Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, chính phủ Nhật cũng có những thay đổi trong chính sách phát triển SME. Trong mỗi giai đoạn các chính sách mà chính phủ Nhật đã thực hiện đều có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế.
Vậy Việt Nam có thể vận dụng chính sách của Nhật Bản và có thể đạt được những tăng trưởng thần kỳ như Nhật Bản được hay không? Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Nhật Bản. Trên cơ sở đó có lẽ việc áp dụng những bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản sẽ dễ dàng và đạt hiệu quả hơn.
I: NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM
1. Tương đồng
1.1. Về điều kiện tự nhiên, dân số
- Về điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý, Việt Nam và Nhật Bản đều nằm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Về tài nguyên thiên nhiên, mặc dù đất đai trồng trọt chỉ chiếm khoảng 19% diện tích đất cả nước và rất nghèo chất hữu cơ, song nền kinh tế nông nghiệp vẫn có vai trò đặc biệt trong đời sống dân cư Nhật Bản cho đến đầu thế kỷ XX. Nói cách khác, cũng như Việt Nam, Nhật Bản rất coi trọng sản xuất nông nghiệp, lúa là nông sản chủ yếu. Sản lượng lúa vào đầu năm 2016 là 10,33 triệu tấn, tuy sản lượng không nhiều như Việt Nam, dư thừa để xuất khẩu nhưng sản lượng lúa của Nhật Bản cũng chiếm 1/3 tổng giá trị nông sản. Chính nền văn hoá nông nghiệp ấy dựa trên lao động gia đình là cơ sở cho việc hình thành những hộ lao động, sản xuất nhỏ sau này.
Cũng như Việt Nam, là một quốc gia có nhiều đảo nên Nhật Bản rất giàu tài nguyên biển. Hải sản từ xưa đã trở thành nguồn cung cấp chất đạm chính cho người Nhật. Mặc dầu sản lượng hải sản đánh bắt được của Nhật Bản rất lớn nhưng không đáp ứng được đủ nhu cầu, cho nên Nhật Bản vẫn là nước nhập khẩu hải sản lớn trên thế giới.
- Về dân số Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Về dân số, giống như Việt Nam, Nhật Bản có một đất nước đông dân. Dân số Nhật Bản ổn định trong khoảng 30 triệu người trong suốt thời đại Edo( 1603-1867). Tuy nhiên, vào thời Minh Trị(1868-1912) có sự gia tăng đột ngột do phát triển công nghiệp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một lần nữa có sự gia tăng dân số vững chắc và rõ rệt do tăng trưởng kinh tế bắt đầu vào khoảng năm 1955, kèm theo sự di dân về thành thị. Ngày nay, Nhật Bản đã đạt được sự ổn định về dân số với khoảng 125,9 triệu dân, đứng hàng thứ bảy trên thế giới theo thống kê năm 2016. Đây là cũng chính là cơ sở cho nguồn lao động dồi dào để phát triển các SME ở cả Việt Nam và Nhật Bản.
Về phân bố dân số, cũng như Việt Nam, đồi núi chiếm 2/3 diện tích nước Nhật, vì thế, đại đa số dân cư đều sinh sống ở đồng bằng, và mật độ dân số ở đó còn cao hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Năm 2015, khu đô thị Tokyo có mật độ dân cư đứng đầu với 5.399 người/km[18.12]. Một đặc thù của Nhật Bản là 49% dân số sống tập trung ở Tokyo, Nagoya, Osaka và những thành phố lớn xung quanh đó. Do vậy, cả Việt Nam và Nhật Bản đều phải lưu ý khi xây dựng các chính sách phát triển SME để đảm bảo có sự phát triển cân bằng và hợp lý giữa các vùng trong cả nước.
1.2. Về chính trị, văn hoá, xã hội
Cũng như Việt Nam, Nhật Bản trước đây là một quốc gia phong kiến. Trong suốt một thời gian dài từ khi thành lập đất nước, các triều đại phong kiến đã cai trị ở cả Việt Nam và Nhật Bản. Sự tồn tại lâu dài ấy của chế độ phong kiến đã để lại nhiều dấu ấn trong văn hoá, xã hội của Việt Nam và Nhật Bản.
- Về văn hóa
Cũng giống như Việt Nam, Nhật Bản có một nền văn hoá lâu đời, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều lễ hội, trò chơi dân gian, những hình thức nghệ thuật phong phú như kịch nô, kabuki, sumo…. Nhắc tới Nhật Bản, người ta cũng không thể không kể đến những nét tinh hoa văn hóa thể hiện qua những thú vui và cũng là những nghệ thuật như trà đạo, hương đạo, nghệ thuật gấp giấy origami…Các ngành thủ công truyền thống như sản xuất tơ lụa, gốm sứ cũng hết sức phong phú. Ngay cả trong thời đại công nghệ kỹ thuật phát triển như hiện nay, những nét văn hóa ấy không những không bị mai một mà còn được bổ sung, đa dạng hoá cùng với từng bước tiếp thu văn hóa thế giới, gồm cả văn hoá phương Tây- một nền văn hoá tưởng chừng như đối lập.
Những nét tính cách của người dân Nhật có lẽ cũng là một trong những bản sắc văn hoá độc đáo. Có lẽ cùng xuất phát từ nền văn hoá nông nghiệp, nên người dân Nhật Bản và Việt Nam đều rất cần cù, chăm chỉ, chịu khó. Do nằm trong khu vực không được thiên nhiên ưu đãi, người dân Nhật luôn phải sống trong lo âu về thiên tai, động đất, hoả hoạn, bão tố… Chính điều đó đã thúc đẩy người dân Nhật luôn phải dành dụm tiền bạc phòng khi thiên tai ập đến. Do đó, ngay sau khi bị chiến tranh tàn phá hoàn toàn, chính phủ Nhật đã có thể huy động được một lượng tiền lớn từ ngay bên trong nền kinh tế. Người dân Nhật cũng hết sức coi trọng chữ Ân và lòng trung thành với tổ chức, với tập thể, dù đó là gia đình, lớp học, trường đại học, nhánh của một tập đoàn hoặc là cả nước Nhật. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
- Về xã hội
Cũng giống như tình cảm làng xóm, quê hương thân thiết, gắn bó như ở Việt Nam, một đặc trưng quan trọng trong xã hội Nhật Bản là tinh thần cộng đồng, cố kết dân tộc rất cao. Xã hội Nhật Bản đã sản sinh ra những cộng đồng người tự giác có ý thức chung và ngầm hiểu với nhau về những trách nhiệm phải hoàn thành hoặc kế thừa mà không cần có ai ra lệnh. Những thay đổi do chế độ, tôn giáo hay qua các thời kỳ lịch sử gây ra cũng không ảnh hưởng lớn đến tinh thần này. Qua lịch sử văn hóa Nhật, người ta dễ hình dung thấy nền văn hóa Nhật đã sớm có một cơ sở thuần nhất trong khắp cả nước, khiến người Nhật có thể hành động tập thể dễ dàng. Chủ nghĩa cộng đồng Nhật Bản là một sản phẩm của sự giao kết trong lịch sử và địa lý. Không phải chỉ vì Nhật Bản đất chật người đông mà có lẽ còn vì dân tộc đó đã sống nhiều thế kỷ dưới sự quản lý tập trung khá chặt chẽ của các chính phủ trung ương. Chủ nghĩa cộng đồng yêu cầu lợi ích cá nhân phải đặt dưới mục đích và tiêu chuẩn của tập thể. Đây có thể là gia đình, lớp học, trường đại học, nhánh của một tập đoàn hoặc là cả nước Nhật. Tận tình, trung thành với các nhóm như vậy được coi là đúng đắn và tốt đẹp. Người ta chỉ có thể thoả mãn, tận hưởng vinh quang và thành tích mà tập thể đạt được.
Tuy nhiên, cũng giống như ở Việt Nam hiện nay, việc mở cửa hợp tác giao lưu thương mại rộng rãi với nước ngoài đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt nền kinh tế và xã hội Nhật Bản. Bên cạnh đó là lối kinh doanh, phong cách sống và những yếu tố văn hóa nước ngoài, đặc biệt là phương Tây đang xâm nhập vào Nhật Bản. Yếu tố cộng đồng tuy không mất đi nhưng cũng bị xói mòn nhiều.
