Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du Luận văn lịch homestay tỉnh Vĩnh Long

Đề tài “Giải pháp khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long giúp cho con người xem du lịch là một phần quan trọng và nhu cầu thiết yếu không thể tách rời trong cuộc sống. Chính vì vậy, con người ngày càng yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ mà họ sẽ trải nghiệm. Lưu trú là một bộ phận không thể tách rời trong một chuyến du lịch của bất kỳ ai và đang trở nên phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong bài viết này mình sẽ chia sẻ cho các bạn bài Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Bên cạnh các khách sạn hay resort cao cấp thì một bộ phận nhỏ là loại hình lưu trú du lịch homestay đang được nhiều đối tượng quan tâm, đây là loại hình lưu trú tại nhà dân. Sự tác động sâu sắc của du lịch homestay đến các yếu tố của xã hội, tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử, tăng cường giao lưu văn hóa với người dân tại điểm đến với du khách, nâng cao ý thức văn hóa ứng xử trong cộng đồng người dân, đồng thời góp phần thu hút đầu tư vào hạ tầng giao thông, tạo nguồn thu nhập cho người dân, tạo cơ hội việc làm cho nhiều hộ gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng cường an sinh xã hội.

Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch homestay cũng có những hạn chế, bị tác động dưới nhiều gốc độ. Sự du nhập từ bên ngoài đến văn hóa bản địa tại các homestay khiến bản sắc văn hóa truyền thống bị lai tạp, bởi vì du lịch homestay càng phát triển thu hút du khách từ nhiều nền văn hóa khác nhau mang theo những lối sống khác nhau đặc biệt là lối sống phóng khoáng phương Tây có thể làm biến đổi lối sống của người dân địa phương. Nếu chúng ta không có định hướng, cơ chế quản lý cụ thể sẽ dẫn đến các giá trị văn hóa truyền thống ít nhiều mai một đi và sự hoạt động đại trà của các homestay tạo nên chất lượng không tốt về dịch vụ và ấn tượng xấu đến các đối tượng khách du lịch. Thực tế này không chỉ diễn ra ở một tỉnh nào mà đang diễn ra hầu hết trong phạm vi cả nước. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Là tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, Vĩnh Long là một trong những tỉnh đầu tiên phát triển mô hình lưu trú này, đặc biệt là tại cù lao An Bình thuộc huyện Long Hồ, là nơi đầy tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái, du lịch sông nước, du lịch miệt vườn.

Đây là loại hình du lịch đang thu hút khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế đến tham quan và nghỉ ngơi.

Nhằm tạo cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch bền vững và quảng bá hình ảnh Vĩnh Long vượt qua giới hạn phạm vi ở trong nước, thời gian qua, các sản phẩm nổi trội của địa phương được phát triển hầu khắp. Tuy nhiên, những lợi thế trên trở thành bất lợi khi các địa phương đang dẫm chân lên nhau do chỉ khai thác những gì sẵn có từ thiên nhiên mà chưa đầu tư được những sản phẩm du lịch độc đáo để thu hút khách: địa phương nào cũng lấy mô hình du lịch miệt vườn để khai thác (đi thuyền trên sông, thăm vườn trái cây, nghe đờn ca tài tử, đêm nghỉ tại nhà dân; các hoạt động này phát triển một cách thiếu kiểm soát, gây nhàm chán cho du khách.

Vĩnh Long còn là một tỉnh nghèo so với cả nước, cơ sở vật chất, hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, phát triển vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng hiện có và nhất là phát triển theo hướng bền vững vẫn còn là vấn đề thách thức. Từ những lý do trên, đã đặt ra vấn đề cần có định hướng, giải pháp cụ thể cho sự phát triển du lịch homestay trong thời gian tới của tỉnh Vĩnh Long. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Giải pháp khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình. Với đề tài này tác giả hy vọng sẽ có những đóng góp tích cực trong sự phát triển du lịch homestay nói riêng và ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long nói chung.

2. Lược khảo về tài liệu nghiên cứu ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu các đề tài trong và ngoài nước liên quan có ý nghĩa rất lớn về thực tiễn và làm tiền đề cho quá trình nghiên cứu và vận dụng vào đề tài “Giải pháp khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long”. Tìm hiểu, nắm bắt thông tin và học hỏi kinh nghiệm từ các vấn đề đã nghiên cứu giúp cho đề tài có hướng gắn với thực tiễn và mang tính khả thi.

2.1 Tình hình nghiên cứu thế giới

Tiêu chuẩn nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê của ASEAN, tiêu chuẩn này ban hành với mục tiêu xây dựng một tiêu chuẩn toàn diện về nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê mà có thể được các nước thành viên ASEAN áp dụng như được khuyến nghị trong Kế hoạch chiến lược của ASEAN (ATSP) 2011 – 2015 nhằm tạo ra các trải nghiệm có chất lượng của khách tham quan bằng cách giới thiệu nguồn tài nguyên nông thôn của các nước thành viên theo cách hấp dẫn, an toàn. Việc hình thành tiêu chuẩn này sẽ tăng chất lượng dịch vụ, chất lượng trang thiết bị và nguồn nhân lực trong các chương trình nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê của ASEAN bằng cách đưa ra cách thức có tổ chức hướng tới trình độ quản lý ở mức chuyên nghiệp có tính tới nhu cầu, khả năng và sự đa dạng văn hóa của tất cả quốc gia thành viên ASEAN.

Kevin Hannam (2009), “Homestay và phát triển cộng đồng bền vững”, Khoa Kinh doanh và Luật, Đại học Sunderland, Reg Vardy, St Peter Campus, Sunderland SR6 0DD, Vương quốc Anh. Đề tài nghiên cứu tình hình phát triển mô hình du lịch Homestay ở tỉnh Chiang Mai, thuộc miền Bắc Thái Lan, là một ngôi làng nhỏ với môi trường trong lành vô cùng thuận lợi cho việc phát triển mô hình homestay. Tại đây người dân cùng nhau tình nguyện tham gia mô hình du lịch này. Bên cạnh đó, còn có một nhóm trẻ em nữ và thiếu niên trong làng được đào tạo bài bản để phục vụ nhu cầu du khách, nhóm nhạc truyền thống được hình thành và giao lưu xuyên suốt với du khách, dịch vụ massage bằng dược thảo. Kết quả cho thấy, bốn khía cạnh bao gồm: sự hiếu khách của chủ nhà, dịch vụ du lịch, giá trị gia tăng và quan hệ công chúng, được đánh giá với số điểm rất cao, trong khi 5 tiêu chuẩn còn lại như chỗ ở, các dịch vụ nuôi dưỡng, an toàn, văn hóa và quản lý chiếm số điểm cũng khá cao, còn riêng về môi trường và tài nguyên thì đạt số điểm trung bình.

