Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp ứng dụng mô hình thương mại điện tử trong ngành hàng không thông qua phân tích mô hình ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không Pacific Airlines này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Lời mở đầu
Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay và cụ thể trong Hội nghị tổng kết công tác hoạt động năm 2025 của Bộ Thông tin và truyền thông cho thấy tốc độ tăng trưởng viễn thông Việt Nam năm qua vượt mức bình quân thế giới, Internet đã và đang tác động đến rất nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những sự tác động rõ rệt của Internet đó là sự xuất hiện Thương mại điện tử (TMĐT), ảnh hưởng của nó lan rộng tới hầu hết các ngành, lĩnh vực như ngành giáo dục, ngành Bảo hiểm, thậm chí là Chính phủ điện tử, vì thế một ngành mà cũng góp phần không nhỏ tới sự phát triển kinh tế của đất nước là ngành hàng không cũng ko nằm ngoài vùng phủ sóng của thương mại điện tử. Hiện nay trên thế giới, thương mại điện tử được công nhận là một mô hình và công cụ kinh doanh giàu tiềm năng, hứa hẹn, mang lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí, mở rộng quy mô doanh nghiệp, rút ngắn chu kỳ kinh doanh và đặc biệt với các nước đang phát triển đây là cơ hội tạo bước nhảy vọt , rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. Sự thành công của thương mại điện tử cũng giống như các mô hình và hoạt động kinh doanh khác, đều phụ thuộc vào việc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng, phụ thuộc vào sự cân bằng giữa chi phí và doanh thu và vào một khung pháp lý có khả năng tăng cường lòng tin của doanh nghiệp, của người tiêu dùng vào việc kinh doanh qua mạng Internet.
Ở Việt Nam hiện nay, thương mại điện tử là một lĩnh vực tương đối mới, hiện đang được Chính phủ dành rất nhiều sự quan tâm với những chủ trương chính sách nhằm thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Thực tế đã cho thấy thương mại điện tử đang dần thâm nhập vào các hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trên thế giới nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, tạo nên những thế mạnh đột phá mới. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
TMĐT cũng đã và đang tạo ra sự thay đổi đáng kể cho các ngành dịch vụ, trong đó phải kể đến ngành hàng không, du lịch, khách sạn để ứng dụng Internet vào đặt vé máy bay, tàu lửa, tour du lịch, tư vấn v.v… qua đó góp phần đưa hình ảnh doanh nghiệp đến người tiêu dùng gồm cả người trong nước và nước ngoài một cách hiệu quả hơn. Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp hàng không xây dựng website để quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình, tận dụng việc khai thác kênh thông tin – tiếp thị Internet. Nhờ đó khách hàng trong nước và quốc tế có thể truy cập vào website để tìm thông tin về chuyến bay, giá vé, và nhiều dịch vụ khác do doanh nghiệp cung cấp.
Từ tất cả những lý do trên, em đã chọn đề tài “Giải pháp ứng dụng mô hình thương mại điện tử trong ngành hàng không thông qua phân tích mô hình ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không Pacific Airlines” với mục đích:
- Nghiên cứu vai trò của thương mại điện tử đối với hoạt động của ngành hàng không.
- Tìm hiểu thực trạng ứng dụng thương mại điện tử vào ngành hàng không trên thế giới và ở Việt Nam.
- Tìm hiểu thực trạng triển khai thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần hàng không Pacific Airlines (nay hoạt động dưới thương hiệu mới là Jetstar Pacific), từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của Hãng hiệu quả hơn cũng như cho toàn ngành nói
Với mục đích nghiên cứu như trên, khóa luận của em được kết cấu như sau:
- Chương 1: Tổng quan về Thương mại điện tử và tình hình triển khai thương mại điện tử tại Việt Nam.
- Chương 2: Phân tích mô hình ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không Pacific Airlines.
- Chương 3: Giải pháp ứng dụng thương mại điện tử cho ngành hàng không ở Việt
Do kiến thức, tài liệu hạn chế, khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội, đặc biệt là ThS Nguyễn Văn Thoan, cùng một số cán bộ, nhân viên đang công tác tại Hãng hàng không Pacific Airlines đã tạo điều kiện để em hoàn thành khóa luận này.
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thương mại điện tử ra đời là kết quả hợp thành của nền KT số hóa và “xã hội thông tin”. thương mại điện tử bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội, nó mang đến lợi ích tiềm năng và đồng thời thách thức lớn cho người sử dụng. thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu, tuy hiện nay đang áp dụng chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển nhưng các nước đang phát triển cũng bắt đáu tham gia . Toàn cầu đang hướng tới giao dịch thông qua thương mại điện tử. thương mại điện tử được đánh giá là một phát kiến quan trọng nhằm thúc đẩy nền KT thế giới trong thế kỷ 21. Giờ đây, thương mại điện tử có lẽ ko phải là chiến lược mà các quốc gia có thể chọn lựa hoặc không, bởi nếu quốc gia nào không nắm lấy cơ hội này sẽ có nguy cơ tụt hậu một cách nghiêm trọng, Cuộc cách mạng kinh doanh điện tử sẽ là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển để tận dụng nhằm phát triển kinh tế của đất nước mình. Nếu không bắt kịp với bước tiến này khoảng cách của các nước đó với các nước phát triển sẽ còn gia tăng nhanh chóng. Do đó, phát triển thương mại điện tử trở thành vấn đề có tính chất sống còn đới với các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Trong xu thế đó, các doanh nghiệp hàng không cũng ra sức đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử và dần trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động của các doanh nghiệp này. Với ý nghĩa quan trọng đó, chương 1 sẽ nghiên cứu các kiến thức tổng quan về thương mại điện tử như: khái niệm và đặc trưng của thương mại điện tử, điều kiện tiền đề để ứng dụng thương mại điện tử, đánh giá lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử, các mô hình thương mại điện tử cơ bản và các hình thức hoạt động của thương mại điện tử, khóa luận sẽ đi sâu vào thanh toán điện tử và marketing điện tử bởi đây là hai ứng dụng thương mại điện tử cơ bản dễ thấy nhất đang được áp dụng trong ngành hàng không ở Việt Nam, là đối tượng mà khóa luận đang nhắm đến. Cuối cùng là tìm hiểu và nghiên cứu thực tế triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam.
I. Tổng quan về thương mại điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
1. Khái niệm Thương mại điện tử.
Sau khi Internet ra đời và được sử dụng rộng rãi, các doanh nghiệp nhận thấy rằng Internet giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày sản phẩm, cung cấp, chia sẻ thông tin liên lạc với các đối tác trong và ngoài nước một cách nhanh chóng, thuận tiện và nhất là rất kinh tế. Từ đó, các doanh nghiệp đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình và từ đây khái niệm Thương mại điện tử (TMĐT) bắt đầu được hình thành. Với sự hỗ trợ đắc lực của Internet, thương mại điện tử đã trở thành một môi trường kinh doanh mới cho các doanh nghiệp.
Hiện nay, thương mại điện tử có nhiều định nghĩa rộng, hẹp khác nhau do nhiều tổ chức quốc tế đưa ra như Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế UNCITRAL, Ủy ban Châu Âu, Tổ chức thương mại thế giới v.v.. và có nhiều cách gọi khác nhau về thương mại điện tử như “thương mại trực tuyến” (Online-Trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commercce), “kinh doanh điện tử” (Electronic Business), nhưng phổ biến nhất vẫn là “thương mại điện tử” (Electronic Commerce). Xét trên mỗi khía cạnh thì thương mại điện tử có những cách hiểu khác nhau:
- Từ góc độ truyền thông: thương mại điện tử là việc vận chuyển thông tin, các sản phẩm, dịch vụ, hoặc thanh toán thông qua các đường dây điện thoại, các mạng máy tính hoặc các phương tiện khác.
- Từ góc độ quá trình kinh doanh: thương mại điện tử là sự áp dụng công nghệ hiện đại nhằm tự động hóa các quá trình kinh doanh và nghiệp vụ kinh doanh. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Hoặc cũng có thể xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử là việc thực hiện các hoạt động thương mại dựa trên các phương tiện điện tử, đặc biệt là Internet và các mạng viễn thông. Các hoạt động thương mại bao gồm marketing, hỗ trợ khách hàng, cung cấp thông tin, mua bán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán v.v… Không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ các hoạt động thương mại nói trên dựa trên các phương tiện điện tử mới là ứng dụng thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể tận dụng thương mại điện tử phục vụ một hay một số hoạt động đó để mang lại hiệu quả kinh tế. thương mại điện tử nên được xem là công cụ bổ sung cho thương mại truyền thống để tăng hiệu quả kinh doanh.
Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán qua mạng Internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hóa (WTO).
Trong đó định nghĩa phổ biến nhất, rộng rãi nhất về thương mại điện tử là: “Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.” (Nguồn: Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban LHQ về Luật thương mại quốc tế – UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996).
Có thể thấy rằng phạm vi của thương mại điện tử là rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong rất nhiều lĩnh vực áp dụng thương mại điện tử.
2. Đặc trưng của Thương mại điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
2.1. Giao dịch thương mại điện tử là giao dịch không giấy tờ (Paperless transactions)
Khi thực hiện giao dịch thương mại điện tử, tất cả các văn bản đều được thể hiện bằng các dữ liệu tin học, băng ghi âm hay các phương tiện điện tử khác. Đặc trưng này làm thay đổi căn bản các giao dịch bởi khi đó độ tin cậy không còn phụ thuộc vào cam kết bằng giấy tờ mà bằng sự tin cậy lẫn nhau giữa các đối tác.
Giao dịch không giấy tờ tiết kiệm đáng kể chi phí và nguồn nhân lực để chu chuyển, lưu trữ và tìm kiếm các văn bản khi cần. Người sử dụng thông tin có thể tìm kiếm ngay trong ngân hàng dữ liệu của mình mà không cần người khác tham gia nên ý tưởng hay ý đồ kinh doanh sẽ được bảo vệ an toàn. Tuy nhiên, việc giao dịch không giấy tờ này lại đòi hỏi kỹ thuật bảo đảm an ninh và an toàn dữ liệu, vì trong dây truyền nghiệp vụ thương mại điện tử, các mối hiểm họa có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào, với cả máy khách, máy chủ, trên các kênh truyền thông, nhất là Internet.
2.2. Sự phụ thuộc vào công nghệ và trình độ CNTT của người sử dụng.
Muốn phát triển thương mại điện tử, sự đầu tư, xây dựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thương mại điện tử như mạng máy tính và khả năng tiếp nối của mạng với cơ sở dữ liệu thông tin, tốc độ đường truyền, hệ thống thanh toán trực tuyến, trình độ bảo mật v.v… là vô cùng cấp thiết.
Hiện nay, mạng internet gần như là yếu tố quyết định cho mọi hình thức hoạt động của thương mại điện tử. Công nghệ càng đi lên thì thương mại điện tử càng có cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, đồng nghĩa với nó là doanh nghiệp phải tăng chi phí đầu tư cho công nghệ và người sử dụng phải luôn cập nhật những kiến thức công nghệ mới bởi trong thương mại điện tử, các bên tham gia không gặp nhau trực tiếp mà thông qua mạng, khi đó việc chia sẻ thông tin giữa các bên nhanh hơn, nhưng đòi hỏi họ phải có khả năng sử dụng.
Hơn nữa, thương mại điện tử là việc kinh doanh trên các phương tiện điện tử nên nó sẽ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi công nghệ, mà như chúng ta biết, công nghệ đang biến đổi từng ngày. Vì vậy, người tham gia kinh doanh thương mại điện tử cũng phải không ngừng học hỏi để theo kịp xu hướng đó, tức là phải sử dụng công nghệ thành thạo và có kiến thức, kỹ năng tổng hợp về quản trị kinh doanh, về thương mại, v.v… Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
2.3. TMĐT có tốc độ nhanh.
Nhờ áp dụng công nghệ hiện đại. tất cả các bước của quá trình giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máy tính, nhờ ứng dụng CNTT đã cho phép rút ngắn độ dài của các văn bản giao dịch. Các dịch vụ phần mềm ngày càng đa dạng, hoàn hảo, tốc độ đường truyền nhanh cho phép rút ngắn thời gian trao đổi, giao tiếp, ký kết các văn bản giao dịch điện tử. Tất cả những điều này làm cho thương mại điện tử đạt tốc độ nhanh nhất trong các phương thức giao dịch thương mại.
3. Điều kiện tiền đề để ứng dụng thương mại điện tử.
3.1.Nhận thức xã hội.
3.1.1. Sự nhận thức của Chính phủ nhằm để ra Chính sách và chiến lược quốc gia.
Đường lối chính trị của một nước có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của thương mại điện tử. Nếu một nước có chủ trương bảo hộ, không có chính sách mở cửa thì thương mại điện tử khó có cơ hội phát triển, bởi thương mại điện tử đồng nghĩa với sự phát triển của Internet và đi kèm với nó là sự tự do thông tin. Chính phủ từng nước phải quyết định xem xã hội thông tin nói chung và Internet nói riêng là một hiểm họa hay là một cơ hội. Quyết định đó không phải dễ dàng, ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 1997-1998 mới quyết định được và tuyên bố “đây là cơ hội” (sau một thời gian dài chống lại Internet vì nó chiếm mất vị trí của mạng Minitel vốn rất phổ biến trong nội bộ nước Pháp ). Từ khẳng định mang tính nhận thức chiến lược ấy mới có thể quyết định thiết lập môi trường kinh tế xã hội và pháp lý cho nền kinh tế số nói chung và cho thương mại điện tử nói riêng, cụ thể như quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, dịch vụ thu trả thuế, thư tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe .. và đưa các nội dùng của nền kinh tế số vào văn hóa giáo dục.
Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng, tri thức và công nghệ ngày nay đang phát triển như vũ bão và những gì đúng cho một vài năm trước ko nhất thiết đúng cho thời điểm hiện tại. Sự lan tỏa và thâm nhập mạnh mẽ của CNTT vào mọi mặt hoạt động kinh tế xã hội trên toàn thế giới mang tính quy luật tất yếu, khiến cho những ai nói “Không” với nó sẽ vĩnh viễn tự cô lập mình và bị loại khỏi tiến trình văn minh nhân loại. Vào những năm đầu thế kỷ 21 này, câu hỏi đặt ra cho các Chính phủ và doanh nghiệp không còn là “có chấp nhận thương mại điện tử hay không”, “triển khai thương mại điện tử được gì, mất gì?” mà phải là “chấp nhận và triển khai thương mại điện tử như thế nào”. Một khi mọi đối tượng đều ý thức được tính tất yếu của thương mại điện tử, việc triển khai sẽ được tiến hành nhanh chóng và nhất quán với quyết tâm cao.
3.1.2. Nhận thức về tác động văn hóa xã hội của Internet. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Tác động văn hóa xã hội của Internet đang là mối quan tâm quốc tế, vì hàng loạt tác động tiêu cực của nó đã và đang xuất hiện: Internet trở thành môi trường lý tưởng cho giao dịch mua bán ma túy, buôn lậu, các tuyên truyền văn hóa phẩm độc hại, bom thư, tuyên truyền kích động bạo lực, phân biệt chủng tộc, kỳ thị tôn giáo. Ở một số nơi như Trung Quốc, Việt Nam, Trung Đông … Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối sử dụng nhằm kích động lật đổ Chính phủ và gây rối loạn trật tự an toàn xã hội. Kiểm soát và trấn áp các loại tội phạm trên mạng là vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các lực lượng, các quốc gia.
Ngoài ra phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sống ko phù hợp với bản sắc dân tộc, đặc biệt ở các nước Châu Á. Đây là thách thức quan trọng đối với nhiệm vụ phát triển của các xã hội hiện nay, vì toàn cầu hóa cũng như sự bùng nổ của Internet là một thực tế buộc phải thích ứng. Một khi các nền văn hóa khác nhau là thành viên của hệ thống Internet thì nhu cầu về sự lành mạnh, trong sáng của thông tin là rất lớn, sao cho con người có thể hành động theo xu thế toàn cầu hóa nhưng vẫn duy trì được giá trị văn hóa quốc gia.