Xã hội Nhật Bản cũng hết sức coi trọng vấn đề học vấn. Hệ thống giáo dục được xem như chìa khoá làm cho nền kinh tế tăng trưởng và ổn định về mặt chính trị. Ở cấp độ cá nhân, con người Nhật Bản ngày nay được đánh giá chủ yếu dựa vào học vấn chứ không phải là địa vị gia đình, địa vị xã hội và thu nhập. Phần lớn người Nhật muốn hoàn thiện mình hơn và học hỏi là cách tốt nhất để đạt mục đích. Do vậy, một quốc gia có nền văn hóa truyền thống đậm nét và lâu đời như Nhật cũng không ngần ngại tiếp thu những điểm tiến bộ của các quốc gia phương Tây. Trong giai đoạn sau chiến tranh, đặc biệt khi quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, Nhật Bản đã tiếp nhận rất nhiều từ các quốc gia khác, đặc biệt là phương Tây. Sau đó, xem xét nghiên cứu và có những thay đổi để có thể ứng dụng phù hợp với tình hình thực tế.
Chính phủ Nhật đã có những chính sách phát huy được những đặc trưng này của xã hội Nhật Bản để phát triển kinh tế. Xã hội Việt Nam cũng có nhiều điểm tương đồng với Nhật. Do vậy, Việt Nam cũng cần có những biện pháp để phát huy tốt nhất những đặc điểm của xã hội Việt Nam.
1.3. Về kinh tế
- Về khởi điểm xây dựng kinh tế sau chiến tranh Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Sau những năm dài chiến tranh, Nhật Bản là một nước bại trận thì Việt Nam là một nước thắng lợi vẻ vang trước các cường quốc lớn. Nhưng cả Việt Nam và Nhật Bản đều gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc khôi phục nền kinh tế đất nước. Nhật Bản không những bị thiệt hại nặng nề về người và của mà còn phải chi trả một khoản bồi thường chiến tranh lớn. Còn Việt Nam sau chiến tranh mới chỉ là một đất nước non trẻ với nhiều khó khăn về tài chính, cơ sở hạ tầng…phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.
- Về môi trường phát triển thời kỳ tăng trưởng nhanh
Thời kỳ tăng trưởng nhanh của Nhật Bản những năm 50 và của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đều gắn với xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ. Nhật Bản trong những năm 50 là đất nước Nhật đang đứng trước ngưỡng cửa phải gia nhập vào tổ chức GATT và các tổ chức thế giới khác. Hiện nay Việt Nam cũng đang phấn đấu tích cực để tham gia vào các tổ chức của khu vực, thế giới nhất là tổ chức thương mại thế giới WTO. Là một nước nghèo nàn về tài nguyên, Nhật Bản đã nhận ra rằng Nhật Bản sẽ không thể phát triển nền kinh tế của mình nếu không dựa vào bên ngoài. Trong giai đoạn hiện nay tình hình thế giới cũng đã thay đổi rất nhiều, xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang được mở rộng, một quốc gia không thể tồn tại và phát triển được nếu chỉ dựa vào nguồn lực bên trong. Chính vì thế, xu hướng tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới là một điều tất nhiên, không thể tránh khỏi. Như vậy nhu cầu tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới của Nhật trong những năm 50 và Việt Nam trong những năm 90 tương đối giống nhau.
- Về những động lực phát triển của nền kinh tế
Một nhân tố hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong suốt thời kỳ tăng trưởng cao là Nhật Bản sẵn có một lực lượng lao động dồi dào. Điều này rất giống với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cũng như Việt Nam, Nhật Bản hàng năm cũng có một lực lượng lớn thanh niên tham gia vào lực lượng lao động, và cũng có nhiều công dân nông nghiệp di chuyển từ các vùng quê kiếm việc làm trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ở các thành phố lớn. Nhưng sự thật là so với người Việt Nam thì có thể nói người Nhật lao động chăm chỉ và tỉ mỉ hơn. Họ cần mẫn và lặng lẽ làm việc hết mình, không chỉ cho riêng bản thân, mà còn cho gia đình, cho công ty… của mình. Nhất là họ luôn luôn phấn đấu cho sự lớn mạnh của công ty mà họ gắn bó suốt đời với nó thông qua chế độ làm việc suốt đời.
Trong những năm 50, 60 là những năm của thời kỳ tăng trưởng cao, Nhật Bản đã biết tận dụng được lợi thế so sánh về nhân công. Trong những năm này, tiền lương của người lao động thấp hơn nhiều so với các nước khác, nên các sản phẩm sử dụng nhiều sức lao động có sức cạnh tranh rất lớn trên thị trường. Như đã đề cập trong chương II, các sản phẩm của ngành công nghiệp nhẹ chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu sản xuất những năm 50 và đầu những năm 60. Điều đó có nghĩa là Nhật Bản đã ban đầu phát triển những ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động. Việt Nam hiện nay cũng có được sự đầu tư từ các công ty trong và ngoài nước vào các lĩnh vực sử dụng nhiều nhân công. Nhưng hiện nay khác với Nhật Bản chúng ta cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan về lợi thế nhân công này.
Như vậy, nhìn chung Nhật Bản và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về tự nhiên, xã hội và kinh tế. Đó là những cơ sở hết sức quan trọng để Việt Nam có thể học tập và áp dụng những kinh nghiệm trong chính sách phát triển SME ở Nhật.
Bên cạnh những nét tương đồng đó, cũng có nhiều điểm khác biệt Việt Nam cần lưu ý trong quá trình học tập kinh nghiệm hỗ trợ SME.
2. Khác biệt Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
2.1. Về điều kiện tự nhiên, dân số
- Về điều kiện tự nhiên
Giống như Việt Nam, Nhật Bản cũng nằm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nếu Việt Nam nằm trên bán đảo Trung Ấn thì Nhật Bản là quốc gia được tập hợp từ bốn đảo lớn, Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và vô số các hòn đảo nhỏ( khoảng từ 3300 đến trên 3700 đảo tuỳ theo cách phân loại). Nằm giữa lục địa Âu Á và Thái Bình Dương, trên những vùng địa chấn thường xuyên tương tác nên Nhật Bản phải chịu nhiều thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần hơn Việt Nam.
Về tài nguyên thiên nhiên, sự di chuyển mạnh của các dãy núi trong quá trình hình thành nước Nhật đã dẫn đến sự hình thành của nhiều loại khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng đều rất hạn chế. Sau chiến tranh, hầu hết khoáng sản đều bị cạn kiệt. Tuy có một số mỏ than ở Hokkaido, Kyushyu nhưng chất lượng không cao và cũng không đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, hầu hết nguồn nguyên nhiên liệu cần thiết đều phải nhập khẩu. Có thể thấy về mặt này, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn rất nhiều, có nhiều mỏ khoáng sản trải đều trên khắp cả nước.
- Về dân số
Khác với tốc độ gia tăng dân số nhanh ở Việt Nam, hiện nay sự gia tăng dân số của Nhật đã có sự ổn định và vững chắc. Điều đó dẫn đến một vấn đề về dân số mà nước Nhật hiện đang phải đối mặt là sự già đi về dân số. Số lượng người cao tuổi tăng lên cùng với vấn đề kết hôn muộn khiến cho số lượng lao động trẻ cần thiết cho phát triển kinh tế ít đi. Còn cơ cấu dân số Việt Nam hiện nay phần lớn là dân số trẻ. Do vậy, đây là một lợi thế rất lớn để Việt Nam có thể tận dụng phát triển kinh tế.
2.2. Về chính trị, văn hoá, xã hội
- Về chế độ chính trị
Khác với Việt Nam theo chế độ xã hội chủ nghĩa thì Nhật Bản lại theo chế độ quân chủ, có Nhật hoàng và bộ máy chính phủ. Nhật hoàng tuy không có thẩm quyền đối với chính phủ mà chỉ đảm nhiệm những hoạt động nhà nước do hiến pháp quy định. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất ở Nhật Bản. Quốc hội gồm thượng nghị viện và hạ nghị viện. Quyền hành pháp thuộc về nội các, gồm có thủ tướng và không quá 20 bộ trưởng, chịu trách nhiệm tập thể trước quốc hội.
- Về văn hoá, xã hội Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Mặc dù trong xã hội Việt Nam tinh thần tập thể cũng được đề cao. Tuy nhiên khi so sánh với Nhật thì có thể thấy tinh thần ấy ở Việt Nam còn mang nặng tính cá nhân, hẹp hòi, sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau còn rất thấp. Đó là một hạn chế rất lớn có thể thấy rõ ràng qua sự phát triển của các SME ở Việt Nam. Do vậy, khi xây dựng chính sách phát triển SME, Việt Nam rất cần phải chú ý đến việc nâng cao sự liên kết giữa các doanh nghiệp.