Bandit Santikul và Manat Chaisawat (2009), “Sự phát triển của du lịch cộng đồng tại miền Đông của đảo Phuket, Thái Lan”: Đề tài tập trung phân tích tình hình hoạt động du lịch, xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch phía đông của đảo Phuket, Thái Lan. Đề tài cũng đã đánh giá tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng ở phía đông đảo Phuket, Thái Lan nhằm đề ra nhiều giải pháp phát triển du lịch khu vực một cách hiệu quả và bền vững. Nghiên cứu áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết những mục tiêu trên. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những người dân địa phương đang sinh sống và tham gia hoạt động kinh doanh du lịch tại khu vực phía đông đảo Phuket. Thông tin phục vụ cho phương pháp nghiên cứu định tính được thu thập bằng phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia và nhà quản lý hoạt động du lịch của khu vực. Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định t, và kiểm định ANOVA để phân tích số liệu. Kết quả của đề tài chỉ rõ khu vực phía Đông đảo Phuket có nhiều tiềm năng để phát triển của du lịch cộng đồng, tác giả cũng đã đưa ra nhiều đề xuất liên quan đến hoạt động hỗ trợ người dân tham gia kinh doanh du lịch, đồng thời tổ chức nhiều chương trình huấn luyện, đào tạo để du lịch cộng đồng thật sự hiệu quả và góp phần phát triển du lịch khu vực bền vững. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Kan Set Aung và Sukwan Tirasatayapitak (2009), “Sự phát triển của du lịch cộng đồng ở Bagan, Myanmar”: Bên cạnh đánh giá thực trạng hoạt động du lịch có sự tham gia của người dân địa phương ở Bagan, Myanmar và đưa ra hướng phát triển hoạt động du lịch cộng đồng hiện tại ở địa phương, đề tài cũng đã phân tích và xác định động cơ tham gia hoạt động kinh doanh du lịch của cộng đồng tại địa phương nhằm phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với Bagan, Myanmar. Nhóm tác giả đã sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng cho những mục tiêu mà vấn đề nghiên cứu đã đặt ra. Tác giả đã thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn người dân ở Bagan đã và đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch tại địa phương, đồng thời phỏng vấn chuyên gia, những bộ phận chức năng thuộc chính phủ Myanmar ở Bagan, những nhà quản lý các đơn vị kinh doanh du lịch ở Bagan. Tác giả cũng đã sử dụng thống kê mô tả, kiểm định ANOVA, và kiểm định t để phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho biết người dân địa phương thường tham gia những hoạt động nào của kinh doanh du lịch tại Bagan, và cũng đã nêu rõ những động cơ giúp người dân tham gia vào hoạt động du lịch của địa phương. Dựa vào những kết quả này, nhóm tác giả đã có những đề xuất hữu ích cho chính phủ và những nhà quản lý hoạt động du lịch ở Bagan, Myanmar khai thác hiệu quả tiềm năng tham gia kinh doanh du lịch của người dân địa phương nhằm phát triển hiệu quả hơn nữa hoạt động du lịch của địa phương.

Kang Santran và Aree Tirasatayapitak (2008), “Sự tham gia của cộng đồng trong việc phát triển du lịch bền vững ở Angkor, Siem Reap, Campuchia”. Đề tài gồm những mục tiêu chính như sau: (1) Phân tích tình hình tham gia của cộng đồng trong việc phát triển du lịch bền vững ở Angkor; (2) Phân tích những chính sách phát triển du lịch bền vững của chính phủ Campuchia trong thời gian vừa qua; (3) Phân tích ảnh hưởng của cộng đồng trong việc phát triển du lịch bền vững ở Angkor, Campuchia;

(4) Đề xuất giải pháp cho du lịch có sự tham gia của cộng đồng ở Angkor, Campuchia. Nghiên cứu đã sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết những mục tiêu trên. Mười cuộc phỏng vấn chuyên sâu và 380 bảng câu hỏi đã thu thập thông tin cần thiết cho đề tài. Các kỹ thuật phân tích của SPSS được sử dụng để phân tích số liệu sơ cấp đối với nghiên cứu định lượng. Kết quả phân tích cho thấy, trong thời gian qua hoạt động tham gia vào kinh doanh du lịch của cộng đồng ở Angkor, Campuchia là khác cao. Trong thời gian tới, chính phủ Campuchia nên khuyến khích cộng đồng tham gia nhiều hơn nữa ở tất cả các lĩnh vực của hoạt động du lịch. Bên cạnh đó chính phủ và các tổ chức quản lý du lịch nên có nhiều chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự phát triển chung của địa phương. Ngoài ra, cần phải quan tâm đến nhận thức và trình độ của người dân địa phương nhằm phát huy tối đa nguồn lực sẵn có để phát triển du lịch Angkor, Siem Reap, Campuchia một cách hiệu quả và bền vững.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Tài liệu hướng dẫn vận hành Du lịch lưu trú tại nhà dân, được Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ, chương trình phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (dự án EU) là chương trình tăng cường năng lực ngành cho các bên liên quan trong ngành du lịch Việt Nam. Tài liệu được biên soạn nhằm nâng cao năng lực cho những người điều hành homestay ở các khu vực nông thôn xa xôi hẻo lánh ở Việt Nam nhằm tăng cường chuẩn điều hành homestay, tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương.

Tiêu chuẩn Việt Nam đánh giá Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (TCVN 7800:2009) tiêu chuẩn này được biên soạn trên cơ sở dự thảo đề nghị của Tổng cục Du lịch Việt Nam và Tổng cục Đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố áp dụng cho nơi sinh sống của người sở hữu nhà hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú, có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà.

Một số đề tài luận văn thạc sĩ như:

Nguyễn Thị Quỳnh (2015) với đề tài “Phát triển du lịch homestay tỉnh Ninh Bình”, tác giả khẳng định du lịch homestay là loại hình còn khá mới mẻ với nước ta, loại hình du lịch phát triển dựa trên những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và đặc biệt là văn hóa bản địa, thông qua đó du lịch homestay góp phần chia sẽ lợi ích từ du lịch với cộng đồng địa phương. Du khách tham gia hoạt động du lịch homestay được cùng ăn – cùng ở – cùng sinh hoạt với gia đình người dân địa phương để thông qua đó tìm hiểu các giá trị văn hóa bản địa.

Phạm Thị Hồng Cúc (2008) với đề tài “Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại cù lao Bình Hòa Phước, tỉnh Vĩnh Long”. Tác giả đã tập trung tìm hiểu hiện trạng tham gia của cộng đồng vào trong các dịch vụ du lịch tại cù lao Bình Hòa Phước, đồng thời phân tích vai trò của cộng đồng đối với sự phát triển du lịch của cù lao nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch.

Nguyễn Diễm Phúc (2013), đề tài Bảo vệ Môi trường Du lịch cù lao An Bình tỉnh Vĩnh Long”. Tác giả đã khẳng định Cù lao An Bình có lợi thế về vị trí và tiềm năng du lịch đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Long. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ môi trường du lịch ở đây chưa được cộng đồng địa phương quan tâm đúng mức vẫn còn nhiều vấn đề bất cập: cung cấp điện, nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt của các hộ kinh doanh du lịch vào mùa cao điểm; việc xử lý chất thải tại các homestay và đơn vị kinh doanh vận chuyển du lịch đường thủy vẫn chưa mang tính hiệu quả lâu dài; vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được đảm bảo; công tác quản lý chưa chặt chẽ; biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.

Nguyễn Quốc Nghi và ctv (2012), “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang”. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang. Số liệu của nghiên cứu được thu thập từ 135 hộ gia đình (80 hộ đã tham gia và 55 hộ chưa tham gia tổ chức du lịch cộng đồng) tại hai xã Mỹ Hòa Hưng (huyện Chợ Mới) và xã Châu Giang (Thị xã Tân Châu) tỉnh An Giang. Ứng dụng mô hình hồi quy binary logistic, nghiên cứu cho thấy, 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân là trình độ học vấn của chủ hộ, qui mô gia đình, thu nhập gia đình, vốn xã hội và nghề truyền thống. Trong đó, nhân tố qui mô gia đình tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia phát triển du lịch của người dân. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Nguyễn Quốc Nghi và Phan Văn Phùng (2010), “Giải pháp phát triển du lịch homestay tại cụm cù lao An Bình – Vĩnh Long”. Trong thời gian vừa qua, ngành du lịch Vĩnh Long đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, đặc biệt là sự phát triển của loại hình du lịch ở nhà dân (Homestay) tại cụm cù lao An Bình đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người dân địa phương và làm phong phú thêm sản phẩm du lịch của tỉnh. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn tài nguyên du lịch của tỉnh vì thế cần phải có những giải pháp thiết thực và mang tính cấp bách để phát huy tối đa hiệu quả của loại hình du lịch vừa mới vừa độc đáo này. Nhận định: Thông qua các tài liệu đã lược khảo cho thấy, mô hình du lịch homestay tại Việt Nam còn hạn chế, phát triển chưa hết tiềm năng vốn có. Để phát triển loại hình homestay cần nhiều yếu tố quan trọng như: mức độ sẵn lòng tham gia của cộng đồng tại địa phương, các yếu tố về văn hóa xã hội, lịch sử truyền thống, các dịch vụ tiện ích, yếu tố về tự nhiên… trong đó, yếu tố cộng đồng được xem là yếu tố rất quan trọng, vì cộng đồng là người góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên, giáo dục du khách, vai trò quyết định trong việc phát triển bền vững. Hiện nay, sự tham gia của cộng đồng còn rất hạn chế, có thể vì nhiều yếu tố như các đơn vị, công cụ hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng vào du lịch còn yếu kém (sự phát triển du lịch văn hóa trong 9 nhân tố của Paphangkorn Thaochalee và ctg, 2011), hiệu quả kinh tế của mô hình du lịch homestay mang lại cho người dân tham gia (Trần Thị Kim Trang, 2009).

3. Mục tiêu nghiên cứu ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

3.1 Mục tiêu tổng quát

Thực trạng khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long, qua đó đề xuất giải pháp phù hợp cho việc khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.

3.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về du lịch homestay. Thực trạng khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch đối với du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long.

Đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Tác động của sự phát triển du lịch homestay đến đời sống kinh tế – xã hội của người dân tại Vĩnh Long như thế nào ?

Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách du lịch đối với sự phát triển của loại hình du lịch homestay tại ở Vĩnh Long ?

Các giải pháp nào phù hợp trong việc khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch và thu hút khách du lịch đến Vĩnh Long?

5. Phạm vi nghiên cứu ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Không gian: Đề tài được thực hiện tại các homestay của thuộc huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long. Trong đó chủ yếu tập trung tại cù lao An Bình là nơi có loại hình du lịch homestay phát triển ở Vĩnh Long.

Thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài là 8 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 08/2017. Giới hạn thời gian về tác động của loại hình du lịch homestay được nghiên cứu từ khi loại hình du lịch này hình thành và phát triển tại 4 xã cù lao.

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng khai thác du lịch homestay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, thông qua các hộ dân tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch homestay tại cù lao An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Dữ liệu thứ cấp có được từ báo cáo, kế hoạch, các bài báo, thu thập trong giai đoạn 2012 – 2016.

Dữ liệu sơ cấp từ khảo sát 200 khách du lịch đang có mặt tại các homestay bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát thông qua bảng câu hỏi đã được soạn thảo trước.

6. Phương pháp nghiên cứu ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Luận văn đồng thời sử dụng hai phương pháp định tính và định lượng.

6.1. Phương pháp định tính

Thông qua tổng hợp, xử lý, đối chiếu, phân tích, so sánh số liệu thứ cấp thu thập trong khoảng (2012 – 2016) từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Long; Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Vĩnh Long; Tổng cục Du lịch; Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới và một số nghiên cứu trước đó.

6.2. Phương pháp định lượng

Được thực hiện trên cơ sở phát phiếu điều tra khảo sát để thu thập thông tin từ khách du lịch có mặt tại các hộ kinh doanh du lịch homestay, thông qua phần mềm thống kê SPSS, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính nhằm phân tích, đánh giá kết quả thống kê để xác định các yếu tố ảnh hưởng. Từ đó, đối chiếu với kết quả, nhận định, đánh giá của phương pháp định tính nhằm đề xuất các giải pháp khai thác homestay Vĩnh Long trong thời gian tới.

7. Ý nghĩa của đề tài

7.1 Về mặt khoa học

Đề tài nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý thuyết về du lịch homestay. Đề tài sử dụng làm tài liệu nghiên cứu phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

7.2 Về mặt thực tiễn

Đề tài nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc hoạch định phát triển du lịch homestay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; đồng thời là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành du lịch ở các trường cao đẳng và đại học. Đề tài đề xuất các nhóm giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi cao nhằm giúp nâng cao lợi ích cho cộng đồng tham gia loại hình du lịch homestay tại Vĩnh Long.

8. Cấu trúc đề tài ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Nội dung đề tài cơ bản có 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch homestay

Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long Chương 3: Giải pháp khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH HOMESTAY

1.1 Lược sử về du lịch homestay

“Du lịch homestay được hình thành và phát triển ở nhiều nước Châu Âu từ thập niên 80 của thế kỷ XX và loại hình này cũng đang được khai thác ở các nước nông nghiệp Châu Á trong đó có Việt Nam. Khi quá trình đô thị hóa nhanh, thời kỳ kinh tế mở cửa giao lưu văn hóa rộng rãi như ngày hôm nay thì nhu cầu du lịch của con người ngày càng trở nên đa dạng và thay đổi nhiều. Không ít du khách có cảm giác nhàm chán với các tour du lịch bị đóng khung trong những khách sạn sang trọng, cảnh sắc nhân tạo, mà họ muốn trải nghiệm thực tế cuộc sống, văn hóa ở vùng đất họ đến. Chính vì vậy, du lịch homestay đang là một cánh cửa cần được mở rộng để giải phóng du khách khỏi những chuyến du lịch thụ động đồng thời là hướng đi mới thu hút nguồn lao động lớn ở nông thôn, cải thiện sinh kế, tránh tình trạng di dân ào ạt ra các vùng thành thị và tạo tiền đề để bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của địa phương” (Phạm Thành Long, 2015, trang 120)

“Homestay là loại hình du lịch đang bước đầu phát triển tại Việt Nam, tập trung nhiều nhất ở khu vực Tây Bắc và đồng bằng sông Cửu Long. Trên thực tế, homestay ở Việt Nam được khởi nguồn từ nhu cầu của những vị khách “Tây ba lô” và loại hình du lịch này xuất phát từ tính tự phát của chủ hộ. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn tại các homestay, du khách vừa có cơ hội thưởng ngoạn vẻ đẹp của di sản văn hóa bản địa, vừa có thể hiểu thêm về nếp ăn ở, sinh hoạt cũng như nét văn hóa của cư dân địa phương. Qua đó có thể thấy, homestay là một loại hình du lịch gắn với cộng đồng theo xu hướng tích cực khám phá, tìm hiểu văn hóa, cùng làm, cùng sống và trao đổi trực tiếp với người dân bản xứ. Loại hình homestay không chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển chung của du lịch mà còn đang có tác động sâu sắc đến xã hội như: tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, bảo tồn di tích văn hóa, lịch sử của người dân bản địa và du khách; tạo ra sự giao lưu văn hóa, phong tục tập quán giữa các dân tộc và các quốc gia khác nhau; tăng cường các mối quan hệ cộng đồng người dân; sự gắn bó của chính quyền địa phương và người dân bản xứ; giáo dục ý thức về phong cách ứng xử trong cộng đồng người dân. Đồng thời, loại hình du lịch này cũng có tác động đến kinh tế như: thu hút các nhà đầu tư vào du lịch và các lĩnh vực khác như: hệ thống giao thông, trường học, mở rộng và nâng cấp các làng nghề truyền thống, trùng tu các di tích lịch sử… tạo ra nguồn thu nhập cho người dân, tạo cơ hội việc làm cho nhiều hộ gia đình nghèo; góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương”. (Phạm Thành Long, 2015, trang 122)

1.2 Khái niệm về du lịch homestay ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Giống như nhiều loại hình du lịch khác, du lịch homestay có nhiều khái niệm khác nhau được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều tên gọi khác nhau, một số ý kiến cho rằng du lịch homestay chỉ đơn giản là một phương thức lưu trú tại nhà dân và cũng có ý kiến cho rằng đây là một loại hình du lịch.

Du lịch homestay là việc du khách tham gia vào đời sống gia đình của người dân bản xứ thông qua việc học tập, du lịch, tham quan, tìm hiểu văn hóa,… Đặc biệt, theo hình thức này, du khách sẽ được “cùng ăn, cùng ở và cùng làm” với chủ nhà cũng như luôn được xem như người nhà (Thompson, 1998).

Theo Hiệp hội Homestay Malaysia, “Homestay là loại hình mà du khách được ở và sinh hoạt cùng nhà với người dân bản xứ như thành viên trong gia đình, để khám phá phong cách sống người dân, trải nghiệm cuộc sống thường ngày của họ để biết được văn hóa nơi đó”.

Homestay là một loại hình du lịch gắn với cộng đồng theo xu hướng tích cực khám phá, tìm hiểu văn hóa bản địa, cùng làm, cùng sống và trao đổi trực tiếp với người dân bản xứ (Nguyễn Văn Chất, Dương Đức Minh, Tạp chí khoa học Văn hoá và Du lịch).

Tiêu chuẩn nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê của ASEAN năm 2014 thì homestay là một hình thức của du lịch cộng đồng, khái niệm nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê đang được chấp nhận với tư cách là một công cụ phát triển nông thôn ở nhiều nước ASEAN. Chương trình nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê có thể nâng cao chất lượng cuộc sống ở cấp độ địa phương thông qua tạo ra thu nhập, hỗ trợ văn hóa địa phương, nghệ thuật và việc kinh doanh hàng thủ công, khuyến khích sự khôi phục lại các điểm mang tính lịch sử và địa phương, và thúc đẩy sự bảo tồn thiên nhiên thông qua giáo dục cộng đồng (TCDL, 2014). Đồng thời, việc hình thành các tiêu chuẩn nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê của ASEAN là cần thiết, tạo ra cơ hội để tiêu chuẩn hóa một sự hiểu biết cơ bản về nhà dân có phòng cho khách du lịch thuê là gì và để thiết lập một điều kiện cho cách tiếp cận mang tính phối hợp, khuyến khích hợp tác với các chủ thể có liên quan, tạo ra một môi trường tích cực trong khi làm sống lại nền kinh tế nông thôn cũng như xóa đói giảm nghèo. Tiêu chuẩn quốc gia đánh giá về nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê TCVN 7800:2009 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố thì homestay được hiểu là dạng nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, là nơi sinh sống của người sở hữu nhà hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú, có trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà.

Tóm lại, du lịch homestay có rất nhiều quan niệm và ý kiến nhìn nhận về tên gọi của nó, nhưng cơ bản có thể hiểu: Du lịch homestay là loại hình du lịch mà trong đó khách du lịch có thể trải nghiệm đời sống của người dân địa phương, cùng ăn, cùng ở, cùng làm, thông qua đó họ có thể khám phá nét văn hóa truyền thống của bản xứ, trong đó gia đình bản xứ đóng vai trò then chốt trong mọi việc, nhất là sự tương tác với khách du lịch.

1.3 Đặc điểm của du lịch homestay và đối tượng tham gia vào du lịch homestay

  • Đặc điểm của du lịch homestay ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Nơi diễn ra hoạt động của du lịch homestay thường chưa bị tác động nhiều bởi các yếu tố về sự phát triển và đô thị hóa. Nơi hầu hết các hoạt động trao đổi văn hóa và tương tác giữa khách và gia đình chủ xảy ra. Với nét hoang sơ của tài nguyên tự nhiên và pha lẫn nét độc đáo của tài nguyên nhân văn, những nét độc đáo ấy có thể là: ngôi nhà gỗ truyền thống, nét sinh hoạt của người dân bản xứ, văn hóa ẩm thực,… được thể hiện trong không gian sinh sống của gia đình và cộng đồng.

Hộ gia đình đóng vai trò chính yếu trong việc tổ chức và phục vụ khách du lịch, nguồn thu được phân bổ hợp lý vì trước hết cho gia đình sau đó cho cả cộng đồng, đồng thời phục vụ cho việc bảo tồn, nâng cao chất lượng sống và phát triển cộng đồng, đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân địa phương.

Đảm bảo sự trải nghiệm và hòa nhập của khách du lịch, hoạt động của du lịch homestay được tổ chức theo dạng cùng ăn, cùng ở, cùng làm, đem lại sự hòa nhập thật sự cho khách du lịch vào mọi mặt đời sống của người dân bản địa.

Thường được hình thành ở nơi hạn chế về điều kiện để xây dựng các cơ sở lưu trú cao cấp như: resort, khách sạn, …

  • Đối tượng tham gia vào du lịch homestay

Có thể khẳng định rằng, du lịch homestay là quá trình giao lưu văn hóa của cộng đồng bản địa, vùng miền, quốc gia với các nền văn hóa khác nhau.

Đối tượng khách tham gia hoạt động của du lịch homestay phần lớn trẻ tuổi là các học sinh, sinh viên đến từ các trường đại học, cao đẳng tìm hiểu khám phá về loại hình du lịch, nghiên cứu thực tế, đồng thời trải nghiệm nét văn hóa vùng miền.

Ngoài ra, đối tượng thứ hai đó là các nhà nghiên cứu, chuyên gia khảo sát thực địa, lập đề án, quy hoạch nhằm tìm ra các giải pháp phát triển du lịch nói chung và homestay nói riêng.

Đặc biệt là nhóm khách quốc tế muốn khám phá tìm hiểu vùng đất mới, trải nghiệm nét văn hóa mới, đối tượng này chiếm số lượng lớn, sử dụng dịch vụ và chi tiêu cao hơn so với các đối tượng khác.

Hiện nay, tại khu vực ĐBSCL, hiện tượng khách du lịch quốc tế nghỉ dưỡng kết hợp làm từ thiện, đối tượng này khá phổ biến trong đó có thanh thiếu niên tham gia chương trình du lịch homestay, trải nghiệm sinh hoạt của người dân kết hợp với việc làm từ thiện như xây cầu, đường, xây nhà, trường học cho các địa phương mà họ đến.

1.4 Khái niệm du lịch cộng đồng ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Du lịch homestay là một hình thức của du lịch cộng đồng, nên việc tìm hiểu về du lịch cộng đồng có ý nghĩa khái quát và tạo cơ sở nghiên cứu nền tảng đối với du lịch homestay. Trong phần này, tác giả xin đề cập đến một số quan niệm cũng như là khái niệm chính của loại hình du lịch này.

Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.

Theo Hsien Hue Lee, Đại học cộng đồng Hsin-Hsing, Đài Loan: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ hội tham gia của người dân địa phương trong du lịch”.

Tại Hội thảo “Chia sẽ bài học kinh nghiệm Phát triển Du lịch cộng đồng” được Tổng cục Du lịch tổ chức có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng. Cộng đồng được chia sẽ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế”.