3.2. Hạ tầng cơ sở công nghệ.
TMĐT là kết quả của sự phát triển CNTT và kỹ thuật số hóa. Vì vậy, để phát triển thương mại điện tử, cơ sở hạ tầng công nghệ phải bảo đảm có một hệ thống các chuẩn của doanh nghiệp, của quốc gia và chuẩn này phải phủ hợp với quốc tế. Các chuẩn này gắn với hệ thống các cơ sở kỹ thuật và thiết bị ứng dụng của quốc gia như một phân hệ của hệ thống mạng toàn cầu.
Hạ tầng cơ sở công nghệ của thương mại điện tử còn phải bảo đảm tính kinh tế, nghĩa là chi phí của hệ thống thiết bị kỹ thuật và chi phí dịch vụ phải hợp lý để các tổ chức và cá nhân có khả năng chi trả và bảo đảm giá cả hàng hóa, dịch vụ thực hiện qua giao dịch thương mại điện tử không cao hơn so với thương mại truyền thống.
Cụ thể, hạ tầng cơ sở công nghệ để thành công trong thương mại điện tử phải ở mức độ phát triển nhất định bao gồm:
- Hạ tầng an toàn bảo mật
- Hạ tầng về mạng
- Công cụ quản lý dữ liệu
- Hệ thống điều khiển và phần cứng
- Môi trường ứng dụng server
- Công cụ phát triển ứng dụng
- Cơ sở quản lý hệ thống.
Mức độ phát triển nhất định đó của hạ tầng công nghệ thông tin phải luôn đáp ứng được nhu cầu ngày một nâng cao của việc kinh doanh thương mại điện tử, tức là nó phải đảm bảo các yêu cầu linh hoạt, tính quy mô và tính an toàn tin cậy. Tính linh hoạt của hạ tầng công nghệ cho phép thương mại điện tử có thể dễ dàng được tiếp cận hay nhanh chóng thích ứng với những ứng dụng mới. Chẳng hạn, nó phải bảo đảm tính kết nối toàn cầu qua các chuẩn mở khác nhau như TCP/IP hay HTML/JavaTM. Hay như trước một xu hướng: hiện nay, người tiêu dùng truy cập internet không chỉ qua các máy tính cá nhân mà còn qua nhiều phương tiện như điện thoại di động, các thiết bị số cá nhân như PDA… thì công nghệ kinh doanh cho kinh doanh trực tuyến cũng phải thích nghi với những phương thức tiếp cận mới này. Đảm bảo tính quy mô của công nghệ tức là đảm bảo khả năng xử lý khối lượng công việc ngày càng tăng. Thực tế là, với sự phát triển hàng ngày của công nghệ thông tin, để tăng tính quy mô thì công nghệ cũng phải thường xuyên nâng cấp, và chi phí cho việc nâng cấp liên tục này rất tốn kém. Tính an toàn tin cậy của hạ tầng công nghệ thông tin ko thể đạt được nếu chỉ có những ứng dụng mật mã (password) thông thường. Để bảo mật thông tin, các doanh nghiệp cần áp dụng các chứng chỉ số an toàn (như chữ ký điện tử hiện nay đang được sử dụng rộng rãi) và có các chính sách quản lý thông tin cụ thể. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
3.3. Hạ tầng cơ sở nhân lực.
Phát triển thương mại điện tử đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao. Trước hết là đội ngũ các chuyên gia CNTT, đó là những người có kiến thức cao về CNTT được đào tạo ở nước ngoài, những cán bộ đào tạo chuyên ngành Tin ở các trường Đại học, hay những người đã qua đào tạo tin học từ các trung tâm tin học trên toàn quốc. Đây là lực lượng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, bởi họ là những người thường xuyên cập nhật những kiến thức về CNTT, nhanh chóng nắm bắt tình hình phát triển của công nghệ trên thế giới và có khả năng đưa vào ứng dụng trong môi trường và điều kiện kinh doanh cụ thể.
Đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trực tuyến, nhu cầu tuyển dụng nhân công của họ mặc dù ko nhiều nhưng yêu cầu đối với lực lượng này khá cao. Nhân viên làm việc trong môi trường kinh doanh điện tử ko những phải có năng lực chuyên môn về kinh doanh nói chung và về thương mại điện tử nói riêng mà còn phải thông thạo ngoại ngữ, các kỹ năng cơ bản về mạng. Rất nhiều công ty khi tham gia thương mại điện tử đã lập ra phòng Công nghệ thông tin với nhiệm vụ đưa doanh nghiệp tiếp cận được những mô hình công nghệ và thị trường mới.
Yếu tố cuối cùng là dân chúng. Họ là những người trực tiếp tham gia vào các giao dịch, mua bán. Vì vậy sự hiểu biết của mọi người về máy tính, Internet và thương mại điện tử cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Hiện nay do sự phổ biến của Internet qua những chiến dịch “đưa net về làng” mà dân chúng không còn mấy xa lạ với tin học, tuy nhiên không phải ai cũng có những kiến thức chuyên sâu về mạng và hiểu biết cặn kẽ những ứng dụng của Internet, đa số mới dừng lại ở mức độ biết đến máy tính điện tử. Do đó, cần phổ biến Internet một cách rộng rãi hơn nữa để mọi người hiểu về những lợi ích của thương mại điện tử, có như vậy mọi người mới tích cực tham gia giao dịch thương mại điện tử.
3.4. Hạ tầng cơ sở kinh tế. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Hạ tầng cơ sỏ kinh tế góp phần tạo môi trường cho thương mại điện tử phát triển. Nền kinh tế của đất nước càng vững mạnh thì thương mại điện tử càng có điều kiện phát triển. Những yếu tố của nền kinh tế như: năng lực kinh tế, mức sống người dân, năng suất lao động, sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng v.v.. đều là nền tảng cho thương mại điện tử. Bởi rõ ràng, nếu nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển cộng thêm hệ thống thông tin quốc gia yếu kém không phù hợp và không thích ứng được với các tiêu chuẩn quốc tế thì nó sẽ cản trở bước tiến của thương mại điện tử. thương mại điện tử sẽ không thể phát triển ở một nước mà mức sống của người dân thấp, vì vậy mọi người không thể chi trả cho những chi phí khi tham gia thương mại điện tử.
3.5. Hạ tầng cơ sở pháp lý.
Bên cạnh các yếu tố trên, môi trường pháp lý cũng là nhân tố không thể thiếu cho sự hình thành của thương mại điện tử, bởi có sự bảo đảm về luật pháp mọi người mới yên tâm giao dịch.
Cơ sở pháp lý của thương mại điện tử bao gồm các vấn đề như đạo luật và chính sách về thương mại điện tử. Để thương mại điện tử phát triển, hệ thống pháp luật của các quốc gia phải từng bước hoàn chỉnh để bảo đảm tính pháp lý của các giao dịch thương mại điện tử, của các hợp đồng và các chứng từ điện tử, của sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, bảo đảm các bí mật cá nhân của người tham gia giao dịch thương mại điện tử. Hạ tầng cơ sở pháp lý của thương mại điện tử cũng bao gồm các vấn đề xử lý hành vi vi phạm, phá hoại, cản trở, gây thiệt hại cho hoạt động thương mại điện tử trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Do thương mại điện tử mang tính chất toàn cầu nên những văn bản pháp luật về thương mại điện tử cũng cần có sự thống nhất cơ bản để hoạt động kinh doanh được đơn giản và hiệu quả.
3.6. An toàn bảo mật trong thương mại điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Đây là vấn đề tối quan trọng đối với sự phát triển của thương mại điện tử, hay cụ thể là với các doanh nghiệp đang tiến hành kinh doanh trên mạng cũng như các cá nhân, tổ chức khác. Ai cũng mong muốn các thông tin, giao dịch của họ được bảo mật trong bối cảnh các vụ tấn công trên mạng gây không ít tổn thất cho thương mại điện tử đang ngày càng gia tăng nhanh chóng. Hơn nữa các loại hình tấn công, phá hoại này ngày càng đa dạng, thương mại điện tử có thể bị phá hoại do các tin tặc (hacker) đột nhập từ bên ngoài hệ thống để ăn cắp dữ liệu, phá hỏng hệ thống thanh toán, lấy cắp thông tin tài khoản cá nhân, chiếm dụng tiền bất hợp pháp, giả mạo website, email của một cá nhân hay tổ chức nào đó nhằm đánh lừa người nhận tiết lộ thông tin cá nhân và tài khoản tín dụng (phishing) v.v…Do những vấn đề này, nhu cầu về bảo mật và an toàn ngày càng cao, nghĩa là cần gắn kết thương mại điện tử với các kỹ thuật bảo mật như: mã hóa, công nghệ bảo mật (SSL – Secure Sockets Layer), chữ ký điện tử (Electronic Signature).