2.3. Về kinh tế
- Về khởi điểm xây dựng kinh tế sau chiến tranh
Mặc dù sau chiến tranh, cả Việt Nam và Nhật Bản đều phải gánh chịu những hậu quả, thiệt hại nặng nề về người và của. Thế nhưng, Nhật Bản chỉ mất 10 năm để khôi phục nền kinh tế và bắt đầu khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế… Trong khi đó, Việt Nam suốt một thời gian dài bị cô lập về kinh tế. Từ năm 2006, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế thị trường, Việt Nam bắt đầu xây dựng phát triển nền kinh tế thuận lợi hơn. Như vậy có thể cho rằng kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản bắt đầu từ những năm thập niên 50 thì Việt Nam là thập niên 90, Vì vậy, về khởi điểm xây dựng kinh tế thì có thể nói rằng Việt Nam là một nước đã phát triển chậm hơn Nhật Bản 40 năm.
- Về môi trường phát triển thời kỳ tăng trưởng nhanh
Kinh tế Nhật Bản liên tục phát triển nhanh từ những năm 50 đến những năm 60. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thực tế đạt 11% trong những năm 60. Nhật Bản đã được lợi nhờ môi trường kinh tế thế giới mở rộng và việc cung cấp dồi dào nguồn năng lượng tương đối rẻ từ nước ngoài trong suốt thời kỳ này. Là một nước nghèo nàn về tài nguyên, nhưng trong thời kỳ tăng trưởng cao, Nhật Bản không hề gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề nguyên liệu. Khác với bây giờ, vấn đề nguyên vật liệu gắn liền với những vấn đề môi trường chính sách phát triển của các quốc gia trên thế giới và giá cả nguyên vật liệu cũng có xu hướng leo thang. Như thế có nghĩa là môi trường phát triển thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản và Việt Nam là khác nhau. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Trong những năm 50, 60 môi trường kinh tế thế giới được mở rộng nhưng chỉ giới hạn ở các quốc gia phát triển phương Tây, và thời kỳ đó là thời kỳ hoàng kim của phương Tây. Nhật Bản là một nước Châu Á cho nên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế của mình, chịu nhiều thiệt thòi trong buôn bán quốc tế. Nhưng hiện nay nền kinh tế thế giới đang chuyển sang phía đông Châu Á, và Việt Nam gặp rất nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế. Nhật Bản chỉ hoàn toàn nhận viện trợ của Mỹ để khắc phục kinh tế và phát triển nhanh nền kinh tế dựa vào những quan hệ mật thiết với Mỹ. Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có thể phát triển nền kinh tế của mình thông qua sự giúp đỡ viện trợ của các tổ chức, chính sách, các quốc gia trên thế giới. Môi trường thế giới đã mở rộng hơn nhiều cho Việt Nam để phát triển nền kinh tế của mình.
- Về những động lực phát triển của nền kinh tế
Động lực cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao trước hết là nhu cầu trong nước. Nhật Bản tăng cường đầu tư trong nước thúc đẩy sản xuất trong nước để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Nền kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh là kết quả đóng góp rất lớn của các công ty vừa và nhỏ. Chính những công ty này đã thích ứng rất nhanh chóng với những thay đổi trên thị trường, kịp thời thay đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường thế giới. Việt Nam vừa mới chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn đầu mới chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu nằm trong tay các công ty quốc doanh. Tuy nhiên hiện nay, Nhà nước cũng đã bắt đầu quan tâm đến vai trò của các SME và có những chính sách phát triển phù hợp.
Đóng góp cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế Nhật Bản cũng phải kể đến sự tiết kiệm của dân chúng. Tiết kiệm của Nhật Bản vào hàng lớn nhất trên thế giới. Ngân hàng Nhật Bản đã huy động tốt nguồn vốn nhàn rỗi của nhân dân cho các doanh nghiệp vay để phát triển và mở rộng sản xuất, đẩy nhanh xuất khẩu và thu được ngoại tệ. Cho nên bên cạnh nguồn vốn vay nước ngoài, Nhật Bản vẫn chủ yếu sử dụng những nguồn vốn xuất phát từ trong nước. Còn Việt Nam hiện nay vẫn chưa huy động được hết các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà vẫn phải chủ yếu dựa vào nguồn vay viện trợ, nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để phát triển sản xuất. Đây cũng là đặc điểm chung của các nước Đông Nam Á, và bài học kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á sau cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng rất bổ ích cho chúng ta học tập.
Trình độ khoa học kỹ thuật bây giờ và 30 năm trước là hoàn toàn khác nhau. Nhật Bản đã phát triển nhanh nền kinh tế của mình nhờ vào đầu tư mạnh mẽ của tư nhân, vào nhà máy và thiết bị mới tạo ra, đầu tư vào những ngành sản xuất mới lúc bấy giờ như ngành điện tử. Có thể nói nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh là do các ngành công nghiệp ứng dụng phát triển mạnh mẽ và Nhật Bản đã nâng cao được uy tín của các sản phẩm những ngành đó trên thị trường quốc tế thông qua ngoại thương, xuất khẩu những mặt hàng đó. Vậy thực trạng của Việt Nam là gì? Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là những sản phẩm thuộc ngành Nông – Lâm – Hải sản, công nghiệp nhẹ và chủ yếu trên hình thức gia công. Thế thì liệu Việt Nam có khả năng đạt được sự tăng trưởng như Nhật Bản hay không? Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Một nhân tố hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong suốt thời kỳ tăng trưởng cao là Nhật Bản sẵn có một lực lượng lao động dồi dào. Điều này rất giống với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cũng như Việt Nam, Nhật Bản hàng năm cũng có một lực lượng lớn thanh niên tham gia vào lực lượng lao động, và cũng có nhiều công dân nông nghiệp di chuyển từ các vùng quê kiếm việc làm trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ở các thành phố lớn. Nhưng sự thật là so với người Việt Nam thì có thể nói người Nhật lao động chăm chỉ và tỷ mỷ hơn. Họ cần mẫn và lặng lẽ làm việc hết mình, không chỉ cho riêng bản thân, mà còn cho gia đình, cho công ty… của mình. Nhất là họ rất phấn đấu cho sự lớn mạnh của công ty mà họ gắn bó suốt đời với nó thông qua chế độ làm việc suốt đời.
Như vậy, bên cạnh những nét tương đồng, Việt Nam và Nhật Bản cũng có nhiều điểm khác biệt mà Việt Nam cần lưu ý trong quá trình học tập kinh nghiệm hỗ trợ SME. Một mặt, Việt Nam có nhiều điểm thuận lợi hơn như nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, sự hỗ trợ của nhiều tổ chức, quốc gia trên thê giới. Mặt khác, các SME ở Việt Nam hiện nay phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn như nền kinh tế thị trường còn non trẻ, những dấu tích của một thời bao cấp vẫn còn tồn tại, vấn đề về nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên gay gắt, những chính sách về SME chưa thật sự đầy đủ, hỗ trợ một cách hiệu quả, chưa phát huy được hết tiềm lực của các SME. Hơn nữa, hiện nay Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới đứng thứ hai trên thế giới về GNP 3926,7 tỷ đôla năm 2015 và bình quân thu nhập đầu người đứng hàng thứ ba thế giới, 40.940 đôla[18.23] gấp 100 lần so với thu nhập của người dân Việt Nam. Do vậy, khi học tập các kinh nghiệm của Nhật, Việt Nam cũng rất cần phải chú ý đến vấn đề nguồn lực, khả năng thực tế để có thể thực hiện các chính sách một cách hiệu quả.
II: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SME CỦA NHẬT ĐỐI VỚI VIỆT NAM Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Từ quá trình hình thành và phát triển của các chính sách phát triển SME của Nhật, chúng ta có thể thấy nhiều bài học kinh nghiệm quý báu mà Việt Nam có thể áp dụng.
