Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình trong việc phát huy những giá trị của các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo ở Việt Nam. Thông qua hình tượng các con rối, cũng như những tích, trò được diễn trên sân khấu, chúng ta phần nào hình dung được những cảnh sinh hoạt dung dị của những người nông dân Việt Nam thuần hậu, chất phác. Múa rối nói chung và múa rối nước hiện nay đã trở thành một nhân tố cơ bản quan trọng trong nền văn hoá dân gian Việt Nam. Dưới đây là Đề tài: Nghệ thuật múa rối Hải Phòng và khả năng phục vụ phát triển du lịch, mời các bạn đọc và cảm nhận.
2.1. Giới thiệu chung về đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng
2.1.1. Địa chỉ
Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng nằm tại địa hỉ 274 Lê Lợi quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng .
Facebook : Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng .
Giấy phép kinh doanh : 0200992344 được cấp bởi sở Kế hoạch và Đầu tư của TP Hải Phòng được cấp lần đầu vào ngày 14/10/2009 .
Đoàn nghệ thuật múa rối là một trong những đoàn biểu diễn nghệ thuật của sở Văn Hóa – Thể Thao của Tp Hải Phòng .
2.1.2. Ngành nghề kinh doanh
Hoạt động nghệ thuật , sáng tác biểu diễn và lưu diễn nước ngoài .
2.1.3. Quá trình hình thành và phát triển
Đoàn Nghệ thuật múa rối Hải Phòng là đoàn nghệ thuật dân tộc chuyên nghiệp của thành phố Hải Phòng được thành lập năm 1968 với mục đích bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo này. Qua hơn bốn mươi năm xây dựng và phát triển, Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng đã làm sống lại và phát triển thành công, đưa nghệ thuật múa rối, đặc biệt là múa rối nước, trở thành một trong những bộ môn nghệ thuật dân gian hấp dẫn phục vụ đời sống văn hóa của nhân dân và giới thiệu bộ môn văn hóa dân gian độc đáo của Việt Nam đến với thế giới.
Năm 1992 : Lưu diễn tại Hoa Kỳ
Năm 1995 : Lưu diễn tại Cộng hòa Pháp
Năm 2007 : Tham dự Liên hoan Sân khấu múa rối thế giới lần thứ XVI tại Israel Năm 2008 : Tham gia lưu diễn tại Iran
Năm 2008 : Lưu diễn tại Cộng hòa Pháp Năm 2009 : Lưu diễn tại Hàn Quốc ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
2.1.4. Vị thế trong ngành
Là một trong những đoàn nghệ thuật được đông đảo khán giả đón xem nhiều nhất chiếm vị thế cao trong ngành Nghệ thuật của Sở Văn hóa – Thể Thao TP Hải Phòng .
Với bề dày kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật múa rối, đoàn đã tổ chức nhiều chương trình lưu diễn tới khắp các địa bàn trên mọi miền tổ quốc.Sự đặc sắc của bộ môn nghệ thuật múa rối và uy tín chuyên môn đã giúp Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng được mời tham gia nhiều chương trình biểu diễn giao lưu nghệ thuật quốc tế.Các chương trình biểu diễn của đoàn đã để lại sự mến mộ sâu sắc trong lòng khán giả…Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng đã đạt được nhiều giải thưởng lớn qua các Hội diễn nghệ thuật sân khấu múa rối chuyên nghiệp toàn quốc.
2.1.5. Chiến lược phát triển
- Về biểu diễn
Tiếp tục phát triển sáng tạo ra những tiết mục đặc sắc để phục vụ khán giả , đồng thời phát triển đào tạo các diễn viên trẻ làm cho nguồn nhân lực diễn viên thêm dồi dào .
- Về tài chính
Duy trì tài chính ổn định; Thu hồi vốn nhanh, hiệu quả.
Quản lý chặt các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí.
- Về con người: Xây dựng đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn và sẵn sàng gắn bó lâu dài với đoàn .
2.1.6 Thành tích đạt được
Năm 1992 : Lưu diễn tại Hoa Kỳ
Năm 1995 : Lưu diễn tại Cộng hòa Pháp
Năm 2007 : Tham dự Liên hoan Sân khấu múa rối thế giới lần thứ XVI tại Israel Năm 2008 : Tham gia lưu diễn tại Iran
Năm 2008 : Lưu diễn tại Cộng hòa Pháp Năm 2009 : Lưu diễn tại Hàn Quốc
Có thể bạn quan tâm:
2.2. Hoạt động của đơn vị
2.2.1. Hoạt động đơn vị ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Đoàn Nghệ thuật Múa rối Hải Phòng là thành viên Hiệp hội Sân khấu múa rối quốc tế Unima, trực thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc. Đoàn đã từng tham gia biểu diễn tại I-xra-en năm 2007, Iran năm 2008, Liên hoan Múa rối quốc tế tại Thành Đô (Trung Quốc) năm 2012 và Liên hoan Nghệ thuật dân ca quốc tế Nam Ninh lần thứ 18 năm 2016… Việc Đoàn nghệ thuật Múa rối Hải Phòng tham gia sự kiện lần này sẽ góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa thành phố Hải Phòng với các tỉnh, thành phố của Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Theo chương trình dự kiến, trong suốt tuần lưu diễn, Đoàn Nghệ thuật Múa rối Hải Phòng sẽ tham gia các hoạt động khai mạc, các phiên thảo luận, hội nghị thúc đẩy các tua du lịch trên thế giới và các tiết mục biểu diễn, bế mạc liên hoan. Bên cạnh đó, Đoàn Nghệ thuật Múa rối Hải Phòng còn chuẩn bị video giới thiệu truyền thống lịch sử văn hóa, đất và người Hải Phòng, tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch của thành phố đến bạn bè quốc tế thông qua âm nhạc và hình ảnh. Để chuẩn bị cho chương trình biểu diễn, các nghệ sĩ, diễn viên luyện tập nhuần nhuyễn 17 tích cổ của loại hình nghệ thuật múa rối nước Việt Nam và lựa chọn biểu diễn phù hợp.
Liên hoan Múa rối quốc tế châu Á- Thái Bình Dương và các quốc gia khác lần thứ 2 là sự kiện tầm cỡ, quy tụ sự tham gia của những nghệ sĩ múa rối đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là cơ hội tăng cường tình hữu nghị, thúc đẩy giao lưu và hợp tác giữa các quốc gia, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của nghệ thuật múa rối lên tầm quốc tế. Được biết, Liên hoan có sự tham gia của khoảng 30 nước trên thế giới với nhiều chương trình biểu diễn. Ngoài phần giao lưu, quảng bá múa rối nước Việt Nam, đây cũng là cơ hội để các nghệ sĩ Hải Phòng học hỏi cách làm nghề, sự sáng tạo của múa rối cạn trên thế giới. Chương trình nghệ thuật múa rối nước mới dàn dựng của Đoàn nghệ thuật múa Rối Hải Phòng vừa hoàn thiện và chuẩn bị ra mắt công chúng có chủ đề “Nhớ quê”.
Đây là xâu chuỗi những câu chuyện kể bằng loại hình múa rối nước truyền thống của dân tộc được kết hợp với phần âm thanh là các thể loại văn hóa phi vật thể dân gian như ca trù, hát văn, chèo… Theo NSƯT Thế Ban, Trưởng Đoàn nghệ thuật múa Rối Hải Phòng, chương trình nghệ thuật đặc biệt này được dàn dựng hướng đến các sự kiện đặc biệt của thành phố và đất nước trong tháng 4, 5. Trong đó có ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp, kỷ niệm 61 năm Ngày giải phóng Hải Phòng và Lễ hội Hoa Phượng Đỏ năm 2016.
Với mục tiêu lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chương trình tập hợp nhiều câu chuyện kể dân gian gắn với nét đặc sắc sinh hoạt của vùng quê Việt như chăn vịt, cấy lúa, chăn trâu thổi sáo, câu cá, đơm cá… Đặc biệt, nhiều sự tích được tái hiện trên sân khấu rối nước như sự tích hồ Gươm với tích vua Quang Trung hoàn kiếm rùa thần. Cùng với đó là những hình ảnh mô tả các câu ca dao, tục ngữ Việt Nam với hình ảnh con cò lặn lội bờ sông, sự lạc quan, yêu đời của đôi vợ chồng nghèo chăn vịt… Lễ hội chọi trâu với màn trống hội và cờ hội đặc trưng của Đồ Sơn, Hải Phòng là một phần nội dung tạo điểm nhấn của chương trình nghệ thuật này. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Trong các ngày 3, 4, 5 và 8-1, các nghệ sĩ Đoàn nghệ thuật múa Rối Hải Phòng biểu diễn chương trình phục vụ thiếu nhi tại Nhà hát tháng Tám. Đây là hoạt động thường kỳ của đoàn hướng tới học sinh các trường mầm non và tiểu học thành phố. Chương trình biểu diễn với chủ đề “Những món quà của hoàng tử” là tập hợp các tiết mục trích đoạn câu chuyện cổ tích được thể hiện theo phong cách mới, phù hợp với các cháu lứa tuổi thiếu niên nhi đồng và một chuỗi các tiết mục tạp kỹ. Tác giả và đạo diễn: NSND Nguyễn Tiến Dũng; Chỉ đạo nghệ thuật: NSƯT- Trưởng đoàn Đỗ Thế Ban; Chỉ huy biểu diễn: NSƯT Phạm Xuân Nam; Ánh sáng: Văn Vang; Âm thanh: Quang Vinh.
Trong đợt này, gần 5000 học sinh của các trường tiểu học Hùng Vương, Đinh Tiên Hoàng (quận Hồng Bàng), Nguyễn Văn Tố (quận Lê Chân) được thưởng thức các tiết mục trích từ vở rối “Tấm cám” và các phần biểu diễn thổi kèn gọi rắn, chuột Mickey, vũ điệu la tinh, Pokemon do tập thể nam nữ diễn viên Đoàn nghệ thuật múa Rối Hải Phòng thể hiện.
Một số hình ảnh trong chương trình biểu diễn “Những món quà của hoàng tử”. Chương trình sẽ ra mắt nhân dân và du khách vào dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn tháng 4, 5 và Lễ hội Hoa Phượng đỏ trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 61 năm ngày giải phóng Hải Phòng 13-5 năm nay. Mới đây vào tháng mới Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập 17- 10 -1968 ; 17-10 – 2018. Tại lễ kỷ niệm, các đại biểu đã cùng nhau ôn lại quá trình hình thành và phát triển của Đoàn Múa rối trong suốt 50 năm qua. Được thành lập từ ngày 1-6-1968, trải qua 50 năm, các thế hệ cán bộ, nghệ sỹ, diễn viên, người lao động trong Đoàn luôn đoàn kết chung tay tiếp bước nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, duy trì, giữ gìn và phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Đoàn đã xây dựng được hàng trăm vở diễn ngắn, dài, với nhiều hình thức, thể loại, nội dung phong phú, phù hợp với từng độ tuổi, bám sát đời sống xã hội, phải ánh thực tế đời sống xã hội và mang tính giáo dục sâu sắc, phục vụ các cháu thiếu niên nhi đồng, đồng bào và chiến sỹ nơi hải đảo xa xôi. Các tiết mục múa rối của Đoàn còn đoạt huy chương Vàng, Bạc, Cúp, bằng khen tại các Liên hoan múa rối trong nước và Quốc tế. Nhân lễ kỷ niệm, Đoàn nghệ thuật Múa rối thành phố và hai cá nhân thuộc Đoàn vinh dự được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong xây dựng và phát triển đơn vị.
UBND thành phố Hải Phòng tặng cờ truyền thống cho Đoàn nghệ thuật Múa rối thành phố với nội dung: “50 năm xây dựng và phát triển”, tặng bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố cho tập thể Đoàn nghệ thuật Múa rối thành phố và 6 cá nhân; Sở văn hóa Thể thao và Du lịch tặng giấy khen cho 11 cá nhân có thành tích xuất sắc nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Đoàn. Và hiện tại Đoàn nghệ thuật Múa rối Hải Phòng đang rục rịch chuẩn bị các hoạt động phục vụ thiếu nhi , các địa phương thành phố và các thành phố khác của đất nước Việt Nam trong mùa xuân 2019 này. Các nghệ sĩ luôn giấu mặt chắc sẽ phấn khích khi có thêm sân khấu mới, góp phần tạo diện mạo tươi tắn cho cả đoàn.
2.2.2. Sân khấu hiện đại nhất thành phố ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Trước đây, sân khấu Nhà hát Sông Cấm của Đoàn Múa rối thành phố là sân khấu cổ lỗ.Một đêm diễn với đoàn khá vất vả.Ánh đèn sân khấu phải có người thường trực để xoay, nhiều lúc xoay không chuẩn, còn phông màn cho mỗi cảnh diễn thì mấy người phải trèo lên nóc nhà, bò trên sàn để thả dây, rất vất vả.Mặt khác còn nguy hiểm nếu sàn gỗ gãy thì cả trên lẫn dưới sân khấu đều chịu hậu quả.Nhưng mùa xuân 2019 này, sân khấu Nhà hát Sông Cấm được hiện đại hóa. Nghệ sĩ ưu tú Ngô Kim Loan, Trưởng đoàn Múa rối cho biết: Chương trình hiện đại hóa sân khấu là đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Theo đề án mỗi tỉnh, thành phố được đầu tư một sân khấu hiện đại. Đợt đầu gồm 13 tỉnh, thành phố, trong đó Hải Phòng có Nhà hát Sông Cấm của Đoàn nghệ thuật Múa rối.
Như vậy, sân khấu cũ sẽ được tháo bỏ, thay bằng một sân khấu hiện đại. Sẽ chẳng còn cảnh giật dây, thả dây từ nóc nhà… hay xoay đèn, thay vào đó là bàn điều khiển. Hệ thống ánh sáng, căng treo mới được điều khiển tự động có độchính xác cao và không cần nhiều người. Một sân khấu được điều khiển bấm nút chẳng khác nhà điều khiển âm thanh hoặc người chơi DJ là khát khao bấy lâu nay mới có mặt tại Hải Phòng, mà niềm vinh hạnh lại dành cho Nhà hát Sông Cấm của Đoàn nghệ thuật Múa rối. Sau những tháng lắp đặt, công trình sắp hoàn thành. NSƯT Ngô Kim Loan tâm sự: “Với sân khấu này, khoảng cách giữa khán giả với sân khấu gần gũi hơn”.
Vừa trở về sau chuyến biểu diễn dài ngày tại Nam Ninh (Trung Quốc), Đoàn nghệ thuật Múa rối Hải Phòng đã tới miền Trung tham gia Lễ hội hang động Quảng Bình 2017 từ ngày 16 đến 20-6. Một sân khấu rối, rối nước hoành tráng và cả khán đài được lắp đặt để các nghệ sĩ đất Cảng phục vụ khán giả, khách du lịch. Bắt đầu đêm 16-6, Đoàn nghệ thuật Múa rối Hải Phòng biểu diễn phục vụ thu hút đông đảo người xem và khách du lịch nước ngoài. Chương trình biểu diễn của đoàn gồm chương trình tạp kỹ và 17 tích trò cổ rối nước về những câu chuyện xóm làng.
Theo Nghệ sĩ ưu tú Thế Ban, Trưởng Đoàn Múa rối Hải Phòng, Lễ hội hang động Quảng Bình 2017 khai mạc tối 17-6, Đoàn Múa rối Hải Phòng phục vụ biểu diễn tại lễ hội đến ngày 20-6./. Từng là đoàn nghệ thuật có nhiều hợp đồng diễn, nhưng từ đầu năm 2014 đoàn Múa rối có ít hoạt động biểu diễn.Thời tiết không thuận, mưa suốt từ sau Tết khiến đoàn không thể đi lưu diễn được. Cho đến đầu tháng 4 này, đoàn mới có 4 chuyến lưu diễn xa. Chương trình lưu diễn cũng không thể diễn vở dài mà là các hoạt cảnh, chương trình tạp kỹ cho gọn nhẹ. Tuy nhiên vào tháng 5 tới, với nắng hè, múa rối Hải Phòng sẽ rộn ràng trở lại. Cho đến nay mọi hoạt động của đoàn đã có tiến triển rất nhiều so với năm 2014 và sắp tới sẽ có nhiều chuyến đi lưu diễn tại cái nước như Anh , Thổ Nhĩ Kỳ
2.2.3. Nội dung tự chọn ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Múa rối nước là sân khấu nghệ thuật đặc sắc của văn hóa lúa nước, ra đời hầu như cùng lúc với sự hình thành nền văn hóa Đại Việt. Do tính đặc sắc của nó, nên từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian Múa rối nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống, có thể sánh ngang với Tuồng, Chèo là những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc. Tinh hoa Múa rối nước Việt Nam đã được sự ngưỡng mộ trong làng bạn bè thế giới, sân khấu Múa rối nước được xem là bộ môn nghệ thuật “Độc nhất vô nhị”. Tuy nhiên do xuất hiện sau so với những môn nghệ thuật khác nên Múa rối nước không tránh khỏi những hạn chế, cộng với mục đích thương mại đã làm cho loại hình nghệ thuật này ngày càng mai một và bị lãng quên. Vì thế vấn đề đặt ra là làm thế nào để từng bước khắc phục những tồn tại, giúp bảo tồn và phát triển Múa rối nước dân gian.
Nghệ thuật Múa rối truyền thống Việt Nam mà đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất là Rối nước được ra đời, phát triển và trở thành một loại hình nghệ thuật thì đó phải kể đến sự tìm tòi, sáng tạo và liên tưởng của cha ông ta trước cuộc sống bình dị gắn liền với nghề nông nghiệp trồng lúa nước và sự du nhập mạnh mẽ của phật giáo vào Việt Nam.
2.3. Thực trạng của múa rối nước
2.3.1. Thực trạng
Múa rối nước được cho là khởi xuất từ thời nhà Lý, gắn liền với cuộc sống thôn dã ở đồng bằng Bắc Bộ và nền văn minh lúa nước. Trải qua hơn nghìn năm tồn tại, chắc chắn trong dân gian cũng có hàng trăm trò diễn khác nhau với những phiên bản đa dạng, phong phú.
Cho đến nay, có một thực trạng mà nhiều tham luận trong hội thảo thống nhất đánh giá là sự nghèo hóa số lượng các tiết mục dân gian.Hầu hết các đoàn nghệ thuật rối nước ở Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM đều chỉ quẩn quanh với 16 (tích) trò rối nước dân gian. Nói như NSND Nguyễn Hoàng Tuấn, Giám đốc Nhà hát múa rối Thăng Long (Hà Nội): “Có lẽ chưa có tác phẩm sân khấu nào như tác phẩm 16 – 17 trò rối nước được nhân bản nhiều và rập khuôn giống nhau đến thế. Nó giống nhau từ kịch bản, đường nét biểu diễn, lời thoại nhân vật đến tạo hình con rối, âm nhạc thể hiện. Nó được làm lại theo dạng truyền nghề, rập khuôn máy móc, ít sáng tạo nhưng lại tam sao thất bản”. Cả nước hiện có 6 nhà hát, đoàn múa rối chuyên nghiệp, khoảng 20 phường rối nước dân gian, chủ yếu ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Do sự phát triển của ngành du lịch, nhất là việc đón du khách quốc tế cũng như nhu cầu giải trí của du khách địa phương, một số tỉnh miền Trung, Nam Bộ cũng hình thành các phường rối nước. Song duy nhất TP.HCM có nhà hát múa rối nước, được thành lập cách đây 19 năm dưới tên gọi Nhà hát múa rối nước TP.HCM. Nhưng hiện nay, nhà hát múa rối này đã được sáp nhập với đoàn xiếc thành phố, chung tên thành Nhà hát nghệ thuật phương Nam… ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Theo TS nghệ thuật học Nguyễn Thị Minh Thái thì ông Nguyễn Huy Hồng đã sưu tầm đuợc không phải 16 – 17 trò rối dân gian mà khoảng 250 trò. Câu hỏi mà bà đặt ra là: “Lẽ nào ta lại quay lưng hoặc không khai thác tử tế những trò rối cổ truyền ấy để làm phong phú kịch mục? Lẽ nào đó không phải là con đường tìm về nguồn cội của rối nước Việt Nam?”. Một vấn đề lớn khác trong thực trạng nghệ thuật múa rối nước hiện nay là sự dễ dãi trong cách thức biểu diễn và xây dựng tiết mục. Từ việc làm con rối một cách cẩu thả đến việc dùng băng đĩa ghi âm, phát lại phần âm nhạc nền cho tiết mục, thay vì có đội biểu diễn trực tiếp như truyền thống. Dàn dựng kịch bản “chạy theo tích truyện mà quên trò trong khi trò là yếu tố quan trọng nhất của nghệ thuật múa rối nước” (3), hay “để lộ cả những yếu tố kỹ thuật điều khiển con rối ngay tại một nhà hát được cho là chuyên nghiệp và thu hút đông đảo khách du lịch nước ngoài nhất hiện nay” (4).
Nguyên nhân của thực trạng này được lý giải do không có kinh phí hoạt động, có quá ít lịch biểu diễn hoặc ngược lại, không dám giảm số lượng chương trình biểu diễn vì sức ép của doanh thu, yêu cầu tự chủ tài chính. Theo nghệ nhân Phạm Văn Tòng, trưởng phường múa rối xã Hồng Phong, tỉnh Hải Dương, riêng “kinh phí tạo hình con rối hay nhân vật rối với giá khoảng 100 triệu đồng/con là một thách thức quá lớn đối với các phường rối dân gian, nên rất khó dựng trò, vở mới” hoặc đầu tư chi phí mua con rối tử tế để phục vụ lưu diễn lâu dài.
Nhiều diễn giả tham dự hội thảo lo lắng tình trạng kép về nhân lực: vừa không có lực lượng nghệ sĩ, diễn viên trẻ kế cận, vừa tồn tại tình trạng lão hóa diễn viên rất nhanh. Tình trạng này xảy ra từ các đoàn múa rối chuyên nghiệp đến tất cả các phường rối nước dân gian. Nghệ nhân Phạm Văn Tòng cho rằng mức thu nhập của các thành viên trong phường “còn quá khiêm tốn, không đảm bảo cuộc sống hiện tại. Hầu hết các phường, nghệ nhân đều ở độ tuổi trung niên. Ở tỉnh lẻ, hàng năm phục vụ (khán giả) rất ít nên các phường múa rối có thu nhập không đều”. Lớp trẻ “mặc dù có nhiều người yêu văn hóa nghệ thuật múa rối nước nhưng ít muốn tham gia vì cuộc sống mưu sinh”. Giám đốc Nhà hát múa rối Thăng Long thẳng thắn lên tiếng: “Chúng ta vẫn động viên, khích lệ các nghệ sĩ tư duy sáng tạo đổi mới vậy mà đến 5 – 6 suất diễn một ngày, sức lực bị bào mòn, mệt mỏi, nhàm chán tạo thành một sức ì rất lớn. Tình trạng lão hóa này đã xảy ra ở các thế hệ nghệ sĩ trẻ”. Ở tầm vĩ mô về quy hoạch đào tạo diễn viên chuyên ngành múa rối nước, bà Ngô Thanh Thủy, Giám đốc Nhà hát múa rối nước Việt Nam chỉ ra sự vô lý lâu nay trong đào tạo diễn viên ngành này. Đến bây giờ vẫn chưa có một cơ sở, một tổ chức nào nghiên cứu nghiêm túc về bộ môn múa rối nước để có một chương trình đào tạo bài bản, chuyên nghiệp.
Nghệ sĩ Vương Tất Lợi, Phó Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam chỉ ra sự lúng túng trong quan niệm về tạo hình con rối: con rối là đạo cụ biểu diễn đơn thuần hay là một tác phẩm điêu khắc tạo hình. Ông cho thấy sự lúng túng trong quan niệm này dẫn đến sự dễ dãi trong tạo hình con rối, làm giảm đi vẻ đẹp, sức hấp dẫn ngoại hình của con rối đối với khán giả. Ngoài ra, nhiều tham luận còn quan tâm tới việc xây dựng kịch mục làm sao vừa cập nhật cuộc sống hiện đại, vừa không đánh mất bản sắc của nghệ thuật rối nước.Với sự công phu trong nghệ thuật tạo hình, sự điêu luyện trong cách thức điều khiển con rối, nghệ thuật múa rối Việt Nam trải qua thời gian dài hình thành, phát triển đã trở thành một “đặc sản” độc đáo của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, đứng trước cuộc sống mới nhiều biến động, ngành múa rối cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức để đáp ứng nhu cầu vừa bảo tồn, vừa phát triển.
2.3.2. Nghề diễn nhiều bấp bênh ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Dù đã cố gắng đổi mới, khai thác kết hợp các loại hình nghệ thuật, song múa rối Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển và đang rơi vào tình trạng báo động. Thực tế cho thấy, múa rối nước vẫn chỉ lặp lại các trò: đánh cá, chăn vịt, úp lơm, đua thuyền, chọi trâu… hay Phùng Hưng đánh hổ, Lê Lợi trả gươm… Còn rối cạn thì chỉ quẩn quanh hình thức biểu diễn cũ kỹ, nặng về mô phỏng sân khấu kịch, trò ít, lời nhiều. Cách đây bảy năm, Nhà hát Múa rối Thăng Long đã thống kê được hàng trăm tích trò rối nước, nhưng đến nay, chỉ còn hơn mười tích trò được bảo lưu và được các nhà hát, phường rối biểu diễn. Yếu tố quyết định sự thành bại của một tiết mục rối là ở khâu chế tạo bộ máy điều khiển.Tuy nhiên, khi những nghệ nhân cao niên “khuất núi” thì cũng là lúc những bí mật chế tác thất truyền.Vì thế mà cả một gia sản khổng lồ những tích trò truyền thống dần dà biến mất, khó có cơ sở để phục dựng. Tích trò đã đơn điệu, lại thêm một số đơn vị múa rối mải mê chạy theo lợi nhuận, sáng tạo những tiết mục dễ dãi, hàng loạt để phục vụ du lịch, cho nên chất lượng nghệ thuật của nhiều tiết mục rối cũng đang nhạt dần.
Bên cạnh đó, nghệ thuật múa rối Việt Nam còn phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng nhân sự khi số lượng nghệ sĩ múa rối ở nước ta chỉ khoảng 100 người, con số quá ít ỏi để vực dậy cả một nền nghệ thuật chuyên nghiệp và lực lượng kế cận lại càng mong manh hơn. Khác với nhiều nước có nghệ thuật múa rối phát triển, Việt Nam chưa có một viện hay một trung tâm nghiên cứu nào đào tạo về chuyên ngành nghệ thuật này và cũng không có tác giả chuyên nghiệp sáng tác kịch bản rối, số lượng họa sĩ tạo hình cũng chỉ có vài người. Thạc sĩ Ngô Thanh Thủy, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam cho biết: Thực tế, có rất ít tác giả viết kịch nói hay đạo diễn kịch dàn dựng tác phẩm múa rối thành công. Hàng loạt trò rối, vở diễn thành công để lại ấn tượng cho sân khấu múa rối nhà hát vừa qua là tác phẩm của chính các diễn viên, họa sĩ tạo hình, người quản lý múa rối, dàn dựng từ kinh nghiệm nhiều năm sống, làm việc với thực tiễn nghề nghiệp. Thậm chí, có những đơn vị múa rối khi biểu diễn còn phải đi thuê diễn viên và dàn nhạc của đơn vị khác để hậu thuẫn.Bởi thế, chất lượng nghệ thuật múa rối của nước ta vẫn chỉ dừng lại ở mức lửng lơ, chưa đến “độ” là vì vậy.
2.3.3. Đi tìm diện mạo mới ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Đứng trước tình trạng phát triển manh mún, thiếu liên kết giữa các đơn vị, phường rối trên cả nước và sự báo động về nhân lực, đã đến lúc cần phải nghiêm túc hoạch định lại các chính sách, biện pháp để tìm lại diện mạo và phát triển nghệ thuật múa rối lên những tầm cao mới, nhất là khi múa rối nước Việt Nam đang được xây dựng đề án trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại. Điều này hoàn toàn có cơ sở để triển khai bởi múa rối có nhiều lợi thế để phát triển. Nghệ sĩ múa rối Ngô Quỳnh Giao nhận định: Sân khấu rối dù nhiều hay ít diễn viên vẫn có thể dàn dựng được tiết mục. Hơn nữa, đây là loại hình nghệ thuật có thể đi vào xã hội đương đại và có tương lai phát triển vì có thể diễn không nói, diễn bằng động tác cho nên không gặp khó khăn về bất đồng ngôn ngữ, đối tượng phục vụ lại đa dạng, nhất là múa rối nước đang được xem là đặc sản nghệ thuật, một sản phẩm du lịch mang về nguồn thu đáng kể. Múa rối không sợ thiếu “đất” để phát triển, vấn đề cốt yếu đặt ra là làm thế nào để nghệ thuật múa rối đi theo đúng định hướng phát triển chuyên nghiệp”.
Theo NSND Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có đề án về xây dựng chính sách, chế độ để các nghệ sĩ, nghệ nhân hoạt động bằng nghề và đã trình Chính phủ phê duyệt, nhưng hiện tại, các phường rối và đơn vị múa rối chuyên nghiệp cũng như không chuyên gặp không ít khó khăn, vẫn hoạt động theo kiểu mạnh ai nấy lo, thiếu liên kết, thiếu sự trao đổi, tổng kết kinh nghiệm. Điều này cho thấy, cần phải có quy hoạch bài bản để đầu tư cho nghệ thuật múa rối phát triển, có chế độ chính sách phù hợp cho các nghệ nhân, nghệ sĩ múa rối có thể sống bằng nghề, đồng thời tăng cường tổ chức các liên hoan nghệ thuật múa rối trong nước và quốc tế. Thạc sĩ Ngô Thanh Thủy cho biết thêm: Trong tương lai không xa, cần thiết phải ra đời một Trung tâm hay viện nghiên cứu đào tạo chuyên nghiệp về múa rối với các chuyên ngành đào tạo: diễn viên, biên kịch và đạo diễn múa rối, tạo hình con rối và kỹ thuật sân khấu; tổ chức biểu diễn và cả ma- Kéttinh. Đây đều là những biện pháp mà muốn thực hiện, đòi hỏi phải có sự giúp sức của Nhà nước, sự vào cuộc của các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ… và cả sự giúp đỡ của các “Mạnh Thường Quân”.
Đổi lại, sự phát triển của xã hội cũng đòi hỏi các đơn vị múa rối phải tự đổi mới mình, tập trung đầu tư, dàn dựng các tiết mục, vở diễn có chất lượng. Nói như PGS, TS Phạm Duy Khuê là “Biết quên đi những công thức cũ để tự do sáng tạo ra những cấu tứ mới kết hợp bởi nhiều dạng khác nhau, không nhất thiết phải theo hồi hay màn”. Tất nhiên, mọi sáng tạo đều phải xuất phát trên nguyên tắc kế thừa, phát huy những giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật múa rối truyền thống, sao cho những tác phẩm múa rối vừa có hơi thở nhịp sống đương đại và giàu giá trị nhân văn, vừa thấm đẫm bản sắc văn hóa dân tộc.
2.4. Giải pháp bảo tồn, phát huy ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Vấn đề tài chính được hầu hết các tham luận đưa ra như một điều kiện tiên quyết để giải quyết tình trạng nghèo nàn kịch mục, con rối đơn điệu, thiếu đội ngũ kế cận, thiếu sự chuyên nghiệp trong hầu hết các khía cạnh của quy trình biểu diễn… Bên cạnh việc đề xuất sự hỗ trợ của Nhà nước, xã hội hóa các đơn vị biểu diễn, một số tham luận cũng thẳng thắn đề cập đến việc quy hoạch lại mạng lưới biểu diễn này như: sáp nhập, thu gọn bộ máy nhân sự, giảm bớt số lượng các đơn vị nghiệp dư, giữ lại những đơn vị tinh lọc…
Nhà nghiên cứu Trần Trí Trắc cho rằng nghệ thuật múa rối nước độc nhất vô nhị của Việt Nam, đã và đang được thế giới biết đến như một “thương hiệu văn hóa”, “cần phải được nâng lên tầm sức mạnh mềm của quốc gia trong hội nhập quốc tế”. Theo hướng này, ông cho rằng cần phải có một sự đổi mới toàn diện trong tư duy, tổ chức và hoạt động của ngành. Phải hòa nhập vào một tổ chức thống nhất là Liên nhà hát múa rối nước Việt Nam, dưới hình thức xã hội hóa tiên tiến theo mô hình “nhà nước, nghệ sĩ, nhân dân, các công ty lữ hành du lịch cùng làm”. Nhà nghiên cứu còn chỉ rõ trong mô hình liên nhà hát này, có ba đơn vị nhà hát là nhà hát bảo tàng (giữ gìn, khai thác, bảo vệ, bảo tồn, bảo tàng… vốn cổ của nghệ thuật múa rối nước), nhà hát cách tân (đổi mới, nâng cao nghệ thuật múa rối nước phù hợp với quy luật phát triển của thế giới phẳng) và nhà hát thử nghiệm (dành cho những ý tưởng sáng tạo đột phá, làm cơ sở cho những tác phẩm mới của nhà hát cách tân).
Việc cải biến một số khía cạnh của nghệ thuật múa rối nước truyền thống cũng được đặt ra như một cách làm tăng thêm sức hấp dẫn với công chúng địa phương. Với đặc tính nhạy bén, năng động của người phương Nam, đoàn múa rối nước của Nhà hát nghệ thuật phương Nam lâu nay đã thử nghiệm thay phần âm nhạc đậm tính dân gian Bắc Bộ trong kịch mục của mình bằng các giai điệu phương Nam. Theo Giám đốc Nguyễn Đức Thế, nhà hát đã “chuyển hóa bộ môn nghệ thuật dân gian dân tộc này thành bản sắc phương Nam qua các vở diễn như: Thánh Gióng, Truyền thuyết nàng Neaki, Một ngày ven đô… Đặc biệt, vở Cây tre trăm đốt đã có đậm đặc các yếu tố như: đờn ca tài tử, cải lương. Bên cạnh đó, nhà hát còn có nhiều tìm tòi, cải tiến cho thủy đình con rối, cảnh trí, âm nhạc để khẳng định phong cách phía Nam trên các vở mới, tạo ra đặc sản Nam Bộ hóa trên nền tảng cổ truyền”. Nhạc sĩ Đào Đăng Hoàn, Cục phó Cục nghệ thuật biểu diễn, Bộ VHTTDL, cũng khuyến khích những tìm tòi thử nghiệm theo hướng kết hợp với văn hóa đặc sắc vùng miền địa phương. Múa rối nước được khởi thủy từ đồng bằng châu thổ sông Hồng với các làn điệu dân ca và hát chèo. Nhưng trong quá trình tiếp biến văn hóa, sự lantỏa của nghệ thuật rối nước đến nhiều địa phương chứng tỏ sức hấp dẫn của nó với đông đảo công chúng trên mọi miền đất nước. Chính vì thế, rối nước không chỉ nên được nhìn nhận như một trò lạ hấp dẫn công chúng và du khách nhất thời mà nên được coi như một hình thức nghệ thuật mở, có thể kết hợp với đặc trưng nghệ thuật địa phương, từ âm nhạc, múa đến tạo hình. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Đào tạo khán giả cũng là phương cách được một số tham luận đưa ra nhằm hướng đến việc xây dựng các thế hệ công chúng hiện tại và tương lai của múa rối nước. Nghệ nhân Nguyễn Thế Nghị, trưởng phường rối nước Đào Thục (Hà Nội) đưa ra những con số so sánh như một nghịch cảnh: “Nước ta hiện có tới 90% cư dân nông nghiệp, vẫn hàng ngày tiếp xúc với ao hồ, sông nước ruộng đồng, quá quen thuộc với môi trường nước nhưng cũng thật khó hiểu là có đến hơn 90% người dân trong số hơn 90 triệu người Việt Nam vẫn chưa có cơ hội xem múa rối nước”. Theo TS Lê Thị Thu Hiền, Vụ phó Vụ đào tạo, Bộ VHTTDL, việc đào tạo khán giả nên được coi là một trong nhiều giải pháp đồng bộ có tính lâu dài trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước. Chính vì thế, “cần nghiên cứu, đưa kiến thức, nội dung nghệ thuật múa rối nước vào chương trình giáo dục học đường”, giúp học sinh phổ thông hiểu và dần dần yêu quý, có cảm xúc thẩm mỹ với nghệ thuật này. Từ thực tế làm nghề, nghệ nhân Trần Thị Thân, trưởng phường rối Nghĩa Hưng, Nam Định, cho rằng, khán giả địa phương của múa rối nước chủ yếu là thiếu nhi và các cụ già, “đây là lực lượng khán giả tiềm năng dồi dào nhưng kinh tế ít, sức khỏe kém, không đi xa được”. Theo bà, “Bộ VHTTDL kết hợp với Bộ GDĐT xây dựng đề án đưa múa rối nước vào biểu diễn tại các trường tiểu học, đưa về làng xã để các cụ cao tuổi, người thu nhập thấp có điều kiện được xem bộ môn nghệ thuật này”.
Sự phát triển hiện đại của khoa học công nghệ và nhu cầu giải trí mới trong xã hội đương thời luôn đặt ra những vấn đề lớn trong việc bảo tồn các giá trị nghệ thuật truyền thống.Vai trò của các bộ môn nghệ thuật này đối với việc gìn giữ bản sắc văn hóa là vô cùng quan trọng. Làm thế nào để có được một sự hài hòa, cân bằng giữa việc giữ gìn tinh hoa vốn cổ, phát huy được các giá trị của chúng trong cuộc sống đương đại là câu hỏi không dễ dàng.Chúng ta từng đối diện với nguy cơ mất chiếu chèo truyền thống khi các đội chèo địa phương tan rã, các đoàn chèo chuyên nghiệp ra sức cải biên, tăng cường tính hiện đại cho các vở diễn, đến mức sao lãng việc tập luyện giữ gìn vốn cổ. Ca trù có nguy cơ thất truyền. Dân ca quan họ thì bị biến tướng do không gian nông nghiệp, nông thôn bao chứa nó đã và đang dần biến mất. Nghệ thuật tuồng cũng đối diện với nguy cơ sẽ không còn các thế hệ nghệ sĩ tài năng, lưu giữ được tinh túy của bộ môn này… Hiện nay, nghệ thuật múa rối nước Việt Nam cũng đứng trước những thách thức quá lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát triển trong cuộc sống của công chúng đương đại trong và ngoài nước.
Mọi giải pháp nhằm cải thiện tình hình tồn tại hay không tồn tại của các bộ môn nghệ thuật truyền thống sẽ luôn mang tính tình thế, tạm thời nếu hạt nhân cốt lõi của công cuộc này là con người không còn tình yêu thực sự với nghề. Một nhà nghiên cứu rối nước đích thực như cụ Nguyễn Huy Hồng, từ bỏ cuộc sống yên ổn ở nội thành Hà Nội để về quê Phú Xuyên (Hà Tây trước đây), mở Trung tâm Thực nghiệm Múa rối, ngay trên mảnh đất hơn 500m² của gia đình, bao gồm cả bảo tàng, thủy đình, thư viện, lớp học, với hàng trăm, hàng ngàn hiện vật con rối, tài liệu, ảnh chụp, sách vở chỉ liên quan đến rối. Nếu thiếu tình yêu nghệ thuật và động lực tự thân thì không một nguồn tài trợ nào đủ kích thích ông gắn bó với công việc lặng thầm, tốn kém này.
Hy vọng rằng hội thảo về bảo tồn và phát triển nghệ thuật rối nước trong thời kỳ hội nhập như một cú hích cho những người yêu nghề tiếp tục yêu nghề hơn nữa, cùng nhau tìm cách tháo gỡ các khó khăn trước mắt, để con đường bảo tồn, phát huy bộ môn nghệ thuật này thêm rộng mở. Tại Hải Phòng hiện chỉ còn 2 cơ sở biểu diễn nghệ thuật múa rối nước là Đoàn Nghệ thuật múa rối Hải Phòng và Phường rối Nhân Hòa (xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo).Đoàn Rối Hải Phòng đang từng ngày “lặn lội” sinh nhai, phường rối Nhân Hòa cũng đứng trước nỗi lo “thất truyền”vì không có người kế cận.Bởi thế, câu chuyện bảo tồn nghệ thuật rối nước luôn canh cánh trong lòng những người nghệ nhân, diễn viên trong nghề.
- “Lặn lội” sinh nhai ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Một ngày cuối tháng 10, nghe tin có đoàn khách Pháp đến tham quan đình và thưởng “rối”, những người nông dân hối hả trút bỏ chiếc áo nâu sòng để trở thành nghệ sĩ. 3 nghệ nhân điều khiển rối bó toàn thân trong bộ quần áo nhựa chuyên dụng lội xuống hồ chuẩn bị hậu trường… Trên bờ, người chuẩn bị nhạc cụ, người chỉnh âm thanh, người bê ghế nhựa xếp cho khách ngồi. Chốc chốc, vài vị khách lại giật mình bởi âm thanh rè rè chói tai của chiếc loa cũ. Khoảng 20 phút sau, tiếng nhạc tiếng nhị, tiếng kèn réo rắt nổi lên, tiếng trống thì thùng giục giã, những con rối ngộ nghĩnh lắc lư “vén màn” đi ra và nhảy múa trên mặt nước. Một loạt tiết mục được biểu diễn như “Đơm cá”, “Tát nước”, “Cày bừa”, “Bơi chồng người”, “Chọi trâu”…
Nhộn nhịp là thế, song bức tranh tổng thể về màn biểu diễn nghệ thuật dân tộc lại chưa đáp ứng kỳ vọng người xem.Nhà thủy đình xây dựng từ năm 1994 xuống cấp xập xệ, mái đình có nhiều vết nứt trơ lõi sắt.Nước hồ nhuộm màu xanh đen, ô nhiễm.Hệ thống loa đài, nhạc cụ lạc hậu nên những làn điệu quan họ nghe không còn mượt mà, da diết; lời thoại nhân vật nghe lõm bõm câu được, câu không.Thêm vào đó, “rối” có kích thước quá nhỏ so với sân khấu, người xem không nhìn rõ sự chuyển động linh hoạt trong hình thể của chú rối, làm giảm sự tinh tế, độc đáo của loại hình nghệ thuật này. Chị A-phi-đa 45 tuổi, đến từ thành phố Lyon cho biết, quê hương chị là nơi khai sinh ra nghệ thuật múa rối tayGuignol đặc trưng của nước Pháp, nên chị hào hứng đến thăm và tìm hiểu nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam. Các chú rối và cách biểu diễn của người Việt Nam rất sinh động và độc đáo.Tuy nhiên, thực sự chị xem, nghe không hiểu gì do âm nhạc hơi nhanh, nội dung vụn vặt, không liên kết được. Ông Trần Đức Thịnh 70 tuổi, nhạc công kéo nhị chia sẻ: “Trừ chi phí, sau buổi diễn mỗi người được 30- 40 nghìn đồng tiền công. Tháng cũng chỉ có đôi ba suất diễn, sao đủ chi phí đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng biểu diễn.Thành viên Phường Rối bươn trải đủ nghề với đồng ruộng, chăn nuôi, buôn bán để duy trì cuộc sống”.
Tại Đoàn Nghệ thuật múa Rối Hải Phòng, các diễn viên múa rối chuyên nghiệp cũng “lặn lội” sinh nhai với nghề.Trụ sở Đoàn Rối Hải Phòng tại Nhà hát sông Cấm nay dành phân nửa làm địa điểm cho thuê bán cà phê. Các hàng bán xe đạp, xe máy điện dựng xe tràn lan phía trước nhà hát. Thậm chí, nhiều người dân còn không biết Đoàn Rối Hải Phòng hiện vẫn trong Nhà hát sông Cấm đìu hiu.Hiện hoạt động của đoàn rối chỉ cầm chừng với vài ba suất diễn. Do cơ sở vật chất tại Nhà hát Sông Cấm không phù hợp với nghệ thuật múa rối nước, nên hiện Đoàn biểu diễn múa rối nước chủ yếu tại đình Hàng Kênh phục vụ khách du lịch và trong các dịp lễ hội giới thiệu tới người dân địa phương.
- Giữ “hồn cốt dân tộc” ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Trên thực tế, trong những năm qua, chính quyền địa phương, các ban ngành liên quan có nhiều nghiên cứu và không ít cuộc tọa đàm, hội thảo về việc bảo tồn loại hình nghệ thuật độc đáo này. Như việc quy hoạch Phường Rối Nhân Hòa là một trong những điểm thuộc tuyến du lịch “du khảo đồng quê”, hay việc khôi phục không gian văn hóa sân đình, khôi phục đình Hàng Kênh trở thành địa chỉ sân khấu múa rối nước của Đoàn Rối Hải Phòng nhằm đem “rối” đến gần công chúng cũng chưa đem lại hiệu quả thiết thực.
Trưởng Phường Rối Nhân Hòa Trần Văn Phước tâm sự: Tuyến “du khảo đồng quê” hoạt động không hiệu quả. Từ lâu, khách nước ngoài tới thăm quan do các doanh nghiệp lữ hành chủ động liên hệ với Phường Rối, không qua tuyến và các cấp chính quyền. Do đó, hoạt động của phường không thường xuyên. Hiện cả phường có 16 diễn viên đều là nông dân, người trẻ nhất ngoài 40 tuổi. Trong khi lớp trẻ chẳng thiết tha gì với nghề cha ông truyền lại, bởi thu nhập mỗi buổi diễn kéo dài mấy giờ khá cực nhọc chỉ được vài ba chục nghìn đồng. Chưa kể đến việc theo nghề đòi hỏi kỳ công, học lời, học làn điệu hát, học nghệ thuật điều khiển con rối… Ông Phước thở dài: “Với đà này, chỉ 5 năm nữa Phường Rối ngừng hoạt động”.
Quyền Trưởng Đoàn Rối Hải Phòng, NSƯT Đỗ Thế Ban phân tích, để bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước truyền thống, cũng như xây dựng đội ngũ kế cận, cần có kế hoạch lâu dài từ các ban, ngành chức năng. Trước hết, mỗi người nghệ sĩ cần sống được với nghề.Như vậy, “rối” cần nhiều đất diễn. Để có nhiều suất diễn, đưa rối đến với người xem, cần sự đầu tư từ cơ sở vật chất, quảng bá tuyên truyền, xúc tiến du lịch… Điều này đòi hỏi sự đầu tư dài hơi, có kế hoạch từ các ban, ngành chức năng.Nếu để các đoàn nghệ thuật tự “ngụp lặn” trong cơ chế thị trường hiện nay, việc tồn tại và duy trì là rất khó.
Gắn du lịch với việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân tộc là hướng đi đúng đắn của các ngành chức năng.Tuy nhiên, các ngành chức năng cần quyết liệt hơn nữa trong việc tạo cơ chế đầu từ, xúc tiến du lịch. Bên cạnh đó, việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật rối sao cho xứng “hồn cốt dân tộc” mới là điều thực sự khiến nhiều người trăn trở. Điều này cần cái tâm và sự cống hiến hết mình của các nghệ sĩ .
2.5. Nhận xét, đánh giá, kiến nghị: ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
2.5.1. Nhận xét
Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng là một trong những đoàn dẫn đầu về biểu diễn nghệ thuật của Hải Phòng luôn đi đầu trong lĩnh vực sáng tạo cách thức biểu diễn trên sân khấu . Có nhiều cơ hội để lưu diễn tại các nước trên toàn thế giới cũng là để quảng bá con người dân tộc Việt Nam , những lễ hội đặc sắc được gói ghém trong những con rối mà các nghệ sĩ đã dày công sáng tạo và tập luyện để mang đến cho khán giả cũng như các bạn bè năm châu những tiết mục đặc sắc nhất .
2.5.2. Đề xuất , góp ý , kiến nghị
Là một trong những nghệ thuật biểu diễn dân gian lâu đời nên cần được bảo tồn và giữ được nét truyền thống . Trong những tiết mục hầu hết điều có sự hòa hợp với cảnh vật cũng như âm thanh ánh sáng chuyên nghiệp . Một số thứ còn tồn động là độ tập trung không được cao , vấn đề thời gian chưa được chính xác lắm
2.5.3. Tiềm năng phát triển của nghệ thuật dân gian với hoạt động du lịch
- Khái niệm
Nghệ thuật dân gian truyền thốngVăn hoá là tất cả những gì do con người sáng tạo nên và mang dấu ấn con người. Có rất nhiều những khái niệm khác nhau về “Văn hóa dân gian”. Theo tác giả ĐinhViệt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á” cho rằng: Thuật ngữ “Văn hóa dân gian” được hiểu theo hai nghĩa : nếu hiểu theo nghĩa rộng thuật ngữ quốc tế “Folk Culture”, cũng nếu như được hiểu theo nghĩa hẹp thì tương đương với thuật ngữ quốc tế “Folklore”.
Trước hết, hiểu theo nghĩa rộng: Văn hóa dân gian tức “Folk Culture” bao gồm toàn bộ văn hóa vật chất và tinh thần của dân chúng. Đó là phương thức sản xuất ra của cải vật chất, từ phương pháp, công cụ đến quy trình cụng nghệ (technologic) của mọi ngành sản xuất: nông nghiệp, thủ cụng nghiệp, cụng nghiệp, dịch vụ xó hội… Đó là sinh hoạt vật chất phương tiện trong việc ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh… Đó là mọi mặt của phong tục, tập quán gắn với các tổ chức của các cộng đồng người từ nhỏ tới lớn Đó là mọi mặt sinh hoạt như học tập, dạy nghề, giải trí, vui chơi, văn nghệ, hội hè, thị hiếu, tín ngưỡng, tôn giáo… Đó là tri thức về tự nhiên cũng như về xã hội của dân chúng, như các tri thức liên quan tới kĩ thuật, kỹ xảo, ngành nghề liên quan tới môi trường tự nhiên và môi trường xó hội.Đó là tình cảm, tư tưởng, quan niệm về đạo đức, nhận thức thế giới, về nhân sinh, về mối quan hệ giữa con người và thế giới. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Tìm hiểu Văn hóa dân gian theo nghĩa hẹp, tức là “Folklore”. Folklore chính là “Folk Culture” được tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ.Núi một cách khác, “Folklore” chính là những phần nào mang tính thẩm my trong “Folk Culture”, bởi vì không phải tất cả các hiện tượng trong “Folk Culture” đều mang tính thẩm mỹ. Khi nói đến “Folklore” (tức Văn hóa dân gian hiểu theo nghĩa hẹp), người ta thường nghĩ ngay đến các tác phẩm Văn học nghệ thuật dân gian: tục ngữ, ca dao, dân ca, dân nhạc, dân vũ, trò chơi dân gian, sân khấu dân gian, tác phẩm trang trí dân gian… Nhưng “Folklore” cũng bao gồm các sinh hoạt văn hóa dân gian, tức các hoạt động liên quan tới việc tổ chức sáng tác hoặc biểu diễn các loại tác phẩm trên. Các sinh hoạt văn hóa dân gian thường gắn với những tập quán, phong tục nhất định (lễ hội, thờ cúng, tín ngưỡng…). Trong đó hội lễ dân gian quan trọng nhất, trong lễ hội có thể thấy tất cả các yếu tố của “Folklore”, từ tập quán, phong tục, thể lệ tổ chức, các sinh hoạt văn hóa và nghi lễ và vui chơi giải trí cho đến điều kiện môi trường cần thiết cho việc sáng tạo và biểu diễn các tác phẩm văn học, văn hóa nghệ thuật dân gian.
Ngoài ra, “Folklore” cũn bao gồm các hiện tượng và các vật phẩm của đời sống xãhội ngày thường trong đó tính chất ích dụng lại kèm theo tính chất thẩm mỹ. Các hiện tượng và các vật phẩm ấy là các sinh hoạt văn hóa văn nghệ, các tác phẩm văn hóa – văn nghệ, chúng rất có ích ở chỗ đáp ứng cho nhu cầu tinh thần của con người
Tóm lại, “Văn hóa dân gian theo nghĩa hẹp (tức“Folklore”) bao gồm tất cả các hiện tượng và các vật phẩm trong văn hóa dân gian theo nghĩa rộng (tức là Folk Cuture) mà có tính thẩm mỹ. Tính thẩm mỹ này có thể cũng gắn chặt với tính ích dụng trực tiếp đối với đời sống ngày thường hoặc là đó thể hiện một cách tương đối độc lập trong các tác phẩm văn hóa, văn học và nghệ thuật.
Trong bài “Folklore Việt Nam, trữ lượng và viễn cảnh”, giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đó mở rộng quan niệm: “Nói Folklore là nói mọi tổng thể sáng tạo, mọi thành tựu của văn hóa dân gian ở mọi nơi, trong mọi thời và mọi thành phần dân tộc đang hiện tồn trên lãnh thổ Việt Nam… Sáng tạo dân gian mọi lĩnh vực đời sống từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống ăn chơi, buông thả
Do đó, những loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống cụ thể được hiểu theo nghĩa hẹp của văn hóa dân gian tức “Folklore”. Đặc biệt, nghệ thuật dân gian truyền thống có mối quan hệ gắn bó mật thiết với mọi mặt sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân trong toàn bộ lịch sử và là tiếng nói trực tiếp của họ. Nghệ thuật dân gian truyền thống cũng chính là bộ bách khoa toàn thư vĩ đại. Nơi kết tinh tri thức và tài năng, tư tưởng của nhân dân. Với chúng ta nghệ thuật dân gian truyền thống cũng giúp phần nhận đúng đắn, toàn diện về nhân dân và lịch sử đất nước . Nghệ thuật dân gian truyền thống cũng là cội nguồn, nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc.
2.5.4. Vai trò của nghệ thuật dân gian truyền thống trong hoạt động du lịch ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Văn hoá – nghệ thuật Hải Phòng trong quá trình hình thành và phát triển cũng đã góp phần xây dựng lên bản lĩnh của người Việt. Đến khi đế quốc phong kiến phương Bắc xâm lược nước ta nó đó trở thành sức mạnh kết cố cộng đồng, duy trì và phát triển bản lĩnh dân tộc trong quá trình đấu tranh bảo vệ đất nước, đã nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh của quân, dân Đại Việt. Ngày nay, những giá trị độc đáo ấy lại có những đóng góp to lớn vào kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian tạo nên sự phong phú và đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc. Trong các làng quê ở Hải Phòng hiện nay các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống vốn sống động, sinh sôi, nảy nở và trở thành tập tục bất biến trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân: lễ hội, các trò chơi dân gian,… thể hiện thế giới quan, tư tưởng, tình cảm của người dân lao động. Những di sản văn hoá này là thành quả của quá trình “khai sông lấn biển” và truyền thống chống giặc ngoại xâm của vùng An Biên xưa, chúng còn tồn tại và phát triển đến nay cũng là kết quả của quá trình bảo lưu giữ gìn và đấu tranh với các thế lực phong kiến của ông cha ta.
Việc nghiên cứu, bảo tồn và khôi phục các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống không còn là trách nhiệm của riêng ai mà nó thuộc về tất cả các ngành, các cấp, người dân địa phương và những người làm công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch. Hiện nay, một số loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống tiêu biểu đã được khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch và đang là đối tượng có sức Thu hút rất lớn đối với du khách trong chương trình du lịch văn hoá.
Các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đã làm phong phú thêm bản sắc văn hoá trong các tour du lịch thăm quan thành phố. Hiện nay, Sở Văn hoá Thể thao Hải Phòng đang triển khai củng cố tour du lịch như tour: Du khảo đồng quê, tour du lịch nội thành, tour Hải Phòng – Thuỷ Nguyên, giúp cho các chương trình du lịch Hải Phòng phong phú, hấp dẫn khách du lịch hơn thúc đẩy sự giao lưu, hợp tộc quốc tế, mở rộng sự hiểu biết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, thụng qua đú làm cho những con người sống ở các quốc gia, vựng lãnh thổ khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn.
2.5.5. Vai trò của nghệ thuật dân gian truyền thống trong hoạt động du lịch ở Hải Phòng ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Văn hoá – nghệ thuật Hải Phòng trong quá trình hình thành và phát triển cũng đã góp phần xây dựng lên bản lĩnh của người Việt. Đến khi đế quốc phong kiến phương Bắc xâm lược nước ta nó đó trở thành sức mạnh kết cố cộng đồng, duy trì và phát triển bản lĩnh dân tộc trong quá trình đấu tranh bảo vệ đất nước, đã nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh của quân, dân Đại Việt. Ngày nay, những giá trị độc đáo ấy lại có những đóng góp to lớn vào kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian tạo nên sự phong phú và đặc sắc mang đậm bản sắc dân tộc. Trong các làng quê ở Hải Phòng hiện nay các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống vốn sống động, sinh sôi, nảy nở và trở thành tập tục bất biến trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân: lễ hội, các trò chơi dân gian,… thể hiện thế giới quan, tư tưởng, tình cảm của người dân lao động. Những di sản văn hoá này là thành quả của quá trình “khai sông lấn biển” và truyền thống chống giặc ngoại xâm của vùng An Biên xa, chúng còn tồn tại và phát triển đến nay cũng là kết quả của quá trình bảo lưu, giữ gìn và đấu tranh với các thế lực phong kiến của ông cha ta.
Việc nghiên cứu, bảo tồn và khôi phục các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống không còn là trách nhiệm của riêng ai mà nó thuộc về tất cả các ngành, các cấp, người dân địa phương và những người làm công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch. Hiện nay, một số loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống tiêu biểu đã được khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch và đang là đối tượng có sức thu hút rất lớn đối với du khách trong chương trình du lịch văn hoá.
Các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đã làm phong phú thêm bản sắc văn hoá trong các tour du lịch thăm quan thành phố. Hiện nay, Sở Văn hóa Thể thao Hải Phòng đang triển khai củng cố các tour du lịch như tour: Du khảo đồng quê, tour du lịch nội thành, tour Hải Phòng – Thuỷ Nguyên, giúp cho các chương trình du lịch Hải Phòng phong phú, hấp dẫn khách du lịch hơn. Giúp phần xây dựng du lịch Hải Phòng trở thành ngành kinh tế trọng điểm của thành phố. Phải kể đến những chuyến đi lưu diễn của Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng biểu diễn thành công tại một số nơi ở Mỹ năm 1992, Pháp năm 2008 , Hàn Quốc năm 2009 ….được người xem hoan nghênh nhiệt liệt. Khách du lịch có nhu cầu xem múa rối, Đoàn luôn sẵn sàng tổ chức phục vụ. Và mới đây rất vinh dự cho Đoàn nghệ thuật múa rối Hải Phòng được Tổng cục Du lịch Việt Nam mời đi biểu diễn để quảng bá du lịch Việt Nam cho các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Và kể đến tiếp theo là múa rối Bảo Hà còn hai phường rối. Một phường rối cổ truyền hoạt động từ năm 1921, trải qua nhiều biến động thăng trầm phường rối đã vượt qua những khó khăn để đứng vững và lưu truyền và cho đến ngày hôm nay. Một phường rối khác do những người có tâm huyết và yêu nghề muốn lưu giữ nghề rối, đứng đầu là ông trưởng Ban văn hoá xã. Những giá trị văn hoá truyền thống đó đã, đang và sẽ được bảo lưu sâu đậm trong đời sống của nhân dân, đây là một yếu tố tích cực cần được trân trọng và khích lệ.
Sự hấp dẫn và độc đáo khi xem múa rối cạn Bảo Hà là người xem người xem không thể thấy được que rối điều khiển bởi nó được dấu kín trong tay áo của con rối, các nghệ nhân điều khiển khéo léo che dấu bí mật riêng của mình vừa tạo ra sự tò mò, thích thú cho người xem vừa bảo vệ được bí quyết điều khiển của phường rối.
Để diễn được tuồng bằng con rối cạn (rối que) của phường rối Bảo Hà cần phải có nhiều khâu, trong đó khâu đầu tiên phải tạo hình con rối phù hợp với vũ đạo tuồng (khâu quan trọng, tạo sự khác biệt với các loại hình múa rối trên các nền nhạc khác). Có nghĩa là ngoài việc vẽ mặt, chọn trang phục, binh khí cho con rối giống như các diễn viên tuồng thật, thì việc tạo hình tay cho con rối độ dài phải đúng kích cỡ, các khớp nối phải linh hoạt nhưng chắc khỏe, các que điều khiển phải được giấu kín. Có như vậy khi điều khiển con rối mới Theo được các làn điệu tuồng, tạo nên sức hấp dẫn đối với người xem. Khâu thứ hai là buồng diễn rối. Buồng diễn rối phải có phông tiền (phông che người diễn) và phông hậu (phông cảnh diễn).Hình vẽ trờn phụng tiền phải thể hiện được tư tưởng của vở diễn (đoạn diễn), phông hậu thể hiện được không gian, thời gian của từng màn diễn.
2.6. Tình hình khai thác các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống ở Hải Phòng cho hoạt động du lịch
2.6.1. Tình hình hoạt động du lịch Hải Phòng ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Tiền thân của Sở du lịch Hải Phòng là Phòng Giao Tế trực thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố, được thành lập năm 1955 với nhiệm vụ ban đầu là đón tiếp và phục vụ, thuỷ thủ đến làm việc và tham quan tại Hải Phòng. Trong thời gian này hoạt động du lịch của thành phố Hải Phòng còn rất mờ nhạt, do hậu quả tàn phá của thời Pháp thuộc để lại. Điểm du lịch tham quan lúc này chủ yếu là Cát Bà và Đồ Sơn.
Mặc dù ra đời muộn nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của thành phố, Tổng cục Du lịch, sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa các Sở, ban, ngành và địa phương cùng sự nỗ lực phấn đấu trong suốt chặng đường hơn 10 năm hình thành và phát triển du lịch Hải Phòng đã từng bước vượt qua những khó khăn, thử thách để khẳng định vị trí, vai trò của ngành trong sự phát triển kinh tế xã hội của toàn thành phố. Nghị quyết 20/Nghị Quyết – Thường Vụ ngày 25/1/1995 của BanThường vụ thành uỷ đã xác định “Du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố”.
Tháng 5 năm 2008 Sở Du lịch hải Phòng được xác nhập với Sở Văn hóa Thông tin thành Sở Văn hóa Thể thao & Du lịch Hải Phòng. Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, Du lịch Hải Phòng đã có những kết quả rất khả quan.
* Kết quả của hoạt động kinh doanh:
Qua 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 09 – Nghị quyết /Trung ương, du lịch Hải Phòng đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành và các tỉnh thành phố bạn, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và đã đạt được những kết quả khả quan, là tiền đề để phấn đấu đến năm 2020 Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch vùng Duyên Hải Bắc Bộ.
Giai đoạn 2006 – 2009, tốc độ tăng bình quân chung của khách du lịch chỉ đạt 10, 84% năm, trong đó khách du lịch quốc tế chỉ đạt 1, 6% năm, các chỉ tiêu đều thấp hơn nhiều so với Nghị Quyết đề ra là đến năm 2010, khách du lịch tăng bình quân trên 18, 5% năm, trong đó khách quốc tế tăng 20, 5% năm. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch trong những năm qua có xu hướng chững lại do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh chính trị,… đã làm cho khả năng chỉ tiêu và nhu cầu đi tham quan du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế giảm hẳn.
* Công tác quy hoạch, đầu tư ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch từ nguồn vốn ngân sách trong những năm qua là động lực Thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư kinh doanh du lịch. Từ năm 2006 đến nay, có 04 dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách với số vốn đầu tư là 57,787 tuỷ đồng, 03 dự án đầu tư du lịch thuộc nguồn vốn ngoài ngân sách, với tổng mức vốn đầu tư lên tới 344,955 tuỷ đồng, 06 dự án do nước ngoài đầu tư với tổng vốn là 730, 25 triệu USD.
Thành phố chỉ đạo ngành du lịch phối hợp với Viện nghiên cứu phát triển du lịch điều tra tổng tài nguyên du lịch trên địa bàn thành phố và xây dựng Đề cương – đề án phát triển du lịch huyện Kiến Thuỵ giai đoạn 2009 – 2015. Chỉ đạo các ngành liên quan kịp thời trả lời các doanh nghiệp về các dự án liên quan tới quy hoạch du lịch.
* Quản lý cơ sở lưu trú, lữ hành và vận chuyển:
Về hoạt động lưu trú: Đến nay, trên địa bàn thành phố có 214 cơ sở l-u trú dịch vụ với 5.933 phòng, trong đó có 106 khách sạn được xếp hạng. Qua thẩm định lại các cơ sở lưu trú du lịch cho thấy, nhiều khách sạn đã tích cực đầu tư nâng cấp cơ sở vật chát kĩ thuật nên đã giữ được hạng đã xếp, đặc biệt có khách sạn được nâng hạng sao. Bên cạnh đó cũng có những khách sạn xuống hạng do chuyển đổi chủ quản lý kinh doanh, không kịp thời đầu tư nâng cấp để phục vụ tốt các đoàn khách đến tham quan thành phố.
Về hoạt động lữ hành: Trong 4 năm qua, du lịch Hải Phòng đón được 18 chuyến tàu khách đến bằng đường biển với 3.535 du khách: từ 01/01 – 31/5/2007 đón được 314 lượt chuyến bay tuyến Hong Kong/Macao – Hải Phòng với 24.409 lượt khách, bổ sung thêm 05 doanh nghiệp lữ hành quốc tế nâng tổng số đơn vị hoạt động lữ hành quốc tế trên địa bàn thành phố lên 13 doanh nghiệp, cấp và đổi 33 thẻ hướng dẫn viên du lịch, nâng tổng số hướng dẫn viên được cấp thẻ là 150 hướng dẫn viên và đào tạo được trên 30 thuyết minh viên điểm. Nhìn chung, do năng lực kinh doanh của các công ty lữ hành hải Phòng còn yếu nên mới khai thác mạnh được khách du lịch nội địa và việc chủ động đón khách inbound, outbound cũng nhiều hạn chế.
Về hoạt động vận chuyển khách: Trên địa bàn thành phố hiện nay có trên 500 ô tô 9 từ 4 – 47 chỗ) phục vụ khách du lịch và 09 tàu vận chuyển khách tuyến Hải Phòng – Cát Bà – Hải Phòng. Ngoài ra, 79 chiếc (Cát Bà 71 chiếc, Đồ Sơn 8 chiếc) tàu vỏ gỗ phục vụ khách tham quan vịnh. Trên địa bàn thành phố cũng có 28 hãng taxi và 3 hãng Xe buýt nối trung tâm thành phố với khu du lịch Đồ Sơn và nhiều điểm khác của thành phố, đáp ứng khá tốt nhu cầu đi lại của du khách đến tham quan thành phố.
2.6.2. Hiện trạng khai thác các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống ở Hải Phòng cho hoạt động du lịch ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Tại Việt Nam, kinh doanh du lịch nói Chung và kinh doanh lữ hành nói riêng còn non trẻ so với nhiều quốc gia. Ngành du lịch Việt Nam thực sự có cơ hội phát triển trong những năm cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX. Cùng với sự đổi mới của đất nước, ngành du lịch đã có những thành công bước đầu để chứng tỏ nó là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng. So với một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có đầy đủ các điều kiện chung và riêng, có lợi thế so sánh để phát triển du lịch. Song kết quả kinh doanh và sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế so sánh của Du lịch Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chính là bộ phận kinh doanh lữ hành chưa được đánh giá đúng mức, chưa thể hiện được vai trò của nó trong ngành. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành ở Việt Nam phần nhiều có qui mô hết sức nhỏ bé năng lực kinh doanh yếu trong ngành kinh doanh có tính toàn cầu cao, môi trường kinh doanh thường xuyên biến động.
Trong xu thế mở cửa của nền kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế về kinh tế cũng có sự giao lưu tiếp xúc, tìm hiểu về nền văn hoá, con người, phong tục tập quán, giữa các quốc gia, dân tộc. Trong mắt bạn bố quốc tế, Việt Nam luôn là điểm đến an toàn và hấp dẫn. Sự hấp dẫn chỉ bởi những cảnh quan ngoạn mục, những di tích lịch sử giàu truyền thống, bởi tính cách thân thiện và nồng hậu của con người nơi đây mà sự hấp dẫn còn thể hiện qua những giá trị: chân, thiện, me của đời sống văn hoá tinh thần mang đậm chất dân gian – dân tộc, đó là sự hội tụ tinh hoa văn hoá nghìn năm kết tinh trong đó. Những đặc trưng văn hoá riêng biệt của mỗi vùng miền tạo nên sự đa dạng, phong phú trong kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian Việt Nam và đó cũng chính là yếu tố thu hút một lượng lớn khách du lịch từ mọi miền quốc gia trên thế giới.
Hải Phòng là thành phố có lịch sử hình thành từ rất sớm nên chứa đựng một nguồn di sản văn hoá phi vật thể vô cùng phong phú và độc đáo. Bên cạnh công tác bảo tồn, thành phố cũng đã cho phép các công ty du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống tiêu biểu của địa phương phục vụ cho du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, bước đầu là đưa nghệ thuật múa rối và các làng nghề truyền thống vào trong chương trình du lịch văn hoá. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Đối với nghệ thuật múa rối: Hiện nay, có Đoàn nghệ thuật múa rối chuyên nghiệp và hai phường múa rối cổ truyền: phường múa rối nước Nhân Hoà, phường múa rối cạn Bảo Hà (Vĩnh Bảo) đều được huy động để phục vụ cho du lịch. Đoàn biểu diễn nghệ thuật múa rối chuyên nghiệp là đại diện tiêu biểu cho cái nôi cổ truyền, có sự tiếp thu, nâng cao của phường múa rối dân gian.
Năm 2002 là mốc quan trọng đối với các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống trên địa bàn thành phố Hải Phòng, khi mà lần đầu tiên múa rối nước Hải Phòng đã có mặt và gây ấn tượng mạnh mẽ với nhân dân thành phố Hếu nói riêng, nhân dân cả nước và khách du lịch quốc tế nói chung. Đoàn nghệ thuật múa rối nước Hải Phòng mang đến Festival Hếu 2002 những tinh hoa văn hoá chắt lọc của nghệ thuật múa rối thành phố cảng. Tại “Liên hoan nghệ thuật múa rối nước của 14 phường rối dân gian tại Festival Hếu” năm 2004, múa rối nước Hải Phòng lại có dịp tái ngộ với nhân dân đất cố đô tham dự lần này là các nghệ sĩ, nghệ nhân múa rối nước của phường múa rối nước Nhân Hoà – một phường rối cổ truyền nhất còn tồn tại ở Hải Phòng. Việc đưa nghệ thuật múa rối nước truyền thống và các lễ hội lớn vào khai thác cho hoạt động du lịch là dịp để giới thiệu, quảng bá nghệ thuật múa rối nói riêng và cho các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống nói Chung đến với công chúng cả nước và khách du lịch quốc tế. Đồng thời, việc làm này đã trở thành hậu thuẫn cho những người làm công tác văn hoá, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể của thành phố và phục vụ đắc lực cho việc khai thác các giá trị của chúng cho hoạt động du lịch.
* Khó khăn
- Sự quan tâ đầu tư chưa kịp thời, đồng bộ đó và đang hạn chế việc khai thác các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống cho sự phát triển du lịch.
- Chưa có sự đầu tư, hỗ trợ thoả đáng cho những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật.
- Nhiều loại hình nghệ thuật đó bị quên lãng, mai một, không còn giữ được giá trị nguyên bản và những nét đẹp nghệ thuật như xưa nữa.
- Tuyến đường 10 vào Bảo Hà đó bị xuống cấp trầm trọng 4 – 5 năm nay, các phương tiện vận chuyển đi lại rất khó khăn gây cản trở cho hoạt động du lịch trên địa bàn. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
* Những thành công
Nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, tài nguyên du lịch nhân văn của Hải Phòng vừa hội tụ được những tinh hoa của dân tộc, lại vừa thể hiện được nét độc đáo của cư dân vùng biển “ăn sóng, nói gió”, đây là điều kiện thuận lợi để du lịch văn hóa Hải Phòng phát triển.
Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa Hải Phòng đó có những bước phát triển mạnh, cú đúng giúp quan trọng vào sự phát triển Chung của ngành du lịch thành phố. Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đó được đưa vào khai thác phục vụ một số tour du lịch và trở thành sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, hấp dẫn thu hút được lượng khách lớn đến tham quan trong đó chiếm số đó là lượng khách du lịch quốc tế.
Sở du lịch Hải Phòng đó xây dựng được một số tour du lịch văn hóa – nghệ thuật, bước đầu đưa vào khai thác phục vụ nhu cầu khách du lịch như tour “Du khảo đồng quê”. Sở tiếp tục xây dựng các tour du lịch mới như “Tuyến Đồ Sơn – Kiến Thụy – Tiên Lãng”, “Tour du lịch Bến Nghiêng – Đảo Dàu”, Du lịch Bắc sông Cấm Thủy Nguyên – Hải Phòng,… Ngoài ra, thành phố cũn rất chú trọng công tác bảo tồn, tái tạo nguồn tài nguyên du lịch nhân văn với du lịch biển, du lịch sinh thái để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và giúp phần phát triển du lịch.
2.6.3. Hạn chế ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn núi Chung và nghệ thuật dân gian truyền thống của Hải Phòng núi rừng phần lớn chưa được quan tâm, đầu tư, bảo vệ và khai thác hợp lý. Nên nhiều tài nguyên và một số loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đó bị mai một, giảm đáng kể giá trị vốn quý của chung đặc biệt là các tài nguyên du lịch nhân văn như các di tích lịch sử – văn hoá, lễ hội, làng nghề, Ngoài ra có nhiều nguồn tài nguyên đang ở dưới dạng tiềm năng.
Sản phẩm du lịch đặc thự đặc biệt là các sản phẩm du lịch văn hóa mang tính đặc trưng của Hải Phòng cũng như các dịch vụ vui chơi giải trí , nhiều điểm tham quan du lịch bị xuống cấp, chưa được tu bổ thường xuyên, kết cấu hạ tầng không đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch.
Tại các phường biểu diễn nghệ thuật dân gian truyền thống chưa có các sản phẩm đặc trưng như: tượng hình các con rối nhỏ, sách giới thiệu về vựng đất và quá trình phát triển nghệ thuật dân gian của địa phương, nên chưa có được nguồn doanh Thu khác từ khách du lịch.
Đội ngũ hướng dẫn viên cũng thiếu về số lượng và yếu về nghiệp vụ. Thuyết minh viên điểm mới bắt đầu đào tạo, chưa phát huy tốt tác dụng trong thực tế, tuyến bay quốc tế Hồng Kong/Ma Cao – Hải Phòng là tuyến du lịch hàng không đầu tiên trực tiếp được khách quốc tế của thành phố, nhưng cũng chỉ duy trì được hơn 01 năm. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch chưa sâu rộng, chất lượng thấp, hình thức quảng bá chưa hấp dẫn – phong phú.
Lao động quản lý, lao động nghề tại cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, hướng dẫn viên và nhất là thuyết minh viên tại điểm chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Hải Phòng là thành phố giàu tiềm năng du lịch, sự phong phú và đa dạng về các loại hình du lịch, nhất là du lịch văn hóa đó chứng minh điều đó. Tuy nhiên, việc khai thác các tiềm năng này phục vụ cho hoạt động du lịch cũng tồn tại nhiều hạn chế, chưa xứng với những giá trị to lớn mà các loại hình mang lại.
* Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, yếu kém
Nguyên nhân cũng nhiều, song nguyên nhân chủ yếu là: Sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của các cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa thực sự quyết tâm ưu tiên, khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, thành phố chưa có giải pháp hỗ trợ thiết thực mang tính đột phá để du lịch phát triển, các cấp, các ngành và phần lớn nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của du lịch. Nhiều hộ kinh doanh và người dân ở các trung tâm du lịch chưa ý thức đầy đủ trách nhiệm của mình với môi trường cũng như văn hóa du lịch.
Một số hoạt động quảng bỏ – xúc tiến du lịch đó được triền khai nhưng chưa hoàn thành, chất lượng chưa cao, hình thức quảng bá chưa phong phú nguyên nhân là do thiếu và bị động về kinh phí cho hat động này nên không thể thực hiện được các chương trình dài hạn, sâu rộng ra nước ngoài. ( Khóa luận: Thực trạng nghệ thuật múa rối phát triển du lịch )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch nghệ thuật múa rối

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Nghệ thuật múa rối phục vụ phát triển du lịch