Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

1. Các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam về nông nghiệp trong khuôn khổ WTO

1.1. Các quy định của WTO liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một tổ chức quốc tế với 150 thành viên với khoảng 97% thương mại toàn thế giới. WTO được thành lập bởi các thành viên của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) vào năm 2013. Nó bao gồm GATT và khoảng hơn 20 Hiệp định khác trên nhiều lĩnh vực kinh tế. Trong đó, nông nghiệp là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và khó giải quyết trong quan hệ thương mại giữa các nước thành viên. Trong phạm vi WTO, có một số Hiệp định cũng như qui định có liên quan đến nông nghiệp, bao gồm: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947, GATT 2012), Hiệp định nông nghiệp (AoA), Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Hiệp định về Thủ tục giấy phép nhập khẩu, Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), v.v.

1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ( GATT )

  • Các nguyên tắc cơ bản:

a/ Đối xử Tối huệ quốc (MFN): có nghĩa là các chính sách thương mại không được phân biệt đối xử. Mỗi thành viên phải đối xử với hàng hóa và dịch vụ từ các nước thành viên khác bình đẳng như nhau mà không có phân biệt đối xử. Đặc biệt, nếu một quốc gia thành viên áp dụng thuế thấp hơn hay một lợi ích nào khác đối với bất kỳ một quốc gia khác, thì quốc gia này cũng phải ngay lập tức và vô điều kiện mở rộng việc áp dụng lợi ích tương tự đối với sản phẩm tương tự của các quốc gia thành viên khác.

b/ Đối xử quốc gia (NT): Mỗi thành viên phải “dành sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ nội về mặt luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào hàng, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng”. Qui tắc này yêu cầu rằng một sản phẩm nhập khẩu đang vượt qua biên giới quốc gia sau khi nộp thuế hải quan và các phí khác sẽ không nhận được sự đối xử kém ưu đãi hơn so với sự đối xử đối với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước. Nói cách khác, nó yêu cầu hàng hóa nhập khẩu phải được đối xử tương tự như đối với các hàng hóa được sản xuất trong nước (cùng thuế nội địa, thuế giá trị gia tăng, v.v.). Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

c/ Chỉ bảo hộ ngành sản xuất trong nước thông qua thuế: Trong khi thừa nhận tầm quan trọng của các quốc gia thành viên cần thực hiện các chính sách thương mại tự do và mở cửa, WTO không cấm việc bảo hộ sản xuất nội địa đối với cạnh tranh từ nước ngoài. Tuy nhiên, bảo hộ như vậy áp dụng đối với hàng hóa chỉ được áp dụng thông qua thuế quan. Các hạn chế định lượng đối với nhập khẩu nhìn chung là bị cấm áp dụng.

d/ Thuế và các nhượng bộ khác trong đàm phán: đều được ràng buộc để không được tăng thêm: Mức thuế đồng ý trong các cuộc đàm phán cũng như các cam kết khác được chấp thuận bởi các quốc gia thành viên như các nhượng bộ về nhập khẩu dịch vụ và các nghĩa vụ về trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước trong nông nghiệp đã được liệt kê trong Biểu Nhượng Bộ đều được ràng buộc chống gia tăng. Mỗi quốc gia thành viên đều có nghĩa vụ không áp dụng thuế nhập khẩu hay các phí khác “vượt quá mức đã đặt trước” trong Biểu của mình. Mức thuế nhập khẩu liệt kê trong Biểu được hiểu là mức ràng buộc của các dòng thuế.

Hơn nữa, cơ sở và phương pháp để quyết định giá trị của sản phẩm chịu thuế nhập khẩu hay các phí khác hay các hạn chế khác đều phải dựa trên hay được qui định theo cách mà giá trị “phải được ổn định và phải được công bố rộng rãi…”

1.1.2 Hiệp định nông nghiệp (AoA) :

Mục tiêu chính của Hiệp định là cải cách lại các nguyên tắc, luật lệ, chính sách nông nghiệp cũng như giảm bớt những bóp méo trong thương mại nông nghiệp gây ra bởi cơ chế bảo hộ nông nghiệp và hỗ trợ trong nước. Hiệp định đề cập tới 3 nội dung chính:

  • Tiếp cận Thị trường (Điều 4);
  • Cam kết về Hỗ trợ trong nước (Điều 6); và
  • Cam kết về Trợ cấp Xuất khẩu (Điều 9).
  • Tiếp cận thị trường

Theo Điều 4 của Hiệp định này, các nước trước đây áp dụng các biện pháp phi thuế quan (ví dụ như hạn chế định lượng, giấy phép không tự động và thuế biến đổi) đều bị yêu cầu bãi bỏ chúng, thay thế bằng thuế nhập khẩu bị ràng buộc ở mức bảo hộ tương đương hoặc thấp hơn. Việc chuyển từ các biện pháp phi thuế sang thuế được gọi là “thuế hóa”. Các quốc gia thành viên đồng ý cắt giảm thuế nhập khẩu theo tỷ lệ cố định. Các nước phát triển và chuyển đổi phải giảm thuế 36% theo bình quân trong thời hạn 6 năm từ 2013 đến 2018, ít nhất là 15% đối với mỗi dòng thuế. Các nghĩa vụ tương tự đối với các nước đang phát triển là 24% trong vòng 10 năm từ 2013 đến 2022 và ít nhất 10% đối với mỗi sản phẩm.

Tuy nhiên, các hàng rào phi thuế cũng không bị loại bỏ hoàn toàn. Các thành viên được phép sử dụng một số hạn chế phi thuế như các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật để bảo vệ con người và động vật khỏi các rủi ro từ thực phẩm nảy sinh từ việc sử dụng các chất kích thích, các chất gây ô nhiễm, độc tố hay các sinh vật gây bệnh và để bảo vệ động thực vật khỏi các sâu bệnh hay dịch bệnh có thể tác động đến sản xuất nông nghiệp.

Các nước đang phát triển và kém phát triển được linh hoạt hơn khi ràng buộc các mức thuế tại thuế trần có thể cao hơn so với mức thuế áp dụng thực tế. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

  • Hỗ trợ trong nước

WTO cho phép áp dụng các chính sách hỗ trợ nông nghiệp mà bản thân các chính sách đó không có tác dụng bóp méo thương mại (gọi là hỗ trợ “ hộp xanh”). WTO cũng cho phép các nước đang phát triển áp dụng một số chính sách nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp (các “chương trình phát triển”), nhưng yêu cầu phải cam kết cắt giảm đối với các loại hỗ trợ trong nước khác gây bóp méo thương mại (gọi là hỗ trợ “hộp hổ phách”) nếu như các loại hỗ trợ đó vượt quá một mức nào đó (gọi là mức tối thiểu). Mức tối thiểu dành cho các nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sản phẩm được hỗ trợ.

  • Trợ cấp xuất khẩu

Đây là dạng hỗ trợ được coi là các biện pháp bóp méo nhất đối với thương mại của các Chính phủ. Về nguyên tắc, WTO nghiêm cấm trợ cấp xuất khẩu. Nếu nước nào có trợ cấp xuất khẩu thì phải cam kết cắt giảm giá trị cũng như số lượng trợ cấp. Các nước phát triển phải cắt giảm 36% về giá trị và 21% về số lượng trong thời hạn 6 năm kể từ năm 2013. Đối với các nước đang phát triển thì nghĩa vụ này là 24% về giá trị và 14% về số lượng trong thời hạn 10 năm.

1.1.3 Hiệp định SPS và Hiệp định TBT

  • Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS):

Hiệp đinh này áp dụng đối với tất cả các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật mà chúng trực tiếp hay gián tiếp có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế. Khái niệm “qui định vệ sinh kiểm dịch động vật” được sử dụng đối với các dạng qui định mà mục tiêu cơ bản là đảm bảo an toàn thực phẩm, hay để ngăn ngừa các bệnh từ động vật lây lan vào một quốc gia.

Nội dung chính của Hiệp định SPS bao gồm: WTO thừa nhận quyền được áp dụng các biện pháp SPS ở mức cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và động thực vật, nhưng không được áp dụng quá mức cần thiết gây cản trở thương mại và bảo hộ cho sản xuất trong nước. Theo đó, WTO khuyến khích các nước áp dụng các tiêu chuẩn, quy định do các tổ chức quốc tế ban hành như Codex, OIE, IPPC. Trong trường hợp áp dụng cao hơn các quy định của quốc tế phải dựa trên bằng chứng khoa học.

Mỗi nước phải xây dựng điểm thông tin, hỏi đáp quốc gia để tạo thuận lợi cho các nước khác khi họ có yêu cầu. Mỗi nước phải xây dựng chương trình hành động nhằm thực thi Hiệp đinh.

  • Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)

Hiệp định này đặt ra một số qui định và điều lệ liên quan đến các biện pháp phi thuế có ảnh hưởng đến thương mại, bao gồm thương mại nông nghiệp. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Hiệp định bao gồm các tiêu chuẩn được áp dụng trong các phương pháp chế biến và sản xuất liên quan đến đặc tính của bản thân sản phẩm. Hiệp định đưa ra những nghĩa vụ liên quan đến các thủ tục đánh giá sự phù hợp và các điều khoản thông báo áp dụng cả đối với các chính quyền địa phương cũng như các cơ quan phi chính phủ.

Nhìn chung, Hiệp định TBT yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo rằng các yêu cầu kỹ thuật của họ đối với hàng hóa phải đảm bảo một số điều kiện cơ bản như: không phân biệt đối xử, đối xử quốc gia đối với hàng nhập khẩu, không hạn chế thương mại nhiều hơn mức cần thiết và dựa trên cơ sở khoa học thích hợp.

Hiệp định này cũng yêu cầu cơ cơ quan tiêu chuẩn quốc gia phải tuân thủ một số điều lệ và quy định như: sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế làm cơ sở cho các tiêu chuẩn quốc gia và đảm bảo các tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

1.1.4 Quy định về doanh nghiệp thương mại Nhà nước (STEs)

Điều XVII của GATT thừa nhận STEs là những doanh nghiệp pháp lý cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, nhưng yêu cầu “khi thực hiện mua bán hàng hoá thông qua xuất khẩu hay nhập khẩu phải tuân thủ các nguyên tắc chung về không phân biệt đối xử đã nêu trong Hiệp định này liên quan đến các biện pháp của chính phủ tác động tới hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu của các doanh nghiệp tư nhân” và “những doanh nghiệp này khi tiến hành mua bán như vậy chỉ căn cứ vào các tiêu chí thương mại, và phải dành cho các doanh nghiệp của các nước thành viên cơ hội thích hợp tham gia vào hoạt động mua bán này”.

WTO nhận thấy các biện pháp làm bóp méo thương mại có thể xảy ra như là kết quả từ thương mại nhà nước. Hai mối quan tâm cơ bản mà WTO đang xem xét trong các Doanh nghiệp Thương mại Nhà nước (STEs) là: (1) các ưu tiên về độc quyền dành riêng cho STEs cho phép họ có những hành vi phi cạnh tranh từ đó góp phần bóp méo thương mại; và (2) các hoạt động hay việc định giá của STEs còn chưa minh bạch có thể che đậy những vi phạm trong việc thực hiện các cam kết và nghĩa vụ của một quốc gia. Khi các nước thành viên của WTO đang hướng tới việc áp dụng thuế nhập khẩu là công cụ chính sách thương mại nông nghiệp duy nhất, thì các thành viên WTO có thể cần phải cải thiện các qui định về hành vi phi cạnh tranh của các STE.

Thương mại nhà nước là một nội dung quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc cũng như các nước có nền kinh tế phụ thuộc STEs tương tự. Sự không rõ ràng về thể chế thương mại của một số nước đang gia nhập mà ở đó STEs đóng một vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất nhập khẩu có thể che giấu những hàng rào nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu.

Thương mại nhà nước có vị trí quan trọng hơn đối với ngành nông nghiệp nếu so với các ngành khác bởi vì nhiều quốc gia, bao gồm cả quốc gia phát triển và đang phát triển, coi đó là một công cụ thích hợp để đạt được các mục tiêu chính sách nông nghiệp trong nước, chẳng hạn như trợ giá cho người nông dân, khai thác tính kinh tế theo qui mô trong thu mua và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp chính, cũng như tăng cường an ninh lương thực. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

1.1.5 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Tương tự như hàng hóa và thương mại dịch vụ, hiệp định TRIPs cũng quy định 2 nguyên tắc cơ bản trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc (MFN).

Hiệp định TRIPS nhằm mục tiêu thiết lập các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền sở hữu trí tuệ. TRIPs bao gồm bản quyền, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, thiết kế, văn bằng sáng chế bao gồm giống cây trồng và nguồn gen, vật liệu gen, thiết kế mạch và thông tin không được tiết lộ (bao gồm bí mật thương mại và số liệu thử nghiệm trình chính phủ) với mục tiêu là tạo ra sự cân bằng giữa phát huy sáng kiến và phổ biến công nghệ, tạo ra những tiện ích cho cả người sản xuất và người sử dụng, cũng như làm tăng phúc lợi kinh tế và xã hội.

Hiệp định TRIPs đòi hỏi sự tuân thủ chặt chẽ từ các bên tham gia ký kết, trong đó bao gồm: (i) các thủ tục rõ ràng và công bằng; (ii) được cơ quan có thẩm quyền xem xét, nhưng không có nghĩa vụ phải thiết lập một hệ thống phán quyết riêng để giải quyết các vấn đề về IPR; (iii) luôn sẵn có những giải pháp tình thế và biện pháp xử lý ngay tại biên giới; và (iv) điều khoản về xử phạt (tống giam hoặc phạt tiền) trong trường hợp vi phạm bản quyền và thương nhãn.

1.2. Các cam kết của Việt Nam về nông nghiệp trong khuôn khổ WTO

Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải thực thi đầy đủ các quy định của tổ chức này liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp. Cụ thể, Việt Nam đã đưa ra các cam kết về nông nghiệp khi gia nhập WTO như sau:

1.2.1 Mở cửa thị trường

Cam kết thuế: giảm 10,5% so với mức thuế MFN hiện hành (nếu tính theo mức thuế ngoài hạn ngạch) và xấp xỉ 20% (nếu tính theo mức thuế trong hạn ngạch của một số nông sản). Nhìn chung, nông sản chế biến có mức độ bảo hộ qua thuế cao (40-50%) phải giảm nhiều hơn nông sản thô. Những nhóm sản phẩm phải giảm nhiều: thịt lợn, thịt bò, sữa, rau quả ôn đới, nông sản và thực phẩm đã qua chế biến.

Ví dụ : thuế MFN hiện hành của cá và sản phẩm cá là 29,3% thì thuế tại thời điểm gia nhập 29,1% còn thuế suất cam kết cuối cùng là 18,1% và thời hạn cắt giảm kéo dài tới 5 năm. Hay thịt bò giảm từ 20% xuống 14% sau 5 năm, thịt lợn từ 30% tới 15% sau 5 năm, sữa nguyên liệu giảm khi gia nhập là 20% nhưng thuế cuối cùng là 18% sau 2 năm, sữa thành phẩm giảm từ 30% xuống 25% sau 5 năm…

  • Bảng 1: Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu theo một số nhóm mặt hàng nông sản chính bao gồm:

Biện pháp phi thuế: Tất cả các hàng rào phi thuế quan phải loại bỏ, trừ hạn ngạch thuế quan áp dụng cho 4 nhóm sản phẩm là đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối. Quản lí xuất nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện quản lí chuyên ngành nông nghiệp( giống cây trồng, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, lâm sản, động thực vật hoang dã và quý hiếm) đã phù hợp, không phải điều chỉnh. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

1.2.2 Chính sách hỗ trợ trong nước.

Do phần lớn các chính sách hỗ trợ của Việt Nam trong thời gian qua đều nằm trong các nhóm được phép áp dụng (hộp xanh, chương trình phát triển, nhóm hộp hổ phách ở mức tối thiểu ) nên cam kết về hỗ trợ trong nước của Việt Nam như sau:

  • Nhóm hộp xanh: tự do áp dụng.
  • Chương trình phát triển: tự do áp dụng.
  • Hộp hổ phách: áp dụng ở mức tối thiểu( 10% giá trị sản lượng nông nghiệp).
  • Cam kết thực hiện các chính sách trên phù hợp với quy định của Hiệp định nông nghiệp.

1.2.3 Trợ cấp xuất khẩu

Việt Nam cam kết không trợ cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập, bảo lưu quyền được hưởng các ưu đã đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực này.

1.2.4 Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu

Các doanh nghiệp nước ngoài được phép kinh doanh hàng nông sản ngay khi Việt Nam gia nhập WTO, trừ gạo, đến năm 2011.

Thực thi các hiệp định SPS , TBT, TRIPs…: Việt Nam cam kết sẽ thực thi ngay sau khi gia nhập WTO. Đồng thời yêu cầu các nước trợ giúp kĩ thuật để thực thi Hiệp định.

1.2.6 Cam kết về dịch vụ liên quan đến nông nghiệp

Những ngành dịch vụ chủ yếu liên quan đến nông nghiệp bao gồm nông nghiệp, thú ý, lâm nghiệp và săn bắn. Trong dịch vụ phân phối có một phần kinh doanh đến quyền kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản.

Đối với dịch vụ liên quan đến nông nghiệp, săn bắn và nông nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 51% vốn nước ngoài. Tuy nhiên, họ không được cung cấp một số dịch vụ nhạy cảm như đánh giá và khai thác rừng tự nhiên, săn bắn, đánh bẫy động vật quý hiếm hoang dã, chụp ảnh hàng không, quản lí quỹ gen cây trồng, vật nuôi…Ngoài ra, họ cũng không được phép tiếp cận một số địa bàn nhạy cảm tại Việt Nam. Đối với dịch vụ thú y, Việt Nam chỉ cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào hoạt động với tư cách cá nhân sau khi đã được cơ quan phụ trách về thú y Việt Nam chấp thuận.

1.3. Tác động của việc gia nhập WTO đối với các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

1.3.1 Thuận lợi

Gia nhập WTO mang lại cho các doanh nghiệp nông nghiệp những thuận lợi tương đối cơ bản để có thể thay đổi vị thế của họ trên thương trường cũng như sự phát triển trong tương lai.

Thứ nhất, thuận lợi lớn nhất chính là môi trường pháp lí và chính sách đối với nông nghiệp sẽ tốt hơn, minh bạch và ổn định hơn do vừa xuất phát từ nhu cầu phát triển của Việt Nam vừa phù hợp với các cam kết của WTO.

Thứ hai, Nhà nước sẽ điều chỉnh chiến lược, quy hoạch phát triển theo hướng thị trường, bền vững hơn. Đây là điều quan trọng giúp cho các doanh nghiệp phát triển bởi nhiều chiến lược, quy hoạch trong lĩnh vực nông nghiệp cho đến nay vẫn chưa thực sự theo hướng thị trường hoặc tôn trọng các quy luật của thị trường. Trong thời gian tới, khi thị trường phát triển tốt hơn thì doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để phát triển.

Thứ ba, các biện pháp, công cụ hỗ trợ mới của Nhà nước đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ công bằng và phù hợp hơn theo cam kết của WTO.

Thứ tư, các ngành dịch vụ, công nghệ, công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp sẽ phát triển, cơ sở hạ tầng ở nông thôn sẽ được cải thiện đáp ứng được vấn đề lớn là dịch vụ tín dụng cho thương mại nông sản và dịch vụ hạ tầng cơ sở.

Thứ năm, triển vọng tiếp cận thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp nông nghiệp cũng tốt hơn do vị thế mới của Việt Nam trong WTO. Thị trường nội địa của Việt Nam cũng sẽ phát triển, hệ thống phân phối mở rộng, thuận lợi hơn cho tiêu thụ nông sản. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Đến nay, thị trường nội địa vẫn còn đóng góp khoảng 70% cho tiêu thụ nông sản của Việt Nam nói chung, cho nên thị trường nội địa vẫn còn tiềm năng rất lớn để các doanh nghiệp nông nghiệp có thể khai thác.

Thứ sáu, triển vọng mở rộng thị trường nông thôn cho các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nông nghiệp sẽ tốt hơn, cũng như khả năng tiếp cận các nguồn lực cần thiết sẽ thuận lợi hơn. Đồng thời, chi phí đầu vào có thể giảm do cạnh tranh bởi nguồn cung trong nước và nhập khẩu đều tăng và do Nhà nước tiến hành xã hội hóa một số dịch vụ.

Thứ bảy, trong thời gian tới, Nhà nước sẽ cải cách hơn nữa các doanh nghiệp nông nghiệp, các nông lâm trường quốc doanh để tạo bình đẳng cho các doanh nghiệp nông nghiệp, giải phóng một số nguồn lực như đất đai, quyền kinh doanh trong một số lĩnh vực nông sản, cơ cấu lại lực lượng lao động trong nông nghiệp với tiêu chí giảm xuống còn 50%. Khả năng liên kết 4 nhà (nhà quản lí , nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp), liên kết các ngành, vùng sẽ thực chất hơn và mang tính bền vững hơn. Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài, hợp tác quốc tế trong nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng sẽ tốt hơn, môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư sẽ được cải thiện, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ tám, cam kết về hệ thống chính sách nông nghiệp điều chỉnh phù hợp với WTO sẽ tạo ra môi trường kinh doanh trong nước bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ. Bên cạnh cơ hội tiếp cận thị trường các nước trong khu vực, gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường cho nông, lâm sản Việt Nam do được hưởng quy chế MFN của 149 nước thành viên WTO. Điều này rất phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn đến năm 2030 là phát triển một nền nông nghiệp hướng mạnh ra xuất khẩu. Hơn thế nữa, WTO còn là diễn đàn để các nước đấu tranh chống lại những đối xử bất công trong thương mại.

Ngoài ra, trong quá trình đổi mới và hội nhập, các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp đã đúc rút, tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm để phát triển.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư theo chiều sâu và đa dạng hoá sản phẩm để tăng khả năng xâm nhập thị trường, đây là cơ sở tốt để các doanh nghiệp vươn lên khi cơ hội thị trường rộng mở.

Đây chính là những thuận lợi cơ bản mà việc Việt Nam gia nhập WTO nói riêng cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung mang lại cho các doanh nghiệp nông nghiệp và cả hệ thống ngành nông nghiệp Việt Nam.

1.3.2 Khó khăn Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Về cơ bản, khi gia nhập WTO, ngành nông nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nông nghiệp nói riêng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức cả từ nội tại cũng như từ quá trình tự do thương mại mang đến.

Gia nhập WTO, Việt Nam phải đàm phán tất cả các nội dung liên quan đến nông nghiệp. Bên cạnh cơ hội tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cũng đang phải đối mặt những khó khăn lớn. Theo đó, Việt Nam cam kết điều chỉnh hệ thống chính sách phù hợp quy định của WTO: không trợ cấp xuất khẩu nông sản ngay khi gia nhập, giảm thuế hàng nông sản…

Một trong những khó khăn đầu tiên đối với doanh nghiệp nông nghiệp chính là những rào cản về tiếp cận đất đai. Mặc dù pháp luật về đất đai của Việt Nam đã khá thông thoáng nhưng trên thực tế những rào cản lại nảy sinh trong việc thực thi pháp luật về đất đai. Nhưng đáng tiếc là những vướng mắc từ việc thực thi này đến nay vẫn chưa có cơ quan nhà nước nào chịu trách nhiệm. Các doanh nghiệp dân doanh khó thuê đất hơn nhiều so với các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước cũng dễ dàng hơn trong việc thế chấp đất khi vay vốn ngân hàng. Đó là sự bất công bằng. Việt Nam vẫn còn rất nhiều những bất cập trong việc phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Điều đó tạo ra sự hạn chế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nông nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO…

Bên cạnh đó, những khó khăn mang tính nội tại xuất phát từ nền nông nghiệp nước ta có trình độ phát triển thấp, quy mô sản xuất nhỏ bé, manh mún, năng suất lao động rất thấp, chất lượng nhiều loại nông sản không cao, nhiều doanh nghiệp chế biến luôn trong tình trạng thiếu hoặc không đảm bảo nguyên liệu dẫn đến giá thành cao, chất lượng thấp.

Kinh tế nông thôn Việt Nam phần lớn còn phát triển theo hướng tự phát, thiếu quy hoạch, rất bị động trong việc tiêu thụ sản phẩm. Việt Nam chưa sản xuất được sản phẩm nông nghiệp chuẩn mực như nhiều nước khác vì chưa có nền sản xuất lớn, chưa sản xuất tập trung, chưa có các quy trình kỹ thuật chuẩn, chưa kết nối được giữa sản xuất và tiêu thụ… Cho đến nay mà 90% sản phẩm nông nghiệp còn được bán ra ở dạng thô và 60% sản phẩm bị bán ép với giá thấp. Sản xuất còn rất manh mún, nhỏ bé. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Hầu hết các doanh nghiệp nông nghiệp của Việt Nam đều thuộc loại vừa và nhỏ, trong đó 60% doanh nghiệp nông lâm nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng. Hiệu quả kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp nông nghiệp thấp hơn rất nhiều so với các ngành khác, sẽ bất lợi khi vào sân chơi WTO.

Những yếu tố để đánh giá năng lực hội nhập kinh tế quốc tế như tỷ lệ cán bộ biết ngoại ngữ, vi tính, tham gia đào tạo, xây dựng mạng lưới khách hàng, thương hiệu… trong các doanh nghiệp nông nghiệp nhìn chung còn thấp, nhất là doanh nghiệp địa phương và doanh nghiệp tư nhân.

Bên cạnh đó, thách thức mang đến cho từng ngành có sự khác nhau khi tham gia tự do hoá thương mại khu vực hoặc WTO, trong đó, các doanh nghiệp thuộc ngành mía đường, rau quả, chăn nuôi sẽ phải chịu nhiều áp lực lớn từ việc mở cửa thị trường nội địa.

Ngoài các cam kết về mở cửa thị trường, Việt Nam còn cam kết mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, quyền phân phối cho các doanh nghiệp nước ngoài. Vì thế, các công ty đa quốc gia vốn rất mạnh về tài chính, hệ thống phân phối, thông tin, trình độ quản lý… khi vào kinh doanh tại Việt Nam sẽ là những thách thức không nhỏ cho doanh nghiệp nội địa, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh chóng đổi mới, vươn lên để tồn tại và hoạt động có hiệu quả.

Bên cạnh đó, vào WTO, Việt Nam phải đối mặt những tiêu chuẩn bắt buộc cao hơn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm của hàng nông sản, cạnh tranh thị trường trong nước và quốc tế và chất lượng, giá cả ngày càng tăng.

Các biện pháp hỗ trợ kinh doanh xuất khẩu nông sản không phù hợp với quy định của WTO sẽ phải bãi bỏ, hệ thống mới chưa hình thành nhưng những thách thức cạnh tranh sẽ đến ngay… khiến doanh nghiệp rất khó đối phó.

Thực tế cho thấy, hiện một số nước phát triển vẫn duy trì các hình thức hỗ trợ, trợ cấp cho xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Với sự trợ giúp trên, các nhà sản xuất nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn, vì các đối tượng này cơ bản thiếu vốn, thiếu trình độ kĩ thuật, thiếu kiến thức, kĩ năng, phương pháp liên kết và hợp tác. Phần lớn các doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn của Việt Nam mới chỉ xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa dưới dạng thô, còn các sản phẩm hàng hóa có hàm lượng chất xám cao thì vẫn chưa đủ sức cạnh tranh.

Một thách thức khác không kém phần quan trọng đối với doanh nghiệp nông nghiệp là sự lúng túng trong nắm bắt và làm chủ luật chơi ở môi trường WTO. Đã có nhiều cuộc thăm dò ý kiến được tiến hành, và phần lớn các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp đã trả lời rằng, họ chưa có hiểu biết nhiều về các quy định, quy tắc, các chế tài pháp lí trong môi trường cạnh tranh WTO. Thậm chí, không ít doanh nghiệp còn chưa hiểu biết gì về vần đề này, vì từ trước đến nay, sản phẩm kinh doanh của họ chỉ đơn thuần phục vụ thị trường trong nước với quy mô nhỏ. Việt Nam đã có những bài học đắt giá về việc thiếu hiểu biết về luật chơi khi xuất khẩu một số mặt hàng nông, thủy sản vào thị trường Mỹ và châu Âu. Năm 2023, một loạt các lô hàng thủy sản đã bị làm khó khi tung vào thị trường này, gây ra thiệt hại không nhỏ. Những bài học nhãn tiền ấy hoàn toàn không cũ khi Việt Nam đã gia nhập WTO.

Như vậy, ngoài những thuận lợi lớn mà việc gia nhập WTO mang lại, các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức và đòi hỏi một quá trình cũng như sự nỗ lực để có thể đứng vững trên thị trường quốc tế.

2. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Như đã phân tích ở phần cơ sở lí thuyết, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp được đánh giá trên 2 nhóm chỉ tiêu phân tích chính là các yếu tố của sản xuất kinh doanh và các yếu tố của thị trường.

Qua thu thập số liệu từ các cuộc điều tra và các báo cáo do Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) thực hiện, có thể đưa ra một vài đánh giá tổng quát về thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam như sau:

2.1. Nhóm các yếu tố về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

  • Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp:

Nhìn chung hiện nay, bộ máy tổ chức của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp còn khá cồng kềnh, nhất là các doanh nghiệp khu vực Nhà nước. Nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) cho thấy, qui mô phổ biến của các doanh nghiệp nông nghiệp là khoảng từ 10 tới 500 người, chiếm hơn 80%. Các doanh nghiệp có qui mô tới 10 người chủ yếu là các công ty trách nhiệm hữu hạn, chiếm gần 3%. Chỉ có gần 13% số doanh nghiệp có qui mô trên 1000 người. Các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có qui mô nhỏ, trong khi đó các doanh nghiệp Nhà nước có qui mô lao động từ 100 đến 500 người.

Bên cạnh yếu tố quy mô, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào trình độ cán bộ trên các mặt chuyên môn, vi tính, ngoại ngữ cũng như tần suất được cập nhật kiến thức thông qua việc làm việc với chuyên gia bên ngoài, tham quan/làm việc tại nước ngoài cũng như tiếp đón các chuyên gia nước ngoài. Các con số này không phải là cao để có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập trong thời gian tới, nhất là các chỉ tiêu về tỉ lệ người có thể làm việc trực tiếp với chuyên gia nước ngoài (hiện đạt 3,53% so với tổng số lao động trong doanh nghiệp) cũng như tỉ lệ người sử dụng thành thạo máy tính, một công cụ hữu ích trong công việc nhất là trong thời đại của kinh tế tri thức và công nghệ thông tin bùng nổ. Về các chỉ tiêu này doanh nghiệp liên doanh có ưu thế hơn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Tỉ lệ người biết ngoại ngữ và vi tính tại các doanh nghiệp cũng khác nhau. IPSARD đã tiến hành điều tra và kết quả cho thấy, tỉ lệ người biết ngoại ngữ tại các doanh nghiệp liên doanh là gần 70%, còn ở các doanh nghiệp Nhà nước địa phương là 5,79%, công ty cổ phần chỉ có 4,98%. Đối với doanh nghiệp Nhà nước Trung ương con số này mới là hơn 8% và chưa đến 10% đối với các doanh nghiệp tư nhân. Các con số trên phần nào phản ánh đúng hiện trạng của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp hiện nay. Các doanh nghiệp Nhà nước địa phương có tỉ lệ người có thể làm việc trực tiếp với chuyên gia và sử dụng máy vi tính thấp nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác. Cao nhất là doanh nghiệp liên doanh, tiếp theo là các công ty TNHH, các công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước Trung ương. Nguyên nhân của hiện tượng này là đa số các công ty TNHH cũng như các doanh nghiệp liên doanh được thành lập trong thập kỷ gần đây nên đã tuyển dụng được lực lượng lao động được đào tạo cơ bản hơn về ngoại ngữ và vi tính. Yếu tố địa lý cũng ảnh hưởng phần nào đến các chỉ tiêu này của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có các chỉ tiêu trên cao nhất. Tỉ lệ người sử dụng thành thạo máy vi tính chiếm hơn 30% và người có thể làm việc trực tiếp với chuyên gia nước ngoài là hơn 11%, trong khi con số này của các doanh nghiệp Bình Phước, Gia Lai, Cần Thơ và Phú Thọ quá thấp, hầu như nhỏ hơn 3%. Điều này là thể hiện điều kiện tiếp cận với những khoa học kỹ thuật cũng như môi trường hội nhập và thương mại khác nhau của các địa bàn.

Việc đào tạo cán bộ của các doanh nghiệp ở mỗi loại hình cũng không giống nhau. Doanh nghiệp Nhà nước và công ty TNHH có ưu thế về đào tạo trong và ngoài nước thông qua chỉ tiêu số lượt người trung bình được đi học tập/thăm quan và làm việc trong 3 năm gần đây cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Đối với doanh nghiệp tư nhân thì chỉ tiêu này quá thấp hầu như dưới 3 lượt người, thậm chí cả việc đào tạo trong nước chứ chưa kể đến đào tạo ngoài nước.

Về các chỉ tiêu này thì các doanh nghiệp Nhà nước địa phương kém hơn cả, khi trung bình chỉ có 3-4 lượt người đi học tập/đào tạo/làm việc tại nước ngoài cũng như trong nước trong 3 năm gần đây, còn lượng khách nước ngoài đến doanh nghiệp thì chưa đến 3 lượt người. Đặc biệt số lượt người được đào tạo về vấn đề hội nhập đối với các doanh nghiệp còn rất hạn chế. Mới chỉ có các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và công ty cổ phần được đào tạo về vấn đề hội nhập trong thời gian qua mặc dù số lượt người còn quá thấp bình quân chưa đến 2 lượt người trong 3 năm gần đây.

Như vậy, các doanh nghiệp Nhà nước tuy có quy mô lớn nhưng những nhân tố về con người trong thời đại kinh tế tri thức lại thấp hơn so với các doanh nghiệp liên doanh hay công ty TNHH. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở các doanh nghiệp Nhà nước địa phương, đòi hỏi phải được cải thiện trong thời gian tới.

  • Nguồn tài chính trong doanh nghiệp: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Tài chính luôn là vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp, nhất là tỉ lệ vốn tự có. Đây là chỉ tiêu đánh giá sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD), các doanh nghiệp trong ngành nông lâm nghiệp hiện có tổng vốn bình quân hơn 97 tỉ đồng, trong đó gần 1/2 là vốn tự có (43,4%). Tuy nhiên, giữa các loại hình doanh nghiệp có sự khác nhau tương đối rõ nét. Doanh nghiệp nhà nước Trung ương có vốn lớn nhất, trung bình gần 400 tỉ đồng, trong khi các doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH có mức vốn nhỏ ở mức 8-12 tỉ đồng. Doanh nghiệp Nhà nước địa phương có vốn tương đối lớn (trung bình gần 30 tỉ đồng) nhưng còn kém xa các doanh nghiệp Trung ương cùng thành phần. Ngược lại, các công ty cổ phần, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân lại có tỉ lệ vốn tự có cao trong tổng vốn hàng năm, chiếm tới 50-75%. Con số này đối với các doanh nghiệp Nhà nước lại thấp dưới 30%, đặc biệt các doanh nghiệp địa phương chỉ có hơn 23% vốn tự có. Như vậy, tỉ lệ vốn vay của các doanh nghiệp này khá lớn phần nào hạn chế năng lực cạnh tranh khi có những biến động về tài chính và kinh tế trong khu vực, tác động không nhỏ đến năng lực hội nhập kinh tế quốc tế trong tương lai như mở rộng thị trường, đổi mới công nghệ và thiết bị…

  • Bảng 2. Khả năng về vốn của doanh nghiệp nông nghiệp trong 3 năm 2022 – 2024

Xét theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp trong ngành lúa gạo có lượng vốn lớn nhất trong các doanh nghiệp nông nghiệp đạt tới hơn 400 tỉ đồng nhưng lượng vốn tự có lại thấp chỉ có 46,3%. Tình hình diễn ra tương tự đối với các doanh nghiệp kinh doanh cà phê, số vốn bình quân gần 100 tỉ đồng nhưng chỉ có 14,3% là vốn tự có. Nguyên nhân của tình hình này là các doanh nghiệp trong 2 ngành hàng này hoạt động chủ yếu trong việc thu mua nguyên liệu (gạo, cà phê) phục vụ xuất khẩu với khối lượng lớn cũng như huy động lớn theo thời điểm nhất định đáp ứng những đơn hàng nên lượng vốn lưu động rất lớn, cần có sự hợp tác của nhiều doanh nghiệp trong ngành cho một đơn hàng cụ thể. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo vốn lưu động cho việc thu mua gạo nguyên liệu chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay của các ngân hàng và nguồn vốn từ các quỹ của Nhà nước (Quỹ hỗ trợ phát triển…) và lượng vốn này không phải là nhỏ đối với những hợp đồng cho 1 chuyến tàu xuất khẩu hàng trăm ngàn tấn gạo. Nhu cầu về vốn lưu động để huy động nguồn hàng cà phê trong ngành hàng cà phê cũng lớn tương tự. Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp có tỉ lệ vốn tự có đáng kể như các doanh nghiệp kinh doanh và chế biến hạt điều (gần 76%), các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu lâm sản (gần 60%) hay các doanh nghiệp trong ngành rau quả (hơn 50%). Thực tế từ cuộc khủng hoảng giá cà phê năm 2018-2019 cho thấy chỉ có những doanh nghiệp/hộ có tiềm lực vốn lớn mới có thể vượt qua được những biến động lớn như vậy. Phần lớn các hộ hay doanh nghiệp trong thời gian này do thiếu vốn kinh doanh đã phải bán cà phê với giá quá thấp gây lỗ lớn và khả năng đầu tư để duy trì vườn cây hầu như bằng không như vậy không những ảnh hưởng xấu đến việc kinh doanh hiện tại mà còn tới những năm sau này. Trong khi nhiều hộ/doanh nghiệp có vốn lớn và dài hơi hơn đã không vội bán sản phẩm mà lưu kho chờ giá lên sau này đã không những hoàn được chi phí sản xuất mà còn có những lợi nhuận nhất định. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Nhìn chung, vấn đề tài chính vẫn là một khó khăn đối với các doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay. Tỉ lệ vốn tự có không cao, nhất là ở các doanh nghiệp Nhà nước địa phương, gây nhiều khó khăn khi có biến động về kinh tế và tài chính.

  • Trình độ công nghệ trang thiết bị trong doanh nghiệp:

Mức độ mua sắm của doanh nghiệp đối với những trang thiết bị được dùng để gián tiếp đánh giá mức độ trang bị mới cũng như trang bị thông tin liên lạc trong doanh nghiệp. Xét về chỉ tiêu mua sắm máy móc thiết bị, IPSARD cũng đưa ra số liệu về mức đầu tư mua sắm trang thiết bị mới của các doanh nghiệp khi tiến hành điều tra, trong đó doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đầu tư lớn hơn bình quân tới gần 8 tỉ đồng/năm chiếm gần 6,6% tổng chi hàng năm. Con số này cũng khá cao so với công ty TNHH: 2,76 tỉ đồng/năm và chiếm 9,64% tổng chi hàng năm. Các loại hình doanh nghiệp doanh nghiệp còn lại (Nhà nước địa phương, cổ phần và tư nhân) có mức chi khá khiêm tốn, ở mức 5% trong tổng chi hàng năm. Về việc đầu tư đất đai và nhà xưởng thì các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và doanh nghiệp tư nhân có chú trọng hơn, gấp 2-6 lần về giá trị và 2-3 lần về tỉ lệ chi trong tổng chi của các loại hình doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, xét về chỉ tiêu tương đối, các doanh nghiệp tư nhân có tỉ lệ đầu tư vào đất đai và nhà xưởng lớn nhất, chiếm gần 7% tổng chi hàng năm.

Các doanh nghiệp nông nghiệp có xu hướng đầu tư ít vào phương tiện vận tải, với mức bình quân phổ biến dưới 2% tổng chi phí ngoại trừ các công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân con số này có phần lớn hơn (chiếm 5-6% tổng chi). Không phải doanh nghiệp nào cũng có đầu tư vào việc tăng cường trang thiết bị nêu trên. Tỉ lệ doanh nghiệp có đầu tư vào những trang thiết bị này mới ở mức 45-55% tùy theo các hạng mục.

Đối với những công cụ làm việc tiên tiến như máy vi tính, thiết bị văn phòng khác cũng được các doanh nghiệp đầu tư thích đáng. Tỉ lệ số doanh nghiệp mua sắm các thiết bị này tương đối cao, chiếm khoảng 2/3 số doanh nghiệp.

Tuy nhiên, mức chi cho những công cụ phục vụ việc nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp còn quá khiêm tốn. Mức chi trung bình mới ở con số dưới 50 triệu đồng/năm chiếm chưa đến 0,5% tổng chi phí hàng năm, trừ các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Qua khảo sát sâu các doanh nghiệp của 2 ngành hàng lúa gạo và cà phê cho thấy mức độ trang bị kỹ thuật của các doanh nghiệp cũng chỉ ở mức trung bình. Khả năng tiếp cận công nghệ nguồn của các doanh nghiệp rất hạn chế, nặng tính chắp vá và tận dụng nhiều. Có tới gần 43% số dây chuyển sản xuất chính của các doanh nghiệp được trang bị trong những năm trước 2018. Một thực trạng khá phổ biến trong các doanh nghiệp là tính chắp vá trong các dây chuyền thiết bị bởi tồn tại đan xen giữa công nghệ hiện đại và các công nghệ cũ và lạc hậu do thiếu khả năng đầu tư. Chính điều này đã làm khó cho các chủ doanh nghiệp khi phải xác định trình độ công nghệ của đơn vị mình. Số lượng dây chuyền sản xuất chính được mua sắm trong 3 năm gần đây không nhiều. Các dây chuyền phân loại sản phẩm và tách tạp chất của các doanh nghiệp điều tra phổ biến là công nghệ của những năm 90. Ví dụ, theo đánh giá của Sở Công nghiệp Cần Thơ chỉ có 25% số doanh nghiệp trong ngành lúa gạo của tỉnh được trang bị công nghệ trung bình tiên tiến; 50% – công nghệ trung bình thấp và còn lại là các công nghệ lạc hậu với thiết bị cũ. Tình hình diễn ra tương tự đối với các doanh nghiệp trong ngành cà phê. Tỉ lệ các doanh nghiệp được trang bị những dây chuyền tách màu rất nhỏ và là công nghệ của những năm 90. Phần lớn các sản phẩm cà phê hạt được phơi khô. Tỉ lệ doanh nghiệp được trang bị dây chuyền chế biến ướt chiếm tỉ lệ tương đối lớn. Tuy nhiên, các dây chuyền này được sắm trước năm 2013, hiện nay hầu như không còn hoạt động do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự xuống cấp của máy móc thiết bị, thiếu nguyên liệu đủ tiêu chuẩn cho chế biến hay thiếu nhu cầu về các sản phẩm này. Mặt khác, các trang thiết bị này phần lớn được chế tạo trong nước (sản phẩm của công ty cơ khí cà phê tại Nha Trang) nên chất lượng cũng không được cao như các dây chuyền nhập khẩu từ các nước tiên tiến. Các chủ doanh nghiệp thì cho rằng nhu cầu về sản phẩm chế biến ướt không lớn nên không áp dụng công nghệ này. Mặt khác, chế biến ướt đòi hỏi nguyên liệu quả tươi chất lượng cao (tỉ lệ quả chín đạt hơn 95%) một điều khó có thể đạt được trong điều kiện người dân thường có thói quen thu hoạch khi còn xanh. Hiện tại chỉ có một số doanh nghiệp có điều kiện quản lý tốt thời gian thu hái sản phẩm (chủ yếu là những diện tích giao khoán cho nông trường viên) vẫn còn duy trì được việc chế biến ướt. Tuy nhiên, tỉ lệ sản phẩm được chế biến theo công nghệ này còn quá nhỏ so với tổng lượng cà phê nhân được sản xuất hàng năm.

Về phần mềm chuyên nghiệp phục vụ quản lý doanh nghiệp, ít có doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề này. Đa số các doanh nghiệp mới dùng ở mức độ sử dụng các công cụ này trong quản lý văn bản.

Như vậy, nhìn chung các doanh nghiệp nông nghiệp đều có sự quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, tuy nhiên, những máy móc kĩ thuật cao, dây chuyền sản xuất tiên tiến thì mới chỉ được đầu tư ở mức cầm chừng. Các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, các doanh nghiệp liên doanh, công ty TNHH là những đơn vị đi đầu về đầu tư cho thiết bị, công nghệ. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Công ty cổ phần và doanh nghiệp Nhà nước địa phương do còn hạn chế về vốn và khả năng quản lí nên chưa có sự quan tâm thích đáng đến vấn đề này.

  • Sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp:

Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nông lâm nghiệp nói riêng, sản phẩm thể hiện linh hồn sống đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp nông lâm nghiệp rất đa dạng về loại hình sản phẩm. Những khía cạnh chủ yếu được đưa ra đánh giá về tính cạnh tranh của sản phẩm là tính đa dạng, thương hiệu, hay giá thành so với các đối thủ.

Tính đa dạng hoá sản phẩm trong doanh nghiệp: Trong quá trình phát triển các doanh nghiệp luôn có hướng chọn cho mình một vài nhóm sản phẩm chiến lược. Tuy nhiên, thực tế sản xuất kinh doanh cho thấy những sản phẩm đó chỉ mang tính tương đối, tức là không thể bán mãi chỉ duy nhất một loại sản phẩm mà nó đòi hỏi sự đa dạng về chiều sâu cũng như chiều rộng theo nhu cầu và thị hiếu của các đối tượng khách hàng khác nhau. Điều đó sẽ tạo cho doanh nghiệp tránh được rủi ro trong kinh doanh và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp nông lâm nghiệp khi sản phẩm và dịch vụ thường gắn liền với những cây trồng vật nuôi có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài đòi hỏi những khoản đầu tư nhất định trước khi cho sản phẩm kinh doanh như cây lâu năm, đại gia súc, v.v…

Một số doanh nghiệp trong ngành cà phê cũng có xu hướng đa dạng hóa sản xuất kinh doanh như: sản xuất lúa và tôm sú (Công ty cà phê 719); sản xuất và chế biến hạt điều (Công ty cà phê Chư Quynh); sản xuất ca cao (Công ty cà phê Buôn Hồ) hay nuôi bò thịt (Công ty cà phê 715a). Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp này chưa nhiều.

  • Đồ thị 1. Tỉ lệ sản phẩm chính so với tổng doanh thu của các doanh nghiệp nông nghiệp

Đồ thị trên cho thấy, đa số các doanh nghiệp có tỉ lệ giá trị sản phẩm chính trong tổng doanh thu hàng năm lớn hơn 85%. Con số doanh nghiệp có tỉ lệ sản phẩm chính trong tổng doanh thu nhỏ hơn 50% chỉ ở mức 1,15%. Có đến 40,9% số doanh nghiệp có tỉ lệ sản phẩm chính trong tổng doanh thu trên 95%. Các doanh nghiệp có xu hướng đa dạng hoá sản phẩm cao là công ty TNHH, cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Sản phẩm chính của gần 1/2 số doanh nghiệp cổ phần chỉ chiếm ở mức dưới 70% so với tổng doanh thu. Con số này của doanh nghiệp tư nhân là 50%. Điều này giải thích phần nào các loại hình doanh nghiệp này ứng phó linh hoạt hơn khi có những biến động trong sản xuất kinh doanh. Tỉ lệ này là dưới 15% đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp trong thành phần kinh tế này lúng túng khi có những biến động về giá cả thị trường. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Mặt khác, các doanh nghiệp trong ngành hầu như còn ở trong tình trạng xuất khẩu nguyên liệu thô hay sơ chế. Thị trường giá trị gia tăng cao đối với các sản phẩm như gạo chế biến hấp xấy hay cà phê bột/hòa tan còn hạn chế, chưa kể đến việc thâm nhập thị trường bán lẻ tại các nước nhập khẩu như sản phẩm cho các siêu thị, v.v…

Có thể thấy, các doanh nghiệp Nhà nước đang gặp khó khăn hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác do chưa chủ động đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của mình để có thể dễ dàng ứng phó với những biến động của thị trường.

Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp: Một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập là giá thành sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên có một thực tế là hiện nay, tỉ lệ chủ doanh nghiệp không biết được giá thành của doanh nghiệp đang đứng ở vị trí nào so với đối thủ cạnh tranh còn khá cao. Khi tiến hành khảo sát tại 8 tỉnh đại diện cho các vùng trong cả nước như: Phú Thọ (miền núi phía Bắc), Hải Phòng (Đồng bằng sông Hồng), Quảng Trị (Duyên hải miền Trung), Gia Lai và Đắk Lắk (Tây Nguyên); Bình Phước và Tp. Hồ Chí Minh (Đông Nam Bộ), và Cần Thơ (Tây Nam Bộ) có số lượng các doanh nghiệp nông lâm nghiệp tương đối tập trung, nhóm nghiên cứu của IPSARD do TS. Đặng Kim Sơn tiến hành đã thực hiện phỏng vấn các doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn. Trong số đó có hơn 60% số doanh nghiệp khi được hỏi chưa xác định được giá thành của mình ở mức nào so với các doanh nghiệp nước ngoài và xấp xỉ 27% số doanh nghiệp chưa thể so sánh giá thành của mình với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh khác. Hơn thế nữa, có tới 9,1% số doanh nghiệp chưa biết được giá thành của mình như thế nào so với các doanh nghiệp khác cùng địa bàn (tỉnh). Đối với doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và Công ty cổ phần là 30%; doanh nghiệp tư nhân và Nhà nước địa phương là 33%. Thậm chí hơn 1/2 số doanh nghiệp được hỏi tại tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk không xác định được giá thành của mình như thế nào so với đối thủ ngoài tỉnh. Điều đó phản ánh phần nào hạn chế của các chủ doanh nghiệp trong việc tiếp cận thông tin trong và ngoài nước cũng như quan niệm về kinh doanh chưa được đổi mới.

Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp: là một chỉ tiêu không kém phần quan trọng trong quá trình cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên mới chỉ khoảng gần 1/3 lượng sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ra đạt chất lượng tốt. Có ưu thế về chỉ tiêu này là các doanh nghiệp Nhà nước địa phương và công ty TNHH. Tỉ lệ sản phẩm ở chất lượng kém còn cao ở các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương (chiếm tới 20%) trong khi con số này ở các loại hình doanh nghiệp khác chỉ dao động ở mức 2-6%. Nếu xét về ngành hàng, ngành lương thực chủ yếu đạt tiêu chuẩn chất lượng khá và trung bình, chiếm tới 80% lượng sản phẩm. Điều này phản ánh phần nào đặc điểm sản xuất của nền sản xuất lúa theo mô hình hộ nông dân tác động đến việc quản lý và nâng cao chất lượng gạo thành phẩm của các doanh nghiệp. Con số này đối với ngành hàng cà phê được cải thiện do việc sản xuất có tập trung hơn. Tuy nhiên, sản phẩm chất lượng kém cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ gần 18%. Tuy nhiên, nguyên nhân theo các doanh nghiệp cho biết chủ yếu là do qui trình thu hoạch và bảo quản sản phẩm gây lên. Chẳng hạn đối với ngành lúa gạo, phần sản xuất gạo nguyên liệu điều do người dân đảm nhiệm, mà ở đó các qui trình kỹ thuật chăm sóc và thu hoạch chưa được chú ý. Các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu sản phẩm này thường huy động nguồn nguyên liệu trôi nổi trên thị trường và qua thương lái nên việc quản lý chất lượng khó có thể đảm bảo về giác độ cùng giống và khối lượng lớn. Do vậy đối với những hợp đồng với lô hàng gạo chất lượng cao các doanh nghiệp thường ít khi thực hiện tốt. Đối với ngành hàng cà phê mặc dù có vùng nguyên liệu tập trung hơn nhưng chất lượng lại bị hạn chế bởi qui trình thu hái (thường là thu hoạch quả xanh) và công nghệ chế biến (tỉ lệ chế biến theo công nghệ ướt rất ít). Theo một số chủ doanh nghiệp cho biết hiện tại người dân có xu hướng thu hoạch sớm (thường vào tháng 11-12 khi quả còn xanh) hơn trước kia (vào dịp Tết âm lịch khi quả đã chín rộ) làm giảm hẳn chất lượng cà phê chế biến nhất là phục vụ công nghệ chế biến ướt. Trên thực tế chỉ còn những diện tích do các công ty chỉ đạo chặt chẽ khâu thu hoạch mới đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho công nghệ chế biến này.

Nhìn chung, Việt Nam có những điều kiện để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng và mang đặc trưng riêng của miền nhiệt đới, nhưng những sản phẩm này mới chỉ ở dạng thô, còn khi qua chế biến thì đạt chất lượng chưa cao. Nghịch lí là trong khi các doanh nghiệp Nhà nước trung ương được đầu tư lớn để mua sắm trang thiết bị lại có tỉ lệ sản phẩm chất lượng kém cao nhất. Điều này đặt ra vấn đề sử dụng nguồn vốn đầu tư thế nào cho có hiệu quả, tránh mất chi phí lớn cho các dây chuyền công nghệ lạc hậu mà hiệu quả sản xuất vẫn không cao. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Thương hiệu sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp: Đây là điều kiện quan trọng đối với doanh nghiệp khi hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Nó đảm bảo uy tín của doanh nghiệp với tư cách như là một thể nhân ra vào thị trường. Với xu thế của toàn cầu hoá thì thương hiệu ngày càng trở lên quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Hiện có khoảng 42% doanh nghiệp đã đăng ký nhãn hiệu sản phẩm. Doanh nghiệp liên doanh đi đầu trong vấn đề này. Sau đó là các công ty cổ phần. Tuy nhiên, các doanh nghiệp mới đăng ký thương hiệu của mình tại Việt Nam. Tỉ lệ doanh nghiệp có đăng ký thương hiệu trên thế giới còn quá khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 13%. Con số này thể hiện sự lựa chọn của các doanh nghiệp về chiến lược xây dựng thương hiệu sản phẩm có thể là thương hiệu riêng hay mượn thương hiệu của doanh nghiệp khác nhằm giảm thiểu chi phí trong ngắn hạn để xây dựng chiến lược thị trường dài hạn hơn. Đó cũng là đặc điểm của các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng việc đăng ký chỉ là một khâu rất nhỏ trong việc duy trì thương hiệu và sử dụng thương hiệu như là một công cụ đảm bảo tính cạnh tranh cao của doanh nghiệp trên thị trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Một phần là do các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, một phần là đây là vấn đề mới các doanh nghiệp còn nhiều bỡ ngỡ trong xây dựng thương hiệu. Đặc biệt một số doanh nghiệp cho rằng đó là một việc của Nhà nước (Bộ ngành hay địa phương) mang tính quốc gia cần phải có chương trình đồng bộ và đầu tư thích đáng. Có doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư xây dựng thương hiệu chứng chỉ ISO nhưng do chi phí quá cao so với khả năng đầu tư nên đã bỏ. Trong thực tế còn nhiều quan niệm khác nhau về xây dựng thương hiệu: thương hiệu quốc gia hay vùng nhưng theo chúng tôi thương hiệu sản phẩm phải gắn liền với doanh nghiệp và là công cụ để doanh nghiệp thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.

  • Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp:

Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên sự khác nhau giữa các doanh nghiệp. Thực tế cho thấy hai doanh nghiệp có thể có cùng điều kiện về đất đai, tài chính, v.v… nhưng với những cách nghĩ cách làm khác nhau của người chủ doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ chắc chắn sẽ có những kết quả khác nhau.

Chủ doanh nghiệp: Điều tra của IPSARD cũng cho thấy trong số 88 chủ doanh nghiệp được hỏi, nam chiếm 82,95% với độ tuổi trung bình là 49 tuổi, một độ tuổi không phải là trẻ so với xu thế hội nhập hiện nay. Người trẻ nhất là 30 tuổi và già nhất là 60 tuổi. Điều đáng nói ở đây là chỉ có 9/88 (hơn 10%) chủ doanh nghiệp có độ tuổi dưới 40 mà tập trung chủ yếu là các công ty tư nhân và TNHH có qui mô nhỏ, trong khi những công ty lớn, nhất là doanh nghiệp Nhà nước thì các giám đốc lại đã ở tuổi ngoài 55. Điều này hạn chế phần nào khả năng tiếp cận với những yếu tố công nghệ và kỹ thuật của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là tính năng động trong chiến lược kinh doanh. Giám đốc các doanh nghiệp liên doanh, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân thường là những người trẻ hơn, mới ở độ tuổi 46-48 có nhiều kinh nghiệm và kiến thức để quản lý các doanh nghiệp tốt hơn trong quá trình hội nhập. Một điều đáng chú ý là tỉ lệ chủ doanh nghiệp mới đạt văn hóa cấp trung học cơ sở còn cao (11-12% số người được phỏng vấn), chủ yếu là doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và doanh nghiệp tư nhân.

Xét về chuyên môn được đào tạo của các chủ doanh nghiệp cho thấy tỉ lệ người có chuyên ngành phù hợp với ngành nghề đang sản xuất kinh doanh không phải là lớn. Tỉ lệ trái ngành nghề xảy ra lớn nhất ở các doanh nghiệp tư nhân (2/3 số doanh nghiệp điều tra) và công ty TNHH (gần 43% số doanh nghiệp được hỏi). Mới có 35,2% số chủ doanh nghiệp được đào tạo về các chuyên ngành kinh tế và thương mại. Có tới gần 40% (cụ thể là 39,8%) số chủ doanh nghiệp có chuyên môn ít gắn với việc quản lý và điều hành hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp. Một điểm đáng chú ý là phần lớn các giám đốc công ty TNHH có chuyên ngành đào tạo không liên quan trực tiếp đến các doanh nghiệp nông lâm nghiệp như kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế hay thương mại (chiếm gần1/2 doanh nghiệp điều tra).

Tuy nhiên, thâm niên công tác dài là yếu tố quan trọng để các lãnh đạo doanh nghiệp có những kinh nghiệp công tác tốt, nhất là đối với đặc thù của ngành nông nghiệp (sản xuất phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện tự nhiên cũng như đối tượng lao động lại là những cây trồng vật nuôi). Thế nhưng, đó cũng là yếu tố hạn chế tính năng động của các chủ doanh nghiệp của thành phần kinh tế này trong quá trình đổi mới đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện tại và tương lai.

  • Đồ thị 2. Trình độ đào tạo của chủ DN Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Đồ thị này cho thấy, số chủ doanh nghiệp có trình độ trên đại học còn chưa nhiều, chỉ chiếm khoảng 3%. Con số này ở trình độ đại học và cao đẳng là 39% và vẫn còn tới 18% số chủ doanh nghiệp được đào tạo ở cấp trung học trở xuống.

Số chủ doanh nghiệp có trình độ đào tạo ở cấp sơ cấp và trung cấp vẫn ở mức 40%.

Tỉ lệ số doanh nghiệp chưa xác định được đối thủ cạnh tranh của mình còn khá lớn. Điều tra trên địa bàn một số tỉnh cho thấy vẫn còn tới 8% số doanh nghiệp chưa xác định được đối thủ cạnh tranh của mình, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân. Tỉ lệ này cao dần đối với khoảng cách ngoài tỉnh và ngoài nước. Có tới gần 45% số doanh nghiệp không biết được đối thủ của mình ở ngoài tỉnh. Con số này lớn hơn ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp địa phương, những loại hình doanh nghiệp phần nhiều bó hẹp địa bàn hoạt động trong một địa phương nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn tới 1/5 số doanh nghiệp Nhà nước Trung ương không biết rõ đối thủ của mình.

Nhiều chủ doanh nghiệp thậm chí chưa xác định được đơn vị mình sẽ có những cơ hội và thách thức gì khi hội nhập kinh tế quốc tế: khoảng 24% tổng số doanh nghiệp, trong số này,đó các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương là 40%, doanh nghiệp Nhà nước địa phương, công ty cổ phần và TNHH – mỗi loại hình 15% doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân chiếm 20%. Các yếu tố như giá bán, mạng lưới khách hàng và mở rộng thị trường chưa được các chủ doanh nghiệp chú ý nhiều, đây sẽ là những vấn đề nóng bỏng khi Việt Nam hội nhập đầy đủ vào thị trường quốc tế. Nhiều chủ doanh nghiệp còn chưa thực sự quan tâm đến vấn đề hội nhập. Người thì cho rằng đó là việc của Nhà nước, của Chính phủ hay của ngành. Như vậy tâm lý chờ đợi còn khá phổ biến trong các doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhận thức về hội nhập có khá hơn. Tuy nhiên còn một vấn đề khác đó là, trong đội ngũ quản lý doanh nghiệp nông lâm nghiệp hiện nay là vấn đề hội nhập chỉ liên quan đến các doanh nghiệp có sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, mà bỏ qua “cái sân nhà” là thị trường trong nước. Khi hội nhập chắc chắn sẽ là nơi cạnh tranh mạnh giữa hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại.

Từ những số liệu trên, có thế thấy, năng lực của các chủ doanh nghiệp nông nghiệp còn nhiều bất cập. Đặc biệt là vấn đề trẻ hóa đội ngũ và trình độ đào tạo. Các doanh nghiệp Nhà nước là những đơn vị có sức ỳ lớn nhất trong vấn đề này. Các doanh nghiệp liên doanh, công ty TNHH, công ty tư nhân có khá hơn nhưng cũng cần tiếp tục cải thiện trong thời gian tới.

2.2. Nhóm các yếu tố về thị trường của doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

  • Hệ thống thông tin thị trường:

Để có thể tiêu thụ được những sản phẩm hay dịch vụ của mình các doanh nghiệp phải hiểu được thị trường thông qua hệ thống thông tin dự báo của mình. Đa số các doanh nghiệp chưa có một hệ thống thông tin tiên tiến ứng dụng những phương pháp và công cụ dự báo thị trường tiên tiến mà chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm sản xuất kinh doanh tích lũy được qua thời gian.

Đối với hai ngành hàng quan trọng của Việt Nam là lúa gạo và cà phê thì hệ thống thông tin thị trường hầu như rất hạn chế. Theo Tổng Công ty lương thực miền Nam, khách hàng chủ yếu là khách truyền thống, còn những thương vụ giao dịch thông qua tham tán thương mại chưa có. Hiện tại các công ty còn dựa nhiều vào những hợp đồng giữa các chính phủ , phần tự khai thác các thị trường mới chưa nhiều. Hệ thống thông tin thị trường của ngành chưa được phát triển, đội ngũ nghiên cứu thông tin thị trường chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm của phòng kế hoạch và kinh doanh. Tại văn phòng Tổng công ty cũng chỉ có 2-3 người có thể giao dịch đàm phán trực tiếp với khách hàng nước ngoài. Việc đào tạo các cán bộ này chưa chuyên sâu chủ yếu là từ kinh nghiệm thực tiễn.

Hệ thống thông tin thị trường của ngành cà phê có phần tiến bộ hơn xuất phát từ đặc điểm kinh doanh mặt hàng này. Việc trao đổi mua bán của các doanh nghiệp với người trồng cà phê thông qua việc báo giá hàng ngày trên cơ sở giá cà phê tại thị trường Luân Đôn lúc 2 giờ sáng. Từ đó từng công ty kết hợp với những dự báo của riêng mình phát giá thu mua cho ngày hôm đó. Tuy nhiên, để biết được doanh nghiệp mua với giá bao nhiêu thì điện thoại và các điểm thu mua của công ty là nơi cung cấp thông tin. Như vậy, ở đây còn thiếu vắng một sàn giao dịch để các doanh nghiệp có thể có những phân tích đánh giá và quyết định đúng hơn với phản ứng thị trường. Trong khi đó các doanh nghiệp đã cảm thấy tác động của hội nhập ngay trên địa bàn. Một số công ty nước ngoài đã hiện diện và có những nghiên cứu đánh giá và dự báo mức cung sản phẩm rất thường xuyên và cập nhật, trong khi các doanh nghiệp trong nước ít quan tâm đến khía cạnh này nên thường bị thua thiệt trong kinh doanh.

Vai trò của các doanh nghiệp trong việc quyết định thị trường hầu như chưa có. Các doanh nghiệp lúa gạo và cà phê của Việt Nam đã có những vai trò trong việc sản xuất (phía cung) nhưng chưa phải là những người định giá. Là nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới nhưng chưa có vai trò định giá mà phụ thuộc nhiều vào những nhà tiêu thụ lớn (các nhà rang xay) trên thế giới. Đây cũng là một đặc điểm khác biệt của thị trường cà phê thế giới nhưng cũng là một trong những yếu điểm của các doanh nghiệp trong ngành. Mới thiên về những nghiệp vụ buôn bán truyền thống chưa có những hình thức thương mại tiên tiến như thị trường giao sau hay thương mại điện tử, v.v… Một sàn giao dịch cho ngành hàng cà phê đã được nói nhiều trong những năm gần đây nhưng cũng chưa thành hiện thực. Là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới nhưng các công ty của Việt Nam hầu như chưa có văn phòng đại diện tại các nước nhập khẩu lớn để có những thông tin thị trường chính xác và nhanh nhất phục vụ kịp thời cho những chiến lược sản phẩm hiệu quả nhất. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Mặt khác các doanh nghiệp nông nghiệp hầu như chưa sử dụng những dịch vụ tư vấn kinh doanh hiện có trong xã hội thông qua mức chi cho thuê chuyên gia từ bên ngoài. Tỉ lệ doanh nghiệp đầu tư vào việc thuê chuyên gia tư vấn từ bên ngoài không nhiều, chiếm chưa đến 16%.

Có thể nói, hệ thống thông tin thị trường chưa phát triển gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra nhiều bất lợi khiến các doanh nghiệp khó nắm bắt được các cơ hội cũng như khẳng định được danh tiếng của mình trên thị trường.

  • Khả năng xúc tiến thương mại:

Thực tế là các doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề này chưa đúng và chưa nhiều. Phần lớn các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến việc quảng bá sản phẩm khi có hiện tượng ế hàng hay tiêu thụ chậm hoặc có những đối thủ cạnh tranh trong cuộc chiến giành giật thị phần. Việc đầu tư vào xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp chưa nhiều thể hiện ở sự chi phí cho tiếp thị quảng cáo và nghiên cứu phát triển qua thời gian 3 năm gần đây. số doanh nghiệp đầu tư cho việc phát triển khoa học công nghiệp, nghiên cứu và phát triển mới chỉ chiếm khoảng 1/3. Các doanh nghiệp Nhà nước địa phương có sự quan tâm lớn hơn về vấn đề này. Gần ½ số doanh nghiệp Nhà nước này có đầu tư cho việc tiếp thị quảng cáo và nghiên cứu phát triển, trong khi con số này đối với các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương chỉ đạt hơn 26%. Xét về mức chi trung bình trong tổng chi phí hàng năm cho thấy mức chi của các doanh nghiệp nông nghiệp còn quá khiêm tốn (khoảng 1-1,4%).

  • Hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp:

Đối với nền kinh tế thị trường thì đây là yếu tố quan trong trong việc phát triển doanh nghiệp. Nó đảm bảo cho sản phẩm làm ra của doanh nghiệp có thể tiêu thụ được và từ đó thu được lợi nhuận.

Hiện nay, các doanh nghiệp nông lâm nghiệp có hướng mở rộng kênh tiêu thụ qua xuất khẩu. Đối với các sản phẩm dễ hỏng và mang tính thời vụ như nông sản phẩm thì việc xây dựng một hệ thống kinh doanh hiệu quả là cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp. Nó tạo cho doanh nghiệp có đủ nguồn nguyên liệu đầu vào và tránh được tình trạng ế thừa sản phẩm.

Việc xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp ổn định nguyên liệu cho việc chế biến nông sản là một trong những chiến lược phát triển ngành hàng tại Việt Nam, nhất là những ngành hàng xuất khẩu như gạo và cà phê. Tuy nhiên, số liệu điều tra cho thấy lượng nguyên liệu gạo xuất khẩu của các doanh nghiệp chủ yếu được cung ứng thông qua các thương lái (chiếm tới 65-66% tổng lượng mua hàng năm). Các hình thức như xây dựng vùng nguyên liệu hay thông qua hợp đồng dài hạn xuất hiện không nhiều ở ngành hàng này. Mặc dù đã có những chủ trương chính sách trong việc liên kết các tác nhân trong ngành hàng nhưng trên thực tế rất khó thực hiện do đặc trưng của nền sản xuất lúa của ta nhỏ lẻ và phân tán cả về không gian lẫn chủ thể sản xuất. Tỉ lệ thu mua nguyên liệu qua doanh nghiệp khác cũng khá lớn chiếm gần 5% lượng mua vào của các doanh nghiệp. Hình thức này giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo xuất khẩu đáp ứng tốt hơn đơn hàng trong điều kiện dự trữ hàng và vốn có hạn, nhưng đây cũng chính là nguyên nhân gây tranh mua tranh bán và đẩy giá thành xuất khẩu lên cao, tăng các chi phí trung gian. Xác định được các khiếm khuyết của các hình thức thu mua trên, các doanh nghiệp cũng đã quan tâm đến việc thu mua qua đại lý của mình nhằm đảm bảo nguồn hàng phục vụ kinh doanh. Tỉ lệ thu mua qua đại lý tăng từ gần 12% lên 16,36% trong 3 năm gần đây. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Khác với ngành hàng lúa gạo, hình thức thu mua của các doanh nghiệp trong ngành cà phê đa dạng hơn. Vốn là những doanh nghiệp hình thành từ những nông lâm trường trước kia nên các doanh nghiệp có phần chủ động được phần lớn nguyên liệu của mình. Mức đảm bảo nguyên liệu tăng từ hơn 47% lên gần 53% trong 3 năm trở lại đây. Với tỉ lệ thu mua không cao chỉ ở mức 1% nhưng các doanh nghiệp trong ngành cà phê đã có những hợp đồng dài hạn về cung ứng nguyên liệu. Tỉ lệ nguyên liệu được thu mua thông qua các đại lý của các doanh nghiệp này chiếm khoảng 14% trong tổng thu mua hàng năm đưa mức cung nguyên liệu từ hình thức chủ động này lên tới 60-70%, một mức khá an toàn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy sự phụ thuộc vào thương lái và các hình thức khác chỉ còn ở mức 30% và có xu hướng giảm đi, tránh cho các doanh nghiệp phải rơi vào những bị động không lường trước được.

Mặt khác, tỉ lệ nguyên liệu chất lượng cao (quả chín chiếm trên 95%) thường đạt được đối với nguyên liệu của doanh nghiệp hay ký hợp đồng dài hạn. Nguyên nhân chủ yếu là do việc thu hái được quản lý chặt chẽ và đúng qui trình. Ngược lại cà phê thu mua của hộ dân thường có tỉ lệ xanh lớn do không có điều kiện bảo vệ nên thường thu hoạch khi còn xanh làm cho chất lượng hạt kém hơn.

Về kênh tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp lớn thường tập trung vào xuất khẩu, trong khi các doanh nghiệp nhỏ buôn bán trong nước. Về tiêu thụ nội địa, các doanh nghiệp có phần thiên về mạng lưới của doanh nghiệp khác, nhất là các doanh nghiệp tư nhân và trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Nhà nước kể cả Trung ương và địa phương có xu hướng tăng cường tỉ lệ tiêu thụ qua mạng lưới của chính doanh nghiệp mình. Đáng chú ý là các doanh nghiệp đã cải thiện được tình hình xuất khẩu nông sản hướng mạnh vào các thị trường lớn và khó tính như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, trong khi đó tỉ trọng của các thị trường Trung Quốc và ASEAN có giảm đi.

Nhìn chung, hệ thống kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam từ kênh thu mua đến tiêu thụ là tương đối thuận lợi. Hướng mạnh ra xuất khẩu là một hướng đi đúng đắn và nên tiếp tục được phát huy, tuy nhiên, không được bỏ qua thị trường trong nước cũng là một yêu cầu cần thiết.

  • Mối quan hệ khách hàng của doanh nghiệp: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Đối với nền kinh tế thị trường thì đây là điều kiện sống còn của doanh nghiệp. Nó đảm bảo cho sự thông suốt trong chu trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Qua đó những phản ứng cung cầu, phản ứng của người tiêu dùng được phản ánh tới chiến lược sản phẩm, v.v… Trên giác độ này một số chỉ tiêu đánh giá có thể kể đến như mức độ tham gia các hội chợ hay triển lãm phục vụ cho việc quảng bá sản phẩm, tìm kiếm thị trường và khách hàng mới cũng như thăm dò phản ứng của người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh. Hiện nay, tỉ lệ số doanh nghiệp nông nghiệp tham gia các hội chợ hay triển lãm còn khá khiêm tốn, mới ở mức dưới 52% và tập trung ở những hội chợ và triển lãm trên phạm vi quốc gia. Doanh nghiệp liên doanh có ưu thế về chỉ tiêu này sau đó đến khối doanh nghiệp Nhà nước. Sự tham gia hội chợ/triển lãm của doanh nghiệp tư nhân không nhiều, trong khi con số này đối với các công ty cổ phần và TNHH là hơn 46% ( số liệu điều tra của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn).

Mối quan hệ khách hàng của doanh nghiệp còn được thể hiện ở việc tham gia vào các hiệp hội. Việc tham gia các hiệp hội ngành hàng của các doanh nghiệp nông nghiệp hiện ở vào khoảng 50%. Tỉ lệ này còn nhỏ với các công ty tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước địa phương. Việc tham gia nhiều khi mang tính phong trào và mang tính nghĩa vụ nhiều hơn là tính liên hiệp của ngành hàng hay nghiệp đoàn sản xuất kinh doanh. Chính đây là khâu hạn chế lớn tới vai trò là người quyết định giá của nhiều ngành hàng hiện nay. Một bộ phận doanh nghiệp cũng cho rằng hiệp hội cũng trợ giúp đáng kể về thông tin thương mại và kỹ thuật hay hợp tác khảo sát thị trường mới. Trong các hiệp hội mà doanh nghiệp tham gia thì hiệp hội ngành hàng có tác dụng lớn nhất và kém nhất là hiệp hội địa phương. Điều này phản ánh phần nào sức gắn của các doanh nghiệp với nhau trong các tổ chức này còn hạn chế. Thực tiễn trong những năm qua có không ít những hiệp hội phát huy được hiệu quả của sự hợp tác như Hiệp hội lương thực Việt Nam trong quá trình tham gia đấu thầu xuất khẩu lương thực. Tuy nhiên, những mô hình liên kết hiệu quả chưa nhiều mà nhiều khi lại có chiều hướng ngược lại, tức là chính các doanh nghiệp trong hiệp hội lại cạnh tranh với nhau. Cho nên hiện tượng phá giá mua nguyên liệu, tranh mua tranh bán diễn ra không phải là ít đã làm cho giá thành sản phẩm trong nước cao một cách vô lý và tất nhiên sẽ làm giảm sức cạnh tranh so với các đối thủ nước ngoài.

Một vấn đề khác là việc sử dụng những dịch vụ công trong việc phát triển của các doanh nghiệp trong thời đại hiện nay. Điều này đóng vai trò rất quan trọng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nhanh hơn với những ý tưởng và phương thức kinh doanh hiệu quả và bền vững hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ doanh nghiệp trong ngành nông lâm nghiệp tiếp cận vấn đề này không nhiều. Báo cáo về nâng cao năng lực hội nhập cho doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam của IPSARD cho thấy, mới có khoảng 22,7% doanh nghiệp nông nghiệp có sử dụng dịch vụ này. Vấn đề các doanh nghiệp quan tâm ở đây lớn nhất là hệ thống kế toán (chiếm 10,2%). Tiếp đó là thương mại quốc tế (4,5%) gồm những khía cạnh mang tính pháp lý trong quá trình hội nhập mà sự hiểu biết của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và ít kinh nghiệm. Những dịch vụ tư vấn này được các doanh nghiệp sử dụng khá đa dạng theo ngành nghề kinh doanh. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành hàng cà phê và lúa gạo sử dụng các dịch vụ tư vấn này tương đối nhiều: cà phê – gần 70% và lương thực – hơn 73%. Đối với ngành hàng cà phê, các doanh nghiệp lại tập trung sử dụng những dịch vụ tư vấn về quản lý chất lượng (chiếm tới 46,2% doanh nghiệp được khảo sát) và thiết kế sản phẩm (23,1%). Các doanh nghiệp lúa gạo quan tâm ở các khía cạnh phát triển thị trường, thương mại quốc tế, quản lý chất lượng và xây dựng thương hiệu. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Một chỉ tiêu gián tiếp khác thể hiện mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác, khách hàng là việc sử dụng phương tiện thông tin hiện đại Internet. Đi đầu là các công ty liên doanh, sau đó là các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và các công ty trách nhiệm hữu hạn. Doanh nghiệp Nhà nước địa phương và công ty tư nhân chưa đầu tư mạnh cho công cụ trao đổi thông tin tiên tiến này.

Một khía cạnh vô cùng quan trọng trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là văn hóa kinh doanh, nhất là giữ chữ tín đối với các đối tác làm ăn. Trên thực tế sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành nông lâm nghiệp nước ta đã có khá nhiều những trường hợp về sự bất tín của các doanh nghiệp đối với khách hàng bao gồm người cung cấp nguyên liệu chế biến như người nuôi bò sữa, người trong mía, trồng dứa, v.v… Trên thông tin đại chúng trong những năm qua đã đưa ra nhiều trường hợp do sự mất uy tín của doanh nghiệp trong việc thu mua nguyên liệu người nông dân mang cả sữa, dứa đến tận nhà máy để đổ hay không chịu bán nguyên liệu cho nhà máy, v.v… Tất cả những trường hợp đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Trên thị trường xuất khẩu cũng không ít trường hợp đã xảy ra và thiệt hại là không nhỏ. Ví dụ, Công ty TNHH Hàm Long (Tây Ninh) bị Công ty Ultra Trading International của Mỹ kiện và phong tỏa 2 container hạt điều trị giá trên 125.000 USD khi xuất khẩu sang thị trường này, đồng thời buộc Hàm Long phải bồi thường cho họ 165.500 USD. Theo Công ty Ultra Trading International, trong năm 2022 họ có ký hợp đồng mua điều nhân với Công ty Hàm Long, hàng được giao trong tháng 7/2022. Tuy nhiên, đến thời điểm giao hàng, do giá thế giới tăng, Hàm Long không giao hàng theo hợp đồng mà mang hàng bán cho doanh nghiệp khác, vi phạm hợp đồng mua bán. Không riêng gì Công ty Hàm Long, Công ty Ninh Sơn (Bình Dương) cũng bị khách hàng nước ngoài kiện buộc phải bồi thường hơn 100.000 USD và nhiều doanh nghiệp khác cũng phải đối phó với trường hợp tương tự.

Cách cư xử như vậy là đi ngược lại các tiêu chuẩn thương mại quốc tế ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các doanh nghiệp trong ngành cũng như ngành kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản, thể hiện trình độ văn hóa kinh doanh thấp.

Xét một cách tổng quát về vấn đề quan hệ khách hàng, các doanh nghiệp nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm trong hợp tác quốc tế. Các công ty liên doanh nhìn chung là đi đầu trong vấn đề này, còn các doanh nghiệp Nhà nước địa phương gặp nhiều khó khăn hơn cả.

  • Kết luận: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

Có thể khẳng định rằng, bức tranh về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp nông thôn việt Nam còn có phần nhiều khó khăn thách thức. Sự chuẩn bị của các doanh nghiệp chưa được nhiều thậm chí cả về nhận thức, còn nhiều bất cập về năng lực cán bộ, đội ngũ quản lý, cơ cấu tổ chức, v.v…, đòi hỏi phải có sự nỗ lực hơn nữa để bắt kịp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO.

Thông qua các số liệu đã đưa ra, có thể thấy, đi đầu trong các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam về các chỉ số cạnh tranh là các doanh nghiệp liên doanh. Đầy là loại hình doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, có tiềm lực về vốn và công nghệ đồng thời biết nhanh chóng nắm bắt những biến động của thị trường trong thời kì hội nhập nên đã có được phương hướng hoạt động hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương đứng thứ hai về năng lực cạnh tranh do có lợi thế về quy mô lớn và được đầu tư nhiều vốn trong việc mở rộng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Các công ty TNHH tuy là loại hình doanh nghiệp mới nhưng cũng là những đơn vị tích cực trong cải thiện các chỉ số cạnh tranh và có xu hướng phát triển nhanh trong thời gian tới. Công ty cô phần, doanh nghiệp tư nhân có năng lực cạnh tranh thấp hơn do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm cũng như quy mô, nhưng đây cũng là những loại hình doanh nghiệp có khả năng tiếp tục phát triển và phù hợp với môi trường kinh doanh mới. Đáng thất vọng nhất là các doanh nghiệp Nhà nước địa phương. Các doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO và hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới do có năng lực cạnh tranh thấp nhất khi phân tích các chỉ số cạnh tranh. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp này phải nỗ lực nhiều hơn cả để có thể tồn tại và phát triển được.

Đánh giá này cũng đã được kiểm chứng thông qua nghiên cứu của Viện Chính sách và chiến lược phát triên nông thôn. Trong quá trình khảo sát về nâng cao năng lực hội nhập của các doanh nghiệp nông nghiệp, cơ quan này đã tiến hành cho điểm và đưa ra các kết luận tương tự về chỉ số cạnh tranh phân theo loại hình của các doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay:

  • Đồ thị 3. Chỉ số cạnh tranh phân theo loại hình doanh nghiệp

Đồ thị trên cho thấy, chỉ số cạnh tranh của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam không phải là cao, mức bình quân chung đạt 46,4 điểm, tức là dưới mức trung bình. Với mức điểm 68,7 điểm doanh nghiệp liên doanh có chỉ số tổng hợp cao nhất, tiếp đó là doanh nghiệp Nhà nước Trung ương và công ty TNHH có mức gần như nhau, ở mức hơn 50 điểm. Thấp nhất là chỉ số của các doanh nghiệp Nhà nước địa phương, chỉ đạt 37,5 điểm, thấp hơn 4 điểm so với các doanh nghiệp tư nhân.

Ở giác độ ngành hàng, các doanh nghiệp của ngành hồ tiêu, cao su và hạt điều có chỉ số cao nhất trong các doanh nghiệp được. Các doanh nghiệp kinh doanh hồ tiêu đạt gần 69 điểm, lớn hơn tới gần 30 điểm so với các doanh nghiệp có điểm thấp nhất là chăn nuôi. Các doanh nghiệp cà phê và lúa gạo là những ngành chủ lực của nền kinh tế nhưng có chỉ số không cao.

  • Đồ thị 4. Chỉ số cạnh tranh phân theo ngành hàng

Tóm lại, năng lực cạnh tranh hiện tại của các doanh nghiệp nông nghiệp còn nhiều vấn đề phải bàn kể cả về bản thân chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp như một đơn vị sản xuất kinh doanh và sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp trong quá trình đáp ứng nhu cầu của hội nhập. Nghiên cứu những khía cạnh của doanh nghiệp trong khung cảnh hội nhập kinh tế là một vấn đề lớn và phức tạp. Việc đề ra các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DN nông nghiệp càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy những thế mạnh và hạn chế những yếu điểm để có thể hội nhập có hiệu quả hơn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp

One thought on “Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp”

  1. Pingback: Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của DN nông nghiệp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537