1. Nhận thức sâu sắc về vai trò của các SME trong nền kinh tế
Ngay từ khi đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh, Nhật Bản đã coi các SME như là một công cụ đắc lực cho việc tái thiết nền kinh tế. Từ những ngành công nghiệp thủ công truyền thống của hơn 500 vùng khác nhau, các SME của Nhật đã thực hiện thành công “ tích luỹ ban đầu” cho quá trình công nghiệp hoá đất nước; làm tiền đề cho việc tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế Nhật Bản trong cả một thời kỳ dài sau này. Không phải ngẫu nhiên mà ở Nhật Bản các loại hình Luật về SME xuất hiện rất sớm và liên tục được bổ sung, hoàn thiện. Cũng ở Nhật Bản, các tổ chức tài chính và ngân hàng thực hiện việc hỗ trợ toàn diện cho các SME xuất hiện sớm hơn so với lịch sử kinh tế các nước. Các cơ quan này hợp thành một “hệ thống xã hội” hoàn chỉnh, đáng tin cậy và là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của các SME. Mặc dù, có những lúc chính phủ Nhật vẫn chưa thực sự đánh giá đúng sức mạnh của các SME đối với nền kinh tế nhưng nhìn chung chính phủ Nhật đã luôn nhận thức đúng tầm quan trọng của các SME và từ đó có những chính sách và biện pháp hỗ trợ thích hợp.
Từ đó cho thấy, việc nhận thức sớm và đúng đắn vai trò của các SME trong nền kinh tế là nguyên nhân đầu tiên góp phần làm gia tăng tỷ trọng các SME trong nền kinh tế.
Đặc biệt trong điều kiện mở cửa và hội nhập như hiện nay, nhận thức và chỉ đạo hoạt động phát triển SME đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược của nền kinh tế đất nước. Đây là một trong những nhân tố cơ bản, tạo nền tảng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách điều tiết vĩ mô, tạo cơ sở thuận lợi cho việc phân định các yếu tố thời cơ thuận lợi bên ngoài cho SME khi hoạch định và triển khai chiến lược cạnh tranh.
2. Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các SME Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
- Ở Nhật, các SME hoạt động trong môi trường hết sức thuận lợi.
Từ rất sớm môi trường pháp lý dành cho SME đã được hình thành. Những quy định chung liên quan đến SME hay những quy định riêng dành cho SME đã được ra ban hành. Điều này tạo ra những định hướng rõ ràng và những khung khổ nhất định mà các SME có thể dễ dàng hoạt động và phát triển theo.
Ngoài ra, chính phủ Nhật luôn cố gắng tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển của các SME. Trong những giai đoạn khi khoảng cách giữa các doanh nghiệp lớn và các SME rất lớn, các doanh nghiệp lớn có nhiều biện pháp không công bằng đối với các SME. Do vậy, chính phủ đã có những chính sách nhằm đảm bảo quyền bình đẳng cho các SME trong Luật chống độc quyền, Luật thanh toán chi phí hợp đồng thầu phụ…Hơn nữa, mặc dù tất cả các hành vi cản trở cạnh tranh lành mạnh đều bị nghiêm cấm và bị xử lý theo Luật chống độc quyền nhưng Luật chống độc quyền tư nhân của Nhật cũng chấp nhận một số trường hợp ngoại lệ. Một trong số đó là chấp nhận sự tồn tại và hoạt động của các tập đoàn sản xuất được thành lập từ các SME theo đúng Luật doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hay khi nền kinh tế gặp khó khăn, chính phủ cũng đã ban hành Luật đảm bảo đơn đặt hàng từ chính phủ, Luật khuyến khích hợp đồng thầu phụ.
Trong thời gian gần đây, các biện pháp hỗ trợ kinh doanh đã có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế. Đó là tổ chức các hội chợ thương mại, các trung tâm buôn bán để tăng cơ hội giới thiệu sản phẩm, cơ hội giao thương, tìm kiếm đối tác kinh doanh…Các doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm đối tác qua mạng “match net”, đặc biệt là trang web: www.matchnet.zenkyo.. Ngoài ra, còn có xúc tiến các hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
- Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của các SME.
Ở Việt Nam hiện nay, tuy môi trường hoạt động của các SME đã thuận lợi hơn trước nhiều. Khung khổ pháp luật kinh doanh, pháp luật về tài chính, tiền tệ, tín dụng, thương mại, lao động đã được cải thiện nhiều với sự ra đời, sửa đổi bổ sung của các Luật Doanh nghiệp (2025), Luật Đầu tư (2025), Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 2023, Bộ Luật Lao động…Hệ thống cơ chế, chính sách của Nhà nước về căn bản không có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế. Ngoài ra, còn có một số quy định pháp luật riêng cho các SME như Công văn số 681/CP-KTN ngày 26/6/2018 của Văn phòng chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển SME, Nghị định 90/2021/NĐ-CP ngày 23/11/2021 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Song trong hoạt động thực tiễn khu vực kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Trở ngại lớn đối với sự phát triển của các SME hiện nay là môi trường pháp lý chưa đồng bộ, hoàn thiện; còn nhiều quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, thiếu nhất quán hay thay đổi phức tạp, chồng chéo, dẫn tới tình trạng các cơ quan thừa hành và các doanh nghiệp lúng túng trong việc chấp hành pháp luật.
Mặc dù các cơ quan nhà nước đã tạo điều kiện để doanh nghiệp được tham gia ý kiến đóng góp vào nhiều văn bản, chính sách khác nhau, song nhìn chung kết quả còn hạn chế, mới chỉ dừng ở mức tham khảo có giới hạn, chưa thành quy chế. Một số ý kiến, đề xuất của doanh nghiệp chưa được tiếp thu, nhiều khó khăn cho doanh nghiệp chưa được giải quyết cơ bản, triệt để.
Sự thiên lệch trong đối xử của nhiều cấp thừa hành giữa doanh nghiệp lớn và SME cũng là một yếu tố tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh. Trong các chính sách của Đảng và Nhà nước đều thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tuy nhiên giữa các doanh nghiệp lớn và SME còn tồn tại nhiều hiện tượng phân biệt đối xử. Đặc biệt là trong việc thực hiện chính sách, thừa hành công vụ của một số cán bộ nhà nước, như trong lĩnh vực vay ngân hàng, tiếp cận chế độ ưu đãi của Chính phủ, thuê đất, tiếp nhận thông tin về thị trường xuất khẩu, trong việc đào tạo, bồi dưỡng lao động…
Môi trường tâm lý xã hội cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các SME. Tuy nhiên, môi trường tâm lý xã hội ở Việt Nam hiện nay còn nhiều điểm bất lợi cho các SME. Còn có nhiều định kiến, mặc cảm đối với các SME, chưa nhìn nhận đúng mức vai trò của các SME trong nền kinh tế. Quan niệm về SME còn gắn với những tiêu cực như làm hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thương mại…Từ đó dẫn đến tâm lý kỳ thị, phân biệt đối xử đối với SME trong một số không nhỏ cán bộ ở các cấp của Đảng, Nhà nước và trong nhân dân.
Như vậy, tuy môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường tâm lý xã hội đã có những bước cải thiện, song trong hoạt động thực tiễn, khu vực SME còn gặp nhiều khó khăn. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc huy động các nguồn lực, tiềm năng của SME cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Do đó, việc nhận thức đúng đắn và cải thiện môi trường hoạt động cho các SME là hết sức cần thiết. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
3. Hỗ trợ các SME phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh
Khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các chính sách phát triển SME của Nhật, ta có thể thấy một xu hướng biến đổi rõ rệt. Trong giai đoạn sau chiến tranh, các SME gặp nhiều khó khăn, khoảng cách về tiền lương, năng suất…giữa các SME và các doanh nghiệp lớn là khá xa. Chính phủ Nhật đã cho rằng các SME là điểm yếu của nền kinh tế, cần hỗ trợ để rút ngắn khoảng cách với các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, khi tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều thay đổi, đặc biệt từ khi nền kinh tế bắt đầu suy thoái, phải tiến hành các biện pháp điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế thì Nhật Bản đã nhận ra ý nghĩa và vai trò thật sự của các SME. Do vậy, các chính sách phát triển SME đã chuyển sang những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực nội tại, phát huy cao nhất nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các SME. Hình ảnh mà chính phủ Nhật mong muốn ở các SME trong thế kỷ 21 là các doanh nghiệp tự lực phát triển. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới. Bởi lẽ dù điều kiện khách quan có thuận lợi như thế nào thì khả năng tồn tại và phát triển của các SME cũng do những nhân tố nội lực quyết định.
