Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tài chính của các Bệnh viện công lập là một trong những nội dung quan trọng vì vậy mà mình muốn chia sẻ cho các bạn Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập. Trong công tác quản lý bệnh viện bệnh viện, muốn thành công thì phải được tiến hành cùng với quá trình đổi mới toàn diện hoạt động bệnh viện và đổi mới quản lý chung đối với việc cung ứng dịch vụ y tế theo luật khám chữa bệnh, quản lý chất lượng cung cấp dịch vụ y tế. Dưới đây là Đề tài luận văn cao học: Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh mời các bạn đọc giả tham khảo.

2.1. Tình hình kinh tế – xã hội tại TP. Hồ Chí Minh tác động đến quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh

2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội của TP. Hồ Chí Minh

  • TP.Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38 vĩ độ bắc và 106 0 22’ – 106 054 ’ kinh độ đông . Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
  • TP.Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế . Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.

Tình hình phát triển kinh tế:

  • Năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 1.347.369 tỉ đồng, tăng 8,32%, cao hơn so với năm 2018 (8,3%). Tỷ trọng quy mô kinh tế thành phố so với quy mô kinh tế cả nước (5,55 triệu tỉ đồng) là 23,97%, cao hơn năm 2017 và năm 2016 (23,4%), cao nhất từ trước đến nay.
  • Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 35% GRDP, bằng năm 2018 là 35%, vượt chỉ tiêu bình quân trên nhiệm kỳ 2016 – 2020 là 30% GRDP. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,3 tỉ USD (bằng 101% so cùng kỳ), chiếm 22% tổng đầu tư nước ngoài cả nước năm 2018.
  • Thu ngân sách ước đạt 412.474 tỉ đồng (tăng 3,34% so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 và tăng khoảng 9% so với thực thu năm 2018; bình quân thu l.620 tỉ đồng/ngày làm việc).
  • Trong năm 2019, Thành phố đã thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và Chủ đề năm 2019: “Năm đột phá thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội và   cải   cách hành chính”. Nhìn lại năm đã qua, thành phố đạt được nhiều kết quả rõ rệt, gắn với sự hài lòng của người dân như công bố 40 thủ tục hồ sơ liên thông tại Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; nâng tỷ lệ hồ sơ giải quyết thông qua dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 đạt 33,51%, đạt chỉ tiêu đề ra. Đồng thời, thành phố tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
  • Thành phố đã ủy quyền 85 nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố cho các sở – ngành, quận – huyện, bước đầu phát huy hiệu quả, tạo sự chủ động cho các cơ quan, đơn vị, góp phân rút ngắn thời gian giải quyết công việc, cải thiện chất lượng phục vụ và nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với cơ quan, tổ chức của thành phố.
  • UBND Thành phố đã ban hành và thực hiện Quy định về chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc khu vực quản lý nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và đơn vị sự nghiệp do thành phố quản lý, góp phần đáng kể ổn định đời sống, động viên công chức, viên chức, lao động trách nhiệm cao hơn, hiệu quả hơn.
  • Cùng với các chỉ tiêu theo Nghị quyết, Thành phố đã thực hiện thêm các nội dung mới như phê duyệt bổ sung nhiệm vụ thi quốc tế “Ý tưởng quy hoạch phát triển khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 2, Quận 9, quận Thủ Đức)” và công bố cuộc thi tuyển quốc tế nhằm tìm kiếm ý tưởng về quy hoạch phát triển đô thị để chuyển đổi khu vực phía Đông Thành phố thành khu vực “đô thị sáng tạo và tương tác cao”. ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Văn hóa – xã hội:

  • Các lĩnh vực văn hóa – xã hội được triển khai đảm bảo kế hoạch đề ra. Các hoạt động văn hóa, lễ hội được tổ chức chu đáo, trang trọng, thu hút đông đảo người nhân tham gia. Tình hình quốc phòng – an ninh được đảm bảo, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Trong năm 2019, phạm pháp hình sự tiếp tục được kéo giảm 8,25% so cùng kỳ và là năm thứ 5 liên tiếp kéo giảm phạm pháp hình sự; tỷ lệ điều tra khám phá án được nâng lên 76,98% số vụ xảy ra.
  • Thành phố đã phát hiện, triệt phá nhiều đường dây tổ chức, vận chuyển, mua bán ma túy lớn, thu giữ số lượng lớn ma túy, tăng đột biến so với trước đây, với hơn 1.500 vụ, 3.600 đối tượng; thu giữ gần 345 kg heroin (gấp 3 lần năm 2018); trên 1,3 tấn ma túy tổng hợp (gấp 2 lần năm 2018) và nhiều hợp chất ma túy nguy hiểm khác.
  • Thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh các giải pháp xây dựng văn minh đô thị và xây dựng Đảng bộ thành phố trong sạch, vững mạnh. Điểm nhấn là 2019, việc triển khai Chỉ thị số 19 của ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện cuộc vận động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì Thành phố sạch và giảm ngập nước” đã đạt được những kết quả ấn tượng. 322/322 phường, xã, thị trấn đã tổ chức đối thoại với nhân dân (đạt 100%), với 4.514 cuộc đối thoại cấp quận, huyện và phường, xã, thị trấn, đã vận động được 1.366.088 hộ dân ký bản cam kết không xả rác bừa bãi, thực hiện bỏ rác đúng nơi quy định.
  • Qua 5 tháng quyết liệt triển khai Chỉ thị số 23 ngày 25/7/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố đã tích cực vào cuộc với nhiều giải pháp mang tính tổng thể nhằm kéo giảm tình trạng vi phạm xây dựng. Số vụ vi phạm xây dựng bình quân đã được kéo giảm xuống còn 5,4 vụ/ngày (so với trước đây là 8,5 vụ/ngày), hoàn chỉnh Sổ tay “Hỏi – Đáp về xây dựng nhà ở, nhà xưởng”… Những kết quả trên đã tạo tiền đề quan trọng để Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bước vào năm 2020 – năm cuối cùng của nhiệm kỳ 2015-2020, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế – xã hội đặt ra, tiếp tục duy trì vài trò đầu tàu kinh tế của khu vực và cả nước.
  • Đẩy mạnh hoạt động văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh đô thị là chủ đề năm 2020 được Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất lựa chọn để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng đến hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của năm 2020 và cả nhiệm kỳ 2015 – 2020, đồng thời chỉ đạo quyết liệt việc chuẩn bị và tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ thành phố.
  • Thực hiện chủ đề này, Thành phố Hồ Chí Minh xác định ngay từ đầu năm tổ chức các hoạt động như công bố danh mục các sự kiện văn hóa hàng năm của thành phố; tổ chức đối thoại văn hóa hàng tháng trên các phương tiện thông tin đại chúng; triển khai thủ tục đầu tư và nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa của thành phố như xây dựng Nhà hát Giao hưởng và nhạc vũ kịch; cải tạo Nhà hát Trần Hữu Trang.

Cùng với đó, thành phố tổ chức chu đáo các hoạt động văn hóa, đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho người có hoàn cảnh khó khăn trong dịp đón Xuân Canh Tý với tinh thần: “Thành phố Hồ Chí Minh – Thành phố sạch, Thành phố văn hóa mừng Xuân Canh Tý, mừng Đảng 90 năm”.

2.1.2. Tác động của tình hình kinh tế – xã hội đến quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Thứ nhất, với ngân sách của thành phố hiện còn hạn hẹp, là đầu tàu kinh tế, vì vậy để có nguồn vốn đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác, việc tự chủ tài chính đối với các bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh là một yêu cầu tất yếu, khách quan.

Thứ hai, trong bối cảnh việc xã hội hóa dịch vụ y tế ngày càng mở rộng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hoạt động khám chữa bệnh tại các thành phố lớn, đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh, việc cần phải phải thay đổi cùng cách phục vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ mà sự thay đổi quan trọng đến từ quan điểm xem người bệnh như khách hàng, vì vậy, đây cũng làm một sức ép cần phải tiến tới tự chủ trong quản lý bệnh viện, đặc biệt là tự chủ tài chính.

Thứ ba, với mặt bằng thu nhập chung hiện nay của đội ngũ y, bác sĩ trên địa bàn thành phố còn thấp, việc áp lực cần có cơ chế tự chủ tài chính để khuyến khích sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn kinh phí để tăng thu nhập cho cán bộ, trích lập các quỹ.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

2.2. Phân tích thực trạng quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh

2.2.1. Quy mô chi ngân sách và thực hiện cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của Hồ Chí Minh

2.2.1.1. Quy mô chi NSNN cho bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh

Các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh hiện nay gồm có bệnh viện thuộc Bộ Y tế (gồm Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống nhất và bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương), trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, bao gồm các bệnh viện cấp thành phố và các bệnh viện cấp Huyện. Theo thống kê hiện nay, có 30 bệnh viện cấp thành phố, 23 bệnh viện cấp Quận, Huyện.

Đối với quy mô chi ngân sách cho hệ thống bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố. Nguồn NSNN cấp cho các bệnh viện công bao gồm: kinh phí đảm bảo cho hoạt động thường xuyên để thực hiện chức năng nhiệm vụ (với BV tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và BV do NSNN đảm bảo toàn bộ); kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế và thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn TSCĐ; vốn đối ứng thực hiện dự án.

Cơ chế phân bổ NSNN cho các bệnh viện công có những thay đổi khi có Nghị định 43/2006/NĐ-CP. Phương thức phân bổ NS cho các bệnh viện công được thực hiện theo hướng “cấp ngân sách ở mức ổn định theo giai đoạn 3 năm”, là một hình thức của cơ chế khoán kinh phí NSNN. Căn cứ trên dự toán được giao, Sở tài chính phân bổ kinh phí cho các bệnh viện công, việc phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các bệnh viện công tại Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở định mức giường bệnh.

Như vậy, những năm gần đây kinh phí đầu tư từ ngân sách cho các bệnh viện công có xu hướng giảm dần. Điều này được thể hiện thông qua định mức dự toán chi ngân sách thường xuyên của Thành phố cho các bệnh viện khối thành phố giảm từ 94,235 triệu đồng năm 2016 xuống 79,104 triệu đồng năm 2017, giảm 16%. Đối với bệnh viện thuộc các quận, huyện định mức chi ngân sách sau khi giảm xuống trong năm 2017 đã tăng trở lại trong năm 2018. Tính chung trong 3 năm, định mức chi ngân sách cho các bệnh viện quận huyện đã tăng 4,6%. Điều này hoàn toàn hợp lý, khi mức độ tự chủ về tài chính của các bệnh viện công tại Thành phố đã tăng lên. Phần lớn nguồn kinh phí dành cho hoạt động thường xuyên của các bệnh viện có khả năng tự chủ về tài chính chủ yếu lấy từ nguồn thu chi trả BHYT và nguồn thanh toán trực tiếp từ người bệnh. Cùng với đó là sự thay đổi trong xu hướng phân bổ nguồn ngân sách cho các bệnh viện, giảm phân bổ trực tiếp cho bệnh viện sang phân bổ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng thông qua BHYT. ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

2.2.1.2. Đối với tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ

Về thực hiện tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ tại các bệnh viện công lập của Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các đơn vị đã tự chủ trong xây dựng kế hoạch: kế hoạch theo chức năng, nhiệm vụ được giao và kế hoạch do đơn vị tự xác định để cung cấp các dịch vụ y tế cho xã hội trình các cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản lý chuyên ngành để phê duyệt, theo dõi và giám sát.

Trong bối cảnh ngân sách nhà nuớc ngày càng hạn hẹp, việc NSNN cấp kinh phí cho các bệnh viện ngày càng ít dần. Và theo số liệu thống kê về phân loại loại hình các đơn vị sự nghiệp y tế ở trên, ở Thành phố Hố Chí Minh năm 2018 có tới 29/45 bệnh viện khối thành phố thực hiện tự chủ theo phân loại tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. Điều này có nghĩa là, từ năm 2018 trở đi, NSNN sẽ chỉ hỗ trợ phần kinh phí hoạt động đầu tư (nếu có) và toàn bộ những chi trả cho hoạt động thường xuyên, bệnh viện sẽ phải tự “chủ động” trang trải.

Lĩnh hội và nhận thức sâu sắc được nội dung này, nhiều bệnh viện của Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp để phát triển chuyên môn kỹ thuật, cử cán bộ đi học trong và ngoài nước để tiếp nhận, ứng dụng các kỹ thuật, nhất là các kỹ thuật mới, kỹ thuật cao. Song song với việc đào tạo trình độ nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng chuyên môn trong hoạt động khám, chữa bệnh, các bệnh viện cũng đã đa dạng hóa hoạt động gắn với chuyên môn của mình.

Có thể thấy, số lượt khám tại các bệnh viện khối thành phố vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn so với các cơ sở y tế tuyến quận hay y tế tư nhân, chiếm 56% tổng số lượt khám cả toàn thành phố. Trong giai đoạn từ 2012 – 2017, số lượt khám bệnh của các bệnh viện tăng khoảng 1,3 lần so với 2012. Cụ thể:

Hoạt động khám – chữa bệnh tại các bệnh viện bao gồm: hoạt động khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh không bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh theo yêu cầu. Trong quá trình thực hiện tự chủ, hoạt động khám chữa bệnh theo yêu cầu đã và đang được các bệnh viện nâng cao, phát triển cả về sổ lượng, lẫn chất lượng.

2.2.1.3. Về thực hiện tự chủ trong tổ chức bộ máy và nhân sự

* Về tổ chức bộ máy

Trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, việc sắp xếp, tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, giản lược và hiệu quả là nội dung không kém phần quan trọng. Bởi chỉ khi có được sự bố trí, sắp xếp và tổ chức bộ máy một cách hiệu quả, mọi hoạt động trong đơn vị mới được vận hành một cách “trơn tru” nhất. – Lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng của Thành phố gồm có:

+ Tuyến thành phố gồm 32 bệnh viện (10 bệnh viện đa khoa và 22 bệnh viện chuyên khoa) và Trung tâm cấp cứu 115;

+ Tuyến quận, huyện: tiến hành sáp nhập “Bệnh viện quận, huyện (hạng III) vào Trung tâm y tế quận, huyện” trực thuộc Sở Y tế (trừ bệnh viện quận, huyện hạng II trở lên) trước ngày 1/1/2010

Cụ thể, 14 Trung tâm Y tế và 14 bệnh viện quận, huyện hạng III như sau: Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 1, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 3, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 5, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 7, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 9, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 10, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 11, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận 12, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận Gò vấp, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận Tân Bình, Trung tâm Y tế và Bệnh viện quận Phú Nhuận, Trung tâm Y tế và Bệnh viện huyện Cần Giờ, Trung tâm Y tế và Bệnh viện huyện Nhà Bè, Trung tâm Y tế và Bệnh viện huyện CủChi ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Theo Quyết định 4606/QĐ-UBND ngày 05/09/2016 về phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV, lộ trình và thời gian thực hiện sáp nhập như sau:

  • Từ năm 2018 đến quý 1 năm 2019: tổ chức sáp nhập 14 bệnh viện quận, huyện (hạng III) vào 14 trung tâm y tế quận, huyện nêu trên.
  • Từ quý II năm 2019 đến trước quý IV năm 2020, tổ chức bàn giao nguyên trạng 23 trung tâm y tế quận, huyện và 9 bệnh viện được xếp hạng II trở lên về Sở Y tế quản lý theo đúng quy định. 9 bệnh viện hạng II trở lên bao gồm: Bệnh viện quận Thủ Đức, quận 2, quận 4, quận 6, quận 8, Tân Phú, Bình Thạnh, Bình Tân, và huyện Bình Chánh.

*Về tổ chức bộ máy tại các đơn vị sự nghiệp y tế trên địa bàn thành phố

Hầu hết các đơn vị đã rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, xây dựng lại Điều lệ tổ chức, hoạt động cho đơn vị mình trình Sở Y tế phê duyệt, sửa đổi, bổ sung các nhiệm vụ có khả năng triển khai và phù hợp với năng lực của đơn vị. Trên cơ sở đó, tổ chức lại, sáp nhập, chia tách, giải thể các khoa, phòng, đơn vị trực thuộc hoạt động không hiệu quả hoặc chưa phù họp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị để thành lập các tổ chức mới hoạt động có hiệu quả hơn, phù hợp với quy hoạch, với điều lệ và phương án phát triển của đơn vị, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Bên cạnh đó, các đơn vị đã tổ chức lại, thành lập mới các tổ chức sự nghiệp thuộc đơn vị để phát triển chuyên môn, hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội và phù hợp với chuyên môn, khả năng của đơn vị và đúng với quy định của pháp luật. Ví dụ như khoa khám bệnh theo yêu cầu do các chuyên gia, thầy thuốc giỏi, có kinh nghiệm khám; tổ chức các khoa dịch vụ theo yêu cầu; giường bệnh có đầy đủ tiện nghi hơn để đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế.

* Về nhân sự

Với cơ chế tự chủ về nhân sự, việc cho phép các đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được tự quyết định số lượng người làm việc đã tạo điều kiện cho các đơn vị quyết định và tuyển dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nhân lực để phục vụ cho các hoạt động với chất lượng ngày càng được nâng cao.

Hầu hết các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố đã xây dựng đề án vị trí việc làm. Theo đó, các đơn vị đã tổ chức sắp xếp lại nhân sự, bố trí một cách khoa học, một người có thể làm nhiều việc, từng bước bảo đảm phân công công việc đúng người, đúng việc, đúng sở trường, phát huy được tính năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ y tế, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị. Bên cạnh đó, nhiều đơn vị cũng đã thực hiện ký hợp đồng thuê khoán công việc đối với những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên như vệ sinh, bảo vệ, chăm sóc sân vườn, dành biên chế đó cho công tác chuyên môn. Bởi vậy, số biên chế thực hiện so với kế hoạch đạt khoảng 72% – 75% và thay vào đó là số lao động hợp đồng với tốc độ tăng 14,8% (2013 – 2018) cao gấp đôi tốc độ tăng số biên chế đạt 5,7% cùng kỳ.

Việc cho phép các đơn vị tự bảo đảm chi hoạt động thường xuyên được tự quyết định số lượng người làm việc đã tạo điều kiện cho các đơn vị quyết định và tuyển dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tự chủ về tài chính cũng giúp các đơn vị có điều kiện nâng cao và phát triển nguồn nhân lực trong đơn vị. Điều này thể hiện ở cơ cấu lao động của các đơn vị phân theo trình độ chuyên môn, mà theo đó, số lao động có trình độ từ tiến sỹ và bác sỹ chuyên khoa 2 tại các bệnh viện tăng l,73 lần từ 2012 (534 lao động) lên 921 lao động năm 2018.

2.2.2. Thực trạng quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

2.2.2.1. Quản lý nguồn thu

Nguồn thu của các ĐVSN y tế bao gồm:

  • Nguồn thu từ hoạt động cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí;
  • Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí phần được để lại chi thường xuyên phục vụ công tác thu phí, lệ phí theo quy định;
  • Nguồn thu từ các hoạt động khác (nếu có), gồm: tiền lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết; lãi tiền gửi ngân hàng; nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Tại các bệnh viện công lập của thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn từ 2013 – 2018, nguồn từ NSNN giảm dần, tỷ trọng NSNN cấp ở các đơn vị khối thành phố giảm từ 15,33% năm 2013 xuống còn 5,39% năm 2017; khối quận, huyện giảm từ 29,4% năm 2013 xuống còn 16,7% năm 2018

Tỷ trọng NSNN giảm dần qua các năm đồng nghĩa với các bệnh viện công lập phải chủ động hơn trong các nguồn thu sự nghiệp của đơn vị mình. Tỷ trọng nguồn thu từ dịch vụ khám, chữa bệnh (viện phí) ở các đơn vị khối Thành phố chiếm khoảng 70% – 73% khối quận, huyện chiếm 52% – 56% tổng nguồn thu sự nghiệp. Nguồn thu từ khám, chữa bệnh theo yêu cầu và những dịch vụ phụ trợ cũng tăng đáng kể ở cả hai khối, đặc biệt ở khối quận, huyện năm 2012 tăng 1,7 lần so với 2013.

2.2.2.2. Quản lý nhiệm vụ chi

Trong cơ cấu chi phí hoạt động của các bệnh viện, chi phí con người chiếm khoảng 30%. Khi thực hiện tự chủ, các đơn vị đã xây dựng vị trí việc làm và xác định rõ vị trí nào cần lao động dài hạn và chú trọng về chuyên môn sâu, vị trí nào nên thuê, mướn. Bởi vậy, nhiều vị trí trong các bệnh viện đã được thay thế từ hình thức lao động hợp đồng trong bệnh viện, chuyển sang hình thức thuê, ký hợp đồng với các công ty cung cấp dịch vụ với điều kiện nhận lao động cũ của bệnh viện trực tiếp làm vị trí đó. Điển hình liên quan đến công tác vệ sinh, môi trường của bệnh viện. Thay vì tuyển nhiều hộ lý, các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty vệ sinh và tuyển chính những hộ lý này làm việc. Vì chịu sự quản lý và giám sát của công ty nên chất lượng, thái độ phục vụ và hiệu quả làm việc của các lao động này được nâng cao một cách rõ rệt. Xét góc độ chi phí của các bệnh viện, việc ký hợp đồng với các công ty trên cơ sở đấu thầu cạnh tranh đã giúp tiết kiệm chi phí.

Chi phí thuốc, vật tư y tế chiếm khoảng 50% tổng chi hoạt động khám, chữa bệnh tại các bệnh viện. Do theo quy định của Bộ Y tế, giá thuốc xuất sử dụng cho bệnh nhân bằng với giá nhập, không tính đến chi phí bảo quản và quản lý thuốc (toàn bộ lương và những chi phí khác liên quan đến bộ phận Dược). Vậy nên nếu chi phí thuốc càng lớn thì chi phí của bệnh viện càng gia tăng. Bởi vậy, cần phải tổ chức phân tích chi phí hoạt động, và có biện pháp quản trị chi phí – thực hiện mục tiêu tiết kiệm – hiệu quả thì các đơn vị mới có thể thực hiện tự chủ thành công.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.2.2.3. Quản lý trích lập các quỹ và phân phối kết quả tài chính ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Kể từ khi Thành phổ đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ tài chính cho các ĐVSN y tế công lập thì số trích lập quỹ tăng lên đáng kể, năm 2018 tăng gần 3 lần so với 2013. Trong đó, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất so với 2 quỹ còn lại, khoảng 60 – 63% tông trích lập quỹ.

Tuy nhiên khi đến giai đoạn 2017 – 2018 mặc dù còn nhiều khó khăn đặc biệt khi được xếp hạng tự chủ loại I, các bệnh viện này đã có bước chuyển mình tích cực cả hiệu quả kỹ thuật thuần, tăng 2%, sử dụng nguồn lực tăng 26%, dẫn đến hiệu quả tổng hợp của các bệnh viện tăng 31%. Dây cũng chính là một điển hình khi bước lên tự chủ loại I là hình thức giúp tăng sự hiệu quả của bệnh viện khu vực.

Một trong những mục tiêu hướng đến của cơ chế tự chủ, đó là nâng cao thu   nhập của cán bộ, nhân viên trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Trên thực tế, nếu được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm “đúng” với khả năng “hấp thụ” của đơn vị thì mục tiêu này mới có thể đạt được, số liệu thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên của các bệnh viện khối Thành phố tại TP. Hồ Chí Minh có thể minh chứng cho nhận định này.

Từ hình 5, có thể thấy trong giai đoạn 2014 – 2017, bình quân thu nhập (đã bao gồm thu nhập tăng thêm) của cán bộ, nhân viên tại các bệnh viện tăng đều, năm 2017 gấp hơn 1,5 lần so với 2014. Đây cũng là giai đoạn với ít sự thay đổi về việc phân loại loại hình đơn vị. Tuy nhiên, đến năm 2018, thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên tại các đơn vị giảm xuống còn khoảng 82% so với thu nhập bình quân năm 2017, song vẫn cao hơn mức thu nhập ở năm 2016. Điều này xuất phát từ sự biến động lớn trong việc phân loại các loại hình đơn vị tự chủ giai đoạn 2018 – 2020 – từ 8 đơn vị lên 29 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên. Trong năm 2018, một số bệnh viện chưa có sự “sẵn sàng” song song với “khả năng hấp thụ” tương ứng với loại hình đơn vị tựđảm bảo kinh phí hoạt

động thường xuyên. Bởi vậy, khi NSNN hoàn toàn không cấp kinh phí, các bệnh viện này phải gánh toàn bộ các khoản chi thường xuyên của bệnh viện, và kéo theo đó, số chênh lệch thu – chi từ hoạt động thường xuyên năm 2018 giảm, và dẫn tới thu nhập tăng thêm của cán bộ, nhân viên trong năm này cũng giảm theo. Như vậy, “cái khó” của các bệnh viện ở đây là muốn giữ chân được bác sỹ thì phải có chế độ đãi ngộ và thu nhập tốt – nhưng nếu để bệnh viện “tự chi trả” thì các bệnh viện lại không đủ khả năng.

2.2.2.4. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của thành phố thời gian qua chủ yếu tập trung vào việc quản lý, sử dụng tài chính, nội dung thanh tra tập trung vào việc chấp hành quy định pháp luật trong việc thu, chi tài chính, cụ thể là việc tiếp nhận, sử dụng, quản lý nguồn kinh phí hoạt động và mua sắm trang thiết bị y tế, thuốc, … và việc trích lập, sử dụng các quỹ và phân phối kết quả tài chính trong năm, qua kết quả thanh tra, cơ quan thanh tra của thành phố và thanh tra chuyên ngành cũng đã chỉ ra nhiều điểm cần chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện, thậm chí xử lý vi phạm liên quan đến các sai phạm về liên doanh liên kết, mua sắm, tài chính, hoạt động đấu thầu,… của một số Bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên, điểm hạn chế rất lớn tại TP. Hồ Chí Minh trong hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm là việc số lượng cán bộ thanh tra không ổn định, thường xuyên luân chuyển công tác khác. Trình độ cán bộ thanh tra y tế chưa đồng đều trên một số lĩnh vực như giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, bảo hiểm y tế…

Bên cạnh đó, hiện nay đội ngũ thanh tra y tế cũng còn tồn tại nhiều hạn chế như: Ý thức chấp hành pháp luật của nhiều đối tượng thanh tra còn chưa tốt, cố tình lách luật, vi phạm luật vì mục đích thu lợi, việc đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ cán bộ, công chức thuộc hệ thống thanh tra Y tế còn chưa được quan tâm đầy đủ…

2.3. Đánh giá chung về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh

2.3.1. Những kết quả đạt được ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Theo kết quả phân tích trên, trong thời gian qua, quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh gồm:

Thứ nhất, quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ đã phát huy tính năng động, sáng tạo và khuyến khích các bệnh viện huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư, mua sắm trang thiết bị phát triển hoạt động khám chữa bệnh.

Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động liên doanh liên kết. Nguồn vốn từ hoạt động liên doanh liên kết (hoạt động xã hội hóa) chủ yếu được dùng để mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho yêu cầu khám chữa bệnh của người dân và từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ. Nhờ có hoạt động liên doanh liên kết và xã hội hóa, người dân đã có cơ hội được tiếp cận nhiều hơn tới các dịch vụ khám chữa bệnh tiên tiến và chất lượng.

Thứ ba, giúp các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố đa dạng và quản lý chặt chẽ nguồn thu để có nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động của đơn vị mình. Kể từ khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP được triển khai áp dụng, đặc biệt là khi có Nghị định 16/2015/NĐ-CP tại các đơn vị sự nghiệp công lập, nguồn thu sự nghiệp của các bệnh viện công lập đã tăng mạnh. Tỷ lệ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước (NSNN) cũng giảm đáng kể.

Thứ tư, đã khuyến khích sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn kinh phí để tăng thu nhập cho cán bộ, trích lập các quỹ. Do được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sử dụng NSNN và các nguồn thu nên các đơn vị đã chủ động sử dụng các nguồn tài chính cho các hoạt động chuyên môn, bố trí hợp lý các khoản chi trong dự toán ngân sách được giao. Vấn đề cho phép chuyển kinh phí chưa sử dụng, số chưa quyết toán sang năm sau đã khuyến khích việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn NSNN và các nguồn thu sự nghiệp. Mặt khác, các BVCL cũng được quyền tự chủ trong việc phân bổ chênh lệch thu chi và trích lập các quỹ theo quy định, trong đó phần lớn phân bổ cho cán bộ công nhân viên, tạo cơ chế khuyến khích đội ngũ y bác sĩ và nâng cao chất lượng dịch vụ bệnh viện…

Thứ năm, cho phép các bệnh viện công lập được quyền quyết định trong mua sắm và sử dụng tài sản vật tư. Việc giao quyền tự chủ, phân cấp trong mua sắm, đấu thầu đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị mua được các tài sản, vật tư phù hợp với yêu cầu chuyên môn của đơn vị; Gắn trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính của đơn vị.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

2.3.2.1. Một số hạn chế

Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong công tác quản lý và vận hành tại các BVCL, tuy nhiên thực tế triển khai vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên giao tự chủ còn thấp, chưa tính đến hoạt động đặc thù về mô hình bệnh tật và đặc điểm địa bàn.

Thứ hai, chính sách viện phí, giá dịch vụ khám chữa bệnh còn chậm đổi mới, chưa thực hiện tính đúng và thu đủ chi phí nên mức thu thấp, dẫn đến bao cấp tràn lan, không công bằng. Cơ chế tính giá viện phí cứng nhắc đã làm cho một số bệnh viện nhỏ, đặc biệt các bệnh viện ở địa phương không đảm bảo được cân đối thu, chi hoạt động thường xuyên, thiếu kinh phí để duy tu, bảo dưỡng tài sản, mua sắm các trang thiết bị thay thế…

Thứ ba, cơ chế huy động nguồn lực từ hoạt động xã hội hóa, liên doanh, liên kết còn nhiều khó khăn và vướng mắc. Cụ thể như:

  • Về đất đai cho xã hội hóa bệnh viện: chưa quy hoạch phát triển bệnh viện theo hình thức xã hội hóa và chưa bố trí được đất sạch, nên công tác xã hội hóa đầu tư cho y tế còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về vấn đề đất đai.
  • Về vay vốn: Mặc dù, đã có chính sách ưu đãi về lãi suất nhưng so với đầu tư cho y tế thì lãi suất cho vay vẫn còn cao (2 năm đầu khoảng 6-7%/năm, từ năm thứ 3 trở đi bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng + tối đa 2%), trách nhiệm trả nợ lớn nên nhiều bệnh viện chưa mạnh dạn vay vốn đầu tư, phần lớn đang đề nghị tiếp tục được liên doanh, liên kết về trang thiết bị; xã hội hóa về đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng.
  • Về liên doanh, liên kết đặt máy: Nhiều đơn vị còn chưa thực hiện đúng các quy định dẫn đến việc liên doanh và liên kết đặt máy còn chưa công khai và minh bạch; Còn nhiều bất cập trong việc xác định giá trị thiết bị đưa vào liên doanh, liên kết, dẫn đến tình trạng có cơ chế 2 giá dịch vụ trong 1 đơn vị; lạm dụng các dịch vụ, kỹ thuật từ các trang thiết bị xã hội hoá.
  • Quy trình lựa chọn nhà đầu tư: Mặc dù Nghị định số 59/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể đối với trường hợp có từ 02 nhà đầu tư trở lên cùng đăng ký lựa chọn một địa điểm để thực hiện Dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa thì lựa chọn nhà đầu tư đáp ứng tiêu chí cao nhất về quy mô, chất lượng, hiệu quả. Tuy nhiên, do chưa có hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục lựa chọn nên các BVCL còn lúng túng trong triển khai thực hiện.
  • Về chính sách thuế: Chưa có hướng dẫn rõ ràng về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở xã hội hóa mới thành lập, nên còn khá vướng mắc trong thực hiện.
  • Về liên doanh, liên kết đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Mặc dù, Chính phủ đã có Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 về cơ chế, chính sách phát triển y tế, trong đó cho phép các đơn vị được liên doanh, liên kết với nhà đầu tư để xây dựng, thành lập mới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện. Bộ Y tế hiện nay đã tiếp thu và đưa một số nội dung vào dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Đầu tư theo hình thức đối tác công tư: Mặc dù, Chính phủ đã có Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, Nghị định số 30/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn nhưng các đơn vị công lập vẫn gặp nhiều hạn chế khi triển khai thực hiện. Dự án hợp tác công tư chủ yếu sử dụng nguồn vốn do nhà đầu tư huy động nhưng vẫn phải thực hiện tất cả các trình tự, thủ tục chặt chẽ như các dự án sử dụng hoàn toàn bằng vốn đầu tư công, dẫn đến khó khăn cho công tác thu hút vốn đầu tư tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng.

Thứ tư, nhiều định mức chi chưa được quy định hoặc lạc hậu, không còn phù hợp với thực tế, gây khó khăn cho các đơn vị sử dụng ngân sách.

Thứ năm, trình độ quản lý tài chính của một số cơ sở y tế còn chưa đáp ứng yêu cầu. Chế độ kế toán, hoạch toán hành chính sự nghiệp hiện nay chưa phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính, nhất là việc xác định chênh lệch thu chi của đơn vị.

Thứ sáu, viện phí một số bệnh viện công lập còn chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ gây bức xúc trong nhân dân. Đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cao chưa tương xứng với năng lực, trình độ chuyên môn, còn có tình trạng lạm dụng các dịch vụ, kỹ thuật từ các trang thiết bị xã hội hoá.

Thứ bảy, thiếu cơ chế để khuyến khích các bệnh viện chuyển sang hoạt động theo loại hình tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, dành ngân sách cho các đơn vị có khó khăn hơn.

2.3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, việc giao quyền tự chủ cùng với tự chịu trách nhiệm chưa thực sự gắn với mức độ phù hợp và khả năng hấp thụ của các bệnh viện. Điều này dẫn tới những bệnh viện được nâng mức độ tự chủ cao hơn gặp phải nhiều khó khăn.

Tại TP. Hồ Chí Minh, theo khảo sát thực tế tại một số bệnh viện, việc phân loại loại hình đơn vị sự nghiệp công lập thực tế mới chỉ dựa trên công thức về tài chính: Tổng thu sự nghiệp/ Tổng chi hoạt động thường xuyên thay vì dựa trên những đánh giá cụ thể về kết quả hoạt động của từng đơn vị.những đơn vị nào đạt tỷ lệ 100% ở công thức này thì mặc nhiên được nâng lên loại hình đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên, và song song với đó là ngân sách sẽ không cấp kinh phí cho hoạt động này nữa.

Thứ hai, Hệ thống pháp luật còn nhiều nội dung thiếu đồng bộ; một số văn bản quy phạm pháp luật đã quá cũ, không phù hợp với hoạt động hiện tại của các bệnh viện công lập thực hiện tự chủ về kinh phí hoạt động.

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, có hiệu lực kể từ ngày 06/4/2015 quy định Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, thay thế Nghị đinh số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006. Tuy nhiên, đến nay Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 vẫn chưa được sửa đổi, thay thế. Vì vậy, trong thực tiễn hoạt động, bệnh viện gặp không ít khó khăn, còn bị chồng chéo giữa các quy định của pháp luật.

Thông tư số 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết hoặc góp vốn liên doanh để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ của các cơ sở y tế công lập theo quy định của Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006. Tuy nhiên, các hình thức đầu tư còn hạn chế,chưa đa dạng hóa các loại hình đầu tư trong lĩnh vực y tế, chưa huy động được nhiều nguồn lực của xã hội, do vậy phần nào đã kéo chậm tốc độ phát triển và hiện đại hóa lĩnh vực y tế.

Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ tài chính Quy định quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước đã bị thay thế, bãi bỏ và được thay thế bằng bằng Thông tư số 13/2017/TT-BTC ngày 15/02/2017 nhưng đến nay Bộ Y tế vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cho các đơn vị để thực hiện. Các nguồn thu sự nghiệp (không thuộc NSNN) vẫn bị quản lý, kiểm soát chi bởi Kho bạc nhà nước (Nghị định 85), do đó đã làm giảm sự tự chủ, không tận dụng được các nguồn lực (tiền nhàn dỗi) hiện có để kinh doanh nhằm tăng nguồn thu của đơn vị.

Thứ ba, việc chưa tính đủ cơ cấu giá dịch vụ y tế gây khó khăn về nguồn thu và đảm bảo an toàn tài chính cho các bệnh viện

Giá tiền lương theo đơn giá dịch vụ KCB vẫn chưa được điều chỉnh kịp với mức điều chỉnh lương cơ sở, do vậy đơn vị gặp khó khăn, thiếu hụt nguồn trong công tác cân đối quỹ lương để trả cho CBVC. Hơn thế nữa, mức tiền lương cũng như thu nhập tăng thêm cho cán bộ y bác sỹ, nhân viên trong bệnh viện mặc dù có tăng song vẫn chưa đủ để khuyến khích, giữ chân các bác sỹ giỏi khi cạnh tranh với những bệnh viện tư nhân khác.

Bên cạnh đó, Theo quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 10 Nghị định số: 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, Lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công “Đến năm 2018: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý (chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố định), tuy nhiên, đến nay các đơn vị cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực y tế chưa nhận thấy sự điều chỉnh về giá từ Bộ Y tế, do vậy, các chi phí quản lý trong công tác cung cấp dịch vụ công chưa được bù đắp. Các đơn vị phải sử dụng nguồn lực khác nên đã phần nào hạn chế nguồn lực để phát triển hoạt động sự nghiệp.

Nguyên nhân chủ quan:

Khả năng hấp thụ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm tại các đơn vị sự nghiệp y tế chưa được đồng đều và phù họp với loại hình đơn vị tự chủ được giao. Một số đơn vị chưa có sự sẵn sàng và chưa có phương án, kế hoạch để thích ứng với lộ trình tự chủ. Điều này tạo nên sự hẫng hụt khi số thu sự nghiệp tăng trưởng không theo kịp với mức giảm do không còn NSNN cấp bù.

Cách thức quản lý và quản trị hoạt động nói chung và quản trị tài chính tại các bệnh viện như hiện nay chưa thực sự đáp ứng yêu cầu và thách thức đặt ra của cơ chế tự chủ.

Hiện tại, các bệnh viện mặc dù lập kế hoạch hoạt động thay cho lập dự toán, song nội dung và quy trình chủ yếu vẫn theo phương thức lập dự toán cũ, chưa dự trù và dự tính được hết những nhu cầu và những xu hướng thay đổi trong tương lai. Cùng với đó, quy chế chi tiêu nội bộ của các bệnh viện

mặc dù được sửa đổi để phù hợp với thực tế từng năm, song về bản chất, quy chế này mới chỉ đưa ra được những quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức, mức chi thống nhất trong Bệnh viện, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù, với nguồn kinh phí, sử dụng kinh phí đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, làm căn cứ để quản lý, thanh toán các khoản chi tiêu trong cơ quan. Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ trong quản lý còn hạn chế, thiếu sự đồng bộ, cần nguồn lực lớn để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin. Bởi vậy, đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý, giảm hiệu quả hoạt động, đồng thời cũng gây khó khăn trong công tác quản trị, theo dõi, cân đối nguồn vốn. ( Luận văn: Thực trạng quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập )

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Chương 2, trên cơ sở khung lý thuyết ở chương 1 đã đi sâu phân tích thực trạng quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập của TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, đã khái quát tình hình kinh tế xã hội của Thành phố và tác động của yếu tố này đến quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tại các bệnh viện công lập. Từ đó đi sâu phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế. Đây là nền tảng để đề xuất giải pháp ở chương 3.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Hoàn thiện quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537