- Hình 1. Phishing email
Trên đây là một email giả mạo y hệt mẫu email thật của ngân hàng nhằm đánh lừa người nhận khai báo thông tin cá nhân khi nhấp chuột vào địa chỉ trang web trong email này.
Bên cạnh vấn đề bảo mật thì việc bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ nội dùng trên trang web. Các hiểm họa đối với sở hữu trí tuệ là một vấn đề lớn bởi internet vốn được coi là một kho thông tin khổng lồ, các tài liệu có sẵn trên internet có thể được sử dụng và sao chép mà không cần hỏi ý kiến chủ nhân là một việc rất dễ dàng. Việc không có ý thức hoặc cố tình xâm phạm bản quyền xảy ra hàng ngày trên internet. Trong một vài năm gần đây, các tòa án phải giải quyết khá nhiều vụ tranh chấp về sở hữu trí tuệ và xung quanh hoạt động đăng ký tên miền (cybersquatting). Bởi vậy, bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng rất cần lưu tâm trong quá trình phát triển của thương mại điện tử.
4. Đánh giá lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
4.1. Lợi ích của thương mại điện tử.
4.1.1. Lợi ích đối với doanh nghiệp.
Giảm chi phí và tăng lợi nhuận: Kinh doanh trên mạng giúp các công ty giảm nhiều loại chi phí như chi phí giấy tờ, chi phí chia sẻ thông tin yêu cầu cung cấp giá cả, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống. Chi phí hoạt động của các cửa hàng điện tử thấp hơn nhiều so với cửa hàng truyền thống. Công ty Cisco Systems đã dự tính rằng mỗi tháng họ có thể bớt 500.000 cuộc gọi mỗi tháng và mỗi năm có thể tiết kiệm được hơn 500 triệu đô la khi kinh doanh qua mạng.
Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền thống, các doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và các đối tác trên thế giới, điều đó cũng cho phép doanh nghiệp có thể mua nguyên liệu đầu vào với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn.
Nhiều sự lựa chọn hơn: doanh nghiệp có thể đồng thời biết được nhiều loại sản phẩm và các dịch vụ từ nhiều người bán khác nhau, họ có thể cập nhật hàng ngày, hàng giờ. Thay vì nhiều người gửi thư từ, mang theo một quyền catalogue hoặc nhanh hơn là giao dịch qua fax, thì doanh nghiệp có thể truy cập ngay vào các trang web với nguồn thông tin phong phú và đa dạng hơn.
Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường.
Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng.
Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ giữa doanh nghiệp với trung gian và khách hàng cũng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Tăng cơ hội bán và mua: Trong thương mại điện tử, thỏa thuận về giá cả và chuyển giao các mặt hàng dễ dàng hơn bởi vì Web có thế cung cấp thông tin cạnh tranh về giá cả rất hiệu quả. thương mại điện tử đẩy mạnh tốc độ và tính chính xác để các doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin và giảm chi phí cho cả hai bên trong giao dịch.
Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon.cm, mua hàng theo nhóm, ebay.com đấu giá trực tuyến đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công này.
4.1.2. Lợi ích đối với người tiêu dùng.
Nhận được dịch vụ khách hàng tốt hơn: thương mại điện tử dường như đồng nghĩa với việc dịch vụ khách hàng nhanh hơn và chất lượng cao hơn. Thay vì phải gọi điện cho công ty và chờ nhân viên kiểm tra tài khoản của mình, giờ đây khách hàng chỉ cần truy cập trực tiếp vào tài khoản cá nhân của mình trên trang web, và thao tác này tốn có vài giây. Nó giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao chất lượng phục vụ.
- Giá thấp hơn, nhiều sự lựa chọn về hàng hóa, dịch vụ hơn: Do cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng, và phong phú hơn nên khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp, từ đó tìm ra mức giá phù hợp nhất.
- Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm…, sản phẩm dễ dàng được giao thông qua Internet, khách hàng chỉ việc tải xuống bằng phần mềm download có sẵn của các trình duyệt thông dụng như Internet Explorer hay Mozilla Firefox hoặc các phần mềm khác.
- Thuế: Trong giai đoạn đầu của thương mại điện tử, nhiều nước khuyến khích bằng cách miễn thuế đối với các giao dịch trên mạng.
4.1.3. Lợi ích đối với xã hội.
- Tăng phúc lợi xã hội: Các dịch vụ thanh toán điện tử áp dụng với việc trả thuế, lương hưu và phúc lợi xã hội với chi phí thấp, an toàn và nhanh chóng khi giao dịch qua Internet. thương mại điện tử có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tới những nơi xa xôi. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
- Nâng cao mức sống: Có nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp sẽ tạo ra áp lực giảm giá, do đó tăng khả năng mua sắm của khách hàng, nâng cao mức sống.
- Lợi ích cho các nước nghèo, các nước đang phát triển: Những nước này có thể tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và thương mại điện tử. Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng… Việc đào tạo qua mạng cũng nhanh chóng giúp các nước này tiếp thu công nghệ mới.
4.2. Hạn chế của thương mại điện tử.
Bên cạnh những lợi ích to lớn mà thương mại điện tử đem lại thì cũng có không ít những hạn chế mà đã khiến cho những người tham gia thương mại điện tử gặp không ít khó khăn. Mặc dù hầu hết mặt hàng đều có thể kinh doanh trên mạng nhưng cũng có một số mặt hàng không thuận lợi khi kinh doanh trực tuyến như quần áo do không thử được kích cỡ và chất liệu, thực phẩm tươi sống dễ hỏng, các đồ trang sức đắt tiền có giá trị lớn không thể kiểm tra một cách chính xác.
Nói chung, thương mại điện tử có hai loại hạn chế chủ yếu, đó là hạn chế về kỹ thuật và hạn chế về thương mại.
Hạn chế về kỹ thuật.
- Chưa có tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, an toàn và độ tin cậy.
- Tốc độ đường truyền Internet vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, nhất là trong thương mại điện tử.
- Các công cụ xây dựng phần mềm vẫn đang trong giai đoạn phát triển.
- Khó khăn khi kết hợp các phần mềm thương mại điện tử với các phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu truyền thống.
- Chi phí truy cập Internet vẫn còn
- Thực hiện các đơn đặt hàng trong thương mại điện tử B2C đòi hỏi phải có hệ thống kho hàng tự động lớn.
- Cần có các máy chủ thương mại đặc biệt (công suất, an toàn) đòi hỏi thêm chi phí đầu tư.
Hạn chế về thương mại. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
- An ninh và sự riêng tư là hai cản trở về tâm lý đối với người tham gia thương mại điện tử. Trong năm 2018, theo tạp chí Economist có 95% người Mỹ e ngại khi gửi thông tin về số thẻ tín dụng trên mạng, và hàng triệu khách hàng tiềm năng lo sợ bị mất số thẻ tín dụng trong các giao dịch trên Internet. Họ vẫn chưa cảm thấy thật sự tự tin khi tham gia vào các giao dịch trên mạng.
- Nhiều vấn đề về luật, chính sách, thuế chưa được làm rõ. Và một số chính sách chưa thực sự hỗ trợ tạo điều kiện để thương mại điện tử phát triển.
- Các phương pháp đánh giá hiệu quả của thương mại điện tử còn chưa đầy đủ, hoàn thiện.
- Chuyển đổi thói quen tiêu dùng từ thực sàng ảo cần thời gian. Một số người tiêu dùng cảm thấy không thoải mái và an tâm khi xem các hàng hóa trên màn hình máy tính. Họ vẫn không muốn thay đổi thói quen mua sắm truyền thống.
- Số lượng người tham gia chưa đủ lớn để đạt lợi thế về quy mô.
- Số lượng gian lận ngày càng tăng do đặc thù của thương mại điện tử.
- Thu hút vốn đầu tư mạo hiểm khó khăn hơn sau sự sụp đổ của hàng loạt các công ty dot.com.
5. Các mô hình thương mại điện tử cơ bản.
5.1. Mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp – B2B (Business to business)
Thương mại điện tử B2B là phương thức kinh doanh trong đó cả người bán và người mua đều là các doanh nghiệp. Họ thực hiện các giao dịch bằng cách sử dụng các phương tiện điện tử qua mạng Internet. Intranet và Extranet. B2B liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình thanh toán và thực hiện hợp đồng trong bất kỳ thời gian nào trong ngày. thương mại điện tử B2B đem đến một cách thức giao dịch mới, cũng như việc mở rộng dây chuyền cung ứng cho các doanh nghiệp. Có bốn loại hình giao dịch B2B: B2B định hướng người mua, B2B định hướng nhà cung cấp, B2B định hướng người trung gian và sàn đấu giá trực tuyến. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Giao dịch B2B thường là những giao dịch có giá trị lớn. Doanh nghiệp sử dụng hệ thống mạng máy tính để đặt hàng với nhà cung cấp của mình với các đơn hàng lớn. Mô hình B2B áp dụng trong hình thức kinh doanh có chứng từ giữa các công ty, các tổ chức, giữa công ty mẹ và công ty con trong cùng hiệp hội… Khi sử dụng mô hình B2B cần phải kiểm chứng được khách hàng và bảo mật thông tin mua bán thông qua các chữ ký điện tử của các công ty, tổ chức. .
Đặc điểm chính của thương mại điện tử B2B là các công ty phải tự động hóa quá trình giao dịch trao đổi và hoàn thiện quá trình này. Các giao dịch được thực hiện giữa các thành viên của chuỗi quản lý cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay giữa các đơn vị kinh doanh với bất kỳ một đối tác kinh doanh khác. Khác với chuỗi cung cấp hàng hóa truyền thống, khách hàng ở đây không phải là những cá nhân mà là các doanh nghiệp. Sự ra đời của thương mại điện tử B2B có thể giúp giảm bớt trung gian trong chuỗi cung ứng như nhà phân phối, nhà bán lẻ.
5.2. Mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với khách hàng – B2C (Business to Customer)
TMĐT B2C là hình thức thương mại điện tử rất phổ biến, là mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, trong đó khâu bán hàng trực tuyến, thanh toán trực tuyến và vận chuyển hàng hóa trực tuyến nhanh chóng và an toàn là phương thức kinh doanh quan trọng nhất. Mô hình B2C được áp dụng trong các mô hình siêu thị điện tử và các site bán hàng lẻ, bao gồm cả việc hỗ trợ khách hàng trực tuyến, các site kinh doanh du lịch, khách sạn, đặt vé máy bay v.v… Không giống như B2B, mô hình B2C sử dụng cho các hình thức kinh doanh không có chứng từ.
Một đặc tính rõ rệt nhất của thương mại điện tử B2C là khả năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp với khách hàng rất hiệu quả mà không cần có sự tham gia của khâu trung gian như nhà phân phối, bán buôn hoặc môi giới. Có thể xét mô hình thương mại điện tử B2C từ 2 góc độ:
- Từ phía doanh nghiệp: Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Mô hình thương mại điện tử B2C từ phía doanh nghiệp mô tả chu trình quản lý việc mua hàng của khách hàng, tức là các hoạt động doanh nghiệp cần thực hiện để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong quá trình mua hàng như: hoàn thành đơn hàng và giao hàng cho khách hàng cũng như thực hiện các hoạt động hậu cần cho kinh doanh của doanh nghiệp.
- Từ phía khách hàng:
Mô hình thương mại điện tử B2C cụ thể hóa hệ thống các hoạt động của người đi mua hàng thực hiện khi mua hàng hóa hoặc dịch vụ. Các doanh nghiệp cần nắm được điều này khi xây dựng chương trình quản lý thương mại điện tử.
Quá trình mua hàng của khách hàng khi tham gia giao dịch thương mại điện tử: bắt đầu bằng các bước tiền mua hàng, sau đó là mua hàng và cuối cùng là các bước hậu mua hàng. Quá trình tiền mua hàng bao gồm các hoạt động tìm kiếm thông tin và phát hiện các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng và lựa chọn sản phẩm từ nhóm những sản phẩm xác định trên cơ sở các tiêu chí so sánh. Quá trình mua hàng mô tả dòng các thông tin và các tài liệu có liên quan đến việc mua hàng và thương lượng giữa khách hàng và người bán về những điều khoản cụ thể như giá cả, điều kiện mua hàng, cơ chế thanh toán và thực hiện thanh toán. Giai đoạn hậu mua hàng là các hoạt động dịch vụ khách hàng để giải quyết khiếu nại của khách hàng, các dịch vụ đi kèm hoặc khách hàng có thể trả lại sản phẩm, v.v…
5.3. Các mô hình thương mại điện tử khác.
TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng – C2C (Customer to customer): Đây là mô hình thương mại điện tử giữa các cá nhân với nhau, họ có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách người bán hoặc người mua. Một cá nhân có thể tự lập website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá món hàng mình có, ví dụ: chodientu.com v.v…
TMĐT giữa doanh nghiệp với Nhà nước – B2G (Business to Government): Trong mô hình này, cơ quan Nhà nước đóng vai trò như khách hàng và quá trình trao đổi thông tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ quan Nhà nước cũng có thể lập các website, tại đó đăng tải những thông tin về nhu cầu mua hàng của mình và tiến hành việc mua sắm hàng hóa, lựa chọn nhà cung cấp trên website. Ví dụ Hải quan điện tử, thuế điện tử v.v..
TMĐT giữa cơ quan nhà nước và người tiêu dùng – G2C (Government to Customer): Mô hình G2C chủ yếu đề cập tới các giao dịch mang tính hành chính. Ví dụ: hoạt động đóng thuế qua mạng, trả phí đăng ký hồ sơ.
6. Tổng quan hệ thống thanh toán điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
6.1. Khái niệm thanh toán điện tử.
Việc giao dịch trong thương mại điện tử diễn ra hoàn toàn trực tuyến đòi hỏi phải có hệ thống thanh toán điện tử. Theo báo cáo quốc gia về kỹ thuật thương mại điện tử của Bộ thương mại: “Thanh toán điện tử (Electronic Payment) theo nghĩa rộng được định nghĩa là việc thanh toán tiền thông qua các thông điệp điện tử (Electronic Message) thay cho việc trao tiền mặt.” Theo nghĩa hẹp, thanh toán trong thương mại điện tử có thể hiểu là việc trả tiền và nhận tiền hàng cho các hàng hóa, dịch vụ được mua bán trên Internet. Chẳng hạn như: trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng; công ty trả lương nhân viên bằng cách trả tiền trực tiếp vào tài khoản ngân hàng v.v…
6.2. Các hình thức thanh toán của hệ thống thanh toán điện tử (Smart Card, Credit Card, DigiCash …)
Ngày nay, với sự phát triển của thương mại điện tử, thanh toán điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới : các máy rút tiền tự động (ATM – Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (Credit card). Thẻ mua hàng (Purchasing card), thẻ thông minh (Smart card), ví tiền điện tử (E-wallet), các chứng từ điện tử (như hối phiếu. giấy nhận nơ điện tử).. Việc xây dựng một hệ thống thanh toán tài chính tự động và chuyển tiền tự động (hệ thống các thiết bị tự động chuyển tiền từ tài khoản này sàng tài khoản khác trong hệ thống liên ngân hàng) là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công thương mại điện tử tiến tới nền KT số hóa. Cụ thể:
Thẻ thông minh (Smart Card): bản chất cũng giống thẻ tín dụng, là một thẻ làm bằng chất dẻo có gắn những con chip bên trong. Trong một số trường hợp, những bộ vi xử lý bên trong thẻ sẽ đóng vai trò làm thiết bị lưu trữ thông tin nhiều hơn thẻ tín dụng gấp trăm lần. Nói chung, bản thân những chiếc thẻ thông minh này là những máy tính siêu nhỏ ngoại trừ việc cung cấp năng lượng và làm thiết bị đầu cuối. Nhờ tính năng linh hoạt của mình, thẻ thông minh được sử dụng rất phổ biến ở Châu Âu và châu Á và được xem như giải pháp thích hợp cho việc thực hiện các giao dịch thanh toán trên mạng với mức độ an toàn bảo mật cao hơn rất nhiều so với thẻ tín dụng bởi nó cung cấp cho người sử dụng cả sự bảo vệ về phần cứng cả sự bảo vệ bằng phần mềm mã hóa ( Encryption – là một kỹ thuật bảo mật làm biến đổi dữ liệu từ hình thức đơn giản, rõ ràng sàng hình thức dữ liệu biến thành mật mã. Encryption có thể là một chiều nghĩa là mã hóa được thiết kế để ẩn thông tin dữ liệu đi và không bao giờ quay trở lại được, còn hai chiều là chuỗi ký tự được mã hóa có thể chuyển lại thành dạng text và đọc được.)
- Hình 2. Website của công ty Gemalto – công ty hàng đầu của Pháp về phát hành thẻ thông minh.
Tiền điện tử (E-Cash): là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành, sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, có thể áp dụng trong phạm vi một nước cũng như giữa các quốc gia. Tất cả đều được thực hiện bằng công nghệ kỹ thuật số hóa, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hóa” (DigiCash).
Ví điện tử (E – Wallet): thực chất là một nơi lưu trữ thẻ tín dụng trên internet, hay còn gọi là thẻ giữ tiền (Stored Value Card). Người giữ ví có thể chọn một trong số thẻ của mình để tiến hành mua hàng và một giao dịch hoàn toàn bảo mật được thực hiện. Ví điện tử này được cá nhân hóa bằng mật mã bảo vệ sử dụng giao thức SET (Secure Electronic Transactions).
- Hình 3. website của Nextcard ewallet Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính ( FEDI – Financial Electronic Data Interchange): trao đổi dữ liệu điện tử tài chính chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
Giao dịch điện tử của ngân hàng (Digital Bank): Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
- Thanh toán giữa ngân hàng và khách hàng (qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các Kiot, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng…).
- Thanh toán giữa các ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị).
- Thanh toán trong nội bộ hệ thống ngân hàng.
- Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác. ( Thanh toán liên ngân hàng ).
Hiện nay với sự phát triển không ngừng của thương mại điện tử, người ta dần được chứng kiến ngày càng nhiều những hình thức thanh toán mới góp phần làm đa dạng hệ thống thanh toán điện tử trên toàn cầu. Trong đó không thể không nhắc đến Paypal.com hiện đang rất được ưa chuộng trên thế giới từ việc chi trả cho việc mua hàng bán lẻ cho đến trả tiền học online v.v..
Paypal là một công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử, chuyên cung cấp các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền qua mạng Internet. Đây là dịch vụ thanh toán và chuyển khoản điện tử thay thế cho các phương thức truyền thống sử dụng giấy tờ như séc và các lệnh chuyển tiền. Paypal thu phí thông qua thực hiện việc xử lý thanh toán cho các hãng hoạt động trực tuyến, các trang đấu giá, và các khách hàng doanh nghiệp khác. Vào tháng 10 năm 2020, eBay đã mua lại toàn bộ Paypal. Paypal.com đã cung cấp một cách thức thực hiện việc thanh toán trên mạng kết hợp cả các kênh trực tuyến và độc lập vô cùng sáng tạo.
- Hình 4. trang chủ website Paypal.cm Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Mọi khách hàng muốn lập tài khoản Paypal đều phải trên 18 tuổi có thẻ tín dụng (credit card) hoặc một tài khoản ngân hàng và một địa chỉ e-mail. Với tài khoản Paypal đăng ký miễn phí, một người có thể nạp một số tiền từ tài khoản thẻ tín dụng của mình vào tài khoản Paypal, sau đó có thể trả tiền cho bất cứ ai bằng cách cung cấp địa chỉ email của người nhận trên trang paypal. Số tiền này sẽ được trừ vào tài khoản Paypal của người đó. Người nhận sẽ ngay lập tức nhận được một email thông báo về việc nhận tiền, anh ta có thể rút trực tiếp từ ngân hàng mình có tài khoản, hoặc yêu cầu viết cheque, hoặc nếu anh ta cũng là một người sử dụng Paypal, anh ta có thể giữ số tiền đó trong tài khoản Paypal của mình hoặc gửi cho bất cứ ai khác. Với việc sử dụng đơn giản chỉ qua email, Paypal đã tối thiểu hóa sự phức tạp, tâm lý lo ngại trong thanh toán trực tuyến, bởi một yếu tố vượt trội của Paypal là khi thanh toán giao dịch bằng Paypal, người mua không phải thông báo thông tin tài khoản cá nhân, mà chỉ cung cấp thông tin tài khoản Paypal, nếu có vấn đề xảy ra thì họ chỉ bị mất số tiền trong tài khoản chứ không mất số tiền trong thẻ tín dụng của mình.
Giống như Paypal, trang web www.moneybookers.cm cũng có chức năng tương tự và cũng đang rất phổ biến vì đăng ký đơn giản, nhanh chóng, độ bảo mật cao; chuyển và nhận tiền nhanh, hiệu quả, chi phí rất rẻ giữa các tài khoản Moneybookers với nhau; mua sắm và thanh toán cho các hàng hóa trực tuyến; chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng và Credit/Debit Card lên Moneybookers cũng rất nhanh và rẻ; rút tiền về tài khoản ngân hàng trong nước, vào thẻ Credit/debit card nhanh chóng.
- Hình 5. Trang chủ website Moneybookers
Với những tiện ích to lớn như trên, rất nhiều người đã lựa chọn Moneybookers, Paypal làm phương tiện thanh toán trực tuyến ưa thích của họ và họ coi chúng là E-wallet. Đây sẽ là những hệ thống thanh toán của tương lai để thay thế cho các hình thức thanh toán trực tuyến bằng thẻ tín dụng. Và với việc VN sẽ có nền thương mại điện tử phát triển trong tương lai gần thì các hệ thống thanh toán trực tuyến như Paypal, Moneybookers sẽ là không thể thiếu.
7. Marketing điện tử. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
7.1. Khái niệm và mục đích của Marketing điện tử.
Marketing điện tử là việc ứng dụng mạng Internet và các phương tiện điện tử (như web, email, cơ sở dữ liệu, PDA, multimedia v.v…) để tiến hành các hoạt động marketing nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng thông qua việc nâng cao hiểu biết về khách hàng (thông tin, hành vi, giá trị, mức độ trung thành…), từ đó tiến hành các hoạt động xúc tiến hướng mục tiêu và các dịch vụ qua mạng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Từ khái niệm trên, có thể thấy Marketing trên Internet có cách tiếp cận, quá trình và giao thức đặc biệt so với thương mại truyền thống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là lợi nhuận cho doanh nghiệp, khách hàng và nhà cung cấp. Vì vậy, quá trình nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng, khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng, xác định đối thủ cạnh tranh, phương pháp thu hút khách hàng và duy trì liên lạc với khách hàng 24/7 là vô cùng quan trọng.
Mục đích của Marketing điện tử không khác so với thương mại truyền thống bởi đều nhằm thu hút sự chú ý của các khách hàng tiềm năng đối với sản phẩm của doanh nghiệp. Tác dụng của hoạt động Marketing đối với người mua có thể tóm tắt qua 4 pha AIDA: A (attention – gây sự chú ý), I (interest – gây sự thích thú), D (desire – gây ham muốn), A (action – thúc đẩy hành động mua).
Chính vì mục tiêu đầu tiên là thu hút sự chú ý của khách hàng tiềm năng mà một trong những việc doanh nghiệp phải quan tâm chú trọng là marketing website của mình. Với số lượng website khổng lồ hiện nay thì khách hàng không thể hoặc rất khó có thể biết đến website của doanh nghiệp. Đối với các công ty đã có thương hiệu, website góp phần duy trì, củng cố và tăng cường giá trị của thương hiệu. Với những công ty mới thành lập hoặc thương hiệu chưa mạnh, internet và web đem lại cơ hội tuyệt vời để doanh nghiệp xúc tiến xáy dựng thương hiệu cho mình.
Một trang web chất lượng cao, mức độ dễ dàng của các đường dẫn và sự cá nhân hóa là rất quan trọng, bởi sự chú ý thường tập trung ở ngay phần đầu của quá trình marketing. Các banner là nhân tố chính của quảng cáo web. Các nhà Marketing hàng đầu cho rằng các banner sẽ tạo ra một dấu ấn nhắc nhở về sản phẩm và dịch vụ. Khi website đã thu hút được sự chú ý của khách hàng thì bước tiếp theo là gây sự thích thú ở họ đối với các sản phẩm thông qua thời gian trả lời nhanh, sự dễ sử dụng. Các thông tin về sản phẩm cũng tạo ra sự thích thú với website. Các trang web được truy nhập thường xuyên và đem lại sự hứng thú sẽ giữ được cảm tình của khách hàng. Sự thích thú sẽ gây ham muốn đối với sản phẩm, kích thích khách hàng tiếp tục, quay trở lại xem xét thêm và tiếp cận mỗi sản phẩm trước khi ra quyết định, đó chính là quyết định mua hàng. Điều này cũng được thực hiện dễ dàng thông qua đơn đặt hàng trực tuyến. Khi nhận được đặt hàng, có thể coi doanh nghiệp đã marketing thành công.
7.2. Các hình thức Marketing điện tử.
Marketing trong thương mại điện tử về bản chất cũng giống như thương mại truyền thống nhưng được sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kỹ thuật điện tử, vì vậy mà hình thức Marketing cũng đa dạng hơn:
- Marketing trực tiếp bằng email, qua website
- Dịch vụ khách hàng thông qua các công cụ trên web và internet như chat, forum, video conference v.v…
- Điều tra ý kiến khách hàng tự động bằng bảng câu hỏi nằm ngay trên
- Đăng ký trên các sàn giao dịch, cổng thương mại điện tử.
- Gửi thông điệp quảng cáo qua Internet đến các thiết bị điện tử như mobile, fax, PDA v.v..
II. Tình hình triển khai thương mại điện tử tại Việt Nam. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Ngành kinh doanh dịch vụ, với đòi hỏi cao về hàm lượng thông tin và mức độ tương tác giữa khách hàng với nhà cung cấp, rất thích hợp cho môi trường thương mại điện tử. Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đang vượt lên trước các doanh nghiệp sản xuất trong việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử. Đặc biệt năng động là các công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, du lịch, dịch vụ công nghệ thông tin – truyền thông và vận tải giao nhận. Website của các công ty này chiếm đến 82% số trang web có tính năng hỗ trợ giao dịch thương mại điện tử theo kết quả khảo sát năm 2023. Các sản phẩm, dịch vụ cung cấp trên website khá đa dạng, và do ko đòi hỏi khâu vận chuyển, sẽ chiếm ưu thế lớn so với hàng hóa trong bài toán hiệu quả của doanh nghiệp khi tiến hành triển khai thương mại điện tử.
1. Hàng hóa.
- Sản phẩm có độ tiêu chuẩn hóa
- Sản phẩm số hóa.
- Sản phẩm thông tin (sách báo, tạp chí, đĩa phim, đĩa nhạc v.v..): là những mặt hàng người mua có thể tìm hiểu về sản phẩm ko cần qua tiếp xúc trực tiếp, việc vận chuyển cũng đơn giản ko đòi hỏi chi phí cao. Kết nối nhiều nhà cung cấp khác nhau tăng sự lựa chọn cho khách hàng. Xem review về sản phẩm …
- Thiệp, hoa , quà tặng : là những sản phẩm gọn nhẹ, giá ko cao, chi phí thấp.. Nhu cầu tặng quà của giới trẻ hiện nay rất lớn. Đối tượng này lại khá nhanh nhạy với các ứng dụng thương mại điện tử nên tiềm năng thị trường cho nhóm sản phẩm này tương đối rộng.
- Hàng thủ công mỹ nghệ : là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam và là mặt hàng được Nhà nước ưu tiên hỗ trợ do mang lại hiệu quả xã hội cao. Nhóm mặt hàng này hiện đang rất phổ biến trên các website thương mại điện tử của VN.
2. Các loại hình dịch vụ. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của thị trường dịch vụ tại Việt Nam, các sản phẩm dịch vụ ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên mạng và vô cùng đa dạng, phong phú. Nhiều cấp độ cung cấp dịch vụ khác nhau được phát triển, từ việc xây dựng trang web quảng cáo, gửi thư điện tử, triển khai những dịch vụ trực tuyến thực sự. thương mại điện tử đã trở nên khá phổ biến dưới nhiều hình thức và đều mang lại doanh thu đáng kể.Từ chỗ chỉ có gần như một nhà cung cấp dịch vụ duy nhất là VASC, đến nay đã có gần 50 doanh nghiệp tham gia dịch vụ này với doanh thu lên tới 250 tỷ đồng. Đây là một tốc độ mà không dễ gì ngành sản xuất kinh doanh khác có được. Kinh doanh trong các lĩnh vực khác như đào tạo trực tuyến, báo điện tử, cơ sở dữ liệu trực tuyến, trò chơi trực tuyến, xem phim nghe nhạc trực tuyến cũng tăng trưởng cao.
Cùng với số lượng người sử dụng Internet và thẻ tín dụng tăng nhanh nhờ sự phát triển của các ngân hàng trong nước và nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, số lượng người tiêu dùng mua sắm qua mạng cũng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt trong giới trẻ ở khu vực thành thị. Tâm lý và thói quen mua bán bắt đầu thay đổi từ phương thức truyền thống sang phương thức mới của thương mại điện tử. Việc bán vé tàu qua website www.vetau.cm.vn là một động thái tích cực trong việc “buộc người tiêu dùng phải quan tâm và tham gia vào thương mại điện tử”, dù mới ở mức đơn giản.
Tuy nhiên do nhiều hạn chế khác nhau như môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, kỹ năng của doanh nghiệp còn thiếu, các phương tiện thanh toán trực tuyến chưa phát triển, nên thị trường dịch vụ trực tuyến còn cần thời gian để thực sự trở thành một lĩnh vực thu hút sự tham gia của nhiều doanh nghiệp.
Sau đây là tình hình phát triển một số loại hình dịch vụ đang ứng dụng mạnh thương mại điện tử ở Việt Nam.
- Dịch vụ CNTT và truyền thông
Những doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ CNTT hiện là bộ phận đi tiên phong ứng dụng thương mại điện tử để phục vụ việc kinh doanh của bản thân mình. Từ danh sách 1320 doanh nghiệp CNTT trong niên giám CNTT Việt Nam 2023, có thể thấy 54% đơn vị đã thiết lập website và 100% đơn vị có địa chỉ email giao dịch. Đây là tỷ lệ tính chung cho cả doanh nghiệp kinh doanh thiết bị và phần mềm – dịch vụ. Nếu tách riêng nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phần mềm – dịch vụ , thì mức độ ứng dụng thương mại điện tử còn cao hơn rất nhiều.
Kết quả khảo sát sơ bộ hơn 50 doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ CNTT khác nhau cho thấy 85% doanh nghiệp đã thiết lập website và coi đây là một kênh quảng bá tiếp thị quan trọng để thu hút khách hàng tiềm năng. Với sự tăng trưởng mạnh của khối doanh nghiệp kinh doanh phần mềm – dịch vụ trong những năm gần đây (tỷ lệ tăng bình quân 35%/năm ) và tỷ trọng ngày càng lớn của phần mềm – dịch vụ trong tổng giá trị thị trường CNTT, dịch vụ công nghệ thông tin sẽ là ngành dịch vụ mũi nhọn về ứng dụng thương mại điện tử và thúc đẩy ứng dụng thương mại điện tử của cả cộng đồng doanh nghiệp.
- Dịch vụ du lịch, khách sạn, vận chuyển… Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Trong lĩnh vực dịch vụ phi CNTT, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tỏ ra năng động hơn cả trong việc khai thác kênh thông tin – tiếp thị Internet. Hầu hết những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch, đặc biệt là dịch vụ lữ hành quốc tế, đã xây dựng trang web nhằm quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình. Khách hàng trong nước và quốc tế có thể truy cập vào những trang web này để tìm kiếm thông tin về tour du lịch, giá cả, khách sạn, mô tả về các danh lam thắng cảnh cùng nhiều dạng dịch vụ khác, đặc biệt khách hàng có thể đặt phòng khách sạn trực tuyến, đặt tour du lịch trực tuyến, mua vé máy bay trực tuyến …
Ngoài sự nở rộ website của các công ty lữ hành, khách sạn nhà hàng, năm 2024 còn chứng kiến sự tăng trưởng dịch vụ trên nhiều cổng thông tin du lịch tổng hợp. Các website này thường do các doanh nghiệp thương mại điện tử xây dựng và vận hành, nơi hội tụ thông tin về nhiều nhà cung cấp khác nhau trong dây chuyền dịch vụ liên quan đến du lịch như khách sạn, nhà hàng, dịch vụ lữ hành, đặt tour, thuê xe v.v… Một thành công điển hình cho mô hình này là cổng thông tin khách sạn www.hotels.cm.vn do công ty Hi-tek quản lý. Tính tới hết quý II năm 2024, tổng số khách sạn được hiển thị trên website này là 264, trong đó miền Bắc có 130 khách sạn và miền Nam có 134 khách sạn. Tổng doanh thu đặt phòng qua cổng thông tin khách sạn là khá cao.
- Hình 5. Bảng doanh thu đặt phòng qua hotels.cm.vn 2 quý đầu năm 2024
- Hình 6. Trang chủ website www.hotels.cm.vn
Với giao diện thân thiện và sự bố trí hợp lý công cụ tìm kiếm nằm ngay giữa trang (Search hotels, Search Resorts v.v…), khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy nơi ở phù hợp túi tiền và sở thích của mình. Ngoài ra danh sách thành viên của cổng thông tin du lịch này cũng được cập nhật thường xuyên trên trang chủ.
- Dịch vụ tư vấn
Trong lĩnh vực tư vấn, hầu hết các công ty mới chỉ dừng lại ở mức xây dựng trang web nhằm giới thiệu hoạt động của mình, và thậm chí đôi khi không cập nhật thông tin lên trang web, tin tức trên web không song hành với tình hình thực tế của công ty. Họ chưa coi Internet như một công cụ cho phép tương tác với khách hàng. Việc tư vấn thu phí qua Internet chưa phát triển.Việc tư vấn trực tuyến chỉ mang tính hình thức, trên trang web có những phần để khách hàng đặt và gửi câu hỏi cho doanh nghiệp, nhưng dường như rất ít khi có hồi đáp. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ở TP HCM tỏ ra năng động hơn trong việc khai thác Internet như một kênh quảng cáo thông tin và tìm kiếm khách hàng. Đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, rất nhiều trang web của những trung tâm tư vấn nhà đất đã được xây dựng với lượng thông tin phong phú như www.nhadat.cm/hochiminh , www.ttbatdongsan.cm, còn trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, công ty Tư vấn Luật Việt www.luatviet.cm, www.luatgiapham.cm – hãng luật chuyên Luật kinh doanh và Luật sở hữu trí tuệ v.v…
- Dịch vụ giáo dục và đào tạo trực tuyến.
Đào tạo trực tuyến là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình giao tiếp giữa người dạy và người học trên các phương tiện điện tử, được coi là một phương thức đào tạo mới đem lại nhiều lợi ích cho người học như tiết kiệm thời gian, chi phí, không bị giới hạn về không gian, tận dụng công nghệ, lựa chọn được thứ mình cần học, nâng cao khả năng tổng hợp kiến thức, tiếp cận dễ dàng với những mô hình đào tạo hiện đại.
Cho đến nay trên cả nước có hơn 300 trang web cung cấp thông tin tư vấn về giáo dục, luyện thi trực tuyến, đào tạo từ xa, thí điểm thi trực tuyến, phục vụ tuyển sinh…. Ví dụ công ty cung cấp nhiều hình thức đào tạo tiếng Anh qua mạng như www.cleverlearn.cm.vn, www.globalenglish.cm.vn, và những công ty cung cấp các khóa học chuyên môn nghiệp vụ như Quản trị kinh doanh, Kỹ năng bán hàng, Kỹ năng lãnh đạo, điều hành … tiêu biểu là www.vietnamlearning.cm.vn
- Dịch vụ trực tuyến dịch vụ công.
Năm 2024, trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước cũng cần thay đổi để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua quyết tâm hiện đại hóa nền hành chính, xâu dựng chính phủ điện tử để phục vụ doanh nghiệp tốt hơn. Các cơ quan nhà nước trong thời gian qua đã bước đầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giao tiếp với doanh nghiệp, công dân. Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đều đã có website riêng trong đó cung cấp nhiều thông tin đa dạng và cần thiết cho doanh nghiệp (ví dụ Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Giang www.hagiang.gv.vn). Một số cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương bắt đầu cung cấp trực tuyến dịch vụ công ở mức đơn giản như cấp giấy đăng ký kinh doanh điện tử, đấu thầu mua sắm công, cấp chứng nhận xuất xứ điện tử, cấp phép xây dựng, tra cứu trạng thái hồ sơ, tra cứu thông tin quy hoạch, khai hải quan điện tử ( GVNET – một đơn vị thuộc Công ty Hệ thống thông tin FPT đã được Tổng cục Hải quan Việt Nam chọn làm đối tác triển khai thành công dịch vụ thông quan điện tử tại 2 chi cục Hải quan Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh với phần mềm khai báo Hải quan điện tử ECUS ).
3 Các sàn giao dịch. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Tính đến cuối năm 2024, có khoảng 30 sàn giao dịch thương mại điện tử B2B của Việt Nam đang hoạt động với cơ hội kinh doanh và số lượng thành viên tương đối lớn. Điểm đáng lưu ý là các ban quản lý các sàn giao dịch này đã có chiến lược kinh doanh rõ nét và đầu tư mạnh hơn cho phát triển sàn cả về công nghệ như phần mềm, máy chủ, mạng cũng như nguồn nhân lực, quảng bá hình ảnh, hỗ trợ thông tin.
Bên cạnh việc đăng tải các cơ hội kinh doanh mua bán hàng hóa dịch vụ, các sàn giao dịch đã cung cấp các hỗ trợ khác như đấu giá, đấu thầu trực tuyến, hỗ trợ thành viên trực tuyến, các bản tin điện tử. Tuy nhiên tiện ích lớn nhất của phần lớn các sàn thương mại điện tử B2B ở Việt Nam mới giới hạn ở đăng tải nhu cầu mua bán và làm một trung tâm thương mại trưng bày và giới thiệu sản phẩm, việc đàm phán và ký kết hợp đồng trên sàn thương mại điện tử hiện nay chưa phổ biến do tính năng hỗ trợ của các sàn chưa cao, giao dịch trên sàn cũng là một yếu tố khó lượng hóa được. Một số sàn tiêu biểu trong bảng xếp hạng các sàn thương mại điện tử B2B hoạt động có uy tín nhất của năm 2024:
Còn đối với sàn giao dịch thương mại điện tử B2C, tính đến cuối năm 2024 Việt Nam có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch B2C. Họ kinh doanh với mục đích thu lợi nhuận, khác với một số sàn thương mại điện tử B2B do các tổ chức phi lợi nhuận xây dựng và vận hành với mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp làm quen với thương mại điện tử.
Các doanh nghiệp kinh doanh các sàn thương mại điện tử B2C đã bắt đầu quan tâm đến đảm bảo an toàn thông tin dù mức độ an toàn thông tin còn thấp và hầu hết các sàn chưa có giải pháp tốt cho thanh toán trực tuyến.
Trong năm 2024, số lượng hàng hóa giao dịch trên các sàn B2C đã tăng lên đáng kể, chất lượng phục vụ của các sàn cũng có đã có nhiều tiến bộ. Phần lớn các sàn thương mại điện tử B2C hoạt động theo dạng siêu thị điện tử tổng hợp kinh doanh nhiều mặt hàng trong đó chủ yếu là mặt hàng có tiêu chuẩn cao nhưng hàng điện tử, mỹ phẩm, thời trang… và một số sàn cung cấp dịch vụ qua mạng như cung cấp vé máy bay, vé đường sắt, tuyển dụng lao động v.v.. Khóa luận: Ứng dụng thương mại điện tử của Hãng hàng không.
Bảng xếp hàng một số sàn thương mại điện tử B2C tiêu biểu năm 2024:
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phân tích mô hình thương mại điện tử của Hãng


Pingback: Khóa luận: Giải pháp thương mại điện tử cho ngành hàng không