Ngoài ra, có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên theo GS.TS Phạm Trung Lương thì “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế – xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng”.

1.5 Du lịch cộng đồng và du lịch homestay ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Du lịch homestay không đơn thuần là nơi cung cấp dịch vụ lưu trú và ăn uống cho du khách, mà nó chính là một hình thức của du lịch cộng đồng với những nét độc đáo hấp dẫn về cả tài nguyên tự nhiên và nhân văn, trong đó nhấn mạnh đến tài nguyên nhân văn với những giá trị tiêu biểu của gia đình bản xứ và cộng đồng địa phương. Du lịch homestay góp phần làm phong phú và đa dạng, cũng như gắn kết khách du lịch trở nên gần gủi hơn đối với cộng đồng địa phương trong du lịch cộng đồng.

Amran Hamzah (2013) đã đưa ra nhận định: “Du lịch homestay là một phần của du lịch cộng đồng, nó tạo ra cơ hội cho việc tương tác và trao đổi văn hóa giữa gia đình bản xứ và khách du lịch. Thông qua những hoạt động nâng cao nhận thức và hiểu biết dựa trên trao đổi văn hóa và tôn trọng những giá trị của gia đình người bản địa, khách du lịch nhận được sự tiếp đón nồng hậu của gia chủ cùng với những dịch vụ tuyệt vời,…”

Tuy nhiên, để khai thác và phát triển loại hình du lịch này, chúng ta cần nhìn nhận và cân nhắc cẩn thận bởi vì du lịch homestay mang những khía cạnh nhạy cảm về văn hóa và xã hội khi đón những vị khách xa lạ đến với gia đình bản xứ và cộng đồng địa phương.

1.6 Mô hình nghiên cứu

Trước khi tác giả tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình, tác giả đưa ra khái niệm về sự hài lòng, việc đưa ra khái niệm này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nghiên cứu tiếp theo của luận văn ở chương 2 và chương 3.

Theo Fornell (1995) “sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó”.

Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”.

Theo Zeithaml và Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá của khách hàng về một sản phẩm hay một dịch vụ đã đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Như vậy, từ các khái niệm trên, ta có thể khẳng định rằng: sự hài lòng chính là sự so sánh giữa những lợi ích thực tế được cảm nhận và kỳ vọng. Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì dẫn đến khách hàng sẽ thất vọng, nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng mà họ đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng, nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi.

Việc sử dụng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch có sự tác động mạnh mẽ đến việc hiểu rõ khách cần gì, muốn gì nhất, từ đó có cơ sở để tác giả đưa ra các giải pháp phù hợp.

Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.

Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra mô hình 5 khoảng cách về chất lượng dịch vụ:

Khoảng cách 1 (GAP 1) là giữa sự mong đợi thật sự của khách hàng và nhận thức của nhà quản lý về dịch vụ cung cấp. Nếu khoảng cách này lớn tức là nhà quản lý không biết khách hàng mong đợi gì. Hiểu khách hàng mong đợi gì là bước đầu tiên, quan trọng nhất trong việc cung cấp dịch vụ có chất lượng đối với một doanh nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Khoảng cách 2 (GAP 2) là khoảng cách giữa sự hiểu biết của nhà quản lý về những gì khách hàng mong chờ với việc chuyển hóa chúng vào tiêu chuẩn của chất lượng dịch vụ (hay không lựa chọn đúng tiêu chuẩn dịch vụ). Khoảng cách này sẽ rất lớn nếu như người quản lý cho rằng mong đợi của khách hàng không thể đáp ứng.

Khoảng cách 3 (GAP 3) là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ cung cấp thực tế với những tiêu chí mà doanh nghiệp đưa ra. Khoảng cách này có liên quan trực tiếp đến năng lực phục vụ của nhân viên vì không phải lúc nào các nhân viên có thể đồng đều hoàn thành hết các tiêu chí chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra.

Khoảng cách 4 (GAP 4) là khoảng cách chất lượng dịch vụ được cung cấp với những thông tin, quảng cáo hay lời hứa mà doanh nghiệp hứa đem đến cho khách hàng. Những hứa hẹn qua quảng cáo hình ảnh sách báo cũng làm tăng sự kì vọng của khách hàng đồng thời cũng làm giảm sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ nếu khách hàng cảm nhận nó không đúng với những gì đã quảng cáo hứa hẹn trước đó. Khoảng này sẽ xuất hiện khi có sự so sánh chất lượng mà khách hàng cảm nhận được với những thông tin dịch vụ đã được truyền tải đến họ.

Khoảng cách 5 (GAP 5) là khoảng cách chất lượng dịch vụ của công ty, chất lượng được coi là hoàn hảo nếu khoảng cách này bằng 0. Khoảng cách này phụ thuộc vào sự biến thiên của cách khoảng cách 1, 2, 3 và 4. Nâng cao chất lượng dịch vụ là hạn chế được khoảng cách 5.

Parasuraman và cộng sự cũng nghiên cứu thang đo SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ được cảm nhận bởi khách hàng gồm 10 thành phần: phương tiện hữu hình (tangibles), độ tin cậy (reliability), khả năng đáp ứng (responsiveness), năng lực phục vụ (competence), tiếp cận (access), ân cần (courtese), thông tin (communication), tín nhiệm (credibility), an toàn (security), thấu hiểu khách hàng (understanding customer). Thang đo 10 thành phần này bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ nhưng có sự phức tạp trong đo lường, không đạt giá trị cao trong một số trường hợp. Theo nghiên cứu của Parasuraman và Ctg (1988) đã cho ra đời thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL gồm 5 thành phần (22 biến) như sau:

  1. Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ, trang trí món ăn.
  2. Độ Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời
  3. Khả năng đáp ứng (responsiveness): thể hiện sự nhiệt tình giúp đỡ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng.
  4. Sự đảm bảo (assurance): thể hiện trình độ chuyên môn, thái độ lịch sự niềm nở và tạo sự tin tưởng cho khách hàng.
  5. Sự đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng khách hàng.

Qua nhiều nghiên cứu và kiểm định thì 5 thành phần này gần như là đơn giản và đầy đủ nhất. Ở mỗi thành phần Parasuraman thiết lập nhiều biến quan sát đo lường đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ theo thang đo likert. Ông cho rằng với từng loại hình dịch vụ và từng tính chất nghiên cứu khác nhau thì số lượng biến quan sát cũng khác nhau.

Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman, các nhà nghiên cứu Cronin và Taylor (1992) với mô hình SERVPERF là biến thể của SERVQUAL, cho rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ mà không cần có sự kỳ vọng. Kết luận này đã được đồng tình bởi các tác giả khác như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002). Bộ thang đo SERVPERF cũng phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL nhưng bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng. Chất lượng dịch vụ được xác định như sau:

Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Bộ thang đo SERVPERF gồm 22 biến và 5 thành phần nhưng bỏ qua phần sự kỳ vọng như sau:

  1. Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ, trang trí món ăn.

Công ty XYZ có trang thiết bị hiện đại; cơ sở vật chất bắt mắt, hấp dẫn; nhân viên có trang phục gọn gàng, lịch sự; các sách ảnh giới thiệu công ty XYZ liên quan đến dịch vụ trông rất đẹp.

  1. Độ Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời

Khi công ty XYZ hứa làm điều gì đó vào thời gian nào đó thì họ sẽ làm; khi bạn gặp trở ngại, công ty XYZ chứng tỏ mối quan tân thực sự muốn giải quyết trở ngại đó; thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu; công ty XYZ lưu ý để không xảy ra một sai xót nào; cung cấp dịch vụ đúng như thời gian họ đã hứa.

  1. Khả năng đáp ứng (responsiveness): thể hiện sự nhiệt tình giúp đỡ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng.

Nhân viên công ty XYZ cho bạn biết khi nào thực hiện dịch vụ, nhanh chóng thực hiện dịch vụ, luôn sẵn sàng giúp bạn và đáp ứng yêu cầu của bạn.

  1. Sự đảm bảo (assurance): thể hiện trình độ chuyên môn, thái độ lịch sự niềm nở và tạo sự tin tưởng cho khách hàng.

Cách cư xử của nhân viên XYZ gây niềm tin cho bạn, bạn cảm thấy an tòan trong khi giao dịch với công ty XYZ, nhân viên luôn niềm nở và có đủ hiểu biết để trả lời câu hỏi của bạn.

  1. Sự đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng khách hàng.

Công ty XYZ luôn đặc biệt chú ý và có nhân viên biết quan tâm đến bạn, lấy lợi ích của bạn là điều tâm niệm của họ, nhân viên hiểu rõ những nhu cầu, làm việc vào những giờ thuận tiện.

Thang đo SERVPERF và SERVQUAL giống nhau về 5 thành phần và số biến quan sát nhưng SERVPERF thì bảng câu hỏi bỏ qua phần kì vọng, khái niệm mơ hồ đối với người trả lời giúp hạn chế sai sót và nâng cao chất lượng thu thập dữ dữ liệu và bảng câu hỏi SERVPERF cũng ngắn gọn hơn bảng câu hỏi SERVQUAL. Tuy nhiên như đã nói ở phần trên thì mỗi thành phần Parasuraman thiết lập nhiều biến quan sát đo lường đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ theo thang đo likert. Ông cho rằng với từng loại hình dịch vụ và từng tính chất nghiên cứu khác nhau thì số lượng biến quan sát cũng khác nhau.

Theo mô hình nghiên cứu của Lưu Thanh Đức Hải và Nguyễn Hồng Giang (2011), sử dụng mô hình phân tích chất lượng dịch vụ, kiểm định thang đo mức độ hài lòng về chất lượng dịch vụ bằng hệ số Cronbach’s Alpha; công cụ chủ yếu là phân tích nhân tố khám phá. Nghiên cứu mô hình lý thuyết về chất lượng dịch vụ gồm có 5 nhóm yếu tố tác động: phong cảnh du lịch, hạ tầng kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, hướng dẫn viên du lịch, cơ sở lưu trú. Trong nghiên cứu này nhóm nghiên cứu đã sử dụng thang đo Likert cho điểm từ 1 đến 5 để đo lường các biến quan sát, cũng như thang đo chất lượng dịch vụ du lịch homestay Vĩnh Long, thang đo về giá cả cảm nhận và thang đo sự hài lòng của du khách khi đến du lịch ở Vĩnh Long sử dụng thang đo Likert cho điểm từ 1 đến 5 để đo lường các biến quan sát. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Theo tác giả Hồ Lê Thu Trang và Phạm Thị Kim Loan (2012), kết quả phân tích cho thấy có 10 yếu tố tác động: nhân viên chuyên nghiệp, hoạt động mua sắm đa dạng, sự đa dạng cảnh quan thiên nhiên, người dân địa phương thân thiện, các món ăn đa dạng, chất lượng, các hoạt động tham gia đa dạng, hàng lưu niệm/sản vật địa phương, nhà vệ sinh, vệ sinh môi trường, an ninh – trật tự, an toàn.

Phan Ngọc Châu (2013) đã chỉ ra có 5 nhóm nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với du lịch sinh thái tỉnh Bến Tre, bao gồm: an toàn, an ninh và sự đáp ứng; năng lực phục vụ và sự đồng cảm; cơ sở vật chất phục vụ du lịch, chất lượng sản phẩm du lịch; mức độ hợp lí của chi phí.

Trong nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của khách du lịch nội địa đối với du lịch tỉnh Sóc Trăng (2011), tác giả Đinh Công Thành và cộng sự cho rằng có 5 yếu tố tác động đến sự hài lòng của du khách gồm: yếu tố an ninh, an toàn, cảnh quan, môi trường, yếu tố con người, cơ sở hạ tầng du lịch, hoạt động tại điểm đến.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

Dựa vào mô hình nghiên cứu lý thuyết và các mô hình nghiên cứu tham khảo, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất:

Tài nguyên du lịch: Theo Lưu Thanh Đức Hải (2012) thì đặc trưng địa phương là yếu tố chủ đạo tác động đến sự hài lòng của du khách. Các yếu tố về cảnh quan tự nhiên, di tích, làng nghề, lễ hội, hàng lưu niệm, sản vật địa phương, hay sự đa dạng của các món ăn, tính liên kết giữa các điểm du lịch,… Khi những yếu tố này đáp ứng được nhu cầu của du khách, họ sẽ cảm thấy hài lòng.

An ninh, an toàn trật tự và vệ sinh môi trường: Đinh Công Thành và cộng sự (2011) cho rằng khi đi du lịch đến một điểm đến nào đó, thì du khách rất chú trọng đến vấn đề an ninh, an toàn. Điều này góp phần tạo cho họ một chuyến đi vui vẻ, trọn vẹn. Những điểm du lịch được thắt chặt vấn đề an ninh trật tự, an toàn thường được du khách tin tưởng và hài lòng hơn.

Mức hợp lý của Chi phí: Theo Cronin và Taylor (1992), những nhân tố như cảm nhận của khách hàng về giá cả hàng hoá hay chi phí sử dụng dịch vụ không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm mà ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng thường không mua những sản phẩm có chất lượng cao nhất, mà mua những sản phẩm làm cho họ hài lòng nhất.

Dịch vụ du lịch homestay: Theo Đinh Công Thành và cộng sự (2011), thì yếu tố cơ sở hạ tầng, vật chất có ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách. Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch. Trong đó: Cơ sở vật chất đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra, thực hiện sản phẩm du lịch, quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Cơ sở vật chất du lịch bao gồm cơ sở vật chất ngành du lịch và cơ sở vật chất một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch: thương nghiệp, dịch vụ…, thành phần của cơ sở vật chất bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú, công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hoá phục vụ du lịch, cơ sở y tế, mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp,… Thái độ của cộng đồng địa phương cần ứng xử thân thiện, tôn trọng, hỗ trợ khách du lịch trong quá trình tham quan, tìm hiểu tại địa phương, hiểu biết về nguồn tài nguyên cộng đồng đang sở hữu để bảo vệ và giới thiệu đến du khách,… Ngoài ra, lực lượng lao động du lịch là yếu tố quan trọng trong việc thoả mãn sự hài lòng của du khách, kiến thức, ngoại ngữ thật vững và một bản lĩnh chuyên môn nghề nghiệp để sẵn sàng đối phó với bất kỳ tình huống phát sinh nào trong suốt thời gian làm việc. ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Từ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch homestay ở trên, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu, tập trung vào các nội dung sau:

  • Giả thiết nghiên cứu:

Giả thuyết H1 (+): Tài nguyên du lịch có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách

Giả thuyết H2 (+): Dịch vụ du lịch homestay có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách.

Giả thuyết H3 (+): Vấn đề an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách.

Giả thuyết H4 (+): Mức chi phí hợp lý có tác động tích cực đến sự hài lòng của du khách.

  • Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách

Trong thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách, tác giả tự đề xuất ra 4 biến quan sát, bao gồm: hài lòng về tài nguyên du lịch Vĩnh Long; hài lòng về cơ sở du lịch homestay; hài lòng về chất lượng dịch vụ du lịch homestay; hài lòng về các sản phẩm du lịch homestay.

  • Tiến trình nghiên cứu đề tài
  • Kinh nghiệm phát triển du lịch homestay một số quốc gia và Việt Nam

1.7 Kinh nghiệm phát triển du lịch homestay ở một số quốc gia ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

*  Du lịch homestay Thái Lan

Những năm đầu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch homestay ở Thái Lan ít nhận được sự quan tâm của Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT – Tourism Authority of Thailan) và phải đối mặt với nhiều vấn đề như: Sự tiếp thị không tương xứng, phân chia lợi ích không công bằng giữa các bên tham gia, các tiêu chuẩn nghèo nàn và thiếu lòng mến khách, những bất cập giữa khách và chủ nhà, thiếu tiện nghi, thiếu những nguyên tắc quy định và các kế hoạch phát triển của nhà nước. Năm 2005, cùng với việc được thành lập, Phòng phát triển Du lịch (Bộ Thể thao và Du lịch) đã phát triển tiêu chuẩn cho các homestay và được điều chỉnh, phổ biến rộng rãi năm 2012. Các homestay phải đảm bảo khách du lịch phải cùng ở chung nhà với gia chủ, sức chứa tối đa là 4 phòng và 20 khách, đăng ký với Sở Du lịch, sử dụng homestay như nguồn thu nhập bổ sung. Biển công nhận sẽ được trao cho cộng đồng (ít nhất 4 gia đình) trong thời hạn 2 năm với dòng chữ chính thức Homestay Standard Thailand và phải đặt ở nơi dễ nhìn thấy, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như sự tin tưởng đối với du khách. (Nick Kotogeorgopoulos, Anuwat Churyen, Varaphorn Duangseang, 2013)

Homestay Thái Lan cho phép khách du lịch được sống chung với gia đình người Thái, cảm nhận được sự đón tiếp nồng hậu và trải nghiệm văn hóa Thái, hiểu thế nào là cuộc sống gia đình bản địa. Khách du lịch có thể tham gia những hoạt động như dâng lễ vật vào buổi sáng cho thầy tu, học nấu món ăn Thái, học dệt vải hay quần áo, tham gia những hoạt động nông nghiệp, tham gia những nghề thủ công truyền thống tại địa phương, chương trình khám phá tự nhiên hay những hoạt động thư giản như đạp xe, chèo thuyền. Một số homestay tiêu biểu ở Thái Lan như: Lamai homestay, homestay ở đảo Koyao, Hilltribe homestay.

*  Homestay Malaysia

Kinh nghiệm của Malaysia: phát triển loại hình DLST văn hóa gắn kết với du lịch cộng đồng – Homestay.

Malaysia là một quốc gia rất coi trọng đến phát triển du lịch, theo thống kê của UNWTO trong vùng Châu Á – Thái Bình dương, lượng khách quốc tế đến Malaysia chiếm hàng thứ hai chỉ sau cường quốc du lịch là Trung Quốc. Du khách khi đến Malaysia thường chọn các tour dạng DLST, và một trong các loại hình du lịch được ưa chuộng phải kể đến du lịch sinh thái văn hóa dựa vào cộng đồng – Homestay, đây là loại hình DLST văn hóa nông thôn dựa vào cộng đồng. Với loại hình này, du khách sẽ được sinh hoạt chung nhà với người dân bản địa như một thành viên trong gia đình và trải nghiệm cuộc sống hằng ngày để biết về văn hóa của người dân nơi đó. Bắt đầu được triển khai từ những năm 1980, đến nay loại hình du lịch homestay đã phát triển rộng rãi ở 13 bang trên toàn quốc với gần 3300 hộ dân từ 230 ngôi làng khắp cả nước. Hàng năm đón hơn 160.000 lượt du khách trong đó có 30.000 khách quốc tế đến chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Úc mang lại nguồn thu trên 16 triệu USD cho các hộ tham gia.

Kết quả thu được tại 5 bang có loại hình homestay phát triển nhất năm 2009:

Các bài học kinh nghiệm về triển khai homestay được nhìn nhận trên các góc độ gồm:

Kinh nghiệm ở tầm vĩ mô: Để thực hiện thành công các chương trình phát triển DLST Homestay, Bộ Du lịch Malaysia (MOTOUR-Ministry of tourism) đã chủ động yêu cầu có sự nỗ lực gắn kết chung giữa các cấp độ khác nhau của chính quyền các cấp, của khu vực tư nhân, và các cộng đồng địa phương. Một hiệp hội Homestay Malaysia chuyên trách được thành lập, trong đó bao gồm đại diện thành viên Chính phủ liên bang, chính quyền địa phương, đại diện khu vực tư nhân và tổ chức phi Chính phủ, Ủy ban này được MOTOUR mời tham vấn chính về kế hoạch chương trình Homestay quốc gia. Hiệp hội Homestay đã đề xuất về phía chính quyền các cấp có trách nhiệm đóng góp để thực hiện chương trình với các nhiệm vụ cụ thể như:

Đề xuất hướng dẫn, chính sách phát triển chương trình homestay cụ thể cho các bang, tỉnh.

Cấp phép cho các làng và các hộ thành viên tham gia chương trình ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Cung cấp ngân quỹ ban đầu cho đầu tư hạ tầng, hỗ trợ nâng cấp nhà cửa cho các hộ tham gia (ví dụ: hỗ trợ mỗi hộ 5.000 RM để sửa sang hệ thống toilet, bếp…)

Quảng bá chương trình homestay ở trong và ngoài nước. Liên hệ với các đơn vị chức trách có liên quan.

Kinh nghiệm ở tầm vi mô: Kinh nghiệm về chuẩn bị cho tổ chức Homestay: Địa phương cùng các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa bàn, thành lập nhóm tư vấn trực thuộc Hiệp hội, tổ chức vận động, phát hiện giúp đỡ những hộ có điều kiện tham gia, lập thủ tục cấp phép,… Sự kết hợp này thật sự có kết quả đối với các vùng nông thôn nghèo ở Malaysia. Khi xét chọn, nhóm tư vấn địa phương dựa vào 5 điều kiện mà các hộ cần hội đủ như: đường sá vào nhà thuận tiện, đầy đủ tiện nghi cho du khách như phòng ngủ, toilet, gia đình không có tiền sử về tội phạm, không bị mắc các bệnh xã hội có thể lây lan cho cộng đồng, đạt tiêu chuẩn cao về vệ sinh môi trường.

Việc chuẩn bị cho triển khai Homestay bao gồm:

Về phía chính quyền các bang và vùng: tổ chức huấn luyện trong vòng 7 ngày cho các hộ được cấp phép, theo các nội dung như hướng dẫn cách làm vệ sinh ngôi nhà mình sạch sẽ, an ninh hơn, cách tiếp đón du khách, trang trí lại cho thẫm mỹ hơn.

Về phía các doanh nghiệp du lịch, lữ hành, đại diện cộng đồng dân cư địa phương: huấn luyện kỹ năng về quản lý, phát triển về dịch vụ du lịch, tạo các sản phẩm du lịch đặc thù, hướng dẫn cách sử dụng các nguồn thu có hiệu quả…

Các tiêu chuẩn chính để phát triển loại hình du lịch homestay: có 3 tiêu chuẩn chính đó là: sản phẩm, thành phần tham gia và nguyên tắc tham gia.

  • Kinh nghiệm phát triển du lịch homestay tại Việt Nam

* Homestay ở Lào Cai ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Hoạt động du lịch homestay ở Lào Cai chủ yếu phát triển ở Sa Pa với hình thức sơ khai được bắt đầu hình thành vào năm 1997 và hai bản đầu tiên áp dụng mô hình này là bản Tà Van Giáy xã Tà Van và bản Dền xã Bản Hồ.

Bản Dền và bản Tà Van Giáy là hai bản đầu tiên áp dụng mô hình này và hiện nay cũng là hai bản kinh doanh thành công nhất về số lượng cơ sở lưu trú và số lượng khách du lịch tham gia. Nguyên nhân là bản Tả Van Giáy và bản Dền đều nằm trên tuyến du lịch tham quan làng bản hấp dẫn và phổ biến, thu hút một lượng đông đảo khách du lịch nước ngoài. Hai bản lại nằm cách xa thị trấn Sa Pa, nơi tập trung hầu hết cơ sở lưu trú của vùng nên khách du lịch muốn kết nối tour thuận lợi thì phương án hiệu quả nhất là nghỉ qua đêm tại bản. Nguyên nhân thứ hai là do phong tục tập quán của người Giáy (bản Tả Van Giáy) và người Tày (bản Dền) có nhiều yếu tố cởi mở trong việc đón khách hơn người Mông và người Dao. Vì vậy, hai bản này ngày nay vẫn là những bản thành công nhất trong hoạt động kinh doanh du lịch homestay.

Khu vực kinh doanh homestay tại các xã phát triển theo hình dạng cụm. Trên địa bàn toàn huyện Sa Pa đến nay chỉ có năm xã có hoạt động kinh doanh du lịch homestay. Trong mỗi xã thì các hộ dân đăng ký kinh doanh du lịch homestay lại tập trung chủ yếu ở một thôn nhất định. Đó chính là hiệu ứng lan tỏa từ trung tâm, từ một hộ dân kinh doanh du lịch homestay, khi lượng khách quá tải, hộ dân đi trước đã thuyết phục những hộ dân khác cùng kinh doanh để chia sẽ lượng khách nhằm đảm bảo những điều kiện tối ưu và tôn trọng sức chứa cho không gian nhà. Trong quản lý du lịch homestay, chính quyền địa phương quy định kinh doanh vùng hoạt động du lịch homestay tại một khu vực trong một xã. Chính quyền đã quy định những điểm khách du lịch được phép lưu trú trên tuyến hành trình tham quan làng bản.

Các thành viên trong gia đình ngoài việc đảm bảo và duy trì sản xuất truyền thống cũng tự đảm nhiệm việc kinh doanh và phục vụ khách. Gia đình phục vụ khách chủ yếu là phục vụ ngủ nghỉ, bên cạnh đó, còn một số dịch vụ khác như ăn uống, bán hàng lưu niệm, hướng dẫn tham quan làng bản, tắm thuốc,….

Chính quyền địa phương quản lý về mặt hành chính, tiếp nhận đơn đăng ký kinh doanh của các hộ, sau đó thẩm định, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ cấp phép kinh doanh cho chủ nhà. Ngoài ra, chính quyền địa phương còn tiến hành thu thuế các hộ kinh doanh bằng cách thu của chủ nhà 5.000 VNĐ một khách một đêm. Chính quyền địa phương cũng tiến hành kiểm tra và giám sát thường xuyên những điều kiện về vệ sinh, an toàn thực phẩm và tình hình hoạt động kinh doanh hợp pháp, lành mạnh. [tr 31-32]

* Homestay Quảng Nam ( Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du lịch homestay Vĩnh Long )

Xuất phát từ năm 2000, homestay nhà cổ được thử nghiệm với 3 nhà. Đến năm 2006 mô hình homestay tại Vườn Trầu được khởi nghiệm khá thành công và phát triển rộng ở phường Cẩm Châu, Cẩm Thanh. Ở cù lao Chàm, với hướng phát triển du lịch cộng đồng đã hình thành 40 homestay. Cuối năm 2012, Hội An có 61 homestay chiếm hơn 45,5% cơ sở lưu trú và 4,2% số phòng lưu trú của thành phố. Doanh thu năm 2011 hơn 1,9 tỷ đồng, bình quân ngày khách tăng từ 2,5 lên 3,5 ngày. Khách du lịch có thể lựa chọn homestay nhà cở, nhà vườn hay nhà dân, dù ở dạng nào du khách cũng có dịp tìm hiểu cuộc sống dân dã, nét văn hóa địa phương qua sinh hoạt thường ngày của gia chủ, kết nối với cộng đồng dân cư.

Ở làng rau Trà Quế, ngoài việc ăn ngủ và thưởng thức những giá trị văn hóa bản địa, khách du lịch còn có thể tham gia trồng rau, cuốc đất để hiểu thêm giá trị nông sản và giá trị cuộc sống. Ở Cẩm Thanh, du khách vừa được tham gia các hoạt động của làng nghề dừa nước, vừa khám phá rừng dừa nước, tham gia đánh bắt cá, đi chợ, nấu cơm, sinh hoạt cùng chủ nhà, chủ nhà xem khách như một thành viên trong gia đình. Tại cù lao Chàm, khách du lịch được tham gia vào các hoạt động ngư nghiệp của người dân, tìm hiểu về sinh thái trên cù lao.

Đề án phát triển du lịch homestay trên địa bàn thành phố đến năm 2015 của thành phố Hội An xác định: “Ưu tiên phát triển mô hình lưu trú homestay ở các khu vực vùng ven đô thị, vùng nông thôn, kiệt, hẻm nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng, góp phần cải thiện sinh kế của người dân, tạo sự phát triển đồng đều giữa các địa phương”. Ngoài ra, homestay Hội An ngoài chức năng lưu trú đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định tại TCVN 7800:2009, phải nâng tầm thành sản phẩm du lịch văn hóa.

Khách du lịch chọn loại hình homestay là bởi họ muốn được khám phá, trải nghiệm đời sống văn hóa truyền thống cũng như khác biệt với họ của cư dân bản địa qua hình thức cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt và làm việc… Thế nhưng, hiện nay mô hình homestay của người dân ở các địa phương khá đơn điệu, thiếu sinh động. Những mặt hạn chế của loại hình homestay hiện nay đó là một số trường hợp kinh doanh chưa đúng quy định, ví dụ là homestay nhưng thiếu các hoạt động trải nghiệm cho du khách và cạnh tranh về giá cả thiếu lành mạnh, điều chỉnh tăng diện tích đất tối thiểu để góp phần giữ gìn cảnh quan sinh thái, đồng thời cũng đã có chủ trương điều chỉnh định hướng phát triển mạng lưới cơ sở trên địa bàn. Cần quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát, liên kết, xúc tiến và quản lý giá cả. (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, 2016)

Tiểu kết chương 1

Chương 1 luận văn đã tập trung giải quyết được vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận chung cho du lịch homestay, kinh nghiệm phát triển du lịch homestay ở một số quốc gia và một số địa phương của Việt Nam làm tiền đề cho việc đánh giá thực trạng khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long.

Với những lý luận chung, tác giả đã nêu được các khái niệm, quan niệm chung về du lịch homestay, từ đó nêu lên được những đặc điểm, đối tượng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoat động của du lịch homestay, mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu, thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

→ Luận văn Thực trạng khai thác du lịch homestay tỉnh Vĩnh Long

One thought on “Luận văn Cơ sở lý luận khai thác du Luận văn lịch homestay tỉnh Vĩnh Long

  1. Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing says:

    Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Marketing

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537