Nội lực của doanh nghiệp được nâng cao trên cơ sở nâng cao trình độ quản trị kinh doanh( cả nhân sự, tài chính, kỹ thuật), trình độ tay nghề của công nhân, trình độ thiết bị- công nghệ, mức độ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vật tư- nguyên vật liệu cho sản xuất, năng lực marketing. Thực chất của yêu cầu đối với việc nâng cao năng lực bên trong của doanh nghiệp gắn với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, giảm giá thành tương đối, sản xuất đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Điều này có thể thấy rõ qua các chính sách mà chính phủ Nhật đã thực hiện.
3.1. Hệ thống các biện pháp hỗ trợ về vốn phong phú
Chính phủ Nhật đã có nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ vốn cho các SME. Thông qua đó, các SME có thể tăng nguồn vốn trực tiếp cũng như gián tiếp. Bởi lẽ chỉ khi có được nguồn vốn thì các SME mới có đủ khả năng để cạnh tranh.
SME có thể tăng nguồn vốn gián tiếp thông qua các chương trình của ba tổ chức tài chính Nhà nước là Công ty tài chính doanh nghiệp nhỏ Nhật Bản(JFS), Công ty tài chính nhân dân (NLFC), và Ngân hàng Shoko Chukin(SCB). Ngoài ra, chính phủ cũng đã hỗ trợ tín dụng cho các SME thông qua hệ thống bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm tín dụng, các quỹ đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh các tổ chức tín dụng của Nhà nước, vai trò của các tổ chức tín dụng tư nhân đang ngày càng được nâng cao. Tỉ lệ số vốn cho các SME vay của các tổ chức này chiếm hơn 90% tổng số vốn vay.
SME cũng có thể tăng vốn trực tiếp thông qua bán cổ phiếu với sự trợ giúp của Tổ chức các công ty tư vấn và đầu tư SME bảo lãnh. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Việt Nam hiện nay cũng đã có nhiều chính sách để các SME có thể vay vốn ngân hàng tốt hơn. Như việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng( Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 2023 đã xoá bỏ ưu tiên và ưu đãi vay vốn đối với các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã). Chính phủ tạo điều kiện cho một số đối tượng là SME được vay vốn của tổ chức tín dụng không phải có đảm bảo bằng tài sản.( Nghị quyết số 02/2023/NQ-CP ngày 17-01-2023 của Chính phủ quy định cho vay đến 30 triệu đồng đối với chủ trang trại; đến 50 triệu đồng đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống thuỷ sản đến 100 triệu đồng đối với hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng vật tư, cây, con giống để sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; đến 500 triệu đồng đối với hợp tác xã sản xuất hàng xuất khẩu, làm nghề truyền thống). Ngoài ra, pháp luật còn tạo môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng và dịch vụ ngân hàng, tự do hoá lãi suất…Ngoài các hình thức cho vay truyền thống, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế về các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán…Nhờ đó, đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn nguồn vốn, hình thành và phát triển thị trường tài chính.
Tuy nhiên, hiện còn có một số vấn đề gây trở ngại đối với doanh nghiệp trong thể chế tín dụng hoặc các thể chế liên quan như: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm làm hạn chế khả năng thế chấp vay vốn ngân hàng; hệ thống đánh giá tài sản chưa phát triển và không dựa vào thị trường; thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm còn phiền hà. Việc triển khai thể chế về Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các SME theo Nghị định số 90/2021/NĐ-CP còn chậm. Đến nay chỉ mới có 2 địa phương thành lập được quỹ này là Tây Ninh và Trà Vinh[4.119].
Vốn trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu cũng chỉ mới trong giai đoạn bắt đầu, chưa có nhiều SME có đủ khả năng niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
3.2. Hỗ trợ thúc đẩy nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ thông tin
Trình độ công nghệ kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của các SME. Đặc biệt khi quá trình công nghiệp hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì các SME rất cần phải nâng cao công nghệ. Ngay từ giai đoạn tăng trưởng cao, chính phủ Nhật đã bắt đầu có những biện pháp để nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật của các SME. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ trên toàn thế giới những chính sách của Nhật nhằm hỗ trợ về công nghệ kỹ thuật đã có nhiều thay đổi.
Hỗ trợ phát triển kỹ thuật: Hỗ trợ vốn cho các hoạt động mua các thiết bị công nghệ trình độ cao, sản xuất những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Khi mua những thiết bị như vậy, các doanh nghiệp sẽ được giảm thuế. Chính phủ thành lập những tổ chức cho thuê thiết bị với lãi suất thấp hoặc không có lãi suất.
Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển: Đối với các hoạt động nghiên cứu và phát triển, chính phủ Nhật cũng có nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy như hỗ trợ vốn khuyến khích phát triển và ứng dụng.
Khuyến khích hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp về nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật.
Trong Luật thúc đẩy sáng tạo hoạt động kinh doanh mới cũng có những quy định nhằm phát triển công nghệ kỹ thuật như tăng ngân sách vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển. (Năm 2024, chính phủ Nhật đã chi hơn 30 tỉ yên vào hoạt động này). Cũng trong Luật này, chính phủ cũng có những biện pháp thương mại hoá kết quả R&D như giảm chi phí bằng sáng chế… Trong năm 2026, chính phủ Nhật cũng đã ban hành Luật hỗ trợ nâng cao công nghệ sản xuất của các SME. Luật mới này được ban hành nhằm hỗ trợ việc nghiên cứu và phát triển trong các SME, chịu trách nhiệm về tiến bộ công nghệ sản xuất như đúc khuôn, mạ…Mục tiêu của các hỗ trợ này là tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành sản xuất và phát triển số lượng doanh nghiệp.
Hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin: Trong giai đoạn công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, các biện pháp nhằm nâng cao trình độ công nghệ thông tin cũng được chú ý nhiều.
Tổ chức các hội thảo đào tạo thương mại điện tử cho các doanh nghiệp tại các trung tâm hỗ trợ SME tại các tỉnh, tổ chức SMRJ, JCCI, cử các chuyên gia về công nghệ thông tin đến các doanh nghiệp để hướng dẫn các doanh nghiệp trong việc ứng dụng.
Phát triển các mô hình ứng dụng và đầu tư cho công nghệ thông tin. Nếu doanh nghiệp nào có mô hình tốt, trở thành mô hình kiểu mẫu sẽ được hỗ trợ 1/2 chi phí nghiên cứu nâng cao. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Tại Việt Nam, hiện nay, trình độ công nghệ của các SME còn rất kém. Về trình độ sử dụng công nghệ, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Còn doanh nghiệp trong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh về công nghệ của các doanh nghiệp phía Bắc là rất thấp. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số doanh nghiệp có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ – LAN, số doanh nghiệp có Website là rất thấp chỉ 2,16%. Đây là một kết quả rất đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mại điện tử và khai thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp phía Bắc còn rất thấp, chưa tương xứng với mong muốn phát triển thương mại điện tử của Chính phủ. Trong khi trình độ về kỹ thuật công nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ 5.65% doanh nghiệp được điều tra có nhu cầu về đào tạo công nghệ. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp phía Bắc nói riêng, chưa coi trọng đúng mức đến các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ. Mặc dù đây là yếu tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường.
Một mặt đó là do bản thân các SME vẫn chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết của việc nâng cao trình độ công nghệ. Mặt khác, những quy định của chính phủ về vấn đề này vẫn chưa thật sự đầy đủ. Các quy định được ban hành trong thời gian qua như Luật khoa học và công nghệ(2020), Nghị định số 81/2022/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ, Nghị định số 99/2023/NĐ-Cp ban hành Quy chế khu công nghệ cao mặc dù phần nào đã định hướng và hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhưng còn có một số bất cập. Ví dụ như việc khuyến khích, hỗ trợ mới chỉ bó hẹp trong vài lĩnh vực; thủ tục, trình tự xét duyệt còn chậm, cơ chế cấp và thanh quyết toán còn lúng túng dẫn đến việc tổ chức thực hiện và giải ngân chậm; việc tổ chức xét duyệt tập trung( đăng ký, xét duyệt, thẩm định kinh phí tại Bộ khoa học và công nghệ, cấp kinh phí trực tiếp từ Bộ Tài chính) với hình thức chủ yếu dựa trên hồ sơ đăng ký. Do vậy, các SME vẫn chưa thật sự hào hứng với những khuyến khích trong lĩnh vực này.
3.3. Hỗ trợ đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của các doanh nghiệp là một nguồn lực hết sức quan trọng, có sự tác động đến tất cả các nguồn lực còn lại. Vì vậy, chính phủ Nhật đã hết sức quan tâm để phát triển nguồn lực này. Chính phủ rất khuyến khích các hoạt động phát triển kỹ năng trong các doanh nghiệp thông qua các khoá học dành cho những người có trách nhiệm phát triển hoạt động hướng nghiệp và các hội thảo quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, chính phủ cũng hỗ trợ chi phí cho những doanh nghiệp có chương trình đào tạo nghề và hoạt động hướng nghiệp được công nhận. Nhiều trung tâm tư vấn, thông tin và trợ giúp về kỹ năng nghề nghiệp cũng được hỗ trợ. Những người lao động chuyển việc hoặc nghỉ việc cũng được chú ý đào tạo. Trong trường hợp các SME tăng chi phí đào tạo so với mức trung bình của hai năm trước đó thì thuế sẽ được giảm 25% tính cho phần tăng thêm. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy chính phủ đã có nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của các SME. Điều đó đảm bảo cho các SME có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển.
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tiến hành với sự tham gia của hơn 63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phiá Bắc, có tới 55.63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, số người là tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp. Về lao động kỹ thuật, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế, hơn 84% lực lượng lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Chênh lệch giữa tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học và kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật có xu hướng ngày càng giãn rộng( 1:1,5:1,7 ; trong khi tỷ lệ hợp lý tại các nước phát triển là 1:4:7)[4.102]. Như vậy, cơ cấu lao động của Việt Nam không hợp lý, ngoài ra chất lượng đào tạo thấp, không phù hợp với nhu cầu thực tế.
3.4. Xây dựng hệ thống tư vấn, đào tạo nâng cao năng lực kinh doanh trong cả nước
Nếu như trong các giai đoạn trước, các chính sách tập trung vào các biện pháp hỗ trợ về vốn, công nghệ, chống độc quyền thì hiện nay một trong những mục tiêu mà chính phủ Nhật thực hiện là nâng cao năng lực quản lý cho SME( theo Luật cơ bản về SME 2019). Do vậy, bên cạnh những biện pháp hỗ trợ về vốn, công nghệ, đảm bảo cạnh tranh công bằng vốn đã được thực hiện từ giai đoạn trước, các biện pháp của chính phủ hiện nay tập trung vào hệ thống tư vấn, dịch vụ phát triển kinh doanh rộng khắp trong cả nước.
- Thành lập các trung tâm hỗ trợ “ một điểm”
Chính phủ đã thiết lập một hệ thống các trung tâm hỗ trợ “một điểm” nhằm hỗ trợ về vốn, và các nguồn lực vô hình khác như thông tin, công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các SME ở từng tỉnh, thành phố, quận huyện. Đây là một hệ thống tận dụng được kỹ năng và kinh nghiệm của những nhà chuyên môn trong lĩnh vực tư nhân nhằm hỗ trợ cho các SME về thông tin, chính sách của nhà nước cũng như hỗ trợ kinh doanh và công nghệ. Điểm đặc biệt là trong hệ thống này, tất cả những trung tâm hỗ trợ của nhà nước và tư nhân được hợp nhất chỉ tại một địa điểm ở mỗi địa phương. Tại đây, các doanh nghiệp có thể được tư vấn về bất cứ vấn đề gì. Mục tiêu của những trung tâm thuộc hệ thống này là các SME khi đến đây đều có thể giải đáp mọi thắc mắc, không cần phải sang trung tâm thứ hai. Chính vì vậy hệ thống này có tên là “một điểm”.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, các SME còn có thể nhận hỗ trợ qua hệ thống internet thông qua một hệ thống các trang web có tên là J-Net21.
Các hệ thống hỗ trợ này đều có hệ thống đánh giá hiệu quả. Thông qua đó chính phủ có thể biết được hiệu quả thực tế của các biện pháp hỗ trợ đã thực hiện. Từ đó chính phủ sẽ có những biện pháp hỗ trợ phù hợp hơn.
4. Khuyến khích hình thành các liên kết kinh tế Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Ở Nhật Bản, điều quan trọng hàng đầu là truyền thống của một cộng đồng hơn là của cá nhân, và đặc trưng này đã đóng góp nhiều vào tính chất đồng nhất của xã hội Nhật Bản. Trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực kinh tế của các SME nói riêng, đặc điểm này cũng đóng một vai trò quan trọng. Có thể thấy điều đó qua những đóng góp của các keiretsu và các hiệp hội doanh nghiệp đối với các thành tựu mà kinh tế Nhật đã đạt được trong nhiều thập niên qua. Sự hình thành và phát triển của các keiretsu cũng như sự liên kết giữa các công ty Nhật có thể xuất phát từ đặc điểm truyền thống, từ yêu cầu của tình hình thực tế nhưng cũng không thể phủ nhận được những tác động của các chính sách mà chính phủ Nhật đã thực hiện.
Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khích việc thành lập sự liên kết giữa các doanh nghiệp. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể liên kết chặt chẽ hơn, có sự hợp tác hỗ trợ nhau nhiều hơn. Mặc dù, những sự liên kết này có thể là một trong những yếu tố tạo ra tính chất “co cụm và khép kín” của thị trường Nhật Bản nhưng khi so sánh với những gì mà nó đã làm được cho nền kinh tế Nhật thì quả thật điều đó là xứng đáng. Hơn nữa, sự liên kết chặt chẽ của các doanh nghiệp với chính quyền các cấp, các viện, các trường đại học…cũng rất đáng để Việt Nam học tập.
Với điểm xuất phát thấp, năng lực cạnh tranh không cao, các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ không đủ khả năng chống chọi với những doanh nghiệp lớn, những công ty xuyên quốc gia. Vì vậy, nếu muốn tồn tại các SME Việt Nam không còn con đường nào khác phải tăng cường các mối liên kết kinh tế. Đối với các SME Việt Nam hiện nay, vấn đề trước mắt vẫn là thầu phụ công nghiệp. Trong những nghiên cứu mới đây về thầu phụ công nghiệp do Trung tâm hỗ trợ SME đưa ra thì các SME Việt Nam dường như đang rất khó khăn trong việc lọt vào chuỗi cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Cho dù đây được xem như là một trong những chiến lược thị trường ngách tối ưu song những gì mà sản phẩm Việt Nam len chân được vào các hãng tên tuổi cho tới thời điểm này chỉ là thùng carton và xốp chèn. Do vậy, liên kết giữa SME với hệ thống ngân hàng, các cơ quan chính phủ, các hiệp hội ngành nghề và với các SME chính là cơ hội để các SME của Việt Nam định vị trong chuỗi giá trị toàn cầu, là con đường để các SME Việt Nam lớn mạnh.
5. Thực hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành
Có thể thấy, các chính sách chính phủ Nhật đưa ra đều đã được thực hiện một cách hiệu quả. Mỗi chính sách đưa ra đều được theo dõi, kiểm tra sát sao tình hình thực hiện. Hàng năm, Nhật Bản đều tổ chức các cuộc điều tra, khảo sát về môi trường hoạt động, về hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ. Từ đó, chính phủ sẽ có những điều chỉnh về biện pháp, những chương trình phù hợp với tình hình thực tế hơn. Do vậy, những chính sách, biện pháp mà Nhật đã thực hiện có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của các SME. Những chính sách đó, một mặt phát huy hết tiềm lực của các SME. Mặt khác, loại bỏ những hạn chế, bất lợi đối với sự phát triển của các SME. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, công tác theo dõi kiểm tra tình hình thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư còn yếu. Việc theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ SME hầu như không được tiến hành thường xuyên, nên không đánh giá được tác động thực sự của các chính sách này. Việc phối hợp giữa các cơ quan thực thi chính sách còn chưa đồng đều ở các ngành và địa phương. Việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ SME ở một số ngành và địa phương vẫn chưa tốt.
Chính sách hỗ trợ của Nhà nước là đúng đắn, song một số Bộ, ngành hướng dẫn triển khai chậm, có khi các quy định dưới Luật lại chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật; cơ quan cấp dưới không tuân thủ đúng quyết định, chỉ thị của cấp trên; có nhiều cơ quan Nhà nước cùng quản lý một lĩnh vực…Do vậy, có tình trạng chính sách ưu đãi của Chính phủ không đến được với các doanh nghiệp.
Do vậy, để các chính sách hỗ trợ SME thật sự phát huy tác dụng, trước hết cần tập trung tổ chức thực hiện tốt các quy định hiện hành. Đồng thời, cần sớm phát hiện các quy định bất cập để có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời và ban hành những cơ chế chính sách mới để tạo sự đồng bộ, hỗ trợ SME hiệu quả hơn.
III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN SME Ở VIỆT NAM
Từ những bài học kinh nghiệm của Nhật và tình hình thực tế tại Việt Nam, có thể thấy trong thời gian trước mắt, Việt Nam cần tiến hành một số biện pháp như sau:
1. Đổi mới nhận thức, quan điểm và định hướng về SME trong bối cảnh hiện nay
Ở Việt Nam, nhận thức và quan điểm về việc phát triển SME hình thành khá muộn so với các quốc gia trên thế giới. Mặc dù hiện nay vai trò của các SME đã được khẳng định và không ngừng tăng lên nhưng còn có những nơi không nhận thức hết vai trò và đánh giá không đúng khả năng của các SME. Hơn nữa, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay càng đòi hỏi cần phải có sự đổi mới nhận thức, quan điểm và định hướng về SME.
Ở nước ta đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều hợp tác nghiên cứu về SME, song đến nay gần như vẫn chưa có các văn bản pháp lý chính thức về loại hình doanh nghiệp này. Vấn đề còn đang dừng lại ở thuật ngữ và những định hướng chung (mặc dù Chính phủ đã có những văn bản như: Nghị định số 90/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Chỉ thị số 27/2023/CT-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luật Doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;…). Vì vậy, việc đầu tiên là cần phải khẩn trương xúc tiến đầu tư kinh phí và lực lượng để nghiên cứu và ban hành ngay các văn bản luật hoặc nghị định Chính phủ về vị trí, vai trò, tiêu chí đánh giá, cũng như các chính sách hỗ trợ cho SME.
2. Tạo môi trường thuận lợi cho SME Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
2.1. Xây dựng môi trường pháp lý đồng bộ
Để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của SME. Điều đầu tiên là cần phải hoàn thiện môi trường pháp lý chung. Mặc dù hệ thống pháp luật của Việt Nam điều chỉnh hoạt động của các SME trong thời gian qua đã thường xuyên được ban hành mới, bổ sung và sửa đổi. Tuy nhiên, trong thời gian tới Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh khung khổ pháp lý cho một sân chơi bình đẳng đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu. Cụ thể là: cần hoàn thiện hơn nữa khung khổ pháp lý để tự do hoá hơn nữa quyền kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc gia nhập và rời khỏi thị trường của doanh nghiệp; thiết lập khung khổ pháp lý cho việc duy trì đối thoại thường xuyên và hiệu quả giữa chính phủ với doanh nghiệp, giữa chính quyền địa phương với doanh nghiệp, giữa các cơ quan nhà nước khác với doanh nghiệp để đảm bảo các cuộc đối thoại này là hữu ích và thiết thực, mang lại lòng tin cho doanh nghiệp và tăng thêm trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Ngoài ra,Việt Nam cũng cần hoàn chỉnh khung khổ pháp lý cho hỗ trợ SME (ban hành Luật về các hoạt động hỗ trợ phát triển SME). Khung khổ này cần quy định bản chất của sự hỗ trợ, đối tượng được hỗ trợ thông qua các chương trình, các hình thức hỗ trợ, trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với việc hỗ trợ SME, xác định rõ vai trò của Nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong việc hỗ trợ phát triển SME.
2.2. Cải thiện môi trường kinh doanh
Không những tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi trong nước, trong điều kiện hội nhập kinh tế mạnh mẽ như hiện nay nhà nước cần có những biện pháp thích hợp để các SME có thể hoạt động thuận lợi hơn nữa ở thị trường nước ngoài. Để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, các cơ quan ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò tích cực hơn nữa trong việc cung cấp thông tin về pháp luật, thị trường, thị hiếu, yêu cầu chất lượng sản phẩm, các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm của các nước giúp SME trong nước có thể thu thập được đầy đủ thông tin, từ đó xây dựng được chiến lược thâm nhập thị trường hiệu quả. Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cần đẩy mạnh hoạt động phối hợp với các SME trong nước tổ chức chiến dịch quảng cáo, triển lãm hàng Việt Nam ở nước ngoài. Vì hiện nay, trong hầu hết các chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư, tham gia hội chợ ở nước ngoài do Nhà nước tổ chức thì các doanh nghiệp lớn của Nhà nước luôn là đối tượng được ưu tiên trước, “phần còn lại” mới dành cho doanh nghiệp tư nhân…Bên cạnh đó còn có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp ở trung tâm kinh tế như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.. với các doanh nghiệp tại các địa phương, cơ hội tiếp cận chương trình xúc tiến thương mại của Nhà nước là rất chênh lệch giữa các doanh nghiệp. Nhà nước cần hỗ trợ mạnh hơn nữa để nâng cao năng lực của mạng lưới xúc tiến thương mại, hỗ trợ đại diện thương vụ tại các nước nhằm tăng cường năng lực cho các tổ chức xúc tiến thương mại trong hoạt động phát triển thị trường cho SME.
2.3. Tạo môi trường tâm lý xã hội tích cực Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Ngoài ra, cũng cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền và phổ biến nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của các SME. Một mặt, tiếp tục tạo môi trường tâm lý xã hội tích cực cho SME thông qua việc tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với SME. Mặt khác, động viên khích lệ, biểu dương, khen thưởng kịp thời những doanh nhân kinh doanh thành công, có nhiều đóng góp cho xã hội. Ngoài ra, cũng cần giáo dục văn hoá kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp…Trên cơ sở đó, tiến tới xoá bỏ mặc cảm về tâm lý xã hội đối với SME, giúp các nhà kinh doanh dần khắc phục tâm lý e dè, thiếu tự tin để họ yên tâm huy động các nguồn vốn cho đầu tư, nhằm phát huy nội lực, phát triển sản xuất kinh doanh. Chính điều này sẽ là động lực tạo những điều kiện thuận lợi hơn cho các SME trong quá trình hoạt động và phát triển.
3. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các SME trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo ra nhiều cơ hội, thuận lợi; mặt khác cũng tạo ra những khó khăn, thách thức rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các SME. Càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, các SME phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Muốn tồn tại và phát triển các SME buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân. Do vậy, sự hỗ trợ của Nhà nước để nâng cao khả năng cạnh tranh của các SME là rất cần thiết.
3.1. Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn
Do yếu thế về quy mô nên các SME rất khó tiếp cận vốn. Để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn, cần chú ý một số biện pháp như: đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà cho các doanh nghiệp để họ có những giấy tờ cần thiết thế chấp vay vốn. Sớm thành lập quỹ đầu tư vốn hoặc đầu tư mạo hiểm của địa phương từ nhiều nguồn khác nhau như ngân sách nhà nước, các nguồn tài trợ quốc tế, đóng góp của các doanh nghiệp. Mục đích chủ yếu là cho vay đối với những dự án theo các ý tưởng mới, có triển vọng, có độ rủi ro cao nhưng cũng có thể thu được lợi nhuận lớn. Ngoài ra, để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được với ngân hàng, cần thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng là trung gian kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp; các cơ quan chức năng có thể cung cấp thông tin cần thiết để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn nước ngoài.
3.2. Hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp
Để hỗ trợ các SME trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có sự nối kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, thông qua đó để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp, xây dựng nội dung, chương trình phù hợp. Ngoài ra, các SME cần hợp tác chặt chẽ với các trung tâm nghiên cứu khoa học; Nhà nước cần có cơ chế tài chính hỗ trợ các SME trong hoạt động đào tạo, có chính sách khuyến khích mở rộng các hình thức đào tạo lại doanh nghiệp. Tạo điều kiện và khuyến khích hình thành các trung tâm đào tạo, thu hút người tài từ nhiều nguồn để bổ sung cho đội ngũ cán bộ đào tạo nghề. Ngoài ra, cần khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường hợp tác, liên kết trong đào tạo , thông qua các hội nghề nghiệp để trao đổi kinh nghiệm; có chính sách thu hút kiều bào ở nước ngoài góp vốn, kiến thức về tham gia công tác đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Cần khuyến khích các công ty tư vấn cung ứng các dịch vụ đào tạo. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
3.3. Hỗ trợ về công nghệ
Cần có chủ trương chính sách về công nghệ đối với khu vực SME. Một mặt, khuyến khích việc nghiên cứu và phát triển tại các SME. Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các SME có thể tiếp cận được với công nghệ cao. Việt Nam có thể học tập những kinh nghiệm mà Nhật đã áp dụng thành công trong việc nhập khẩu các phát minh khoa học có khả năng ứng dụng thực tiễn cao. Bên cạnh đó, cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các tổ chức làm công tác nghiên cứu phát triển như các cơ quan, tổ chức khoa học công nghệ, các trường đại học, các viện nghiên cứu trong việc chuyển giao công nghệ, cung cấp công nghệ thích hợp. Kinh nghiệm ở Nhật Bản cho thấy, Nhật đã tìm cách gắn kết các trường đại học với các doanh nghiệp, buộc các nhà nghiên cứu, giảng dạy phải gắn với thực tế nên đã có rất nhiều sáng kiến, giải pháp tốt giúp đỡ cho các doanh nghiệp trong việc cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới.
3.4. Hỗ trợ về cung cấp thông tin cho doanh nghiệp
Để hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin trong và ngoài nước như: thông tin về thị trường, thông tin về pháp luật, chính sách, thông tin về công nghệ, về nguồn nguyên liệu…Hiện nay, các doanh nghiệp thiếu thông tin rất nghiêm trọng và do vậy làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Để giúp các SME có thông tin, cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức. Hình thức hỗ trợ có thể là hình thành các cơ sở dữ liệu cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, phát triển “ chính phủ điện tử”. Ngoài ra, cần tổ chức cho doanh nghiệp tiếp xúc với các cơ quan chức năng, các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài… Khuyến khích hình thành và hỗ trợ các tổ chức cung cấp thông tin, các hiệp hội, câu lạc bộ…Các hiệp hội và tổ chức này có thể tổ chức sinh hoạt, giao lưu, giới thiệu, và cập nhật thông tin, kinh nghiệm hoạt động trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho sự phát triển của từng SME thành viên.
3.5. Phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh đối với các SME
Một trong những giải pháp mà Nhà nước cần thực hiện trong thời gian tới là xây dựng và phát triển đội ngũ các nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh chuyên nghiệp, có chất lượng cao. Để làm được điều đó, cần thành lập các cơ sở đào tạo chuyên gia cung cấp dịch vụ về kế toán, kiểm toán, tư vấn chiến lược phát triển kinh doanh…Đồng thời phải thu hút cả các giảng viên có kinh nghiệm trên thế giới tham gia vào việc đào tạo đội ngũ này. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Nhà nước cũng cần tăng cường hỗ trợ để phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh. Chính phủ cần hỗ trợ cho các nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh nhằm tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực: nguồn nhân lực, máy móc, công nghệ, kỹ thuật và kỹ năng tiếp thị…để họ có thể đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng. Hàng năm, thông qua các tổ chức và bằng các cơ chế thích hợp cần đánh giá khả năng của các nhà cung cấp dịch vụ dựa trên các tiêu chuẩn và điều kiện đã đặt ra. Dựa trên đánh giá này, chính phủ lập ra một danh sách các nhà cung cấp đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng sử dụng dịch vụ. Danh sách này cần được thông tin rộng rãi cho các SME biết và cần hỗ trợ cho các nhà cung cấp để họ có thể tăng khả năng cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các SME là rất cần thiết. Tuy nhiên, để hỗ trợ một cách hiệu quả, trước hết cần ưu tiên hỗ trợ những SME trong những ngành hàng có tiềm năng phát triển, có sức cạnh tranh nhất.
4. Khuyến khích hình thành và tăng cường các mối liên kết giữa doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tư vấn …
Để liên kết tốt cần phải tập hợp các doanh nghiệp vào trong một tổ chức kinh doanh mạnh, chẳng hạn như các tập đoàn kinh tế hoặc trong một hiệp hội ngành hàng hay một hiệp hội theo vùng lãnh thổ để phối hợp hoạt động. Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 200 hội nghề nghiệp. Tuy nhiên, nhiều hội nghề nghiệp còn mang tính hình thức, chưa hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Do vậy, cần khuyến khích thành lập hội nghề nghiệp và nâng cao vai trò của các hội nghề nghiệp trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trao đổi kinh nghiệm, cung cấp thông tin, tìm kiếm hợp đồng…
Ngoài ra, chính phủ cũng cần có những biện pháp khuyến khích, hỗ trợ để các SME có thể làm thầu phụ công nghiệp cho các tập đoàn lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, các SME có nhiều cơ hội liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh, thầu phụ trên nhiều mặt: cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, hợp tác cung cấp đầu vào, tham gia một số công đoạn hay sản xuất một số bán thành phẩm, tham gia vào khâu phân phối sản phẩm…thì việc hỗ trợ, khuyến khích các SME làm thầu phụ càng trở nên cần thiết. Mặc dù, hiện nay những hoạt động thương mại này đã được quy định song mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niêm, chưa nói đến việc phát triển sâu hơn hoặc giải thích kỹ hơn. Do vậy, cần phải có những quy định hoặc khung pháp lý cụ thể hơn cho những hoạt động thương mại có tính đặc thù nói trên. Đó là những quy định đảm bảo cho việc thực hiện các hợp đồng thầu phụ trên thị trường công nghiệp như: giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng.
Sự thành công của các SME Nhật Bản cũng phần lớn do sự gắn bó, phối hợp hoạt động với các doanh nghiệp lớn. Sự phát triển của các doanh nghiệp lớn không chỉ còn là tấm gương cho các doanh nghiệp nhỏ mà còn là chỗ dựa cho họ trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Đó không chỉ đơn thuần là việc kết hợp các lợi thế qui mô để làm năng động nền kinh tế, mà còn là con đường tất yếu để định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
5. Đẩy mạnh công tác theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện
Các chính sách được ban hành mà không được thực hiện tốt và triệt để thì coi như việc xây dựng các chính sách là vô ích, có khi còn phản tác dụng. Vì vậy, cần phải xem công tác thực hiện là yếu tố có quan hệ gắn bó hữu cơ đối với công tác ban hành. Khi ban hành các chính sách cần có các quy định cụ thể, rõ ràng về việc thực hiện các chính sách đó. Cụ thể là, cần xác định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan ở cả Trung ương và địa phương, tránh tình trạng chồng chéo về thẩm quyền dẫn đến vô hiệu hóa lẫn nhau. Đối với từng vấn đề cụ thể, phải xác định rõ thẩm quyền của từng cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan này với nhau và giữa các cơ quan này với các SME. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương cần theo dõi một cách sát sao quá trình thực hiện. Từ đó các chính sách hỗ trợ SME mới có thể phát huy hiệu quả một cách tốt nhất.
Như vậy, trong chương III chúng ta có thể thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Nhật Bản. Trên cơ sở đó, từ những bài học kinh nghiệm phát triển SME của chính phủ Nhật, nội dung trong chương III đã trình bày các biện pháp nhằm hoàn thiện hơn chính sách phát triển SME tại Việt Nam.
KẾT LUẬN Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
Qua đề tài “Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật và bài học kinh nghiệm với Việt Nam”, chúng ta đã có một cái nhìn tổng quát về các chính sách phát triển SME của Nhật qua các giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Có thể nói, chính phủ Nhật trong từng giai đoạn đã và đang đưa ra được nhiều chính sách hỗ trợ hiệu quả nhằm phát triển và nâng cao vai trò của các SME.
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các chính sách phát triển SME. Mặc dù các chính sách đã và đang không ngừng thay đổi và nâng cao hiệu lực nhưng thực tế chưa thật sự khuyến khích phát triển các doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện các chính sách này còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện.
Trong thời gian tới Việt Nam cần có chiến lược phát triển SME một cách đầy đủ; tiếp tục giải quyết những khó khăn vướng mắc đối với các SME, nhất là chính sách thuế, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, chính sách huy động vốn, chính sách thị trường…; phát huy sức mạnh tổng hợp của chính quyền trung ương, địa phương, các tổ chức, các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ, các doanh nghiệp lớn…trong việc hỗ trợ SME. Như vậy, sự hỗ trợ thực sự có hiệu quả khi có sự nỗ lực từ ba phía: Nhà nước, cộng đồng và bản thân các doanh nghiệp.
Hi vọng từ những bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển SME của Nhật, Việt Nam có thể có những chính sách hỗ trợ SME phù hợp và hiệu quả. Từ đó các SME có thể khắc phục khó khăn, phát huy được mọi thế mạnh để ngày càng vững mạnh, ngày càng có những đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân, đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu tạo ra những tiền đề về kinh tế đưa Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Khóa luận: Phát triển DN vừa và nhỏ của Nhật đối với Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật

