hiện những điểm mới của luật này.
2.3. Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới, đổi mới kinh doanh và kinh doanh mạo hiểm.
Sau khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ năm 2012, sự phát triển chậm chạp của nền kinh tế Nhật trở nên đáng quan tâm. Trong hoàn cảnh đó, chính phủ Nhật đang rất hy vọng những doanh nghiệp mới, doanh nghiệp kinh doanh vốn mạo hiểm, những hoạt động kinh doanh mang tính đổi mới có thể làm hồi sinh nền kinh tế và thay đổi cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên, những doanh nghiệp này hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức như khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực. Tỉ lệ doanh nghiệp mới thành lập giảm trong khi tỉ lệ các doanh nghiệp đóng cửa tăng, nạn thất nghiệp có xu hướng tăng
Do vậy trong hiện tại và tương lai, nhiệm vụ chính của chính sách về SME sẽ chỉ là thúc đẩy sự tự lực phát triển của các SME.
Để thúc đẩy thành lập các doanh nghiệp mới, trước hết chính phủ đã nỗ lực nhằm tăng nhận thức của xã hội về tầm quan trọng và sự cần thiết của các doanh nghiệp mới thành lập. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
- Ban hành các Luật hỗ trợ đổi mới kinh doanh.
Để hỗ trợ các hoạt động đổi mới kinh doanh, Luật thúc đẩy hiện đại hóa SME ban hành năm 1963 và Luật về hỗ trợ các SME thích ứng với sự thay đổi của kinh tế có hiệu lực năm 2013( mà theo đó đối tượng được trợ giúp bị hạn chế) đã được thống nhất thành một luật mới, Luật hỗ trợ đổi mới kinh doanh cho các SME.
- Nâng cao nhận thức, thúc đẩy thành lập doanh nghiệp mới.
Diễn đàn quốc gia cho các doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm được thành lập. Đây là nơi tập hợp những người có kinh nghiệm lập công ty. Thông qua các buổi hội thảo và các bài giảng của họ, chính phủ mong muốn sẽ nâng cao nhận thức và tinh thần phát triển doanh nghiệp mới. Nhiều hoạt động giáo dục đã được thực hiện thông qua các hội nghị chuyên đề được công khai thảo luận thông qua các phương tiện đại chúng. Hơn nữa, những người thành lập công ty mới cũng được đào tạo kiến thức lý luận thông qua các hội thảo và kiến thức thực tiễn tại các trường đào tạo. Chính phủ còn có những chương trình đặc biệt phù hợp với mỗi loại đối tượng.
Đối với những người có dự định lập công ty, Liên đoàn các hội công thương và các phòng thương mại và công nghiệp phối hợp với các tổ chức công thương trực thuộc tại các địa phương hỗ trợ giúp họ soạn thảo kế hoạch kinh doanh, phát triển kỹ năng kinh doanh bằng các hội thảo ngắn hạn( 30 giờ trong 10 ngày).
Đối với những người có kế hoạch cụ thể thành lập công ty, các trung tâm hỗ trợ ở tỉnh sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết, những bước cần tiến hành để thành lập một doanh nghiệp mới.
Đối với những người đã có quyết định thành lập doanh nghiệp, Viện quản lý và kỹ thuật tổ chức các buổi hội thảo về những điều kiện cần thiết trong giai đoạn đầu kinh doanh và những kiến thức quản lý cần thiết.
Ngoài ra, các hiệp hội công thương trên cả nước cũng tổ chức nhiều hội thảo về từng lĩnh vực riêng như phúc lợi xã hội, môi trường, xử lý rác thải, đầu tư ra nước ngoài…
- Tổ chức các trung tâm, hội chợ thương mại hỗ trợ kinh doanh.
Nhiều trung tâm kinh doanh đã được mở ra. Tại những trung tâm này, những nhà kinh doanh mạo hiểm có cơ hội được giới thiệu với các nhà đầu tư tiềm năng và các đối tác kinh doanh. Những kế hoạch kinh doanh xuất sắc có cơ hội được tham gia vào chương trình “Những nhà vô địch quốc gia”. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Tại các hội chợ thương mại, các SME mới thành lập và các công ty kinh doanh mạo hiểm có thể giới thiệu sản phẩm, mô hình kinh doanh mở ra những cơ hội kinh doanh mới.
Để thúc đẩy các doanh nghiệp mới thành lập, Luật về các biện pháp tạm thời thúc đẩy hoạt động sáng tạo của các SME đã được ban hành năm 2015. Luật này được ban hành nhằm giúp đỡ các SME và các cá nhân bắt đầu một công việc kinh doanh mới hoặc đầu tư vào nghiên cứu, phát triển dù thuộc ngành công nghiệp nào.
- Hỗ trợ về tài chính
Ngoài các chương trình cho vay ưu đãi với lãi suất thấp đã được thực hiện từ giai đoạn trước, còn có hệ thống bảo lãnh tín dụng dành cho các doanh nghiệp mới thành lập hoặc có hoạt động kinh doanh mới. Các quỹ bảo lãnh tín dụng sẵn sàng bảo lãnh cho những khoản vay của các doanh nghiệp có thời gian kinh doanh không quá 5 năm và các công ty có kế hoạch kinh doanh có khả năng sinh lợi hoặc đã sinh lợi trong thời gian kinh doanh trước đó, những kế hoạch vay mà sản phẩm dịch vụ có tính chất mới, không phổ biến.
Để hỗ trợ vốn, một thị trường vốn mới có tên là “ mothers” và “Nasdaq Nhật Bản” đã bắt đầu hoạt động từ tháng 11 năm 2019 và tháng 6 năm 2020. Điều đó đã mở ra một hướng mới cho việc vay vốn của các SME.
Ngoài ra, trong thời gian này, công ty trách nhiệm hữu hạn vốn đầu tư mạo hiểm( có SMRJ là thành viên) được thành lập. Công ty không chỉ tư vấn và đầu tư cho các SME mà còn bảo lãnh những chứng khoán mới được phát hành vào thời gian thành lập của các SME.
Những biện pháp hỗ trợ về thuế, như giảm thuế đối với những máy móc thiết bị có công nghệ cao, trợ cấp 2/3 chi phí R&D cũng được thực hiện nhằm thúc đẩy các hoạt động đổi mới kinh doanh. Những nhà đầu tư mua cổ phiếu của các SME mới cũng được ưu đãi như: giảm 75% thuế thu từ lãi việc chuyển nhượng cổ phiếu của các SME này, hay hoãn 3 năm đối với việc chi trả các khoản lỗ từ bán cổ phiếu của SME. Từ năm 2024, Nhật còn áp dụng thêm biện pháp giảm phí liên quan đến bằng sáng chế cho các doanh nghiệp R&D. Đặc biệt, những công ty tạo việc làm ở khu vực mới và thuê những người lao động trên 45 tuổi sẽ nhận được những khoản trợ cấp đặc biệt. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
- Thành lập các trung tâm hỗ trợ “ một điểm”
Chính phủ đã thiết lập một hệ thống các trung tâm hỗ trợ “một điểm” nhằm hỗ trợ về vốn, và các nguồn lực vô hình khác như thông tin, công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các SME ở từng tỉnh, thành phố, quận huyện. Đây là một hệ thống tận dụng được kỹ năng và kinh nghiệm của những nhà chuyên môn trong lĩnh vực tư nhân nhằm hỗ trợ cho các SME về thông tin, chính sách của nhà nước cũng như hỗ trợ kinh doanh và công nghệ. Điểm đặc biệt là trong hệ thống này, tất cả những trung tâm hỗ trợ của nhà nước và tư nhân được hợp nhất chỉ tại một địa điểm ở mỗi địa phương.
Để bổ sung cho đội ngũ chuyên gia tư vấn, Phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản JCCI và SMRJ cũng tìm kiếm những người nghỉ hưu có nhiều kinh nghiệm để tư vấn về chiến lược kinh doanh, điều mà các doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm thường thiếu. Việc tìm kiếm này được dựa trên một cơ sở dữ liệu của những người nghỉ hưu được SMRJ quản lý.
- Hỗ trợ đổi mới của Hệ thống nghiên cứu đổi mới doanh nghiệp nhỏ SBIR
Để kích thích hoạt động của các SME có khả năng phát triển công nghệ, các bộ ngành và tổ chức có liên quan đã hợp tác cung cấp các khoản hỗ trợ để phát triển công nghệ mới có thể dẫn tới hoạt động kinh doanh mới và có những biện pháp mở rộng quy mô của các hệ thống bảo lãnh tín dụng.
Trong thời gian này, nhiều trung tâm đã được thành lập. Trong đó, phải kể đến Trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp Tokyo(KRP) thành lập năm 2007để thúc đẩy sự trao đổi hợp tác giữa giới học thuật, các doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ. Ngoài chức năng nghiên cứu về khoa học công nghệ, KRP còn là nơi hội tụ cả các công ty trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, thương mại điện tử, tư vấn, các ngành công nghệ cao. KRP tạo môi trường kinh doanh năng động để thu hút các công ty nước ngoài vào hoạt động. Hiện nay có 9 công ty nước ngoài có hội sở chính tại KRP. Khoảng 60% doanh nghiệp ở KRP là khởi nghiệp ở nơi khác sau đó mới chuyển đến KRP. KRP tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và giúp họ tìm kiếm thị trường ban đầu ở ngay trong địa bàn. KRP cũng giúp các doanh nhân trẻ có ý tưởng kinh doanh, liên kết họ với các nhà tài trợ, các nhà chuyên môn kỹ thuật để biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực.
Bên cạnh đó, Trung tâm đổi mới doanh nghiệp Osaka(BICO) được thành lập năm 2021 nhằm liên kết các doanh nghiệp với nhau, và với các trường đại học và chính phủ, giới thiệu về công nghệ thông tin, đào tạo cho SME trong địa bàn, tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp. BICO thực hiện việc cung ứng dịch vụ tư vấn cho SME qua internet, điện thoại, gặp trực tiếp và cử chuyên gia. Trong đó, dịch vụ tư vấn qua internet được đánh giá là thành công nhất, chiếm 1/5 số lượt người sử dụng[31].
2.4. Hỗ trợ SME thích nghi với những biến động của kinh tế, xã hội Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Mặc dù các SME có nhiều nỗ lực nhưng họ cũng không thể tránh được những sự việc xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát của họ như sự thay đổi đột ngột về cơ cấu kinh tế, sự thay đổi về tỉ giá hối đoái, sự hạn chế về nguồn nguyên liệu, thiên tai, hay ảnh hưởng của sự phá sản của các công ty lớn. Trong những trường hợp đó, các SME có thể bị phá sản. Do vậy, chính phủ đã đưa ra những chính sách nhằm hỗ trợ các SME thích nghi với những thay đổi của môi trường.
Luật về cứu trợ thiên tai đã được ban hành. Ngoài ra, những SME trong vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai khiến doanh thu bị suy giảm một mức độ nhất định cũng được hỗ trợ bởi một hệ thống đặc biệt. Trong trường hợp nếu bị ảnh hưởng bởi những thiên tai được quy định trong Luật về các biện pháp cứu trợ đặc biệt cho thiên tai, các SME sẽ được áp dụng những biện pháp đặc biệt phù hợp với tình hình thực tế.
Để hỗ trợ sự ổn định cho các doanh nghiệp, một hệ thống 280 trung tâm tư vấn thuộc các phòng thương mại và công nghiệp đã được thành lập trên toàn quốc. Năm 2025, ước tính 216 triệu yên được chi cho hoạt động này.
Bên cạnh đó, còn có các chương trình hỗ trợ lẫn nhau để ngăn chặn sự phá sản của các SME bằng cách hỗ trợ vốn trong trường hợp đối tác bị phá sản. Hoạt động này được tổ chức bởi SMRJ. Năm 2025, chính phủ Nhật ước tính chi 1708 triệu yên cho các hoạt động như áp dụng các biện pháp hỗ trợ khẩn cấp, các biện pháp giảm nhẹ sự biến động hay là một mạng lưới an toàn ổn định kinh doanh.
Hơn nữa, khi xem xét mức độ thường xuyên của các vụ phá sản các công ty lớn và những thiên tai, chính phủ đã tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn đặc biệt là bằng biện pháp tài chính và bảo lãnh tín dụng.
2.5. Các biện pháp khác
Cũng trong thời gian gần đây, những hỗ trợ của chính phủ về nâng cao phúc lợi xã hội như khuyến khích giảm giờ làm, đảm bảo cân bằng giữa thời gian làm việc và thời gian giải trí, thời gian dành cho gia đình, nâng cao điều kiện làm việc, bảo đảm sức khoẻ và an toàn cho người lao động…Các biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường, năng lượng cũng rất được chú ý. Ngoài ra còn nhiều biện pháp khác như điều tra và ban hành Sách trắng về thực trạng của các SME, các biện pháp cho một số ngành đặc biệt như ngành dệt, ngành nông lâm ngư nghiệp, giao thông vận tải và các ngành truyền thống.
IV: ĐÁNH GIÁ Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
1. Ưu điểm
Qua các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế, chính phủ đã có nhiều biện pháp khác nhau để khuyến khích, hỗ trợ các SME phát triển. Nhìn chung, có thể thấy các chính sách của chính phủ Nhật đã thực hiện có những ưu điểm như sau:
Hệ thống chính sách linh hoạt phù hợp với đặc điểm của từng giai đoạn. Điều này có thể thấy rõ ràng qua từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Nhật. Trong giai đoạn sau chiến tranh, chính phủ đã đưa ra những biện pháp cơ bản đầu tiên để hỗ trợ cho các SME đang gặp rất nhiều khó khăn như ban hành Luật chống độc quyền nhằm đảm bảo một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Tiếp đó, trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng nhanh, chính phủ cũng đã có những biện pháp hỗ trợ kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của các SME trước các doanh nghiệp lớn để phát huy vai trò quan trọng của SME trong sự phát triển nhanh của nền kinh tế. Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển ổn định, chính phủ tập trung vào khuyến khích các SME phát triển khoa học công nghệ, tăng cường đầu tư ra nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Trong giai đoạn hiện nay, những biện pháp của chính phủ lại tập trung vào phát triển doanh nghiệp mới, doanh nghiệp kinh doanh mạo hiểm và doanh nghiệp kinh doanh có tính chất đổi mới để khôi phục nền kinh tế.
Các chinh sách hỗ trợ SME toàn diện về mọi mặt. Có thể thấy, các SME Nhật được hỗ trợ về mọi mặt. Những khó khăn lớn nhất về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh doanh… được các chính sách của Nhà nước hỗ trợ hết sức tích cực. Đối với các SME có nhu cầu khác nhau, từ những SME gặp khó khăn về soạn thảo kế hoạch, khó khăn về vốn, công nghệ hay trình độ quản lý đều có thể tìm được sự trợ giúp từ chính phủ.
Hệ thống chính sách và các biện pháp hỗ trợ SME rất phong phú. Hệ thống chính sách hỗ trợ SME của Nhật không chỉ là một khung khổ pháp luật đồng bộ mà còn là những hệ thống các trung tâm hỗ trợ, các hiệp hội về đến tận các tỉnh, thành phố, quận, huyện…..Các hoạt động hỗ trợ cũng ngày càng phong phú. Từ việc tổ chức các hội thảo, các chương trình đào tạo đến các diễn đàn, hội chợ thương mại, tổ chức các cuộc điều tra tìm hiểu thực trạng của SME…
Thực hiện các chính sách hiệu quả. Không chỉ đưa ra một hệ thống các chính sách với nhiều ưu điểm mà Nhật Bản còn thực hiện các chính sách này rất hiệu quả. Các chính sách đưa ra đều dựa trên tình hình thực tế và được thực hiện một cách nghiêm túc, có sự theo dõi và giám sát chặt chẽ. Do vậy, hiệu quả hỗ trợ mang lại cho các SME là rất lớn.
Chính nhờ các chính sách phát triển SME này mà số lượng và vai trò của các SME ngày càng tăng trong nền kinh tế Nhật (đồ thị 1). Các doanh nghiệp này không những đóng góp to lớn vào việc tăng mức tiêu dùng, đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của dân cư, mà còn góp phần tạo công ăn việc làm và giải quyết nạn thất nghiệp. Các ngành công nghiệp truyền thống như: sản xuất tơ, dệt… là những ngành đã góp phần xuất khẩu thu ngoại tệ lớn cho Nhật Bản và đồng thời còn là nơi mà 76,3% công nhân Nhật Bản có công ăn việc làm. Trong khu vực thương mại, dịch vụ, các SME chiếm tới 60% doanh số bán ra của ngành bán buôn và gần 80 % doanh số ngành bán lẻ. Tỷ trọng các doanh nghiệp loại hình này trong khu vực dịch vụ không ngừng gia tăng. Từ những năm 80 lại đây, vai trò của các SME Nhật Bản không những tăng lên về mọi mặt đối với nền kinh tế trong nước, mà còn tăng nhanh khối lượng buôn bán và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Đầu tư trực tiếp của các SME Nhật Bản ra nước ngoài tăng từ 30% những năm 80 tới hơn 60% trong những năm 90. Sang đầu thế kỷ 21, số lượng các SME đã chiếm tới 99,7% tổng số các doanh nghiệp, thu hút trên 70% số lượng lao động, tạo giá trị sản xuất hơn 50%. Nhờ đó, các nguồn nhân lực, vật lực của đất nước cũng được phát huy tối đa.
2. Nhược điểm Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, những chính sách của chính phủ Nhật không phải là không có những hạn chế.
Có những lúc còn chưa đánh giá hết vai trò của các SME. Vào cuối những năm 50, chính phủ tập trung vào phát triển công nghiệp hóa học và công nghiệp nặng, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp lớn. Do đó, các SME cũng có lúc bị lãng quên.
Trong suốt một khoảng thời gian dài trong giai đoạn phát triển thần kỳ của nền kinh tế, các SME chỉ được coi như là cái “ van xả ” của nền kinh tế, mà ở đó các SME sẽ thu hút lượng nhân công dư thừa, tăng tích luỹ tư bản, là cái “ đệm linh hoạt” cho các doanh nghiệp lớn sẵn sàng vứt bỏ khi lâm vào khó khăn. Như vậy, ở một mức độ nhất định, trong giai đoạn này, các doanh nghiệp lớn vẫn được nhà nước tạo điều kiện thuận lợi hơn.
Chưa phát huy hết nội lực của các SME. Trong một thời gian dài, chính phủ đã có nhiều biện pháp hỗ trợ các SME nhưng lại không phát huy được nội lực của các SME. Kết quả là sự phát triển của các SME phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách hỗ trợ này, không có sự phát triển vững chắc. Chính vì vậy, khi nền kinh tế có biến động thì hoạt động của các SME cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Vào những năm của thập niên 90, tỉ lệ các doanh nghiệp bị phá sản, phải đóng cửa đã lên tới 5% vượt tỉ lệ các doanh nghiệp mới thành lập(3,5%) (Sách trắng về SME năm 2023). Điều này đã gây ra nhiều tác động xấu đối với xã hội.
Như vậy, trong chương II, chúng ta đã nghiên cứu đặc điểm của nền kinh tế Nhật trong từng giai đoạn, cũng như những chính sách mà chính phủ Nhật đã đưa ra để hỗ trợ sự phát triển của các SME. Mặc dù còn có những hạn chế nhưng nhìn chung các chính sách phát triển SME của Nhật đã có những tác động tích cực đến sự phát triển của các SME nói riêng và nền kinh tế Nhật nói chung. Khóa luận: Chính sách phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam


Pingback: Khóa luận: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật